
CHUYÊN ĐỀ LAO
267
APPLICATION OF MICRO-DOPPLER
ULTRASONOGRAPHY IN MICROSURGICAL VARICOCELECTOMY
AT THE NATIONAL HOSPITAL OF OBSTETRICS AND GYNECOLOGY
Phan Chi Thanh1, Nguyen Quang2, Nguyen Duy Khanh2*,
Bui Van Quang1, Cao Dac Tuan1, Bui Van Quang2, Nguyen Huu Thao2, Nguyen Khanh Linh1
1National Hospital of Obstetrics and Gynecology - 1 Trieu Quoc Dat, Cua Nam Ward, Hanoi City, Vietnam
2Center for Male Sexual Medicine, Viet Duc University Hospital - 40 Trang Thi, Hoan Kiem Ward, Hanoi City, Vietnam
Received: 15/09/2025
Revised: 29/09/2025; Accepted: 09/10/2025
ABSTRACT
Objective: Evaluating the results of varicocele treatment by microsurgical varicolectomy
using Micro-Doppler to assist in finding and dissecting the testicular artery at a
subinguinal incision.
Methods: A cross-sectional descriptive study on 35 patients undergoing microsurgical
varicocelectomy at National Hospital of Obstetrics and Gynecology from March to May
2025.
Results and conclusion: Varicocele was found in 21 patients (60%), one patient (40%).
Number of testicular arteries detected by microsurgery, Micro-Doppler: 3 arteries 48.2%
(27/56 cases), 2 arteries 35.7% (20/56 cases), 1 artery 16.1% (9/56 cases). The mean
time to find all arteries by microsurgery and Micro-Doppler is 40.4 minutes. Number of
internal spermatic veins over 8 veins 76.8%. Improvement of testicular pain is 78.8%; the
improvement of sperm quality 73.5% (25/34 cases).
Keywords: Varicocele, microsurgical varicolectomy, micro Doppler ultrasonography.
Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 17, 267-273
*Corresponding author
Email: drkhanh6888@gmail.com Phone: (+84) 983703437 Https://doi.org/10.52163/yhc.v66iCD17.3434

www.tapchiyhcd.vn
268
N.D. Khanh et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 17, 267-273
ỨNG DỤNG MICRO-DOPPLER TRONG PHẪU THUẬT VI PHẪU
ĐIỀU TRỊ GIÃN TĨNH MẠCH TINH TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Phan Chí Thành1, Nguyễn Quang2, Nguyễn Duy Khánh2*,
Bùi Văn Quang1, Cao Đắc Tuấn1, Bùi Văn Quang2, Nguyễn Hữu Thảo2, Nguyễn Khánh Linh1
1Bệnh viện Phụ Sản Trung ương - 1 Triệu Quốc Đạt, P. Cửa Nam, Tp. Hà Nội, Việt Nam
2Trung tâm Nam học, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức - 40 Tràng Thi, P. Hoàn Kiếm, Tp. Hà Nội, Việt Nam
Ngày nhận: 15/09/2025
Ngày sửa: 29/09/2025; Ngày đăng: 09/10/2025
ABSTRACT
Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị giãn tĩnh mạch tinh bằng vi phẫu thuật có sử dụng
Micro-Doppler hỗ trợ trong việc tìm và phẫu tích động mạch tinh hoàn với đường mổ dưới
bẹn.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 35 bệnh nhân được phẫu thuật vi phẫu
thắt tĩnh mạch tinh tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ tháng 3-5 năm 2025.
Kết quả và kết luận: Giãn tĩnh mạch tinh hai bên 21 bệnh nhân (60%), một bên 14 bệnh
nhân (40%). Số lượng động mạch tinh phát hiện bằng vi phẫu, Micro-Doppler: 3 động mạch
48,2% (27/56 trường hơp), 2 động mạch 35,7% (20/56 trường hơp), 1 động mạch 16,1%
(9/56 trường hơp). Thời gian tìm được hết các động mạch bằng vi phẫu và Micro-Doppler là
40,4 phút. Số tĩnh mạch tinh trong trên 8 tĩnh mạch 76,8%. Cải thiện đau tinh hoàn 78,8%;
cải thiện chất lượng tinh trùng 73,5% (25/34 trường hơp).
