TRẦM CẢM
(Kỳ 1)
I. VÀI NÉT TỔNG QUAN VỀ TRẦM CẢM
Trầm cảm là hiện tượng ức chế của các quá trình hoạt động tâm thần với
bệnh cảnh m sàng gồm các triệu chứng thường gặp như: t mặt buồn rầu, rũ,
mau mệt mỏi, không muốn làm việc, mất hoặc giảm mọi quan m thích thú ngay
cả những đam mê thích thú cũ, giảm tập trung chú ý, mất hoặc giảm tự tin, tự đánh
giá thấp mình. Quá trình suy nghĩ chậm chạp, ý tưởng nghèo n, tcho mình
tội, bi quan về tương lai. Một số trường hợp trầm cảm nặng, bệnh nhânthể có ý
nghĩ hoặc hành vi tsát. Trong trầm cảm thường các triệu chứng của cơ th
như mất ng(thường là mất ngủ cuối giấc, thức dậy sớm), hồi hộp, đánh trống
ngực, mạch nhanh, đau mỏi xương khớp, sút cân, giảm hoạt động tình dục.
Bệnh nhân thường hội chứng lo âu và nhng cảm giác căng thẳng, bất an, sợ
hãi...
Khong vài chục m gần đây, số người bị rối loạn trầm cảm chiếm tỷ lệ
cao trong nhân dân hầu hết các nước trên thế giới. Theo ước tính của Tổ chức Y
Tế thế giới 5% dân số trên nh tinh của chúng ta rối loạn trầm cảm rõ rệt.
nước ta đã nhiều công trình nghiên cứu dịch tễ của trầm cảm, trong một nghiên
cứu dịch tễ lâm sàng 10 rối loạn tâm thần thường gặp 8 vùng sinh thái do Trần
Văn Cường và cs năm 2001 cho tỷ lệ trầm cm là 2,8% dân số.
Người bệnh rối loạn trm cảm sẽ dẫn đến gián đoạn học tập và khnăng
lao động, rối loạn khả năng thích ứng, dần dần tách rời xã hội, chất lượng cuộc
sống bị giảm sút sau mỗi giai đoạn là trm cảm. Càng trnên trm trọng khi 20%
số họ trở nên mạn tính. Người bệnh có nguy cơ tự sát cao khi bị trầm cảm tái diễn.
Trầm cảm gia tăng còn thúc đẩy tỷ llạm dụng rượu và ma tuý, không chgây ra
những thiệt hại cho nhân, rối loạn trầm cảm còn ảnh hưởng lớn đến chất lượng
sống của gia đình và xã hội.
Do tính phbiến và mức độ nghiêm trọng các rối loạn trầm cảm đã
trthành một vấn đề lớn ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng một vấn đề thời sự
đang được quan m nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực đặc biệt là hình thái lâm sàng,
chẩn đoán, điều trị và nguy cơ tái phát.
II. CÁC BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
Giai đoạn trầm cảm điển hình (Major depressive period): Giai đoạn trầm
cảm thường hình thành t từ trong nhiều tuần với biểu hiện của hội chứng suy
nhược và ksắc ngày càng suy giảm sau đó xuất hiện đủ bộ 3 triệu chứng trầm
cảm:
- Cm xúc bị ức chế (Depressed affect): Là triệu chứng chủ yếu nhất biểu
hiện bằng cảm xúc buồn rầu biểu hiện các mức độ khác nhau: chán nản, thất
vọng, có trạng thái buồn chán nặng nề, sâu sắc, buồn không lối thoát dễ dẫn đến t
sát.
- duy bị ức chế (Depressed thinking): Quá trình liên tưởng chậm chạp,
hồi ức khó khăn, duy bị chìm đắm trong những chủ đề trầm cảm, bi quan, xấu
hổ, tủi nhục, bất hạnh, nhiều trường hợp kết tinh thành hoang tưởng bị buộc tội
hoặc tự buộc tội dễ dẫn đến tự sát.
. Bệnh nhân thường nói chậm chạp, trả lời câu hỏi khó khăn, nói nhỏ, thì
thào từng tiếng một, đôi khi không nói hoàn toàn có khi rên rỉ, khóc lóc.
. Bệnh nhân rất dễ tự sát, ý tưởng tự sát dai dẳng hành vi tsát thể
xảy ra bất kỳ lúc nào, nhiều khi bệnh nhân giả vờ khỏi bệnh để về nhà tsát, lừa
thầy thuốc người thân để thực hiện hành vi tsát, cho nên phi theo dõi bệnh
nhân thật sát sao để ngăn chặn hành vi tự sát.
- Hoạt động bị ức chế (Depressed activity):
Bệnh nhân ngồi im hoặc nằm im lìm hàng gi, khom lưng, cúi đầu, nằm
ép giường hàng ngày, hàng tháng, hoạt động bị ức chế hoặc những hành vi đơn
điệu, đi lờ đờ, quanh quẩn trong phòng.
- Rối loạn tâm thần khác (Other mental disorders):
. Hoang tưởng, ảo giác xuất hiện nhiều n trong hưng cảm. Nội dung
thường là btội, tự buộc tội, nghi bệnh.
. Ảo thanh nghe tiếng nói tố cáo tội lỗi của mình hay báo trước hình phạt,
tiếng khóc tiếng than của đám ma.
. Khả năng chú ý gim sút do bị ức chế.
- Những rối loạn khác (Other disorders):
. Nhiều rối loạn thần kinh thực vật, tim mạch như: trương lực mạch giảm,
mạch chậm, giảm trương lực , hồi hộp đánh trống ngực, cảm giác nghẹn thở, đổ
mồ hôi trộm ... nên dễ bị chẩn đoán nhầm sang các bệnh tim mạch, hô hấp ...
. Rối loạn tiêu hoá thường xuyên, chán ăn buồn nôn, lưỡi trắng, táo bón,
tiêu chảy, viêm loét dạ dày tá tràng... nên dễ nhầm với các bệnh tiêu hoá.
. Rối loạn tiết niệu như rối loạn tiểu tiện, khó đái, đái rắt... dễ nhầm với
các bệnh đường tiết niệu...
. Rối loạn nội tiết, sinh dục: Phụ nữ thường mất kinh, rối loạn kinh
nguyệt, lãnh cm; nam thường là lit dương hoặc cường dương, mất hứng thú tình
dục...