intTypePromotion=1

Bài giảng Phân tích báo cáo tài chính - Bài 2: Công cụ kỹ thuật phân tích và tổ chức phân tích báo cáo tài chính

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:20

0
13
lượt xem
3
download

Bài giảng Phân tích báo cáo tài chính - Bài 2: Công cụ kỹ thuật phân tích và tổ chức phân tích báo cáo tài chính

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

"Bài giảng Phân tích báo cáo tài chính - Bài 2: Công cụ kỹ thuật phân tích và tổ chức phân tích báo cáo tài chính" được biên soạn giúp người học nhận diện các công cụ kỹ thuật sử dụng để phân tích báo cáo tài chính; nắm vững qui trình và nội dung tổ chức phân tích báo cáo tài chính.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài giảng Phân tích báo cáo tài chính - Bài 2: Công cụ kỹ thuật phân tích và tổ chức phân tích báo cáo tài chính

  1. Bài 2: Công cụ kỹ thuật phân tích và tổ chức phân tích báo cáo tài chính CÔNG CỤ KỸ THUẬT PHÂN TÍCH VÀ TỔ CHỨC BÀI 2 PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH Hướng dẫn học Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:  Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn.  Đọc tài liệu: Giáo trình Phân tích Báo cáo tài chính, Chương 1 (mục 1.3, 1.4).  Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email.  Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học. Nội dung  Công cụ kỹ thuật phân tích.  Tổ chức phân tích. Mục tiêu  Nhận diện các công cụ kỹ thuật sử dụng để phân tích báo cáo tài chính.  Nắm vững qui trình và nội dung tổ chức phân tích báo cáo tài chính. TXKTTC06_Bai2_v1.0015108202 23
  2. Bài 2: Công cụ kỹ thuật phân tích và tổ chức phân tích báo cáo tài chính Tình huống dẫn nhập Người đang “giết chết” cổ phiếu Apple “Giá cổ phiếu cứ tiếp tục lao dốc và mọi người bắt đầu đưa ra các phỏng đoán. Hai ngày nay, cổ phiếu của Apple đã lao dốc thảm hại, rơi từ mức 460 USD xuống còn 427 USD. Dường như không ai có thể chắc chắn về lý do thực sự tạo nên diễn biến này. Giá cổ phiếu cứ tiếp tục lao dốc và mọi người bắt đầu đưa ra các phỏng đoán. Credit Suisse và phóng viên Elmer-DeWitt của Fortune cho rằng cổ phiếu Apple lao dốc sau khi David Trainer – một nhà đầu tư ít được biết đến ở Nashville (theo Elmer-DeWitt) – cho rằng cổ phiếu Apple chỉ đáng giá 240 USD. Elmer-DeWitt cho biết ông đã đọc qua phân tích của Trainer và rút ra kết luận không thể hiểu nổi báo cáo này. Phân tích của Trainer được đưa ra dựa trên hệ số thu nhập trên vốn đầu tư (Return on invested capital – ROIC). Chỉ số này phản ánh khả năng sử dụng một đồng vốn đầu tư để tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp. Theo Trainer, Apple có hệ số ROIC ở mức 271%. Đây là mức không bền vững. Đối với các công ty công nghệ khác, chỉ số ROIC của Microsoft là 75% và của Google là 34%”. (Thu Hương, http://cafef.vn/tai-chinh-quoc-te/nguoi-dang-giet-chet-co-phieu-apple- 2013051611011471312.chn. Truy cập thứ 5, 16/05/2013, 12:20). 1. Giá cổ phiếu của Apple lao dốc có phải do phân tích của David Trainer hay vì nguyên nhân khác? 2. David Trainer tiếp cận báo cáo tài chính thông qua ROIC có đáng tin cậy không? 3. Công cụ kỹ thuật phân tích nào có thể đưa ra kết luận chính xác về tình hình tài chính của doanh nghiệp? 24 TXKTTC06_Bai2_v1.0015108202
  3. Bài 2: Công cụ kỹ thuật phân tích và tổ chức phân tích báo cáo tài chính 2.1. Công cụ kỹ thuật phân tích 2.1.1. So sánh So sánh là kỹ thuật được sử dụng phổ biến trong phân tích nói chung và phân tích báo cáo tài chính nói riêng nhằm đánh giá kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến động của đối tượng nghiên cứu. Để áp dụng kỹ thuật so sánh, các nhà phân tích cần phải chú trọng đến các nội dung cơ bản của kỹ thuật như: Điều kiện so sánh được của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu; gốc so sánh, các dạng so sánh chủ yếu và hình thức so sánh. Kỹ thuật so sánh thường được sử dụng trong phân tích báo cáo tài chính trong các trường hợp sau:  Xác định mức độ biến động (tăng, giảm) về qui mô của chỉ tiêu nghiên cứu Để xác định mức độ biến động về qui mô của chỉ tiêu nghiên cứu, các nhà phân tích tiến hành so sánh trị số tuyệt đối của chỉ tiêu giữa kỳ phân tích (kỳ báo cáo) với kỳ gốc. Qua đó, sẽ biết được mức độ tăng (+) hay giảm (–) của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ phân tích với kỳ gốc biểu hiện bằng thước đo thích hợp (giá trị, hiện vật hay thời gian). Cụ thể: ∆y = y1 – y0 Trong đó: o ∆y: Mức độ tăng (+) hoặc giảm (–) của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ phân tích với kỳ gốc. o y1: Trị số chỉ tiêu nghiên cứu kỳ phân tích (kỳ báo cáo). o y0: Trị số chỉ tiêu nghiên cứu kỳ gốc. Trị số chỉ tiêu kỳ gốc của chỉ tiêu nghiên cứu có thể là kỳ trước, năm trước hay bất kỳ một kỳ nào đó trong quá khứ. Trị số chỉ tiêu kỳ gốc cũng có thể là trị số của chỉ tiêu bình quân ngành, bình quân khu vực hay trị số chỉ tiêu của một doanh nghiệp khác có cùng điều kiện tương đương.  Xác định tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch hay mức độ đạt được của chỉ tiêu nghiên cứu: Để xác định mức độ hoàn thành kế hoạch hay xác định mức độ đạt được của chỉ tiêu nghiên cứu so với kỳ gốc, cần sử dụng kỹ thuật so sánh bằng số tương đối giản đơn. Dạng so sánh giản đơn dùng trong phân tích báo cáo tài chính để xác định mức độ đạt được của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu được xác định như sau: y1 T(%) =  100 y0 Trong đó, T(%) là chỉ tiêu "Tỷ lệ % đạt được của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu kỳ phân tích so với kỳ gốc". TXKTTC06_Bai2_v1.0015108202 25