Từ khóa: Giãn tĩnh mạch tinh, phẫu thuật vi phẫu thắt tĩnh mạch tinh, siêu âm Doppler
đầu dò nhỏ.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Giãn tĩnh mạch tinh là một nguyên nhân phổ biến gây
vô sinh nam, ảnh hưởng đến khoảng 15-40% nam
giới có vô sinh nguyên phát. Mặc dù vi phẫu thuật
thắt tĩnh mạch tinh đã trở thành tiêu chuẩn vàng nhờ
vào hiệu quả điều trị cao và tỷ lệ biến chứng thấp,
nhưng nguy cơ tổn thương động mạch tinh hoàn vẫn
tồn tại, khoảng 1% và tiềm ẩn nguy cơ teo tinh hoàn,
ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng sinh sản của
bệnh nhân [1].
Ứng dụng Micro-Doppler siêu âm vi mạch vào trong
vi phẫu giãn tĩnh mạch tinh cho phép nhận diện
động mạch tinh hoàn một cách chính xác thông qua
âm thanh mạch đập, đặc biệt trong những vùng giải
phẫu phức tạp hoặc có kích thước rất nhỏ. Cocuzza
M và cộng sự công bố tỉ lệ thắt vào nhánh của động
mạch tinh là 1,1% nếu không sử dụng Micro-Dop-
pler trong phẫu thuật với 213 trường hợp nam giới
được chỉ định thắt tĩnh mạch tinh bằng kính vi phẫu
[1]. Một nghiên cứu khác ở Thổ Nhĩ Kỳ năm 2020 cho
thấy rằng kỹ thuật này giúp bảo tồn trung bình 1,4
động mạch tinh hoàn trên mỗi bệnh nhân và không
gây ra biến chứng teo tinh hoàn trong vòng 9 tháng
theo dõi. Tương tự, trong một nghiên cứu được thực
hiện ở trẻ em, Micro-Doppler đã phát hiện được
động mạch ở tất cả các trường hợp, trong khi kính
hiển vi thông thường chỉ phát hiện được ở một số
ít. Thậm chí có trường hợp nhờ Micro-Doppler mà
tránh được việc nhầm lẫn giữa tĩnh mạch dính sát
động mạch [2].
Tại Việt Nam, ứng dụng Micro-Doppler trong vi phẫu
giãn tĩnh mạch tinh vẫn còn hạn chế và chưa có
nhiều tài liệu nghiên cứu đánh giá hệ thống hiệu
quả của kỹ thuật này. Việc thực hiện nghiên cứu tại
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương là cần thiết để đánh
giá mặt lợi ích rõ ràng của Micro-Doppler trong quá
trình phẫu thuật nhằm nâng cao độ chính xác, giảm
thiểu biến chứng và tối ưu hóa kết quả điều trị cho
bệnh nhân giãn tĩnh mạch tinh.
*Tác giả liên hệ
Email: drkhanh6888@gmail.com Điện thoại: (+84) 983703437 Https://doi.org/10.52163/yhc.v66iCD17.3434

269
N.D. Khanh et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 17, 267-273
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
35 Bệnh nhân giãn tĩnh mạch tinh, được phẫu thuật
vi phẫu thắt tĩnh mạch tinh có sử dụng đầu dò Mi-
cro-Doppler tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương trong
thời gian từ tháng 3/2025 đến tháng 5/2025.
- Tiêu chuẩn lựa chọn: chẩn đoán trước mổ là giãn
tĩnh mạch tinh dựa vào lâm sàng và siêu âm Doppler
tinh hoàn.
- Tiêu chuẩn loại trừ: bệnh nhân không đồng ý tham
gia nghiên cứu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang.
- Nội dung nghiên cứu:
+ Đặc điểm chung: tuổi, nghề nghiệp.
+ Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng: đau vùng
bìu, tinh hoàn, tự sờ hoặc nhìn thấy búi giãn, vô sinh
I- II. Khám lâm sàng ghi nhận búi tĩnh mạch giãn ở
thừng tinh, mức độ từ lúc phát hiện khi làm nghiệm
pháp Valsalva (độ I) đến thấy rõ bằng mắt thường
khi đứng (độ III); teo tinh hoàn. Cận lâm sàng: siêu
âm Doppler là phương pháp chẩn đoán chính xác,
xác định đường kính tĩnh mạch giãn > 2,5 mm và sự
hiện diện của dòng trào ngược khi nghiệm pháp Val-
salva, thể tích tinh hoàn. Tinh dịch đồ có thể phát
hiện bất thường về số lượng, độ di động và hình thái
tinh trùng; đồng thời đánh giá thể tích tinh hoàn bằng
siêu âm cho thấy teo tinh hoàn ở một số trường hợp.
Các xét nghiệm nội tiết FSH, LH, testosterone, es-
tradiol, prolactin.
+ Đánh giá trong mổ: số lượng động mạch tinh phát
hiện bằng vi phẫu, Micro-Doppler; thời gian tìm được
hết các động mạch bằng vi phẫu và Micro-Doppler;
số tĩnh mạch tinh trong, tinh ngoài, cơ bìu, xuyên
bìu; biến chứng sau mổ: chảy máu, nhiễm trùng,
teo tinh hoàn.
+ Kết quả sau mổ (kết quả khám lại): tiến hành khám
lại từ tháng 6-8/2025. Đánh giá kết quả sớm: đau
tinh hoàn, tinh dịch đồ… Biến chứng muộn: teo tinh
hoàn.
- Phương pháp xử lý số liệu: số liệu được quản lý và
phân tích bằng phần mềm SPSS 25.0.
2.3. Đạo đức nghiên cứu
Các số liệu và thông tin nghiên cứu hoàn toàn chính
xác, trung thực, khách quan và được chấp thuận bởi
cơ sở nghiên cứu. Các thông tin cá nhân được đảm
bảo bí mật và chỉ phục vụ công tác nghiên cứu.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
35 bệnh nhân được chẩn đoán là giãn tĩnh mạch
tinh, được phẫu thuật vi phẫu thắt tĩnh mạch tinh có
sử dụng đầu dò Micro-Doppler hỗ trợ.
3.1. Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu
Độ tuổi trung bình: 28,7 ± 8,6 tuổi, tuổi cao nhất là 55
tuổi, thấp nhất là 11 tuổi, nhóm tuổi giãn tĩnh mạch
tinh nhiều nhất là nhóm từ 20-29 tuổi chiếm 46,67%.
Nghề nghiệp thường gặp nhất là công nhân
(48,57%); tiếp đến là lao động tự do (37,14%) và cán
bộ (14,29%).
3.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, đánh giá
trong mổ
- Triệu chứng đau tức bìu: 94,3%.
- Chậm con, vô sinh: 51,4%.
- Sờ thấy búi giãn: 28,6%.
- Thấy tinh hoàn nhỏ: 8,6%.
- Siêu âm đường kính tĩnh mạch tinh > 2,5 mm: 8,6%;
≥ 3 mm: 91,4%.
- Phân độ giãn tĩnh mạch theo Sartechi, độ III-IV:
83%.
- Bất thường ở tinh dịch đồ: 97,1% (34/35 trường
hợp), testosterone 14,26 ± 1,9 nmol/L: 88,6% (31/35
trường hợp).
- Đánh giá trong mổ:
+ Giãn tĩnh mạch tinh hai bên: 21 bệnh nhân (60%);
một bên: 14 bệnh nhân (40%).
+ Số lượng động mạch tinh phát hiện bằng vi phẫu,
Micro-Doppler: 3 động mạch 48,2% (27/56 trường
hợp), 2 động mạch: 35,7% (20/56 trường hợp), 1
động mạch: 16,1% (9/56 trường hợp).
+ Thời gian tìm được hết các động mạch bằng vi
phẫu và Micro-Doppler: 40,4 phút.
+ Số tĩnh mạch tinh trong trên 8 tĩnh mạch: 76,8%.
- Biến chứng sau mổ: không có trường hợp nào chảy
máu, nhiễm trùng.
