Giới thiệu tài liệu
Tài liệu này trình bày tổng quan về nghe kém, bao gồm định nghĩa, phân loại, mức độ và các phương pháp đánh giá.
Đối tượng sử dụng
Tài liệu này hướng đến các sinh viên y khoa, bác sĩ nội trú, và các chuyên gia y tế trong lĩnh vực Tai Mũi Họng và thính học, nhằm cung cấp kiến thức cơ bản và nâng cao về chẩn đoán và phân loại nghe kém.
Nội dung tóm tắt
Tài liệu này cung cấp một cái nhìn toàn diện về nghe kém, bắt đầu bằng việc định nghĩa tình trạng giảm sức nghe trên 20dB ở một hoặc nhiều tần số. Phần sinh lý nghe giải thích chi tiết quá trình dẫn truyền và tiếp nhận âm thanh từ tai ngoài, tai giữa, ngoại dịch, nội dịch đến cơ quan Corti của tai trong, sau đó là các xung thần kinh lên các trung khu và vỏ não để phân tích và tổng hợp. Tài liệu phân loại nghe kém thành ba dạng chính: nghe kém dẫn truyền do gián đoạn âm thanh từ tai ngoài đến cửa sổ bầu dục; nghe kém tiếp nhận do tổn thương từ ốc tai đến vỏ não thính giác; và nghe kém hỗn hợp. Các mức độ nghe kém được phân chia rõ ràng dựa trên ngưỡng nghe ở các tần số 500, 1000, 2000 Hz, từ độ 1 (20-40 dB) đến độ 5 (> 90 dB, điếc sâu). Hướng dẫn cũng chi tiết các bước đánh giá nghe kém, bao gồm khai thác bệnh sử, tiền sử (thời gian khởi phát, tính chất, triệu chứng kèm theo như ù tai, chóng mặt, đau tai, chảy mủ tai, nặng tai, các yếu tố gia đình, nghề nghiệp, bệnh lý nền như tim mạch, tai biến, tiểu đường, thuốc, tai nạn), khám lâm sàng tai bằng đèn soi hoặc nội soi, và các phương pháp đo sức nghe từ đơn giản (kiểm tra bằng tiếng nói thầm/to, âm thoa Weber, Rinner) đến chuyên sâu (thính lực đồ đơn âm, đo sức nghe tiếng nói, nhĩ lượng đồ, điện thính giác thân não, chẩn đoán hình ảnh như XQ Schuller, XQ Stenvers, CT scan, MRI). Cuối cùng, tài liệu liệt kê các nguyên nhân gây nghe kém phổ biến ở trẻ em (do rối loạn nhiễm sắc thể trước sinh, vàng da nhân, sinh non, thiếu oxy não lúc sinh, nhiễm khuẩn, nhiễm độc, chấn thương sau sinh) và người lớn (các vấn đề tai ngoài như nút ráy tai, dị vật, viêm ống tai ngoài; tai giữa như viêm tai giữa mạn, lao tai, xốp xơ tai; tai trong như u dây thần kinh số VIII, Meniere, do thuốc, nghề nghiệp; các tổn thương não như viêm màng não, giang mai, virus; và lão thính).