1
Luận văn
Vai trò kinh tế của Nhà nước
trong nền kinh tế thị trường ở
nước ta hiện nay
2
Phần I: Đặt vấn đề
Lịch sphát triển của xã hội loài người từ trước đến nay đã trải qua nhiều
hình thái kinh tế xã hội khác nhau. Mỗi hình thái kinh tế xã hi mỗi giai đoạn
phát triển của lịch sử đều tính logic của , vì vy nên đem lại được khá
nhiều thành công tt song cũng chưa thật được mmãn nhiều thiếu
sót cần phải khắc phục. Chúng ta hiện nay đang giai đoạn đầu của thời kỳ q
độ lê chnghĩa xã hội vì vậy điều tất yếu của chúng ta là phải nghiên cứu con
đường Đảng Nhà nước ta đã lựa chọn. Để góp phần vào xây dựng chế
tchức quản kinh tế sao cho phù hợp với điều kiện của nước ta và phù hợp
với xu thế của thế giới là nguyên nhân để em chọn đề tài:
Vai trò kinh tế của Nhà nước trong nn kinh tế thtrường nước ta
hiện nay.
Vit Nam chúng ta vừa mới bắt đầu công cuộc đổi mới từ nền kinh tế kế
hoch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường nên có nhiều vấn đề được đặt ra.
Bởi thực tế đã cho thấy ở các nước đi trước, khi họ để nền kinh tế vận dụng theo
chế thị trường không sự quản của Nnước thì không đạt được mục
tiêu kinh tế mà còn hơn thế nữa còn đẩy lùi nền kinh tế, điển hình cuc
khủng hoảng 1929 1933. Song nếu sự can thiệp của Nnước và chiến
lược đúng đắn thì lại động thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế. Vì vậy
chúng ta cần phải có sự can thiệp của Nhàớc tầm để đưa nền kinh tế
thị trường ở ớc ta hiện nay đang còn nhiều tranh cãi mà chúng ta cần phải làm
sáng t, mặc dù shướng dẫn tận tình của c thầy giáo cùng với những
nỗ lực của cá nhân em, song do lượng kiến thức còn hạn chế nên trong đề án này
em chỉ trình bày được một số quan điểm.
3
Phần II: Giải quyết vấn đề
I. Vai trò kinh tế của Nhà nước và tính tất yếu khách quan về vai trò quản
của Nhà nước đối với nền kinh tế.
1. Vai trò của Nhà nước nói chung trong lịch sử.
Ngay tthời xa xưa,người đã biết sống lại từng bầy, từng đàn nhằm tạo
điều kiện cho việc săn bắn để phục vụ cho đời sống hơn thế nữa họ còn để
bo v những gì mình kiếm được. Của cải ngày mt nhiều hơn c tập đoàn
người này cn phải bảo vệ của cải của h bằng hình thái liên kết lại nhau, bầu ra
những người đứng đầu để cai quản. cùng với lch s, xã hi loài người ngày
càng phát triển hơno theo sự phát triển của lực lượng sản xuất và năng suất
lao đng xã hội chế độ hữu (lợi ích kinh tế ) xuất hiện đã phân chia xã hội
thành kgiàu người nghèo hình thành hai giai cấp, cơ bản là chnô và nô lệ nên
hình thành mt xã hi mới với sự phân chia giai cấp đấu tranh giai cấp gay
gắt không thể điều hoà, đòi hi phải có một tổ chức mới khả năng thể dập
tắt được xung đột giai cấp ấy, tổ chức đó Nhà nước. Xuất phát từ việc nghiên
cu nguồn gốc của Nnước, c nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lênin đã
kết luận rằng “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp
không thđiều hoà” . Nhà nước chỉ ra đời và tồn tại trong xã hội giai cấpvà
bao giờ cũng thể hiện bản chất giai cấp sâu sắc. Bản chất đó được thể hiện trước
hết chỗ Nnước là bmáy cưỡng chế đặc biệt nằm trong tay giai cấp thống
trị, là công csắc bén nhất để duy trì sthống trị giai cấp. Vì vy nên Nhà nước
bao gicũng bo vệ lợi ích của một giai cấp nhất định. Song vai trò kinh tế của
Nhà nước thì có sự khác nhau về mức độ, hình thức biểu hiện nhằm phù hợp với
điều kiện của từng giai đoạn.
Thực ra lịch sử đã chứng minh chức năng kinh tế của Nhà nước được phôi
thai ngay tbui ban đầu khi Nc mới chỉ vừa xuất hiện sau đó mới được
nhận thức và ng dụng vào thực tiễn quản kinh tế xã hội. Trong thời đại
chiếm hữu nô lệ Nhà nước chủ nô kiểu Nhà nước đầu tiên trong lịch sđã trực
tiếp dùng quyền lực cuả mình can thiệp vào việc phân phối của cải được sản
xut ra bởi những người nô lệ dưới sự chỉ huy điều khiển qtrình sản xuất của
4
giai cp chủ nô chiếm đoạt bằng bạo lực. Các thủ đoạn bạo lực phi kinh tế ở đây
được s dụng làm công cụ để chiếm đoạt, cưỡng bức kinh tế.