- Kết quả sau mổ (kết quả khám lại): tiến hành khám
lại từ tháng 6-8/2025 thấy cải thiện đau tinh hoàn
78,8%, cải thiện chất lượng tinh trùng 73,5% (25/34
trường hợp), testosterone sau phẫu thuật 17,6 ± 2,6
nmol/L.
- Biến chứng muộn (teo tinh hoàn): không có trường
hợp nào.

www.tapchiyhcd.vn
270
4. BÀN LUẬN
Giãn tĩnh mạch tinh xảy ra ở khoảng 15-20% nam
giới, nhưng được tìm thấy ở khoảng 40% nam giới
vô sinh có giãn tĩnh mạch tinh. Hiện nay cơ chế giãn
tĩnh mạch tinh ảnh hưởng đến sản xuất, cấu trúc và
chức năng của tinh trùng vẫn chưa rõ ràng, mặc dù
có nhiều giả thuyết. Mối liên hệ giữa giãn tĩnh mạch
tinh và vô sinh có ý nghĩa lâm sàng và không thể phủ
nhận. Mối liên hệ này được ghi nhận lần đầu bởi
Barfield, một bác sĩ phẫu thuật người Anh, vào cuối
thế kỷ XIX và sau đó được xác nhận bởi nhiều người
khác vào đầu thế kỷ XX [2]. Trong nghiên cứu của
chúng tôi, có đến 51,4% trường hợp ghi nhận vô sinh
kèm theo, phần lớn các bệnh nhân đã đi khám tại
các phòng khám về sản phụ khoa trước đó. Có bằng
chứng rõ ràng và thuyết phục từ nhiều nghiên cứu
và phân tích tổng hợp rằng việc phẫu thuật giãn tĩnh
mạch tinh có ý nghĩa lâm sàng ở nam giới vô sinh với
các chỉ số tinh dịch bất thường có thể cải thiện đáng
kể số lượng tinh trùng, khả năng di động, hình thái
và tỷ lệ mang thai. Việc phẫu thuật giãn tĩnh mạch
tinh ở nam giới vị thành niên có thể giúp bình thường
hóa các giá trị hormone, kích thước tinh hoàn và đặc
điểm tinh trùng [2].
Levinger và cộng sự đã đánh giá tỷ lệ giãn tĩnh mạch
thừng tinh liên quan đến tuổi ở nam giới trên 30 tuổi.
Trong số 504 nam giới khỏe mạnh, 34,7% được phát
hiện mắc giãn tĩnh mạch thừng tinh khi khám sức
khỏe (tất cả các lần khám đều do cùng một nhà ng-
hiên cứu thực hiện). Khi phân tích sâu hơn, họ quan
sát thấy tỷ lệ giãn tĩnh mạch thừng tinh tăng khoảng
10% cho mỗi thập kỷ của cuộc đời. Tỷ lệ giãn tĩnh
mạch thừng tinh là 18% ở độ tuổi 30-39, 24% ở độ
tuổi 40-49, 33% ở độ tuổi 50-59, 42% ở độ tuổi 60-69,
53% ở độ tuổi 70-79 và 75% ở độ tuổi 80-89. Canales
và cộng sự báo cáo tỷ lệ mắc giãn tĩnh mạch thừng
tinh tương đối cao (42%) ở nam giới lớn tuổi tham gia
chương trình tầm soát ung thư tuyến tiền liệt (tuổi
trung bình 60,7). Tuy nhiên, không giống như nghiên
cứu của Levinger và cộng sự, báo cáo của Cana-
les và cộng sự không chứng minh được sự gia tăng
tỷ lệ mắc giãn tĩnh mạch thừng tinh liên quan đến
tuổi trong nhóm đối tượng của họ, có thể là do hầu
hết nam giới trong nghiên cứu của họ đều cao tuổi.
Những quan sát dịch tễ học này cho thấy tình trạng
suy yếu tĩnh mạch tinh hoàn tăng theo tuổi, có thể
là do sự lão hóa của van tĩnh mạch [5]. Trong nghiên
cứu của chúng tôi, độ tuổi trung bình 28,7 ± 8,6 tuổi,
cao nhất 55 tuổi, thấp nhất 11 tuổi, giãn tĩnh mạch
tinh nhiều nhất ở nhóm từ 20-29 tuổi (46,67%). Nghề
nghiệp thường gặp nhất là công nhân (48,57%), tiếp
đến là lao động tự do (37,14%) và cán bộ (14,29%).