  4. Bài 2: Công cụ kỹ thuật phân tích và tổ chức phân tích báo cáo tài chính  Xác định tốc độ tăng trưởng chỉ tiêu nghiên cứu so với kỳ gốc Bên cạnh mức độ biến động về qui mô của chỉ tiêu nghiên cứu kỳ phân tích so với kỳ gốc, các nhà quản lý cũng cần thông tin về tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu nghiên cứu. Tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu nghiên cứu (∆T) được xác định theo công thức: y1 – y0 ∆T(%) =  100 y0  Xác định xu hướng tăng trưởng của chỉ tiêu nghiên cứu Bằng việc cố định trị số chỉ tiêu của chỉ tiêu nghiên cứu ở kỳ gốc (thường lấy trị số của chỉ tiêu nghiên cứu tại năm đánh dấu sự ra đời hay năm gắn với bước ngoặt kinh doanh, thay đổi chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp) và thay thế lần lượt chênh lệch trị số giữa kỳ phân tích (ở các kỳ phân tích khác nhau) với kỳ gốc, các nhà phân tích tính ra dãy trị số của chỉ tiêu “Tốc độ tăng trưởng định gốc của chỉ tiêu nghiên cứu” theo thời gian. Trên cơ sở đó, dùng đồ thị (hoặc biểu đồ) để phản ánh kết quả tính toán. Đường biểu thị tốc độ tăng trưởng định gốc của chỉ tiêu nghiên cứu qua thời gian sẽ cho thấy: (1) Tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu nghiên cứu theo thời gian với kỳ gốc là cao hay thấp; (2) Xu hướng tăng trưởng của chỉ tiêu nghiên cứu theo thời gian là tăng (đi lên) hay giảm (đi xuống). yi – y0 ∆TĐ(%) =  100 y0 Trong đó: o ∆TĐ: Tốc độ tăng trưởng định gốc của chỉ tiêu nghiên cứu. o yi: Trị số chỉ tiêu nghiên cứu ở các kỳ phân tích (i  1, n) .  Xác định nhịp điệu tăng trưởng của chỉ tiêu nghiên cứu Việc xác định nhịp điệu tăng trưởng qua các năm lại được thực hiện bằng cách so sánh chênh lệch về trị số chỉ tiêu nghiên cứu mà doanh nghiệp đạt được của kỳ sau so với kỳ liền kề trước đó; tức là tính ra chỉ tiêu “Tốc độ tăng trưởng liên hoàn của chỉ tiêu nghiên cứu” rồi sử dụng đồ thị (hoặc biểu đồ) để thể hiện kết quả tính toán. Căn cứ vào đồ thị (hoặc biểu đồ), các nhà phân tích sẽ đánh giá được nhịp điệu tăng trưởng của chỉ tiêu nghiên cứu theo thời gian là đều đặn, ổn định hay bấp bênh (không đều đặn). Đường biểu thị tốc độ tăng trưởng liên hoàn của chỉ tiêu nghiên cứu qua thời gian sẽ cho thấy: (1) Tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ phân tích với kỳ gốc liền kề là cao hay thấp; (2) Nhịp điệu tăng trưởng của chỉ tiêu nghiên cứu theo thời gian là ổn định (đều đặn) hay thiếu ổn định (bấp bênh). y(i+1) – yi ∆TL ( %) =  100 yi Trong đó: o ∆TL: Tốc độ tăng trưởng liên hoàn của chỉ tiêu nghiên cứu. o yi: Trị số chỉ tiêu nghiên cứu ở các kỳ phân tích (i  1, n) . 26 TXKTTC06_Bai2_v1.0015108202
  5. Bài 2: Công cụ kỹ thuật phân tích và tổ chức phân tích báo cáo tài chính  Xác định tính hợp lý về cơ cấu hiện tại và xu hướng biến động về cơ cấu của chỉ tiêu nghiên cứu Việc xem xét, đánh giá tính hợp lý của cơ cấu hiện tại và xu hướng biến động (thay đổi) về cơ cấu, cần thiết phải tính ra và so sánh tỷ trọng của từng bộ phận chiếm trong tổng thể giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc của chỉ tiêu nghiên cứu. Công việc này được thực hiện nhờ sử dụng cách so sánh bằng số tương đối kết cấu. Tỷ trọng của từng bộ phận chiếm trong tổng thể được xác định theo công thức: Tỷ trọng của từng bộ phận Trị số của từng bộ phận =  100 chiếm trong tổng thể Trị số của tổng thể Căn cứ vào kết cấu (cơ cấu) hiện tại và mức độ biến động về tỷ trọng của từng bộ phận trong tổng thể của chỉ tiêu nghiên cứu, căn cứ vào nội dung và ý nghĩa của từng chỉ tiêu bộ phận, các nhà phân tích sẽ đánh giá được tính hợp lý của cơ cấu hiện tại (cơ cấu kỳ phân tích) và xu hướng biến động về cơ cấu của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc. Về hình thức so sánh, phân tích báo cáo tài chính thường sử dụng so sánh ngang và so sánh dọc. So sánh ngang là việc so sánh các chỉ tiêu phản ánh trên báo cáo tài chính theo thời gian, kỳ phân tích (kỳ báo cáo) so với kỳ gốc. So sánh ngang theo từng chỉ tiêu trên báo cáo tài chính cho biết cả sự biến động về qui mô (so sánh bằng số tuyệt đối) lẫn sự biến động về tốc độ tăng trưởng (so sánh bằng số tương đối giản đơn) và cả sự biến động về tỷ trọng (so sánh bằng số tương đối kết cấu) của từng chỉ tiêu. Đồng thời, so sánh ngang còn cho biết xu hướng tăng trưởng (so sánh bằng số tương đối động thái định gốc) cũng như cho biết nhịp điệu tăng trưởng (so sánh bằng số tương đối động thái liên hoàn) theo thời gian của đối tượng nghiên cứu. Hạn chế của so sánh ngang trong phân tích báo cáo tài chính là chưa làm nổi bật chất lượng hoạt động của doanh nghiệp trên hầu hết các mặt: Cấu trúc tài chính, độc lập tài chính, khả năng thanh toán, khả năng sinh lợi… So sánh dọc trong phân tích báo cáo tài chính thực chất là sử dụng các mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trong cùng một báo cáo tài chính hoặc giữa các báo cáo tài chính với nhau. Việc xác lập mối quan hệ giữa hai chỉ tiêu có liên hệ với nhau trên cùng một báo cáo tài chính hoặc giữa các báo cáo tài chính sẽ tạo thành một chỉ tiêu sử dụng để đánh giá chất lượng hoạt động của doanh nghiệp trên các mặt khác nhau. Chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động được tạo ra từ các mối liên hệ này được gọi dưới các tên gọi khác nhau như hệ số, tỷ suất hay tỷ lệ – tùy thuộc vào nội dung, ý nghĩa và đơn vị tính toán sử dụng của từng chỉ tiêu. 2.1.2. Chi tiết chỉ tiêu Trong phân tích báo cáo tài chính, kỹ thuật chi tiết chỉ tiêu nghiên cứu thường được sử dụng khi tiến hành phân tích một chỉ tiêu tổng hợp, trong đó bao gồm nhiều chỉ tiêu bộ phận cấu thành. Chẳng hạn, phân tích tình hình biến động và các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình biến động tổng số vốn, vốn chủ sở hữu, vốn vay; biến động tiền và tương đương tiền; biến động tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn; hàng tồn kho; biến động doanh thu, lợi nhuận từ các hoạt động… TXKTTC06_Bai2_v1.0015108202 27
