Ảnh hưởng của độ mặn và chế độ cho ăn lên tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm he Ấn Độ Penaeus indicus

Chia sẻ: Trương Tiên | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
13
lượt xem
0
download

Ảnh hưởng của độ mặn và chế độ cho ăn lên tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm he Ấn Độ Penaeus indicus

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu này kiểm chứng giả thuyết về tác dụng tích cực của việc cho tôm ăn 30% khẩu phần ăn vào ban đêm và ảnh hưởng của độ mặn lên tỉ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và hệ số chuyển đổi thức ăn FCR của tôm he Ấn Độ Penaeus indicus.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ảnh hưởng của độ mặn và chế độ cho ăn lên tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm he Ấn Độ Penaeus indicus

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 1/2018<br /> <br /> THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC<br /> ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN VÀ CHẾ ĐỘ CHO ĂN LÊN TỐC ĐỘ<br /> TĂNG TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CỦA TÔM HE ẤN ĐỘ Penaeus indicus<br /> EFFECTS OF SALINITY AND FEEDING REGIME ON GROWTH AND<br /> SURVIVAL OF INDIAN SHRIMP Penaeus indicus<br /> Hoàng Tùng1, Trương Ái Nguyên1, Hồ Hải Cơ1, Võ Thị Minh Thư1<br /> Ngày nhận bài: 7/12/2017; Ngày phản biện thông qua: 6/3/2018; Ngày duyệt đăng: 27/4/2018<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Nghiên cứu này kiểm chứng giả thuyết về tác dụng tích cực của việc cho tôm ăn 30% khẩu phần ăn vào<br /> ban đêm và ảnh hưởng của độ mặn lên tỉ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và hệ số chuyển đổi thức ăn FCR của<br /> tôm he Ấn Độ Penaeus indicus. Thí nghiệm được thiết kế theo kiểu Split-plot với yếu tố chính là độ mặn (15<br /> hoặc 30 ppt) và yếu tố phụ là chế độ cho ăn (ban ngày hoặc cả ngày lẫn đêm). Kết quả cho thấy độ mặn ảnh<br /> hưởng đến tất cả các thông số quan sát. Tôm được nuôi ở độ mặn 30 ppt có tỉ lệ sống, FCR và tốc độ tăng<br /> trưởng cao hơn so với độ mặn 15 ppt (P < 0,05). Trong khi đó, cho tôm ăn 30% khẩu phần vào ban đêm cải<br /> thiện tốc độ tăng trưởng (P < 0,05) nhưng không ảnh hưởng đến tỉ lệ sống và FCR của tôm thí nghiệm (P ><br /> 0,05). Kiểm định thống kê không ghi nhận tương tác giữa 2 yếu tố nghiên cứu là độ mặn và chế độ cho ăn<br /> (P > 0,05). Chúng tôi đề xuất nên nuôi tôm he Ấn Độ ở độ mặn 30 ppt và cho tôm ăn cả ban ngày lẫn đêm<br /> để cải thiện tốc độ tăng trưởng, rút ngắn thời gian nuôi và tiết kiệm chi phí thức ăn.<br /> Từ khóa: Penaeus indicus, tăng trưởng, độ mặn, chế độ cho ăn<br /> ABSTRACT<br /> In this study we examined possible effects of night feeding (30% of daily ration) and salinity on survival,<br /> growth and feed conversion ratio (FCR) of the Indian shrimp Penaeus indicus via a split-plot experiment<br /> with salinity as the main-plot factor (15 and 30 ppt) and feeding regime as the sub-plot factor (DO: day only,<br /> and DAN: day and night). Results show that salinity srongly affect all the observed parameters. Shrimps<br /> grown at 30 ppt had significantly higher survival, FCR and growth than those grown at 15 ppt (P < 0.05).