Giãn tĩnh mạch tinh thường gặp hơn nhiều (80-90%)
ở tinh hoàn bên trái. Nếu phát hiện giãn tĩnh mạch
tinh bên trái, có khoảng 30-40% khả năng đây là tình
trạng hai bên [2]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, có
đến 60% trường hợp giãn tĩnh mạch tinh ở hai bên.
Có 3 giả thuyết về nguyên nhân giải phẫu:
- Suy van tĩnh mạch: xảy ra tại vị trí tĩnh mạch tinh
trong nối với tĩnh mạch thận trái. Sự suy van này gây
ra trào ngược và dòng chảy ngược trong tĩnh mạch
tinh hoàn.
- Góc nghiêng: tại điểm giao nhau của tĩnh mạch tinh
hoàn trong bên trái và tĩnh mạch thận trái.
- Hiệu ứng “Nutcracker” xảy ra khi:
+ Tĩnh mạch tinh trong bên trái bị kẹt giữa động mạch
mạc treo tràng trên và động mạch chủ. Sự kẹt này
gây ra tăng áp lực tĩnh mạch và tắc nghẽn tĩnh mạch
tinh hoàn.
+ Có ≥ 50% các trường hợp hơn áp lực lên tĩnh mạch
thận trái giữa động mạch chủ bụng và động mạch
mạc treo tràng trên. Điều này làm tăng áp lực tĩnh
mạch trong tĩnh mạch thận trái, dẫn đến tắc nghẽn
tĩnh mạch tinh hoàn bên trái.
Các nguyên nhân hiếm gặp của giãn tĩnh mạch tinh
bao gồm huyết khối tĩnh mạch sâu, dị dạng động
mạch-tĩnh mạch thận, và huyết khối của đám rối
pampiniform [2].
Đau bìu liên quan đến giãn tĩnh mạch thừng tinh có
hoặc không kèm theo vô sinh là một chỉ định phẫu
thuật. Đau do giãn tĩnh mạch thừng tinh thường là
cơn đau âm ỉ, nặng hơn khi vận động và giảm khi nghỉ
ngơi. Điều bắt buộc là phải loại trừ các nguyên nhân
hữu cơ khác gây đau tinh hoàn như viêm mào tinh
hoàn, u tinh hoàn hoặc thoát vị bẹn. Tương tự như
chỉ định phẫu thuật giãn tĩnh mạch thừng tinh để
điều trị vô sinh, giãn tĩnh mạch thừng tinh dưới lâm
sàng không nên được chỉ định phẫu thuật để điều trị
đau, nói cách khác chỉ khi khám lâm sàng có giãn
tĩnh mạch kèm theo đau phẫu thuật mới nên được
chỉ định. Giãn tĩnh mạch thừng tinh mức độ nặng
tăng dần tỉ lệ thuận với mức độ đau. Giãn tĩnh mạch
thừng tinh sờ thấy được trên lâm sàng với lý do đau
thuyết phục đều có thể được xem xét phẫu thuật.
Bệnh nhân bị đau bìu kéo dài trước phẫu thuật có
nhiều khả năng khỏi đau hơn, với tỷ lệ khỏi hoàn toàn
hoặc rõ rệt được báo cáo ở 83-92% sau khi điều trị
giãn tĩnh mạch thừng tinh [3]. Trong nghiên cứu của
chúng tôi, có 78,8% trường hợp đau giảm sau phẫu
thuật.