  6. Bài 2: Công cụ kỹ thuật phân tích và tổ chức phân tích báo cáo tài chính Trên cơ sở chi tiết chỉ tiêu nghiên cứu theo bộ phận cấu thành (từng hoạt động tiến hành, từng địa điểm phát sinh, từng khoảng thời gian…), các nhà phân tích tiến hành xem xét, so sánh mức độ đạt được của từng bộ phận giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc và mức độ ảnh hưởng của từng bộ phận đến tổng thể cũng như xem xét mức độ đóng góp của từng bộ phận vào kết quả chung. Qua đó, đánh giá được chính xác vai trò và vị trí của từng bộ phận… trong việc hình thành kết quả và hiệu quả kinh doanh chung. Tương tự, bằng việc xem xét chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu theo thời gian, các nhà quản lý sẽ có những quyết định kịp thời, sát thực với tình hình cụ thể để chỉ đạo sát sao tiến độ kinh doanh cũng như giải quyết các tình huống bất trắc phát sinh. Việc xem xét chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu theo không gian (địa điểm) sẽ là căn cứ quan trọng để các nhà quản lý ra các quyết định liên quan đến việc xác định địa bàn kinh doanh trọng điểm, quyết định mở rộng hay thu hẹp địa bàn kinh doanh, đánh giá đúng kết quả thực hiện hạch toán kinh doanh nội bộ, phát hiện các điển hình tiên tiến… 2.1.3. Loại trừ Trong phân tích báo cáo tài chính, kỹ thuật loại trừ được sử dụng chủ yếu khi phân tích chất lượng hoạt động của doanh nghiệp nhằm xác định xu hướng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu. Chẳng hạn: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi, khả năng tạo doanh thu của vốn chủ sở hữu, của tài sản, của chi phí; đến tốc độ quay vòng hàng tồn kho, quay vòng tài sản ngắn hạn, quay vòng nợ phải thu, quay vòng nợ phải trả… Tương tự như phân tích kinh doanh, kỹ thuật loại trừ sử dụng trong phân tích báo cáo tài chính cũng được sử dụng bằng cả kỹ thuật thay thế liên hoàn và kỹ thuật số chênh lệch. Điều này hoàn toàn xuất phát từ đặc trưng của các chỉ tiêu sử dụng phản ánh chất lượng hoạt động của doanh nghiệp: Quan hệ thương số hoặc quan hệ tích số giữa hai chỉ tiêu có liên hệ với nhau trên cùng một báo cáo tài chính hoặc giữa các báo cáo tài chính với nhau. Mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố trong trường hợp mối quan hệ giữa các nhân tố với chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu dưới dạng thương số chỉ có thể xác định được bằng kỹ thuật thay thế liên hoàn, còn quan hệ tích số có thể xác định được bằng kỹ thuật thay thế liên hoàn lẫn kỹ thuật số chênh lệch. Đối với các chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động được xây dựng trên cơ sở quan hệ thương số giữa hai chỉ tiêu có liên hệ với nhau; trong đó, tử số thường là chỉ tiêu phản ánh kết quả đầu ra (lợi nhuận, doanh thu), còn mẫu số thường là chỉ tiêu phản ánh chi phí hoặc yếu tố đầu vào (vốn chủ sở hữu, tài sản, chi phí) hoặc tử số là chỉ tiêu phản ánh chất lượng (lợi nhuận), còn mẫu số là chỉ tiêu phản ánh số lượng (doanh thu) nên khi xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc của chỉ tiêu nghiên cứu, phải xác định ảnh hưởng của nhân tố ở mẫu số trước, nhân tố ở tử số sau. 28 TXKTTC06_Bai2_v1.0015108202
  7. Bài 2: Công cụ kỹ thuật phân tích và tổ chức phân tích báo cáo tài chính Có thể khái quát kỹ thuật thay thế liên hoàn vận dụng trong phân tích báo cáo tài chính như sau: Chẳng hạn, chỉ tiêu Q phản ánh đối tượng nghiên cứu chịu ảnh hưởng của nhân tố a và b dưới dạng thương số, Q = b/a; trong đó, a là nhân tố số lượng hoặc nhân tố phản ánh chi phí hay yếu tố đầu vào, b là nhân tố chất lượng hoặc nhân tố phản ánh kết quả đầu ra. Nếu dùng chỉ số “0” để chỉ giá trị của chỉ tiêu Q và giá trị các nhân tố ở kỳ gốc và chỉ số “1” để chỉ giá trị của chỉ tiêu Q và giá trị của các nhân tố ở kỳ phân tích, ta lần lượt xác định giá trị kỳ gốc và giá trị kỳ phân tích của Q: Q1= b1/a1 Q0= b0/a0 Gọi mức chênh lệch về số tuyệt đối giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc của chỉ tiêu Q là ∆Q, ta có: ∆Q = Q1 – Q0. Gọi ∆a, ∆b lần lượt là mức ảnh hưởng của các nhân tố a, b đến sự biến động về giá trị giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc của chỉ tiêu Q, ta có: ∆Q = ∆a + ∆b. Trong đó:  Mức ảnh hưởng của nhân tố a (∆a): b0 b0 ∆a = – a1 a0 Hay: b0 ∆a = – Q0 a1  Mức ảnh hưởng của nhân tố b (∆b): b1 b0 ∆b = – a1 a1 Hay: b0 ∆b = Q1 – a1 Trong một số trường hợp hãn hữu, chẳng hạn phân tích mức hao phí của vốn, của tài sản hay của chi phí trên một đơn vị lợi nhuận, một đơn vị doanh thu thu được, vị trí của từng nhân tố mới có sự thay đổi (đảo lộn): tử số là chỉ tiêu phản ánh chi phí hay yếu tố đầu vào (vốn chủ sở hữu, tài sản, chi phí), còn mẫu số là chỉ tiêu phản ánh kết quả đầu ra (lợi nhuận, doanh thu), trình tự xác định nhân tố lại ngược lại. Chẳng hạn, chỉ tiêu Q phản ánh đối tượng nghiên cứu chịu ảnh hưởng của nhân tố a và b dưới dạng thương số, Q = a/b; trong đó, a là nhân tố số lượng hoặc nhân tố phản ánh chi phí hay yếu tố đầu vào, b là nhân tố chất lượng hoặc nhân tố phản ánh kết quả đầu ra. Mức ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc của chỉ tiêu Q được xác định năm nay.  Mức ảnh hưởng của nhân tố a (∆a): a1 a0 a1 ∆a = – = b0 b0 b0 TXKTTC06_Bai2_v1.0015108202 29
  8. Bài 2: Công cụ kỹ thuật phân tích và tổ chức phân tích báo cáo tài chính  Mức ảnh hưởng của nhân tố b (∆b): a1 a1 a1 ∆b = – = Q1 – b1 b0 b0 Ngoài kỹ thuật thay thế liên hoàn, kỹ thuật số chênh lệch cũng được sử dụng trong phân tích báo cáo tài chính. Theo đó, khi xây dựng được mối quan hệ về tích số giữa các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu nghiên cứu sẽ được xác định bằng kỹ thuật số chênh lệch. Kỹ thuật này thường được sử dụng khi phân tích khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu, của tài sản (sau khi đã biến đổi theo mô hình Dupont) nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc của các chỉ tiêu "Tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu" (ROE), "Tỷ suất sinh lợi của tổng tài sản” (ROA). Có thể khái quát kỹ thuật số chênh lệch sử dụng trong phân tích báo cáo tài chính như sau: Giả sử Q là chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu và Q chịu ảnh hưởng của các nhân tố a, b, c. Các nhân tố này có quan hệ dưới dạng tích số với Q và được sắp xếp theo thứ tự từ nhân tố số lượng (hoặc nhân tố phản ánh yếu tố hay chi phí đầu vào) tiến dần sang nhân tố chất lượng (hay nhân tố phản ánh kết quả đầu ra), thể hiện qua phương trình kinh tế: Q = abc Mức ảnh hưởng của các nhân tố a (∆a), nhân tố b (∆b) và nhân tố c (∆c) đến sự biến động về giá trị giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc của chỉ tiêu Q được xác định cụ thể theo kỹ thuật số chênh lệch dưới đây: ∆a = (a1 – a0)b0c0 ∆b = a1(b1 – b0)c0 ∆c = a1b1(c1 – c0) 2.1.4. Liên hệ cân đối Kỹ thuật liên hệ cân đối được sử dụng khá nhiều trong phân tích báo cáo tài chính do mối quan hệ cân đối về