<br /> Feeding shrimp 30% of daily ration at night improved growth (P < 0.05), but had no effect on survival or<br /> FCR (P > 0.05). There was, however, no interaction between the two examined factors: salinity and feeding<br /> regime (P > 0.05). We therefore suggest that salinity of 30 ppt and night feeding should be applied in farming<br /> Penaeus indicus for growth improvement, reduction of crop length and feed cost.<br /> Key words: Penaeus indicus, growth, salinity, feeding regime<br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Tôm he Ấn độ Penaeus indicus là một trong<br /> những đối tượng nuôi quan trọng tại khu vực<br /> Nam và Đông Nam Á (FAO 2016). Tôm thường<br /> được nuôi ở hình thức quảng canh, trong các<br /> đầm nước lợ ven biển (Akiyama & Anggawa<br /> 1999). Kết quả nuôi tại Các Tiểu vương quốc<br /> Ả rập, Việt Nam, Iran, Cộng hòa Mozambique,<br /> Nam Phi và Ấn độ cho năng suất cao, hiệu quả<br /> <br /> kinh tế tốt. Quan trọng hơn, P. indicus có khả<br /> năng kháng một số tác nhân gây bệnh nguy<br /> hiểm như Whitetailed Nodavirus (MrNV), siêu<br /> vi khuẩn (XSV), virus gây bệnh đốm trắng hoặc<br /> có tần suất nhiễm bệnh đầu vàng thấp hơn tôm<br /> thẻ chân trắng P. vannamei hay tôm sú P. monodon trong điều kiện tự nhiên (Rajendran et<br /> al. 1999; Senapin et al. 2010). Các quan sát<br /> ban đầu ở Việt Nam và Các tiểu vương quốc<br /> <br /> 1 Khoa Công nghệ Sinh học, Trường Đại học Quốc tế - Đại học Quốc Gia Hồ Chí Minh<br /> <br /> 56 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> Ả rập cho thấy P. indicus chưa bị tác động bởi<br /> bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) hay<br /> còn gọi là hội chứng chết sớm EMS. AHPND<br /> đang được coi là một trong các loại bệnh nguy<br /> hiểm nhất đối với ngành nuôi tôm của thế giới<br /> hiện nay.<br /> Độ mặn là một trong những yếu tố quan trọng<br /> trong nuôi tôm mặc dù đa phần các đối tượng<br /> nuôi thuộc loại rộng muối. Đã có nhiều nghiên<br /> cứu cho thấy độ mặn ảnh hưởng đến tỉ lệ sống<br /> (Ogle et al. 1992), tần suất lột xác (Pante 1990),<br /> tiêu hao oxy hòa tan (Villarreal et al. 1994)<br /> và tốc độ tăng trưởng của tôm (Huang 1983;<br /> Wyban et al. 1995). Theo Bray et al. (1994)<br /> độ mặn thấp hơn 5 ppt khiến P. vannamei suy<br /> giảm khả năng đồng hóa thức ăn, giảm tốc<br /> độ tăng trưởng và mẫn cảm hơn với tác nhân<br /> gây bệnh. Nước có độ mặn thấp thường thiếu<br /> các khoáng chất như Ca2+, Mg2+ và K+ gây<br /> ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất hoặc<br /> tạo vỏ mới khi tôm lột xác tăng trưởng (Hoàng<br /> Tùng 2016). Thông thường, nếu các yếu tố<br /> này được đảm bảo thì thời gian giữa 2 lần lột<br /> xác sẽ ngắn lại, tôm có tăng trưởng tốt hơn ở<br /> độ mặn thấp (Diwan & Laxminarayana 1989).