Trong thi đại phong kiến Nhà nước phong kiến khong chỉ can thiệp vào
việc phân phối của cải mà đứng ra tập hợp lực lượng nhân dân xây dựng kết cấu
hạ tầng cho sản xuất nông nghiệp, khuyến khích quan lại, di dân đi mở mang các
vùng đất mới đề ra các chính sách ruộng đất thích hợp với từng thời kỳ, nhìn
chung các hot động này din ra một cách tự phát.
2. Tính tất yếu khách quan quản của Nnước đối với nền
kinh tế.
a. Cơ chế cũ và những ưu khuyết tật của nó:
Sau kháng chiến thắng lợi, dựa vào kinh nghiệm của các ớc xã hội chủ
nghĩa (XHCN) đất nước ta đã bắt đầu xây dựng hình kế hoạch hoá tập trung
dựa trên hình thức sở hữu ng cộng về liệu sản xuất (TLSX). Với sự nỗ lực
của nhân dân ta và có thêm sgiúp đỡ tận tình của các nước XHCN. Mô hình kế
hoch hoá đã phát huy được những tính ưu việt của nó.
Nhưng sau ngày giải png miền Nam bức tranh mới về hiện trạng kinh
tế xã hội đã thay đổi, trong một nền kinh tế cùng mt lúc tồn tại cả ba loại hình
kinh tế là tự cấp tự túc, kinh tế kế hoạch hoá tập trung và kinh tế hàng hoá. Đó
thực tế khách quan tồn tại sau những năm 1975 nhưng chúng ta vẫn tiếp tục chủ
trương xây dng nền kinh tế chỉ huy như miền Bắc trước đây. Do các quan hệ
kinh tế đã thay đổi rất nhiều, việc áp dụng cơ chế ql kinh tế cũ vào điều kiện nền
kinh tế đã thay đổi làm xuất hiện rất nhiều hiện tượng tiêu cực. Do chủ quan
không cân nhắc tới sự phù hợp của cơ chế quản lý kinh tế mà chúng ta đã không
qun có hiệu quả, Nhà nước thực hiện bao cấp tràn lan. Những sự việc này
gây ra nhiều hậu quả xấu cho nền kinh tế, sự tăng trưởng kinh tế gặp nhiều khó
khăn, sản phm trở nên khan hiếm, tích luhàng năm hầu như không có. Vốn
đầu chủ yếu dựa vào vay viện trợ của nước với lạm phát cao làm cho đời
sng nhân dân bị giảm sút thậm chí có một số địa pơng nạn đói đang rình rập.
Nguyên nhân sâu xa ssuy thoái nền kinh tế nước ta do đã rập khuôn
một mô hình kinh tế chưa thích hợp và kém hiệu quả. Những sai lầm bản là:
5
Ta đã thực hiện mt chế độ sở hữu toàn dân v liệu sản xuất trên mt
quy mô lớn trong điều kiện chưa cho phép. Điều này đã dẫn đến một bộ phận tài
sản chủ đã không sử dụng nguồn lực rất khan hiếm của đất nước trong khi
dân sngày càng gia tăng.
Thực hiện việc phân phối theo lao động ng trong điều kiện chưa cho
phép khi tng sản phẩm quốc dân thấp đã dùng hình thức vừa phân phối bình
quân vừa phân phối lại một cách gián tiếp đã làm mt động lực của sự phát triển.
Vic quản lý kinh tế của Nnước lại sử dụng các công cụ hành chính
mệnh lệnh theo kiểu thời gian chiến tranh không thích hợp với yêu cu tự do lựa
chn của người sản xuất người tiêu ng đã không kích thích ssáng taọ của
hàng triệu người lao động.
Chế độ hạch toán trên thực tế còn nặng nên hình thức, lợi ích kinh tế, đặc
biệt là lợi ích nhân người lao động, mt động lực trực tiếp của hoạt động xã
hội chưa được quan tâm đúng mức, vì thế sự vận động của nền kinh tế nhìn
chung là chậm chạp, kém năng động.
b. Quá trình chuyển đổi từ cơ chế cũ sang cơ chế mới:
Đứng trước tình hình kinh tế như trên vấn đề cấp bách đối với Nnước
ta là phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế sao cho phù hợp với điều kiện đất nước
hiện nay. Xuất phát từ vấn đề này nhiều nhà khoa học của chúng ta đã đi sâu vào
nghiên cứu học thuyết kinh tế mà trng tâm là của Keynes và Samuelson.
Keynes người đầu tiên đề cao vai trò ca N nước trong nền kinh tế thị
trường thông qua sphân tích thuyết chung về việc làm, ông đã đi đến kết
luận muốn thoát khỏi khủng hoảng, thì không thdựa vào chế thị trường tự
điều tiết, mà cần phải có sự can thiệp của Nớc vào kinh tế để tăng cầu
hiệu quả, kích thích tiêu dùng, sản xuất, kích thích đầu tư, bảo đảm việc làm
tăng thu nhập. Vì vậy ông đnghị Nnước phải duy trì đầu thông qua sử
dụng hệ thống tài chính tín dụng và lưu thông tiền tệ, Keynes tài chính tín dụng
và lưu thông tiền tệ là công cụ kinh tế rất quan trọng.
“tư ởng can thiệpđã được nhiều nhà khoa học khác thời sau đó
phân tích và nghiên cứu cụ thể ntrường phái thể chế mới. Vi h“tư tưởng