mặt lượng giữa các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính khá phổ biến. Có thể kể ra các mối quan hệ cân đối về lượng chủ yếu trên báo cáo tài chính như: Quan hệ cân đối giữa tổng số tài sản, tổng số nguồn vốn với vốn chủ sở hữu và nợ phải trả; giữa tổng số tài sản với tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn; giữa thu, chi và kết quả; giữa số dư cuối kỳ và số phát sinh giảm với số dư đầu kỳ với số phát sinh tăng của từng loại tài sản, từng loại nguồn vốn; giữa lợi nhuận sau thuế, chi phí thuế thu nhập và lợi nhuận trước thuế; giữa tổng số lợi nhuận kế toán trước thuế với lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh và lợi nhuận khác… Dựa vào các mối quan hệ cân đối này, các nhà phân tích sẽ xác định được ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu phản ánh đối tượng phân tích. Cần lưu ý rằng, khác với kỹ thuật loại trừ là kỹ thuật đòi hỏi mối quan hệ giữa các nhân tố đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng phân tích phải là "mối quan hệ chặt" (mối quan hệ tích số hoặc thương số hay kết hợp tích số với thương số), trong kỹ thuật liên hệ cân đối, mối quan hệ giữa các nhân tố là "mối quan hệ lỏng" (quan hệ dạng tổng số 30 TXKTTC06_Bai2_v1.0015108202
  9. Bài 2: Công cụ kỹ thuật phân tích và tổ chức phân tích báo cáo tài chính hoặc hiệu số hoặc kết hợp tổng số với hiệu số và tích số hay thương số). Trong mối quan hệ cân đối này, các nhân tố đứng độc lập, tách biệt với nhau và cùng tác động đồng thời đến sự biến động của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu. Mỗi một sự biến đổi của từng nhân tố độc lập giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc sẽ làm cho chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu thay đổi một lượng tương ứng mà không cần phải đặt nhân tố đó trong các điều kiện giả định khác nhau như trong kỹ thuật loại trừ. Chính vì vậy, trong kỹ thuật liên hệ cân đối, việc qui định trật tự sắp xếp của các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu là không cần thiết mà thứ tự các nhân tố phụ thuộc vào mối liên hệ cân đối vốn có giữa chúng tức là căn cứ vào công thức xác định từng đối tượng (trừ trường hợp có quan hệ tích số hay thương số trong mối quan hệ này). Chẳng hạn, các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu "Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh" có thể sắp xếp theo các cách sau mà không ảnh hưởng đến kết quả tính toán: Lợi nhuận Lợi nhuận Doanh Chi phí gộp về bán Chi phí Chi phí thuần từ thu hoạt quản lý = hàng và + – tài – bán – hoạt động động tài doanh cung cấp chính hàng kinh doanh chính nghiệp dịch vụ Hay: Lợi nhuận Lợi nhuận Doanh Chi phí gộp về bán Chi Chi phí thuần từ thu quản lý = hàng và – phí tài + – bán – hoạt động hoạt động doanh cung cấp chính hàng kinh doanh tài chính nghiệp dịch vụ Hoặc: Lợi nhuận Lợi nhuận Chi Chi phí Doanh gộp về Chi phí thuần từ phí – quản lý + thu hoạt = bán hàng – – bán hoạt động bán doanh động tài và cung cấp hàng kinh doanh hàng nghiệp chính dịch vụ … Một cách tổng quát, nếu quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng (a, b, c, d) với chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu Q là quan hệ hỗn hợp (cả tổng số và hiệu số) thể hiện qua phương trình kinh tế: Q=a–b–c+d Mức ảnh hưởng của từng nhân tố a, b, c và d đến sự biến động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc của chỉ tiêu Q được xác định như sau:  Nhân tố a: ∆a = a1 – a0  Nhân tố b: ∆b = – (b1 – b0)  Nhân tố c: ∆c = – (c1 – c0)  Nhân tố d: ∆d = d1 – d0 TXKTTC06_Bai2_v1.0015108202 31
  10. Bài 2: Công cụ kỹ thuật phân tích và tổ chức phân tích báo cáo tài chính 2.1.5. Biểu đồ Công cụ biểu đồ (còn gọi là đồ thị) là kỹ thuật trình bày và phân tích các thông tin bằng các biểu đồ, đồ thị hoặc bản đồ trên cơ sở sử dụng con số kết hợp với các hình vẽ, đường nét và màu sắc để trình bày các đặc điểm số lượng của đối tượng (hiện tượng) nghiên cứu. Nhờ vậy, kỹ thuật biểu đồ không những có tác dụng trong phân tích mà còn giúp người sử dụng thông tin nắm được những đặc điểm cơ bản của hiện tượng nghiên cứu bằng trực quan một cách nhanh chóng, dễ dàng do việc trình bày các thông tin về hiện tượng nghiên cứu mang tính khái quát và sinh động, chứa đựng tính mỹ thuật, thu hút được sự chú ý của người đọc, giúp người xem dễ đọc, dễ nhớ. Kỹ thuật biểu đồ thường được sử dụng trong phân tích báo cáo tài chính để phản ánh đối tượng nghiên cứu trên các mặt sau:  Kết cấu và sự biến đổi kết cấu của đối tượng nghiên cứu.  Mức độ đạt được của đối tượng nghiên cứu theo thời gian.  Mối liên hệ giữa các đối tượng nghiên cứu.  Mức độ phổ biến của đối tượng nghiên cứu.  Mức độ thực hiện kế hoạch của đối tượng nghiên cứu.  Xu hướng tăng trưởng của đối tượng nghiên cứu.  Nhịp điệu tăng trưởng của đối tượng nghiên cứu.  … Kỹ thuật biểu đồ có thể được sử dụng dưới các dạng biểu đồ và đồ thị. Dạng biểu đồ gồm biểu đồ hình cột (dùng thể hiện quá trình phát triển hay thể hiện cơ cấu và thay đổi cơ cấu hoặc dùng so sánh và thể hiện mối liên hệ giữa các đối tượng nghiên cứu), biểu đồ hình màng nhện (phản ánh kết quả đạt được của đối tượng nghiên cứu lặp đi, lặp lại về mặt thời gian), biểu đồ tượng hình (phản ánh nội dung đối tượng nghiên cứu bằng hình vẽ tượng hình cụ thể, tùy theo sáng kiến của người trình bày để lựa chọn hình ảnh tượng hình phù hợp và hấp dẫn), biểu đồ diện tích (thể hiện cơ cấu và biến 32 TXKTTC06_Bai2_v1.0015108202