<br /> Tương tự, Chen et al. (1992) cho biết độ mặn<br /> tối ưu cho tôm nương P. chinensis là 20 – 25<br /> ppt. Tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của<br /> P. chinensis sau 60 ngày nuôi thấp nhất ở các<br /> độ mặn 5 ppt và 35 – 40 ppt.<br /> Nghiên cứu về khả năng thích ứng với<br /> độ mặn của P. indicus chưa có nhiều. Kumlu<br /> (1998) thử nghiệm ương ấu trùng P. indicus<br /> trong giai đoạn sản xuất giống ở nhiều độ mặn<br /> khác nhau và kết luận 25 ppt là phù hợp nhất.<br /> Thông tin ban đầu từ các nghiên cứu của chúng<br /> tôi cho thấy tôm he Ấn Độ P. indicus đang được<br /> nuôi quảng canh trong đầm nước lợ tại các<br /> tỉnh Kiên Giang và Cà Mau, đồng thời chúng<br /> có khả năng thích ứng tốt với nhiệt độ cao tại<br /> khu vực miền Trung nơi độ mặn có thể dễ dàng<br /> đạt 30 ppt hoặc cao hơn trong mùa nắng nóng<br /> (Hoàng Tùng, số liệu chưa công bố). Vì vậy,<br /> qua nghiên cứu này, chúng tôi muốn đánh giá<br /> <br /> Số 1/2018<br /> tốc độ tăng trưởng của tôm he Ấn Độ ở 2 độ<br /> mặn đại diện cho 2 khu vực sinh thái là ven<br /> biển 30 ppt và vùng nước lợ 15 ppt. Một vấn đề<br /> quan trọng nữa trong nuôi tôm thương phẩm là<br /> chế độ cho ăn. Về cơ bản, cho tôm ăn vào ban<br /> đêm không được khuyến khích, ngoại trừ một<br /> đối tượng nuôi duy nhất là tôm he Nhật Bản<br /> P. japonicus do đối tượng này chỉ hoạt động<br /> khi trời tối (Cuzon et al. 1982). Lý do là các ao<br /> nuôi tôm thường bị thiếu oxy hoà tan về đêm.<br /> Tôm thẻ chân trắng P. vannamei sẽ không bắt<br /> mồi khi hàm lượng oxy hòa tan trong nước ở<br /> mức thấp hơn 4 mg/L (Hoàng Tùng 2016). Tuy<br /> nhiên, việc không cho tôm ăn vào ban đêm là<br /> thiếu logic khi xem xét tập tính tự nhiên của tôm<br /> he. Các đối tượng như tôm bạc thẻ Penaeus<br /> merguiensis, tôm rằn P. esculentus hay tôm thẻ<br /> chân trắng đều bắt mồi nhiều hơn vào ban đêm<br /> (Hill & Wassenberg 1987; Wassenberg & Hill<br /> 1993; Napaumpaiporn et al. 2013). Quan sát<br /> thực tế của chúng tôi tại cơ sở nuôi thâm canh<br /> tôm thẻ chân trắng qua nhiều vụ cho thấy tốc<br /> độ tăng trưởng của tôm được cải thiện khoảng<br /> 20 - 30% cho tôm ăn từ 20:00 đến 04:00 ngày<br /> hôm sau với điều kiện đảm bảo hàm lượng oxy<br /> hòa tan trên 4 mg/L.<br /> Trong nghiên cứu này, chúng tôi muốn<br /> kiểm chứng các giả thuyết (i) tôm he Ấn Độ<br /> tăng trưởng tốt hơn nếu được cho ăn đêm<br /> 30% khẩu phần ăn hàng ngày so với chỉ cho<br /> ăn vào ban ngày như khuyến cáo kỹ thuật<br /> thông thường, và (ii) độ mặn 30 ppt tốt hơn so<br /> với 15 ppt xét về cả tốc độ tăng trưởng lẫn tỉ<br /> lệ sống do tôm he Ấn Độ có phân bố tự nhiên<br /> ở các khu vực có độ mặn cao. Thông tin thu<br /> được sẽ góp phần hoàn thiện chế độ cho ăn<br /> của tôm he nuôi thương phẩm nói chung và hỗ<br /> trợ quá trình xây dựng qui trình kỹ thuật nuôi<br /> tôm he Ấn Độ tại Việt Nam.