
Bài 5: Sản xuất – Chi phí – Lợi nhuận
ECO101_Bai5_v1.0012112219 95
BÀI 5 SẢN XUẤT – CHI PHÍ – LỢI NHUẬN
Hướng dẫn học
Để học tốt bài này, học viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia
thảo luận trên diễn đàn.
Đọc tài liệu:
1. PGS. TS Vũ Kim Dũng – PGS.TS Phạm Văn Minh (2011), Giáo trình Kinh tế học
vi mô , NXB Lao động xã hội.
2. PGS. TS Vũ Kim Dũng – TS Đinh Thiện Đức, Bài tập kinh tế học vi mô, (2011),
NXB Lao động xã hội.
Tự tìm hiểu một cơ sở sản xuất xem họ bố trí sản xuất như thế nào? Hạch toán chi phí
sản xuất như thế nào? Doanh thu lợi nhuận ra sao, họ có tìm cách đưa ra lựa chọn tối
ưu không? Đây cũng là bài tập tự luận cho học viên.
So sánh các hành vi này của các nhà sản xuất trên địa bàn học viên sống.
Học viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email.
Trang Web môn học.
Nội dung
Doanh nghiệp và các loại hình doanh nghiệp – cung ứng hàng hoá dịch vụ ra thị trường.
Khái niệm và lý thuyết sản xuất, lý thuyết chi phí cơ bản liên quan đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn.
Những lựa chọn tối ưu của doanh nghiệp trong điều kiện sản xuất có lãi, hoà vốn.
Những chỉ tiêu kinh tế chính trong hạch toán của doanh nghiệp.
Mục tiêu
Hiểu những khái niệm kinh tế liên quan đến loại hình doanh nghiệp, hạch toán kinh tế
doanh nghiệp;
Biết tính toán các chỉ tiêu kinh tế chính: Doanh thu, lợi nhuận, chi phí;
Hiểu những quy luật kinh tế cơ bản chi phối sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp;
Hiểu để xem xét những nhân tố cơ bản quyết định đến những sự lựa chọn tối ưu trong
kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiểu sự khác nhau cơ bản về những quyết định của doanh nghiệp trong ngắn hạn và
dài hạn

Bài 5: Sản xuất – Chi phí – Lợi nhuận
96 ECO101_Bai5_v1.0012112219
Tình huống dẫn nhập
“I, Robot” - Isaac Asimov
Sự thay thế lao động bằng Robot ngày càng trở nên phổ biến trong nhiều ngành công nghiệp.
1. Nguyên tắc nào trong lý thuyết có thể sử dụng để giải thích cho hiện tượng này?
2. Có những yếu tố nào ràng buộc xu hướng chuyển đổi này?

Bài 5: Sản xuất – Chi phí – Lợi nhuận
ECO101_Bai5_v1.0012112219 97
Nhà cung cấp
Doanh nghiệp
Nếu như bài 4 đã phân tích về hành vi của người tiêu dùng để từ đó hiểu rõ hơn cầu thị trường
thì bài 5 tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến những hành vi chung nhất của các doanh
nghiệp để từ đó hiểu rõ hơn về cung thị trường đã được trình bày tại bài 2.
5.1. Giới thiệu chung về doanh nghiệp
Trong Kinh tế Vi mô, khái niệm doanh nghiệp được
hiểu là người sản xuất hay nhà cung cấp. Trước khi
thảo luận về hành vi của doanh nghiệp, chúng ta cần
nắm được các khái niệm cơ bản như “người sản
xuất” (nhà cung cấp), doanh nghiệp, các hình thức
doanh nghiệp đang tồn tại trên thế giới và Việt Nam.
5.1.1. Khái niệm người sản xuất trong Kinh tế Vi mô
5.1.1.1. Khái niệm người sản xuất (nhà cung cấp)
Nhà sản xuất là những người sử dụng các nguồn lực đầu vào tài nguyên để sản xuất và
cung cấp sản phẩm ra thị trường.
Như vậy, có thể hiểu rằng, người sản xuất hay nhà
cung cấp là những người sử dụng các nguồn lực đầu
vào nhằm sản xuất hàng hóa và đáp ứng nhu cầu của
thị trường. Họ có thể là một người hoặc một nhóm
người, hay một tổ chức tư nhân hay của Nhà nước.
Trên thực tế, phần lớn nhà cung cấp trên thị trường
là những nhà doanh nghiệp. Do vậy, trong kinh tế
học vi mô, khi khảo sát hành vi của các nhà cung cấp
sản xuất hàng hóa trên thị trường, các nhà kinh tế
học chỉ tập trung chủ yếu vào nghiên cứu hành vi
của doanh nghiệp với vai trò là nhà cung cấp trên thị trường.