  11. Bài 2: Công cụ kỹ thuật phân tích và tổ chức phân tích báo cáo tài chính động cơ cấu và có thể thể hiện qua các dạng như: hình vuông, hình tròn, hình chữ nhật); còn đồ thị được sử dụng dưới dạng đường gấp khúc (thể hiện quá trình phát triển của đối tượng nghiên cứu hay thể hiện tình hình phân phối các đơn vị tổng thể hoặc tình hình thực hiện kế hoạch theo thời gian của chỉ tiêu nghiên cứu). 2.1.6. Mô hình Dupont Kỹ thuật (hay mô hình) Dupont là một kỹ thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lợi của doanh nghiệp dựa trên mối liên hệ tương hỗ giữa các chỉ tiêu tài chính. Kỹ thuật này được sử dụng lần đầu bởi Frank Donaldson Brown (1885–1965) – một kỹ sư điện và là chuyên viên cao cấp về tài chính của Công ty EI du Pont de Nemours. Sau khi Công ty EI du Pont de Nemours đầu tư mua lại 23% cổ phiếu của General Motor (năm 1920), F. Donaldson Brown được giao nhiệm vụ tái cấu trúc tài chính của General Motor và ông đã thành công rực rỡ. Theo kỹ thuật này, trên cơ sở chỉ tiêu gốc ban đầu, dựa vào mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính, nhà phân tích sẽ biến đổi thành một hàm số của hàng loạt biến số. Sau đó, tiến hành xác định mức ảnh hưởng của từng nhân tố (biến số) đến chỉ tiêu gốc trong kỳ cũng như sự thay đổi của cả chỉ tiêu gốc và các nhân tố (biến số) giữa kỳ phân tích với kỳ gốc. Chẳng hạn: Tách chỉ tiêu "Sức sinh lợi (Tỷ suất sinh lợi) của vốn chủ sở hữu" (Return on equity – ROE) hay "Sức sinh lợi (Tỷ suất sinh lợi) của tài sản" (Return on assets – ROA)… thành tích số của chuỗi các biến số có mối quan hệ mật thiết với nhau. Ví dụ, sử dụng kỹ thuật Dupont để biến đổi chỉ tiêu ROE. Xuất phát từ công thức gốc xác định ROE: Lợi nhuận sau thuế ROE = Vốn chủ sở hữu bình quân Trong quan hệ với doanh thu thuần, ROE có thể viết dưới dạng: Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần ROE =  Doanh thu thuần Vốn chủ sở hữu bình quân (a1) (a2) Trong đó:  (a1): Sức sinh lợi (lần) hay “Tỷ suất sinh lợi (%) của doanh thu thuần (Return on sales – ROS).  (a2): Số lần luân chuyển vốn chủ sở hữu (Equity turnover – ET). Từ đó, ta có: ROE = ROS  ET Mối quan hệ này cho thấy, ROE chịu ảnh hưởng của 2 nhân tố: ROS và ET. Bởi vậy, để tăng ROE, doanh nghiệp phải vận dụng các biện pháp để tăng ROS và tăng ET. Cụ thể:  Tăng ROS: Để tăng ROS, doanh nghiệp phải tìm cách tăng lợi nhuận. Muốn vậy, phải mở rộng qui mô kinh doanh, tăng lượng hàng tiêu thụ, tăng doanh thu, giảm chi phí, nâng cao chất lượng của sản phẩm. Đồng thời, doanh nghiệp phải xây dựng chiến lược kinh doanh, xây dựng thương hiệu, chiến lược marketing, chiến lược thị trường phù hợp. TXKTTC06_Bai2_v1.0015108202 33
  12. Bài 2: Công cụ kỹ thuật phân tích và tổ chức phân tích báo cáo tài chính  Tăng ET: Để tăng ET, tức là tăng khả năng tạo doanh thu thuần trên một đồng vốn chủ sở hữu; một mặt, doanh nghiệp phải tìm cách tăng doanh thu tiêu thụ; mặt khác, phải xem xét cấu trúc tài chính hợp lý. Tóm lại, có thể khẳng định: Mô hình Dupont là một công cụ hữu ích khi phân tích khả năng sinh lợi của doanh nghiệp nhằm cung cấp cho nhà quản lý nắm được nguyên nhân cũng như đề ra giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Tuy vậy, mô hình Dupont cũng còn bộc lộ một số khiếm khuyết như chưa đề cập đến chi phí vốn, độ tin cậy phụ thuộc hoàn toàn vào thông tin đầu vào. Mặt khác, sử dụng mô hình Dupont khi phân tích khả năng sinh lợi chỉ có thể cho biết mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến khả năng sinh lợi trong kỳ mà không xác định được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về khả năng sinh lợi. Chính vì vậy, trong nhiều trường hợp, cần thiết phải sử dụng kết hợp kỹ thuật phân tích Dupont với kỹ thuật phân tích loại trừ. 2.1.7. Các công cụ kỹ thuật phân tích khác Ngoài các công cụ kỹ thuật phổ biến trên đây, phân tích kinh doanh còn kết hợp sử dụng một số công cụ kỹ thuật phân tích khác như: Liên hệ trực tuyến, liên hệ phi tuyến; ma trận SWOT; xác định giá trị theo thời gian của tiền; hồi qui; chỉ số; kết hợp; bảng điểm Piotroski, thẻ điểm cân bằng… Các công cụ kỹ thuật nói trên được sử dụng cho những mục đích phân tích nhất định và trong những trường hợp nhất định. 2.2. Tổ chức phân tích báo cáo tài chính 2.2.1. Chuẩn bị phân tích Tổ chức phân tích báo cáo tài chính là việc thiết lập một mối liên hệ theo một trật tự xác định giữa các công cụ kỹ thuật phân tích báo cáo tài chính trong từng nội dung phân tích cụ thể nhằm đánh giá chính xác thực trạng và an ninh tài chính, hiệu quả kinh doanh, giá trị doanh nghiệp, rủi ro tài chính, chỉ rõ sai lầm, vạch ra tiềm năng và tìm biện pháp khắc phục nhằm cải tiến công tác quản lý kinh doanh. Tổ chức phân tích báo cáo tài chính bao gồm các khâu công việc như: Chuẩn bị phân tích, tiến hành phân tích và kết thúc phân tích. Chuẩn bị phân tích là bước công việc đầu tiên của tổ chức phân tích báo cáo tài chính nhằm tạo ra tất cả tiền đề và điều kiện cụ thể trước khi tiến hành phân tích báo cáo tài chính và là khâu công việc quan trọng, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng, thời hạn và tác dụng của phân tích báo cáo tài chính đối với việc cung cấp thông tin cho quản lý. Công tác chuẩn bị phân tích kinh doanh bao gồm việc xây dựng chương trình (kế hoạch) phân tích và thu thập, xử lý tài liệu phục vụ cho việc phân tích báo cáo tài chính. Kế hoạch phân tích báo cáo tài chính phải đề cập đến các nội dung chủ yếu sau:  Lựa chọn loại hình phân tích báo cáo tài chính Có khá nhiều loại hình phân tích báo cáo tài chính khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu phân tích và nội dung phân tích cụ thể. Vì thế, kế hoạch phân tích báo cáo tài chính phải chỉ ra được, lựa chọn được loại hình phân tích phù hợp. 34 TXKTTC06_Bai2_v1.0015108202
  13. Bài 2: Công cụ kỹ thuật phân tích và tổ chức phân tích báo cáo tài chính Theo thời điểm phân tích, phân tích báo cáo tài chính được chia thành: phân tích trước và phân tích sau. Phân tích trước (hay phân tích dự báo) là việc phân tích tiến hành khi các báo cáo tài chính chưa được lập hay phân tích các báo cáo tài chính dự báo. Phân tích trước thường được sử dụng để dự báo các chỉ tiêu tài chính trong tương lai mà doanh nghiệp có thể đạt được cũng như xu hướng biến động của các chỉ tiêu tài chính. Từ đó, các nhà quản lý có cơ sở để điều chỉnh các mục tiêu trong chiến lược kinh doanh, thẩm định tính khả thi hay độ phù hợp giữa mục tiêu với tình hình thực tế, dự báo được những khó khăn hay thuận lợi trong quá trình hoạt động. Phân tích sau là việc phân tích diễn ra khi đã kết thúc kỳ kinh doanh và báo cáo tài chính đã được lập. Thông qua phân tích sau, người sử dụng thông tin đánh giá được thực trạng tài chính, an ninh tài chính, hiệu quả kinh doanh, khả năng thanh toán, xác định được các nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả tài chính đạt được. Thông tin do phân tích sau cung cấp không những giúp các nhà quản lý nắm được những mặt mạnh, yếu trong điều hành mà còn là cơ sở để xây dựng kế hoạch hay mục tiêu cho kỳ tiếp theo, đề xuất được các giải pháp quản lý phù hợp nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh. Theo chủ thể (hay đối tượng) tiến hành phân tích, phân tích báo cáo tài chính bao gồm 2 loại hình: phân tích bên trong và phân tích bên ngoài. Phân tích bên trong do các nhà phân tích trong nội bộ doanh nghiệp tiến hành nhằm cung cấp thông tin cho quản trị nội bộ. Phân tích bên ngoài do các nhà phân tích bên ngoài doanh nghiệp tiến hành (cơ quan cấp trên, ngân hàng, tài chính, nhà đầu tư…) nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lý chung cũng như các quyết định đầu tư. Theo nội dung phân tích, phân tích báo cáo tài chính được chia thành: phân tích kế toán và phân tích tài chính. Phân tích kế toán đi sâu vào nội dung kinh tế của từng chỉ tiêu, vào việc kiểm tra nhằm bảo đảm tính chính xác và độ tin cậy của chỉ tiêu phản ánh, vào việc xem xét, phân tích và điều chỉnh các chỉ tiêu thuộc các hoạt động mà doanh nghiệp tiến hành (hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính) dưới ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái, của các chính sách kế toán, của các sai sót kế toán cũng như của các sự kiện phát sinh sau ngày lập báo cáo tài chính. Nhờ có phân tích kế toán, các chỉ tiêu phản ánh trên báo cáo tài chính không những có độ tin cậy cao mà còn bảo đảm tính có thể so sánh được của chỉ tiêu. Phân tích tài chính bao gồm các nội dung như: đánh giá chung (khái quát) tình hình tài chính, phân tích tình hình và khả năng thanh toán, phân tích cấu trúc tài chính, phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh, phân tích khả năng sinh lợi, phân tích dòng tiền, phân tích giá trị doanh nghiệp, phân tích rủi ro tài chính… Mỗi một nội dung phân tích phản ánh một khía cạnh hay góc độ quan tâm khác nhau của từng đối tượng phân tích đến báo cáo tài chính.  Xác định phạm vi phân tích Phạm vi phân tích báo cáo tài chính là giới hạn về không gian và thời gian của việc phân tích. Phạm vi phân tích báo cáo tài chính có thể là phân tích bộ phận hay TXKTTC06_Bai2_v1.0015108202 35
  14. Bài 2: Công cụ kỹ thuật phân tích và tổ chức phân tích báo cáo tài chính phân tích tổng thể. Phân tích bộ phận là việc phân tích được giới hạn ở việc phân tích báo cáo tài chính của một hay một số đơn vị trực thuộc doanh nghiệp (thường là các đơn vị tiên tiến hay lạc hậu) hoặc chỉ một hay một số nội dung (chuyên đề) hay báo cáo nhất định, còn phân tích tổng thể là việc phân tích được tiến hành trên phạm vi toàn doanh nghiệp hoặc toàn bộ báo cáo tài chính mà không giới hạn ở bất kỳ một bộ phận hay báo cáo tài chính nào. Phân tích bộ phận cung cấp thông tin cho các nhà quản lý biết được những nguyên nhân gây nên tình trạng yếu kém, lạc hậu ở một số bộ phận hay nội dung nhất định cũng như các nhân tố tạo nên các bộ phận tiên tiến, điển hình. Qua đó, rút ra được những bài học kinh nghiệm trong quản lý và điều hành hoạt động của doanh nghiệp. Phân tích tổng thể cung cấp thông tin cho các nhà quản lý đánh giá chính xác thành tích cũng như khuyết điểm trong quá trình điều hành, nắm rõ tiềm năng chưa khai thác, đề xuất các giải pháp khai thác tiềm năng hiệu quả.  Xác định nội dung phân tích Nội dung phân tích báo cáo tài chính cũng khác nhau giữa các đợt hay các đối tượng phân tích. Chẳng hạn, với các nhà đầu tư, nội dung phân tích sẽ rộng hơn các chủ nợ. Các nhà đầu tư không chỉ quan tâm tới mức độ độc lập tài chính, hiệu quả kinh doanh, tình hình và khả năng thanh toán… mà mối quan tâm của họ còn bao trùm lên trên tất cả mọi mặt của doanh nghiệp (giá trị doanh nghiệp, rủi ro tài chính, chỉ tiêu tài chính tương lai…). Ngược lại, mối quan tâm của các chủ nợ lại chủ yếu tập trung vào khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Khi xác định nội dung phân tích báo cáo tài chính, cần chỉ ra mối quan hệ giữa mục đích phân tích với phạm vi phân tích trong từng nội dung phân tích cụ thể. Chẳng hạn, phân tích hiệu quả kinh doanh tại một, một số đơn vị trực thuộc hay hiệu quả kinh doanh chung của toàn doanh nghiệp. Nếu muốn xem xét nguyên nhân dẫn đến hiệu quả kinh doanh khác nhau tại các đơn vị trực thuộc, phạm vi phân tích sẽ giới hạn tại một số đơn vị điển hình (đơn vị có hiệu quả cao, đơn vị có hiệu quả trung bình và đơn vị có hiệu quả thấp). Ngược lại, nếu muốn đánh giá, xem xét hiệu quả chung, phạm vi phân tích phải là toàn doanh nghiệp.  Xác định thời gian tiến hành phân tích và phân công trách nhiệm Thời gian tiến hành phân tích báo cáo tài chính bao gồm cả thời gian chuẩn bị và thời gian thực hiện phân tích. Kế hoạch phân tích phải chỉ rõ thời gian của từng khâu, từng nội dung công việc cụ thể. Đồng thời, kế hoạch phân tích cũng nêu rõ việc phân công trách nhiệm cho các cá nhân, bộ phận và chuẩn bị các điều kiện vật chất cơ bản phục vụ cho từng đợt phân tích. Tùy thuộc vào nội dung, vào mục tiêu và vào phạm vi phân tích, khi phân công trách nhiệm, cần chỉ rõ trước người chủ trì, chịu trách nhiệm chính của đợt phân tích. Người chịu trách nhiệm chính của đợt phân tích phải là người am hiểu hoạt động của doanh nghiệp, am hiểu về báo cáo tài chính, có trình độ tương xứng, phù 36 TXKTTC06_Bai2_v1.0015108202