<br /> II. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG<br /> PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> 1. Đối tượng nghiên cứu<br /> Tôm he Ấn Độ (Penaeus indicus) được sản<br /> <br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 57<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> xuất tại Cà Mau bằng nguồn tôm bố mẹ thu<br /> thập tại khu vực Cà Mau – Kiên Giang. Tôm<br /> giống PL10 được chuyển về nuôi ở độ mặn 20<br /> ppt tại Khu thực nghiệm Công nghệ Sinh học<br /> của Trường Đại học Quốc tế thêm 60 ngày.<br /> Trước khi tiến hành thí nghiệm 10 ngày, tôm<br /> được chia làm 2 nhóm và thuần ở 2 độ mặn<br /> 30 ppt và 15 ppt. Các cá thể có kích thước<br /> đồng đều, bơi lội khỏe mạnh, không bị tổn<br /> thương được chọn ngẫu nhiên để tiến hành<br /> thí nghiệm. Xét nghiệm bằng phương pháp<br /> PCR khẳng định đàn tôm thí nghiệm âm tính<br /> với bệnh hoại tử gan tụy cấp tính. Chiều dài<br /> và khối lượng thân trung bình của tôm tại thời<br /> điểm bắt đầu thí nghiệm lần lượt là 20,3 ±1,5<br /> mm và 50,0 ± 4,0 mg.<br /> 2. Thiết kế thí nghiệm<br /> Thí nghiệm hai yếu tố được thiết kế theo kiểu<br /> Split-plot với yếu tố chính - main plot factor là<br /> độ mặn (15 và 30 ppt) với 2 lần lặp sử dụng 4 hệ<br /> thống tuần hoàn và yếu tố phụ là chế độ cho ăn<br /> (ban ngày - DO và cả ngày lẫn đêm - DAN) với<br /> 8 lần lặp (2 bể trong mỗi hệ thống tuần hoàn).<br /> Đơn vị thí nghiệm là bể composite thể tích 250<br /> lít chứa 100 lít nước với mật độ nuôi 40 con/bể.<br /> Nước biển sử dụng cho thí nghiệm có độ mặn<br /> 30 ppt được cung cấp bởi Trung tâm Giống<br /> Hải sản Quốc gia Khu vực Nam Trung Bộ tại<br /> <br /> Số 1/2018<br /> Vũng Tàu. Nước được lọc qua bộ lọc cát, xử<br /> lý bằng Chlorine 20 ppm, sục khí mạnh liên tục<br /> trong 72 giờ cho hết dư lượng chlor. Nước có<br /> độ mặn 15 ppt được tạo bằng cách pha trộn<br /> nước biển đã xử lý với nước máy phục vụ sinh<br /> hoạt, kiểm tra lại bằng khúc xạ kế Atago. Trong<br /> thời gian thí nghiệm, nước của các hệ thống<br /> tuần hoàn được thay mới 10 – 20% mỗi tuần<br /> để đảm bảo chất lượng. Các chế phẩm vi sinh<br /> gồm Chính Floc và EMG (của Công ty Green<br /> Guard) được sử dụng định kỳ giúp xử lý chất<br /> thải trong hệ thống, kiểm soát hàm lượng NH3<br /> và NO2-. Các yếu tố môi trường quan trọng<br /> như độ mặn, nhiệt độ, độ kiềm, độ pH, oxy hòa<br /> tan, NO2- và NH3, độ kiềm được đo đạc hang<br /> ngày và duy trì trong khoảng tối ưu suốt thời<br /> gian thí nghiệm (Bảng 1).<br /> Chế độ cho ăn ban ngày (DO) có 2 đợt<br /> cho ăn: 08:00 – 12:00 và 14:00 – 18:00, mỗi<br /> đợt 50% khẩu phần ăn hàng ngày. Chế độ cho<br /> ăn cả ngày lẫn đêm (DAN) có 3 đợt cho ăn<br /> vào lúc 08:00 – 12:00, 14:00 – 18:00 và 20:00<br /> – 24:00, mỗi lần sử dụng 1/3 khẩu phần ăn<br /> hàng ngày. Thức ăn sử dụng cho thí nghiệm là<br /> MEGA (40% protein của Nutreco International<br /> Vietnam), được rải đều trong khoảng thời gian<br /> đã định bằng máy cho ăn tự động với khẩu<br /> phần ăn là 5% khối lượng thân/ngày.