Vn hi
Trường phái cđin: ba thành tố quyết định tăng trưởng
kinh tế là đất đai, lao động, và vốn vật cht.
Kinh tế học tân cổ điển, và dù trường phái này (cụ thể là
Theodore Schultz và Gary Becker) có đề nghị thêm vốn
con người vào số các thành tố phát triển, nó cũng không
chú ý đến các quan hệ xã hội.
Trường phái hin đi mi quan tâm đến Vn xã hi
Vn xã hi
Vn xã hi:
(1) sự tin cẩn giữa những người cùng một “cộng đồng” (không
nhất thiết bao trùm toàn thể quốc gia),
(2) sự họ tuân theo thói lề, phong tục của cộng đồng ấy (không
cần pháp luật cưỡng chế, hoặc vì hấp lực của quyền lợi vật chất),
(3) nói chung là “mạng lưới” xã hội (có thể là những hiệp hội,
liên hệ gia tộc, vv), những “thứ đó” có ảnh hưởng thường là tốt
đối với xã hội nói rộng, thậm chí có những lợi ích kinh tế rõ
rệt. Từ những nhận xét “chung chung” (và khó phủ nhận) này,
nhiều học giả đã gọi nguồn lực ấy là một thứ “vốn” “vốn xã
hội”.
Vn xã hi
1. thuyết vốn hội của Bourdieu
Bourdieu (1986) phân biệt ba loại vốn: kinh tế,văn
hoá hội. Bourdieu viết: "Vốn hội một
thuộc tính của mỗi nhân trong bối cảnh hội.
Bất cứ ai cũng thể thu nhập một số vốn hội
nếu người đó nỗ lực chú tâm làm việc ấy hơn
nữa bất cứ ai cũng thể dùng vốn hội để đem
lại những lợi ích kinh tế thông thường
Các lý thuyết vn xã hi
Theo chủ thuyết của Bourdieu, vốn hội toàn bộ nguồn
lực (thực tế hoặc tiềm năng) xuất phát từ mạng lưới quen
biết trực tiếp hoặc gián tiếp (thành viên hội đồng hương,
cựu học sinh). Trong phần lớn trường hợp thì mạng lưới
này đã tồn tại từ lâu được thể chế hóa phần nào đó.Từ
đó, chủ thể nào nắm nhiều các mối quan hệ thì càng
nhiều lợi thế hơn. Nói cách khác, mạng lưới này (mối quan
hệ) giá trị sử dụng được hiểu tương tự như một loại
vốn.
Lý thuyết vốn xã hội của Bourdieu