
Xử lý nước thải ngành may mặc
– Ngành may mặc Việt Nam là ngành kinh tế mũi nhọn chỉ đứng sau dầu khí
về kim ngạch xuất khẩu. Ngành may mặc có khả năng tiến xa hơn với những
cơ hội tốt như đang đứng trong top 7 nhà sản xuất may mặc hàng đầu thế
giới, nhờ có ngành thủ công truyền thống lâu đời, lực lượng lao động dồi
dào, công nghệ sản xuất ngày càng được cải tiến. Trong 8 tháng đầu năm
2011, kim ngạch xuất khẩu của ngành đạt 8,98 tỷ USD, trong tháng 8 hàng
may mặc đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu trong cả nước.
– Ngành kinh tế mũi nhọn này thu hút nhiều lao động, đem nhiều ngoại tệ
về đất nước với hàng vạn nhà máy, hàng triệu công nhân nên chúng ta cần
phải nghiêm túc xem trọng vấn đề môi trường trong nhà máy. Xử lý nước
thải là điều mà các chủ doanh nghiệp, các cơ quan chức năng nên đặc biệt
quan tâm nhằm giảm thiểu tình trạng suy thoái môi trường.
2. Các nguồn thải nước thải may mặc
Nước thải của các nhà máy may mặc phát sinh từ hai nguồn chính:
- Nước thải sinh hoạt
+ May mặc và may dày da có rất đông công nhân nên đây là nguồn phát
sinh nước thải, chủ yếu từ nhà vệ sinh và bếp ăn. Nước thải sinh hoạt có các
chất hưu cơ, vi khuẩn.. gây ô nhiễm với nồng độ thấp phù hợp với biện
pháp xử lý sinh học.
- Nước thải sản xuất
+ Phát sinh từ việc sử dụng hóa chất tẩy rửa, dung môi..và từ công đoạn in
lụa các chi tiết nhỏ lẻ. Chúng ta sử dụng biện pháp hóa lý để xử lý nước thải.

Khảo sát các nguồn thải của nhà máy nhằm đánh giá mức độ ô nhiễm, từ đó
đưa ra phương pháp xử lý tối ưu nhằm giảm chi phí đầu tư cho nhà máy.
Nếu nhà máy có cả hai nguồn thải là nước thải sinh hoạt và nước thải sản
xuất ta cần tách dòng để xử lý riêng biệt.
Nước thải từ các khu vực sản xuất theo mạng lưới thoát nước riêng chảy vào
hố thu của trạm xử lý. Tại đây, để bảo vệ thiết bị và hệ thống đường ống
công nghệ phía sau, song chắn rác thô được lắp đặt trong hố để loại bỏ các
tạp chất có kích thước lớn ra khỏi nước thải. Sau đó nước thải sẽ được bơm
lên bể điều hòa.
Tại bể điều hòa, máy khuấy trộn chìm sẽ hòa trộn đồng đều nước thải trên
toàn diện tích bể, ngăn ngừa hiện tượng lắng cặn ở bể sinh ra mùi khó chịu,
đồng thời có chức năng điều hòa lưu lượng và nồng độ nước thải đầu vào.
Nước thải từ bể điều hòa được bơm sang bể phản ứng. Tại bể phản ứng, hóa
chất keo tụ được châm vào bể với liều lượng nhất định và được kiểm soát
chặt chẽ bằng bơm định lượng hóa chất. Dưới tác dụng của hệ thống cánh
khuấy với tốc độ lớn được lắp đặt trong bể, hóa chất keo tụ được hòa trộn
nhanh và đều vào trong nước thải, hình thành các bông cặn nhỏ li ti khắp
diện tích bể. Hỗn hợp nước thải này tự chảy qua bể keo tụ tạo bông. Dưới
tác dụng của chất trợ keo tụ và hệ thống motor cánh khuấy với tốc độ chậm,
các bông cặn li ti sẽ chuyển động, va chạm, dính kết và hình thành nên
những bông cặn có kích thước và khối lượng lớn gấp nhiều lần các bông cặn
ban đầu, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lắng ở bể lắng. Hỗn hợp nước
và bông cặn ở bể keo tụ tạo bông tự chảy sang bể lắng.
Phần bùn trong nước thải được giữ lại ở đáy bể lắng. Lượng bùn này được
bơm qua bể chứa bùn, phần nước sau khi tách bùn sẽ chảy về bể trung gian,
sau đó được bơm qua bể lọc áp lực đa lớp vật liệu: sỏi đỡ, cát thạch anh và
than hoạt tính, để loại bỏ các hợp chất hữu cơ hòa tan, các nguyên tố dạng

vết. Nước thải sau khi qua bể lọc áp lực sẽ đi qua bể nano dạng khô để loại
bỏ lượng SS còn sót lại trong nước thải, đồng thời khử trùng nước thải.
Nước sau khi qua bể nano dạng khô đạt yêu cầu xả thải vào nguồn tiếp nhận
theo quy định hiện hành của pháp luật.
Bùn ở bể chứa bùn được được bơm qua máy ép bùn băng tải để loại bỏ
nước, giảm khối tích bùn. Bùn khô được các cơ quan chức năng thu gom và
xử lý định kỳ.