<br /> <br /> Bảng 1: Các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm<br /> <br /> 3. Thu thập và xử lý số liệu<br /> Số lượng tôm chết ở các bể nuôi được ghi<br /> nhận mỗi ngày, làm cơ sở tính tỉ lệ sống. Tại<br /> thời điểm giữa thí nghiệm (ngày 21) và kết thúc<br /> thí nghiệm (ngày 42), khối lượng thân và chiều<br /> <br /> 58 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> dài thân của tôm được xác định cho từng bể<br /> thí nghiệm. Số liệu này được sử dụng để tính<br /> tốc độ tăng trưởng. Để ước tính lượng thức ăn<br /> tôm không sử dụng, chúng tôi đã thực nghiệm<br /> ngâm thức ăn trong nước nuôi tôm ở 2 độ mặn<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> 15 và 30 ppt và thấy rằng hệ số qui đổi 1,0 g<br /> thức ăn khô sau thời gian cho ăn tương ứng sẽ<br /> là 1,93 g ở độ mặn 15 ppt và 1,96 g ở độ mặn<br /> 30 ppt. Tỉ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) được<br /> tính dựa trên lượng thức ăn tôm đã sử dụng<br /> chia cho sinh khối gia tăng của tôm trong thời<br /> gian thí nghiệm. Toàn bộ số liệu được phân<br /> tích bằng kiểm định ANOVA 2 yếu tố cho thiết<br /> kế dạng split-plot ở mức ý nghĩa 0,05 sử dụng<br /> phần mềm SPSS ver 22.0 for Windows<br /> (Sokal & Rohlf 2009). Số liệu về tỉ lệ sống<br /> được chuyển dạng arcsin trước khi phân tích<br /> để thoả mãn giả định của ANOVA về độ đồng<br /> nhất của phương sai.<br /> III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN<br /> Độ mặn ảnh hưởng mạnh đến tỉ lệ sống,<br /> hệ số chuyển đổi thức ăn - FCR và tốc độ tăng<br /> trưởng của tôm he Ấn Độ trong thí nghiệm này<br /> (P < 0,05) (Bảng 2, Hình 1). Trong khi đó, cho<br /> ăn vào ban đêm cải thiện tốc độ tăng trưởng<br /> của tôm (P < 0,05) nhưng không ảnh hưởng<br /> đến tỉ lệ sống và FCR (P < 0,05). Kiểm định<br /> ANOVA 2 yếu tố không ghi nhận tương tác<br /> giữa 2 yếu tố nghiên cứu là độ mặn và chế<br /> độ cho ăn (P < 0,05). Tỉ lệ sống đạt 75% ở độ<br /> mặn 30 ppt; cao gấp 2,8 lần so với ở độ mặn<br /> 15 ppt (P < 0,05) (Hình 1). Quan sát của chúng<br /> tôi cho thấy tôm hao hụt trong thí nghiệm là do<br /> hiện tượng ăn thịt lẫn nhau khi vào kỳ lột xác.<br /> Tôm sử dụng thức ăn tốt ở 30 ppt và bắt mồi<br /> kém ở 15 ppt. Vì thế mà FCR ở độ mặn 30 ppt<br /> tốt hơn nhiều, chỉ bằng 44% ở độ mặn 15% (P<br /> < 0,05). Về tốc độ tăng trưởng, tôm ở độ mặn<br /> 30 ppt có chiều dài và khối lượng thân cao hơn<br /> tôm ở độ mặn 15 ppt lần lượt là 13 và 25% khi<br /> kết thúc thí nghiệm (Hình 1). Mặc dù không cải<br /> thiện được đáng kể FCR nhưng tôm được cho<br /> ăn cả ban ngày lẫn ban đêm có tốc độ tăng<br /> trưởng cao hơn so với tôm chỉ được cho ăn<br /> vào ban ngày, khoảng 7% về chiều dài và 25%<br /> về khối lượng thân (P < 0,05).