  15. Bài 2: Công cụ kỹ thuật phân tích và tổ chức phân tích báo cáo tài chính hợp với nội dung, mục tiêu và phạm vi phân tích báo cáo tài chính. Cùng với việc phân công trách nhiệm cho các thành viên và các bộ phận, việc chuẩn bị các điều kiện vật chất và thiết bị phục vụ cho việc phân tích cũng phải được chú trọng đúng mức.  Xác định hình thức tổ chức hội nghị phân tích Ngoài các nội dung chủ yếu trên, trong kế hoạch phân tích còn phải xác định rõ hình thức hội nghị phân tích. Hội nghị phân tích có thể được tiến hành trước Ban Giám đốc, Hội đồng quản trị hay toàn thể người lao động hoặc toàn thể cổ đông, các nhà đầu tư. Tùy thuộc vào mục đích phân tích để xác định hình thức tổ chức hội nghị phân tích. Thông thường, kết quả phân tích được báo cáo trước Ban Giám đốc hay Hội đồng quản trị nhằm đánh giá xác thực tình hình thực tế, chỉ rõ nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, vạch rõ tiềm năng, rút ra các bài học kinh nghiệm, đề xuất phương hướng và giải pháp trong kỳ tới để không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động. Bên cạnh việc lập kế hoạch phân tích, trong quá trình chuẩn bị phân tích, cần phải tiến hành sưu tầm và kiểm tra tài liệu, bảo đảm yêu cầu đủ, không thiếu, không thừa. Nếu thiếu tài liệu, kết luận phân tích sẽ không xác đáng; ngược lại, nếu thu thập quá nhiều tài liệu (thừa tài liệu) sẽ lãng phí thời gian, công sức và tiền của. Trên thực tế, chất lượng phân tích báo cáo tài chính phụ thuộc rất nhiều vào tài liệu phân tích. Tuỳ thuộc vào yêu cầu, nội dung, phạm vi và nhiệm vụ từng đợt phân tích cụ thể để tiến hành thu thập, lựa chọn, xử lý tài liệu. Khi thu thập tài liệu, trước hết cần tận dụng tối đa nguồn tài liệu sẵn có tại doanh nghiệp; đồng thời, cần tiến hành thu thập bổ sung các tài liệu liên quan khác sao cho các kết luận phân tích hoàn toàn xác đáng và có cơ sở tin cậy. Tài liệu chủ yếu phục vụ cho việc phân tích báo cáo tài chính bao gồm các báo cáo tài chính của doanh nghiệp qua các năm, kể cả hệ thống báo cáo tài chính định kỳ, hệ thống báo cáo tài chính thường niên, báo cáo tài chính giữa niên độ. Ngoài ra, phân tích báo cáo tài chính còn sử dụng một số tài liệu khác như: tài liệu kế hoạch, dự toán, định mức; báo cáo kiểm toán; báo cáo của Ban Giám đốc… Ngoài ra, cần thu thập bổ sung thêm một số tài liệu liên quan khác như: o Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của các cấp bộ Đảng, chính quyền và các cơ quan quản lý có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp; o Các biên bản hội nghị, biên bản xử lý thiệt hại, biên bản đền bù… o Các nghị quyết, các quyết định của Đại hội đồng cổ đông, của Hội đồng quản trị, của Ban Giám đốc… có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp; o Các tài liệu khác có liên quan… Các tài liệu trên cần được kiểm tra tính chính xác, tính hợp pháp, kiểm tra các điều kiện có thể so sánh được rồi mới sử dụng để tiến hành phân tích. TXKTTC06_Bai2_v1.0015108202 37
  16. Bài 2: Công cụ kỹ thuật phân tích và tổ chức phân tích báo cáo tài chính 2.2.2. Tiến hành phân tích Tiến hành phân tích báo cáo tài chính là quá trình thực hiện các nội dung công việc đã ấn định trong kế hoạch phân tích. Kết quả của bước công việc này mang tính quyết định của cả quá trình phân tích. Do vậy, khi tiến hành phân tích, cần phải tuyệt đối tuân thủ kế hoạch phân tích đã được xây dựng mà không được tự ý thay đổi kế hoạch. Định kỳ phải tiến hành tổng hợp kết quả phân tích, đánh giá tiến độ thực hiện kế hoạch phân tích. Trong thực tế, qui trình tiến hành phân tích báo cáo tài chính phụ thuộc vào nội dung, mục đích và phạm vi phân tích của từng đợt phân tích. Do vậy, các bước công việc cũng như kỹ thuật phân tích áp dụng cụ thể cũng khác nhau. Thông thường, phân tích báo cáo tài chính gồm các nội dung công việc sau:  Đánh giá khái quát tình hình Đánh giá khái quát tình hình hay đánh giá chung tình hình là việc nhà phân tích nêu lên những nhận định sơ bộ, ban đầu về tình hình của đối tượng phân tích. Việc đánh giá khái quát tình hình của đối tượng phân tích được thực hiện nhờ kỹ thuật so sánh: So sánh kết quả đạt được của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu giữa kỳ phân tích với kỳ gốc cả về số tuyệt đối và số tương đối và căn cứ vào kết quả so sánh để đánh giá. Như vậy, để có căn cứ đánh giá khái quát tình hình, chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu nhất thiết phải có trị số cả ở kỳ phân tích và kỳ gốc. Mặt khác, việc đánh giá khái quát nhất thiết phải sử dụng kỹ thuật so sánh. Có thể nói, không có kỹ thuật so sánh sẽ không thể đánh giá khái quát được.  Phân tích nhân tố ảnh hưởng Trong một số nội dung phân tích báo cáo tài chính, các nhà phân tích cần xác định nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu. Trên cơ sở quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng với chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu, các nhà phân tích sẽ lần lượt xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố bằng một trong các kỹ thuật phân tích khác nhau như: kỹ thuật kết hợp giữa mô hình Dupont với loại trừ, kỹ thuật thay thế liên hoàn, kỹ thuật số chênh lệch, kỹ thuật đại số, kỹ thuật đồ thị… Do số lượng nhân tố ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu có nhiều, có thể khác nhau tùy thuộc vào mục đích và nguồn tài liệu phân tích nên khi phân tích, các nhà phân tích phải chỉ rõ các nhân tố ảnh hưởng cụ thể, mối quan hệ giữa nhân tố ảnh hưởng với chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu. Từ đó, vận dụng kỹ thuật thích hợp để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của đối tượng nghiên cứu.  Tổng hợp kết quả phân tích, rút ra nhận xét, kết luận về chất lượng hoạt động của doanh nghiệp Trên cơ sở kết quả phân tích ở các phần trên, trong bước công việc này, các nhà phân tích tiến hành tổng hợp, liên hệ các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng 38 TXKTTC06_Bai2_v1.0015108202