Siêu âm có độ nhạy 97% và độ đặc hiệu 94%, rất
cao khi chẩn đoán giãn tĩnh mạch tinh. Rất hữu ích
khi khám thực thể khó hoặc không xác định được,
chẳng hạn như trong trường hợp bệnh nhân béo phì,
đã phẫu thuật bìu trước đó, có bìu nhỏ hoặc có da bìu
dày. Tiêu chuẩn để chẩn đoán giãn tĩnh mạch thừng
tinh bằng siêu âm bao gồm giãn tĩnh mạch thừng
tinh với bằng chứng về sự đảo ngược dòng chảy trên
Doppler màu. Một số điểm cutoff thường được sử
dụng giữa tĩnh mạch bình thường và bất thường là
từ 2-3 mm, mặc dù chúng có thể thay đổi. Giãn tĩnh
N.D. Khanh et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 17, 267-273

271
mạch mà không có sự đảo ngược dòng chảy trên
Doppler màu thì không đại diện cho giãn tĩnh mạch
thừng tinh, như trong ví dụ về bệnh nhân bị giãn tĩnh
mạch thừng tinh đã được phẫu thuật thắt tĩnh mạch
tinh, một số tĩnh mạch giãn vĩnh viễn [3]. Trong ng-
hiên cứu của chúng tôi, đường kính tĩnh mạch tinh
≥ 3 mm: 91,4% các trường hợp và phần lớn giãn độ
III-IV: 83% theo Sartechi.
Pilatz và cộng sự xác định ngưỡng đo đường kính
tĩnh mạch để phát hiện giãn tĩnh mạch thừng tinh
sờ thấy ở 217 nam giới là đường kính lớn hơn 2,45
mm khi nghỉ ngơi (độ nhạy 84% và độ đặc hiệu 81%)
và 2,95 mm (độ nhạy 84% và độ đặc hiệu 84%) khi
làm nghiệm pháp Valsalva. Tuy nhiên, sai số đã biết
của người thực hiện siêu âm và việc thiếu các tiêu
chí chuẩn hóa được nghiên cứu kỹ lưỡng để đánh
giá bằng siêu âm hạn chế khả năng liên hệ đáng tin
cậy giữa các phép đo đường kính với giãn tĩnh mạch
thừng tinh có liên quan đến lâm sàng, những đối
tượng sẽ được hưởng lợi từ việc điều trị [5].
Điều trị giãn tĩnh mạch tinh
Mục tiêu của điều trị giãn tĩnh mạch thừng tinh là
ngăn ngừa dòng chảy ngược trong các tĩnh mạch
tinh trong. Phương pháp này được thực hiện bằng
cách nút mạch chọn lọc qua da, tiêm xơ, hoặc phẫu
thuật thường được gọi là phẫu thuật thắt tĩnh mạch
tinh. Các phương pháp phẫu thuật có thể áp dụng là
phẫu thuật sau phúc mạc Palomo, bẹn, đường dưới
bẹn Ivanissevich. Mỗi phương pháp có mức độ phức
tạp, thành công, biến chứng và tỷ lệ tái phát khác
nhau. Kính hiển vi phẫu thuật cho phép phóng đại từ
6-25 lần, giúp tăng cường đáng kể thị lực và khả năng
chính xác của bác sĩ phẫu thuật. Độ phóng đại cho
phép cầm máu tỉ mỉ, xác định và bảo tồn động mạch
và mạch bạch huyết tinh hoàn, và tránh các chấn
thương do sai sót trong phẫu thuật. Phẫu thuật cắt
giãn tĩnh mạch tinh hoàn bằng vi phẫu có thể được
thực hiện bằng cách rạch ở bẹn hoặc dưới bẹn. Cả
hai phương pháp đều cho phép nâng thừng tinh lên
để quan sát rõ hơn các cấu trúc của thừng tinh, tiếp
cận các tĩnh mạch tinh và tĩnh mạch cổ ngoài và cho
phép đưa tinh hoàn cùng bên vào để sinh thiết hoặc
kiểm tra dưới kính hiển vi. Vì vết rạch dưới bẹn không
cần phải mở bất kỳ lớp cân nào nên về mặt lý thuyết,
phương pháp này giúp phục hồi nhanh hơn và ít
đau hơn [3]. Tất cả các trường hợp bệnh nhân của
chúng tôi đều sử dụng đường mổ dưới bẹn và kính