<br /> Nghiên cứu của chúng tôi đã thành công<br /> trong việc kiểm chứng các giả thuyết đề ra về<br /> <br /> Số 1/2018<br /> ảnh hưởng của độ mặn và chế độ cho ăn đến<br /> tỉ lệ sống, FCR và tốc độ tăng trưởng của tôm<br /> he Ấn Độ Penaeus indicus. Kết quả tốt hơn<br /> được ghi nhận cho các nghiệm thức với độ<br /> mặn 30 ppt hoặc sử dụng chế độ cho ăn vào<br /> ban đêm. Kết quả này phù hợp với phân bố<br /> sinh thái của tôm he Ấn Độ cũng như tập tính<br /> bắt mồi của tôm he (Dall 1992). Tôm he Ấn<br /> Độ được coi là loài rộng muối, có khả năng<br /> thích ứng với độ mặn từ 3 – 40 ppt (ParadeEstepa at al. 1987, Diwan & Laximinarayana<br /> 1989) nhưng khả năng này tốt hơn ở ngưỡng<br /> độ mặn cao (Kumlu & Jones 1995). Khả năng<br /> thích ứng này khác nhau giữa các quần đàn<br /> tôm trong tự nhiên tự nhiên. Tôm có nguồn<br /> gốc từ Red Sea nơi độ mặn dao động trọng<br /> khoảng 36 – 41 ppt có tỉ lệ sống và tốc độ tăng<br /> trưởng tốt hơn khi được nuôi ở độ mặn 50 ppt<br /> so với các độ mặn từ 10 – 40 ppt (Bukhari et<br /> al. 1994). Trong khi đó, tôm có nguồn gốc từ<br /> khu vực đầm phá ven biển ở Ấn Độ lại phát<br /> triển tốt ở độ mặn 5 – 25 ppt (Raj & Raj 1982).<br /> Quần đàn tôm sử dụng trong thí nghiệm này<br /> của chúng tôi có nguồn gốc từ vùng biển Kiên<br /> Giang – Cà Mau. Tôm phát triển ở 30 ppt tốt<br /> hơn nhiều so với ở 15 ppt. Sự khác biệt này có<br /> thể phản ánh khả năng đáp ứng các khoáng<br /> chất cần thiết như Ca2+, Mg2+ và K+ cho quá<br /> trình tăng trưởng của tôm của nước ở các độ<br /> mặn khác nhau. Nước có độ mặn thấp hơn,<br /> thường thiếu khoáng chất để tôm sử dụng khi<br /> lột xác nhưng lại kích thích tôm lột nhiều hơn.<br /> Tôm thiếu khoáng chất sẽ ăn thịt những con<br /> nhỏ hơn hoặc yếu hơn, đặc biệt tại thời điểm<br /> lột xác để tích lũy thêm các chất cần thiết.<br /> Chính vì thế mà hiện tượng ăn thịt nhau diễn<br /> ra mạnh hơn ở độ mặn 15 ppt trong thí nghiệm<br /> này, khiến cho tỉ lệ sống chỉ đạt 26,9%. Chen<br /> et al. (1992) cũng có quan sát giống chúng tôi<br /> khi nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn từ 0 –<br /> 30 ppt lên tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của<br /> tôm nương P. chinensis. Các tác giả này cho<br /> biết tôm lột xác nhiều hơn ở độ mặn thấp và<br /> chết đa phần tại thời điểm lột xác.<br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 59<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 1/2018<br /> <br /> Bảng 2: Tỉ lệ sống, hệ số chuyển đổi thức ăn và kích thước của tôm khi kết thúc thí nghiệm<br /> <br /> Số liệu trình bày là giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn. DAN: cho ăn cả ngày lẫn đêm; DO: chỉ cho ăn vào ban ngày.