5.1.1.2. Khái niệm doanh nghiệp
Trong phần này chúng ta sẽ lần lượt đưa ra các khái niệm tổng quan về các loại hình
doanh nghiệp, giúp người đọc có những khái niệm ban đầu về doanh nghiệp. Việc
xem xét rõ về doanh nghiệp theo quy định của Việt Nam học viên sẽ được học trong
môn “Luật kinh tế” hoặc tìm hiểu trong “Luật doanh nghiệp” ban hành tại Việt Nam.
Vậy doanh nghiệp là gì? Doanh nghiệp là đơn vị sản xuất kinh doanh hàng hóa hoặc
dịch vụ theo nhu cầu xã hội nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.
Khái niệm doanh nghiệp được nghiên cứu từ rất sớm và được trường phái tân cổ điển
lần đầu tiên tập trung nghiên cứu chi tiết. Trường phái này cho rằng, doanh nghiệp
đơn thuần là một thực thể trừu tượng có trách nhiệm hoàn thành vai trò kỹ thuật của
mình là chuyển các nguồn lực đầu vào thành đầu ra, cung ứng cho thị trường. Sau này,
thực tế cho thấy rằng các doanh nghiệp không chỉ đơn thuần thực hiện nhiệm vụ kỹ
thuật mà nhiệm vụ chính là tối đa hóa lợi nhuận. Các vấn đề này được các nhà kinh tế
học vi mô hiện đại thảo luận trong một loạt các lý thuyết về doanh nghiệp. Mục tiêu
các lý thuyết này là dự đoán hành vi của các doanh nghiệp. Như vậy, khi xem xét một

Bài 5: Sản xuất – Chi phí – Lợi nhuận
98 ECO101_Bai5_v1.0012112219
Doanh nghiệp Nhà nước
doanh nghiệp cần phải chú ý tới sự phân phối và liên kết các nguồn lực của doanh
nghiệp trong việc sản xuất và cung ứng hàng hóa cho thị trường nhằm đảm bảo mục
tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
Nói tóm lại, sản xuất được tổ chức ở các doanh nghiệp bởi vì tính hiệu quả đòi hỏi phải
chuyên môn hoá, hiện đại hoá và liên kết sản xuất thì hiệu quả kinh doanh sẽ cao hơn.
Phân biệt một số thuật ngữ về doanh nghiệp trong tiếng Anh
Firm: Là một dạng công ty kinh doanh chuyên cung cấp các sản phẩm mang tính chuyên sâu
cao, như các dịch vụ tài chính, bảo hiểm…
Company: Là một tổ chức sản xuất, kinh doanh bán hàng hóa và dịch vụ, đặc biệt là những hàng
hóa có bản quyền trong một nước cụ thể và do các hộ gia đình sở hữu.
Corporation: Tập đoàn.
Business: Là thuật ngữ chỉ công việc kinh doanh nói chung, hoặc dùng để chỉ các tổ chức chuyên
tổ chức và kinh doanh bán hàng.
5.1.2. Các loại doanh nghiệp
Các tổ chức kinh doanh được phân loại theo nhiều hình thức khác nhau. Trên thế giới,
hiện có hai hình thức phân loại chính, phân loại theo chủ sở hữu và theo quy mô sản
xuất. Ở Việt Nam do đặc thù thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nên doanh
nghiệp ở Việt Nam có cách phân loại khác biệt.
5.1.2.1. Doanh nghiệp phân theo chủ sở hữu
Theo chủ sở hữu tài sản doanh nghiệp có các loại
chính sau đây:
Ở các nước thường chia làm 2 loại: Doanh
nghiệp tư nhân và Doanh nghiệp Nhà nước.
Ở Việt Nam chia làm 6 loại: (1) Cơ sở sản
xuất cá thể; (2) Hợp tác xã; (3) Doanh nghiệp
tư nhân; (4) Công ty cổ phần; (5) Doanh
nghiệp Nhà nước và (6) Công ty nước ngoài.
Hình thức doanh nghiệp phức tạp hơn đó là các công ty cổ phần. Công ty cổ phần
cũng giống như công ty trách nhiệm hữu hạn về góp vốn, cổ đông cũng như trách
nhiệm về nợ. Tuy nhiên, công ty cổ phần được quyền phát hành chứng khoán và có
thể mua bán chứng khoán trên thị trường cổ phiếu. Có nghĩa là bạn có thể mua bán
quyền sở hữu công ty trên thị trường chứng khoán. Ở Việt Nam là sàn giao dịch chứng
khoán Hà Nội (HASTC), và sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
LƯU Ý
Các công ty trách nhiệm hữu hạn là một tổ chức doanh nghiệp được hình thành từ sự đóng góp của
nhiều cổ đông. Quan trọng hơn là loại hình doanh nghiệp này giống như một “thể nhân” tức là thay
vì mọi người trong công ty đi mua hàng hóa, các doanh nghiệp này có thể nhân danh để mua, bán,
vay tiền, sản xuất hàng hóa và tham gia ký kết hợp đồng kinh tế. Các doanh nghiệp này chỉ phải
chịu trách nhiệm hữu hạn về tài sản của công ty. Tức là nếu công ty vỡ nợ, bạn chỉ mất số tiền đã
đầu tư vào công ty, chứ không phải bán các tài sản cá nhân của các chủ doanh nghiệp để trả nợ.
Trong luật doanh nghiệp Việt Nam, các công ty trách nhiệm hữu hạn còn không được phát hành cổ
phiếu trên thị trường.

Bài 5: Sản xuất – Chi phí – Lợi nhuận
ECO101_Bai5_v1.0012112219 99
Sàn giao dịch HASTC
Doanh nghiệp lớn
(HOSE). Các cổ đông có quyền kiểm soát công ty
theo số phần trăm cổ phần nắm giữ. Các cổ đông
cao cấp quyết định vận mệnh công ty gọi là Hội
đồng quản trị. Đứng đầu Hội đồng quản trị là Chủ
tịch công ty, hay Chủ tịch hội đồng quản trị, người
có số cổ phần ủng hộ từ chính mình và từ người
khác là cao nhất trong công ty. Các công ty cổ
phần thường thuê các Giám đốc điều hành để điều
hành kinh doanh. Tất cả các thông cáo báo chí
cũng như hoạt động đều do nhà quản lý trực tiếp
thực hiện và báo cáo lại với Hội đồng quản trị. Như vậy người quản lý sẽ điều hành
công ty, còn các cổ đông thì sở hữu công ty.
Các công ty cổ phần nếu chỉ kinh doanh một ngành nghề, và một công ty thì gọi là
công ty cổ phần. Nhưng nếu các công ty này kinh doanh đa ngành nghề, và phân thành
nhiều các công ty con khác, như Công ty cổ phần Dầu khí Việt Nam bên cạnh kinh
doanh dầu khí còn kinh doanh các dịch vụ tài chính, lập ngân hàng, quản lý quỹ…
tương ứng theo đó là các công ty con. Khi đó, ta gọi đó là các tập đoàn kinh tế. Các
tập đoàn ở Việt Nam như Tập đoàn dầu khí Việt Nam, Tập đoàn điện lực Việt Nam,
Tập đoàn Hòa Phát được hiểu theo nghĩa như vậy.
5.1.2.2. Doanh nghiệp phân theo quy mô sản xuất kinh doanh
Bên cạnh chia các loại hình doanh nghiệp theo chủ sở hữu, chúng ta còn có thể chia
doanh nghiệp theo quy mô sản xuất kinh doanh. Cách chia theo quy mô sản xuất kinh
doanh chủ yếu theo vốn đăng ký kinh doanh và
số người lao động. Ở các nước khác nhau, và tùy
theo từng thời kỳ phát triển kinh tế khác nhau,
các loại doanh nghiệp có các quy định về quy mô
vốn và số người lao động cũng khác nhau. Ở Việt
Nam, Chính phủ quy định 2 loại hình doanh
nghiệp theo quy mô. Đó là doanh nghiệp lớn và
doanh nghiệp nhỏ và vừa. Doanh nghiệp lớn là
doanh nghiệp có vốn đăng ký kinh doanh trên
mười tỉ đồng và có lao động trên 300 công nhân.
Ngược lại, các doanh nghiệp chỉ có vốn không
quá 10 tỉ đồng hoặc chỉ có không quá 300 công nhân được xếp vào loại hình doanh
nghiệp nhỏ và vừa. Số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm đa số ở Việt Nam nhưng
lại sở hữu ít vốn. Ngược lại các doanh nghiệp lớn ít nhưng lại sở hữu một lượng vốn
khổng lồ.
5.1.2.3. Doanh nghiệp quy định trong luật doanh nghiệp Việt Nam
Trong phần trên chúng ta đã giới thiệu khái quát mọi loại hình doanh nghiệp trên thế
giới cũng như tại Việt Nam. Phần này sẽ giới thiệu về các loại hình doanh nghiệp cụ
thể ở Việt Nam theo luật doanh nghiệp. Tuy nhiên, chi tiết có thể tìm hiểu trong luật
doanh nghiệp, luật doanh nghiệp Nhà nước. Ở đây chỉ nêu một số nét khác biệt về các
loại doanh nghiệp Việt Nam.