  17. Bài 2: Công cụ kỹ thuật phân tích và tổ chức phân tích báo cáo tài chính của từng nhân tố, sắp xếp lại theo nhóm các nhân tố tác động tăng và nhóm các nhân tố tác động giảm đến sự biến động tăng, giảm của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu. Mục đích của việc tổng hợp kết quả phân tích là nhằm khắc phục tính rời rạc, tản mạn trong quá trình phân tích. Từ đó, có căn cứ để rút ra các nhận xét, chỉ rõ những tồn tại, nguyên nhân dẫn đến thiếu sót, sai lầm cũng như vạch ra các tiềm năng chưa được khai thác, sử dụng để có biện pháp sử dụng trong kỳ kinh doanh tới. 2.2.3. Kết thúc phân tích Kết thúc quá trình phân tích báo cáo tài chính, các nhà phân tích phải nêu được kết luận phân tích, viết báo cáo phân tích và hoàn thiện hồ sơ phân tích. Báo cáo phân tích là văn bản thể hiện nội dung và kết quả phân tích bằng lời văn. Nội dung cụ thể của kết luận phân tích hay báo cáo phân tích khá đa dạng, phụ thuộc vào mục tiêu, phạm vi và nội dung phân tích. Tuy nhiên, nhìn chung, báo cáo phân tích thường bao gồm 3 phần cụ thể như sau:  Đặt vấn đề Trong phần đặt vấn đề, sau khi nêu đặc điểm, tình hình chung của doanh nghiệp về nhiệm vụ, phương hướng, vốn liếng, thị trường và môi trường kinh doanh, cần nêu bật sự cần thiết và ý nghĩa, mục tiêu của vấn đề phân tích.  Giải quyết vấn đề Phần này bao gồm việc đánh giá chung tình hình, xác định nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu (nếu có) cũng như chỉ ra những tồn tại, những khiếm khuyết trong quản lý kinh doanh. Đồng thời, vạch rõ tiềm năng chưa được khai thác, sử dụng.  Kết luận vấn đề Kết luận vấn đề là sự khái quát kết quả thực hiện quá trình phân tích trong từng đợt phân tích cụ thể. Yêu cầu đặt ra trong kết luận vấn đề là phải ngắn gọn, chính xác, cô đọng, đầy đủ về vấn đề phân tích. Sau khi nêu kết luận vấn đề, báo cáo phân tích cần đề xuất các kiến nghị và biện pháp cải tiến công tác quản lý hoạt động kinh doanh nhằm động viên, khai thác khả năng tiềm tàng để không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh. Báo cáo phân tích được trình bày trước hội nghị phân tích (Ban Giám đốc, toàn thể người lao động, cổ đông, nhà đầu tư…) tùy thuộc vào mục đích phân tích để đối tượng nắm được tình hình, phát hiện thêm nguyên nhân, bổ sung biện pháp nhằm cải tiến, hoàn thiện công tác quản lý kinh doanh. Khi trình bày báo cáo, cần có minh hoạ cụ thể, rõ ràng về thực trạng và tiềm năng của doanh nghiệp. Kết thúc phân tích báo cáo tài chính, các nhà phân tích phải hoàn thiện hồ sơ phân tích. Hồ sơ phân tích bao gồm toàn bộ những tài liệu và sản phẩm của quá trình phân tích, từ báo cáo phân tích cho đến các tài liệu phân tích đã thu thập được. Hồ sơ phân tích báo cáo tài chính phải được cất giữ và lưu trữ cùng với các tài liệu, văn bản, quyết định kinh doanh liên quan. TXKTTC06_Bai2_v1.0015108202 39
  18. Bài 2: Công cụ kỹ thuật phân tích và tổ chức phân tích báo cáo tài chính Tóm lược cuối bài  Công cụ kỹ thuật sử dụng để phân tích báo cáo tài chính: So sánh, chi tiết chỉ tiêu phân tích, loại trừ, liên hệ cân đối, biểu đồ, Dupont…  Nội dung công việc trong tổ chức phân tích báo cáo tài chính: Chuẩn bị phân tích, tiến hành phân tích, kết thúc phân tích. 40 TXKTTC06_Bai2_v1.0015108202
  19. Bài 2: Công cụ kỹ thuật phân tích và tổ chức phân tích báo cáo tài chính Câu hỏi ôn tập 1. Trao đổi về kỹ thuật so sánh áp dụng trong phân tích báo cáo tài chính. Lấy ví dụ minh họa. 2. Kỹ thuật chi tiết chỉ tiêu phân tích được sử dụng như thế nào trong phân tích báo cáo tài chính. Lấy ví dụ minh họa. 3. Kỹ thuật đồ thị và ứng dụng của kỹ thuật đồ thị (biểu đồ) trong phân tích báo cáo tài chính. Lấy ví dụ minh họa. 4. Trao đổi về kỹ thuật Dupont sử dụng trong phân tích báo cáo tài chính. 5. Kỹ thuật liên hệ cân đối và cách thức vận dụng trong phân tích báo cáo tài chính. Lấy ví dụ minh họa. 6. Trao đổi về kỹ thuật loại trừ áp dụng trong phân tích báo cáo tài chính. Lấy ví dụ minh họa. 7. Trao đổi về kỹ thuật kết hợp áp dụng trong phân tích báo cáo tài chính. 8. Trình bày kỹ thuật kết hợp giữa mô hình Dupont với loại trừ trong phân tích báo cáo tài chính. Cho ví dụ minh họa. 9. Trình bày về nội dung kỹ thuật bảng điểm Piotroski sử dụng trong phân tích báo cáo tài chính. Ưu, nhược điểm của kỹ thuật. 10. Trao đổi về nội dung của kỹ thuật bảng điểm cân bằng. 11. Thảo luận về nội dung tổ chức phân tích báo cáo tài chính. 12. Trình bày về các loại hình phân tích báo cáo tài chính. TXKTTC06_Bai2_v1.0015108202 41
  20. Bài 2: Công cụ kỹ thuật phân tích và tổ chức phân tích báo cáo tài chính Bài tập cuối bài Bài 1. Trích Báo cáo thường niên năm 2014 của VNM (tỷ VND): Năm kết thúc 31/12 2010 2011 2012 2013 2014 KẾT QUẢ KINH DOANH Tổng doanh thu 16.081 22.071 27.102 31.586 35.704 Doanh thu thuần 15.753 21.627 26.562 30.949 34.977 Lợi nhuận gộp 5.174 6.588 9.077 11.183 12.308 Tỷ suất lợi nhuận gộp/Doanh thu thuần 32,8% 30,5% 34,2% 36,1% 35,2% Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh 3.643 4.751 6.630 7.712 7.309 Thu nhập khác 609 237 287 255 245 Lợi nhuận được chia từ công ty liên kết (0) (9) 13 44 60 Lợi nhuận trước thuế 4.251 4.979 6.930 8.010 7.613 Lợi nhuận sau thuế 3.616 4.218 5.819 6.534 6.068 Tỷ suất lợi nhuận sau thuế/Doanh thu thuần 23,0% 19,5% 21,9% 21,1% 17,3% Lãi trên cổ phiếu (đồng) 6.834 5.145 6.981 6.533 6.068 Yêu cầu: Anh/Chị hãy sử dụng các kỹ thuật phân tích thích hợp để làm rõ các vấn đề sau: 1. Tình hình biến động về qui mô và tốc độ tăng trưởng doanh thu thuần, lợi nhuận gộp, lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế của VNM năm 2014 so với 2013. 2. Xu hướng và nhịp điệu tăng trưởng doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế. Gợi ý: 1. Sử dụng kỹ thuật so sánh bằng số tuyệt đối và số tương đối giản đơn. 2. Sử dụng kỹ thuật so sánh bằng số tương đối động thái kết hợp biểu đồ (đồ thị). Bài 2. Trích Báo cáo thường niên năm 2014 của VNM (tỷ VND): Năm kết thúc 31/12 2010 2011 2012 2013 2014 BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN Tài sản ngắn hạn 5.920 9.468 11.111 13.019 15.522 Tài sản dài hạn 4.853 6.115 8.587 9.856 10.248 Tổng tài sản 10.773 15.583 19.698 22.875 25.770 Nợ ngắn hạn 2.645 2.947 4.145 4.956 5.453 Nợ dài hạn 164 159 60 351 517 Tổng nợ phải trả 2.809 3.105 4.205 5.307 5.970 Vốn chủ sở hữu 7.964 12.477 15.493 17.545 19.680 Lợi ích của cổ đông thiểu số - - - 23 120 Tổng nguồn vốn 10.773 15.583 19.698 22.875 25.770 Yêu cầu: Anh/Chị hãy vận dụng kỹ thuật phân tích thích hợp làm rõ cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn và các mối liên hệ cân đối theo tài liệu đã cho. Gợi ý: Sử dụng kỹ thuật so sánh bằng số tương đối kết cấu (với cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn) và kỹ thuật liên hệ cân đối để làm rõ mối liên hệ cân đối giữa tổng tài sản với tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn, giữa tổng nguồn vốn với nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. 42 TXKTTC06_Bai2_v1.0015108202
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2