vi phẫu trong phẫu thuật. Trong khoảng 50% trường
hợp, động mạch tinh hoàn có thể dính vào mặt dưới
của một tĩnh mạch lớn. Các tĩnh mạch được tách
khỏi mạch bạch huyết liên quan, được thắt hai lần
bằng kẹp cầm máu hoặc chỉ không tiêu 4.0 và được
chia nhỏ. Các tĩnh mạch nhỏ được kiểm soát bằng
phương pháp đốt điện lưỡng cực. Mạch bạch huyết,
sợi cơ trơn, ống dẫn tinh và các mạch máu liên quan
được bảo tồn. Nếu ống dẫn tinh đi kèm với các tĩnh
mạch có đường kính lớn hơn 3 mm, cần thắt các tĩnh
mạch này để ngăn ngừa giãn tĩnh mạch thừng tinh
tái phát. Ống dẫn tinh thường đi kèm với hai nhóm
mạch máu; miễn là một trong hai bộ mạch máu này
còn nguyên vẹn, thì đảm bảo sự hồi lưu tĩnh mạch
đầy đủ [4]. Trong phẫu thuật trước đây, chúng tôi gặp
nhiều khó khăn khi phẫu tích động mạch tinh ngay
cả với kính hiển vi với độ phóng đại lớn:
- Bệnh nhân là trẻ em, đường kính động mạch tinh
tương đối nhỏ.
- Bệnh nhân huyết áp thấp.
- Phẫu thuật vào mùa đông, vi khí hậu phòng mổ
không đảm bảo.
- Phẫu thuật những trường hợp cuối ngày, bệnh nhân
đói và mệt.
Mỗi tinh hoàn được nuôi dưỡng bởi 3 động mạch:
động mạch tinh hoàn (động mạch tinh trong), một
nhánh của động mạch chủ; động mạch ống dẫn tinh,
một nhánh của động mạch túi tinh dưới bắt nguồn từ
thân trước của động mạch chậu trong; và động mạch
cơ bìu, là một nhánh của động mạch thượng vị dưới
[6]. Grober E.D và cộng sự bảo tồn trung bình mỗi
bên trái và phải 1,5 động mạch, phẫu tích 1-4 động
mạch mỗi bên khi phẫu thuật 334 nam giới vô sinh
hiếm muộn [7]. Grober E.D nhấn mạnh các thông
số trước phẫu thuật không dự đoán được số lượng
động mạch tinh hoàn được xác định tại thời điểm vi
phẫu. Số lượng động mạch được xác định và bảo tồn
bằng cách cắt bỏ thừng tinh tỉ mỉ không tương quan
với sự cải thiện các thông số tinh dịch. Nghiên cứu
của Goldstein M cho thấy sử dụng kính phóng đại
giúp dễ nhận biết động mạch, tĩnh mạch tuy nhiên
chưa có sự ghi nhận số nhánh động mạch tinh trong
[8]. Nghiên cứu của Cao X và cộng sự (2024) nhấn
mạnh rằng việc bảo tồn một động mạch duy nhất rút
ngắn thời gian phẫu thuật và không ảnh hưởng đến
kết quả vi phẫu thắt tĩnh mạch tinh đường dưới bẹn
[9]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tất cả các bệnh
nhân được phẫu thuật đường dưới bẹn. Bộc lộ thừng
tinh và kiểm soát tất cả các động mạch tinh hoàn.
Việc đếm số nhánh của động mạch tinh trong được
tiến hành tỉ mỉ, cẩn trọng dưới hướng dẫn của Mi-
cro-Doppler. Tất cả các nhánh của động mạch tinh
trong được phẫu tích và biệt lập bằng chỉ prolen 5.0.
Thắt các tĩnh mạch tinh và bảo tồn hệ bạch mạch.
Chúng tôi phẫu thuật giãn tĩnh mạch tinh hai bên
21 bệnh nhân (60%), một bên 14 bệnh nhân (40%).
Số lượng động mạch tinh phát hiện bằng vi phẫu,
Micro-Doppler: 3 động mạch 48,2% (27/56 trường
hơp), 2 động mạch 35,7% (20/56 trường hơp), 1
động mạch 16,1% (9/56 trường hơp).
N.D. Khanh et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 17, 267-273