<br /> <br /> Độ mặn 15 ppt có thể gây stress cho<br /> tôm khiến chúng bắt mồi kém, thức ăn thừa<br /> nhiều và khả năng chuyển hóa thức ăn thành<br /> mô thịt không tốt. FCR trung bình của các<br /> nghiệm thức sử dụng nước có độ mặn 15<br /> ppt lên tới 3,53; cao hơn nhiều so với mức<br /> 1,55 ở các nghiệm thức sử dụng nước có độ<br /> mặn 30 ppt. Kết quả này của chúng tôi không<br /> giống với kết luận của Vijayan & Diwan<br /> (1995) nhưng phù hợp với nghiên cứu của<br /> Kumlu & Jones (1995). Theo các tác giả này,<br /> tôm he Ấn Độ giai đoạn ấu niên phát triển tốt<br /> nhất ở độ mặn 20 – 30 ppt. Tỉ lệ chết rất cao<br /> khi tôm được nuôi ở độ mặn 10 ppt. Jiang et<br /> al. (2000) cũng cho biết, tôm thẻ chân trắng<br /> P. vannamei giai đoạn ấu niên nuôi ở 10 ppt<br /> thải NH4+ nhiều hơn so với ở 25 ppt và có tốc<br /> độ tăng trưởng kém. Độ mặn 25 ppt được<br /> cho là tối ưu đối để P. vannamei tăng trưởng<br /> mặc dù chúng có thể thích ứng được từ 1 –<br /> 50 ppt (Pante 1990, Stern et al. 1990). Như<br /> vậy, tôm he Ấn Độ có khả năng thích ứng với<br /> độ mặn thấp kém hơn so với các đối tượng<br /> nuôi phổ biến khác như tôm thẻ chân trắng<br /> P. vannamei và tôm sú P. monodon. Zhang<br /> et al. (1989) cho biết tôm sú có thể sống và<br /> tăng trưởng tốt ở độ mặn 3 ppt. Trong khi đó<br /> đến 50% sản lượng tôm thẻ chân trắng được<br /> nuôi ở các vùng nước ngọt tại Trung Quốc<br /> (Hoàng Tùng et al. 2016).<br /> Về mặt kỹ thuật, điểm thú vị nhất của<br /> <br /> 60 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> nghiên cứu này chính là sự cải thiện về tốc<br /> độ tăng trưởng của tôm he Ấn Độ khi tiến<br /> hành cho ăn vào ban đêm, thay vì chỉ cho<br /> ăn vào ban ngày như khuyến cáo trong nuôi<br /> tôm thẻ chân trắng hoặc tôm sú ở qui mô<br /> bán thâm canh, thâm canh (Hoàng Tùng et<br /> al. 2016). Trong thực tế, khuyến cáo này là<br /> có cơ sở vì đa phần người nuôi tôm hiện<br /> vẫn cho tôm ăn bằng tay và có đến hơn 50%<br /> các ao nuôi tôm ở Việt Nam có hiện tượng<br /> thiếu oxy hòa tan vào ban đêm hoặc ở những<br /> tháng nuôi cuối khi sinh khối đạt mức cao.<br /> Cho ăn vào ban đêm chỉ phát huy hiệu quả<br /> nếu đảm bảo oxy hòa tan ở mức cao hơn 4<br /> mg/L và sử dụng máy cho ăn tự động để rải<br /> đều thức ăn trong khoảng thời gian đã định,<br /> tránh dư thừa làm ảnh hưởng xấu đến chất<br /> lượng nước và giảm hàm lượng oxy hòa tan.<br /> Tại các cơ sở nuôi tôm thẻ chân trắng thâm<br /> canh được đầu tư tốt về hệ thống cung cấp<br /> oxy hòa tan và sử dụng máy cho ăn, tốc độ<br /> tăng trưởng của tôm được cải thiện đáng kể<br /> khi cho tôm ăn khoảng 30% khẩu phần ăn<br /> ngày từ 20:00 đến 04:00 sáng hôm sau từ<br /> ngày nuôi thứ 45 trở đi. Nhờ đó rút ngắn thời<br /> gian nuôi, khoảng 15 - 20 ngày so với bình<br /> thường. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong<br /> những thời điểm giá tôm trên thị trường đang<br /> ở mức cao hoặc vùng nuôi tôm đang có dịch<br /> bệnh bùng phát vì rút ngắn thời gian đồng<br /> nghĩa với giảm thiểu rủi ro.<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản