
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC
---------***--------
TIỂU LUẬN
KINH TẾ QUỐC TẾ I
ĐỀ TÀI: Tác động của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ
xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đến ngành dệt may Việt Nam
Giảng viên hướng dẫn :
TS. Nguyễn Bình Dương
Lớp tín chỉ :
KTE216(1+2.2-20121).3
Sinh viên thực hiện :
Mã sinh viên
Đinh Thị Phương Dung
1914410039
Trần Thị Hoa
1914410076
Lương Minh Hải
1914410065
Nguyễn Tất Bảo Long
1914410123
Trần Thị Thu
1914410095
Hà Nội , Ngày 20 tháng 4 Năm 2020

2
Mục lục
Lời mở đầu 3
Chương I Tổng quan về hiệp định CPTPP và thị trường ngành dệt may của các
nước CPTPP 5
I.1 Tổng quan về Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình
Dương (CPTPP): ........................................................................................................ 5
I.1.1 Quá trình và cơ sở hình thành của CPTPP: ......................................... 5
I.1.2 Một số nội dung chính của Hiệp định CPTPP liên quan đến xuất khẩu
hàng hóa 7
I.2 Thị trường ngành dệt may của các nước CPTPP .................................... 9
Chương II Tác động của CPTPP đến xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam ...... 11
II.1 Tổng quan về ngành dệt may Việt Nam ............................................... 11
II.1.1 Hiện trạng dệt may Việt Nam giai đoạn 2000 đến nay ................... 11
II.1.2 Xuất nhập khẩu của ngành dệt may Việt Nam ................................ 13
II.2 Ảnh hưởng của CPTPP đến xuất nhập khẩu dệt may ........................... 15
II.2.1 Cơ hội............................................................................................... 15
II.2.2 Thách thức ....................................................................................... 20
II.3 Dự báo xuất khẩu dệt may vào thị trường CPTPP ............................... 23
Chương III Kết luận và đề xuất giải pháp ......................................................... 25
III.1 Kết luận ................................................................................................. 25
III.2 Đề xuất giải pháp .................................................................................. 26

3
LỜI MỞ ĐẦU
Nước ta đang ở trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 ngày càng phát triển
và có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội, do đó việc đề ra những chủ
trương hợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật đối với nước ngoài là một nhu cầu cấp thiết
cho quá trình phát triển của Việt Nam.
Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước tăng cường hội nhập sâu rộng vào nền
kinh tế khu vực và thế giới, chủ động tham gia các Hiệp định Thương mại tự do (FTA)
nhằm đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh và bền vững. Tính đến nay Việt Nam
đã có 17 Hiệp định Thương mại tự do (Theo tổng hợp của Trung tâm WTO và Hội
nhập). Trong đó 13 FTA đã có hiệu lực, 2 FTA chuẩn bị có hiệu lực và 2 FTA đang
đàm phán. Việc ký kết nhiều Hiệp định tự do Thương mại tạo thêm nhiều nguồn lực
cho phát triển kinh tế nước ta. Đồng thời góp phần quan trọng nâng cao vị thế của Việt
Nam trên trường quốc tế, đưa quan hệ của Việt Nam với các nước, nhất là các đối tác
ưu tiên, quan trọng đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững; quan hệ với các nước lớn tiếp
tục được củng cố và thúc đẩy hài hòa; tranh thủ được các yếu tố tích cực, hạn chế được
những bất đồng để phục vụ nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước, nâng cao vị thế
của quốc gia.
Hiệp định CPTPP là một bước ngoặt rất lớn cho ngành xuất khẩu của Việt Nam,
là động lực nâng cao nội lực, đa dạng hóa thị trường và các mặt hàng xuất khẩu đặc biệt
là với những mặt hàng Việt Nam vốn có nhiều lợi thế cạnh tranh như nông, thủy sản,
giày da, dệt may... để ứng phó với các diễn biến phức tạp với chiều hướng bảo hộ thương
mại gia tăng của các nền kinh tế lớn. Hơn nữa Hiệp định góp phần không nhỏ vào quá
trình tăng trưởng kinh tế Việt Nam khi GDP được dự đoán có thể tăng thêm 1.32% tính
đến năm 2035. Trong trường hợp đồng thời cắt giảm thuế quan và tự do hóa dịch vụ,
GDP có thể tăng thêm 2.01%. Bên cạnh đó, CPTPP giúp Việt Nam có cơ hội cơ cấu lại
thị trường xuất nhập khẩu theo hướng cân bằng hơn, từ đó giúp nâng cao tính độc lập
tự chủ của nền kinh tế. CPTPP còn là động lực giúp doanh nghiệp Việt Nam tập trung
đổi mới phương thức sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện chất lượng hàng
hóa dịch vụ để bắt kịp xu hướng phát triển của thế giới.

4
Đặc biệt đối với ngành dệt may, khối CPTPP mang lại một thị trường tiêu thụ vô
cùng tiềm năng khi có tỷ trọng xuất khẩu vượt khối EU và đứng thứ hai chỉ sau Mỹ.
Như vậy đây sẽ là thị trường trọng yếu thứ hai đối với ngành dệt may Việt Nam sau thị
trường Mỹ. Ngoài ra, CPTPP cũng giúp mở ra cơ hội thâm nhập vào các thị trường mới
như Canada, Australia, New Zealand, Mexico & Peru trong bối cảnh Việt Nam vẫn
chưa có một FTA nào đúng nghĩa với các thị trường này. Cơ hội mở rộng là rất lớn khi
tỷ trọng hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu tại các thị trường này mới chỉ chiếm một
con số vô cùng khiêm tốn. Hơn thế nữa, dư địa tăng trưởng xuất khẩu hàng dệt may tại
thị tường CPTPP là vẫn còn rất lớn do các quốc gia khác như Anh, Thái Lan và Hàn
Quốc cũng đang xem xét tham gia vào CPTPP. Tuy nhiên, bức tranh CPTPP cũng còn
nhiều khó khăn như về sự thiếu hụt nguồn cung,…
Để hiểu rõ hơn về những cơ hội và thách thức mà ngành dệt may sẽ gặp phải từ
CPTPP, những việc doanh nghiệp sẽ làm để tận dụng những cơ hội và khắc phục những
khó khăn mà Hiệp định mang lại. Từ việc nghiên cứu kỹ lưỡng tác động của Hiệp định
với ngành xuất khẩu dệt may, nhóm chúng em đưa ra một số dự báo về sự tăng trưởng
xuất khẩu ngành dệt may vào thị trường CPTPP cũng như sự tăng trưởng của toàn ngành
dệt may của Việt Nam. Dựa trên những vấn đề đó, nhóm chúng em quyết định nghiên
cứu đề tài “Tác động của hiệp định CPTPP đến xuất khẩu ngành dệt may ở Việt Nam.”
Không kể “Lời mở đầu”, bài nghiên cứu gồm những nội dung chính sau:
Chương 1: Tổng quan về Hiệp định CPTPP và thị trường ngành dệt
may của các nước ký kết CPTPP
Chương 2: Tác động của CPTPP đến xuất khẩu dệt may Việt Nam
Chương 3: Kết luận và đề xuất giải pháp
Bằng việc phân tích định tính, dựa vào những số liệu, thông tin thu thập được từ
các báo cáo, trang web uy tín, nhóm chúng em tiến hành phân tích, đưa ra nhận xét về
cơ hội, thách thức; từ đó tìm ra hướng đi phù hợp, hiệu quả cho các doanh nghiệp dệt
may sau khi Hiệp định được ký kết.

5
Chương I Tổng quan về hiệp định CPTPP và thị trường ngành dệt may
của các nước CPTPP
I.1 Tổng quan về Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình
Dương (CPTPP):
Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương gọi tắt là Hiệp
định CPTPP, là một hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, gồm 11 nước thành
viên là: Ốt-xtrây-li-a, Bru-nây, Ca-na-đa, Chi-lê, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu
Di-lân, Pê-ru, Xing-ga-po và Việt Nam.
Hiệp định CPTPP đóng góp vào GDP và thương mại toàn cầu tương ứng
khoảng 15% và 15%.
I.1.1 Quá trình và cơ sở hình thành của CPTPP:
* Quá trình hình thành CPTPP:
Khởi đầu, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có 4 nước tham gia
là Bru-nây, Chi-lê, Niu Di-lân, Xing-ga-po và vì vậy được gọi tắt là Hiệp định P4.
Ngày 22 tháng 9 năm 2008, Hoa Kỳ tuyên bố tham gia vào P4 nhưng đề nghị
không phải trong khuôn khổ Hiệp định P4 cũ, mà các bên sẽ đàm phán một Hiệp định
hoàn toàn mới, gọi là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Ngay sau đó,
các nước Ốt-xtrây-lia và Pê-ru cũng tuyên bố tham gia TPP.
Năm 2009, Việt Nam tham gia TPP với tư cách là quan sát viên đặc biệt. Sau 3
phiên đàm phán, Việt Nam chính thức tham gia Hiệp định này nhân Hội nghị Cấp cao
APEC tổ chức từ ngày 13 đến ngày 14 tháng 11 năm 2010 tại thành phố Yokohama
(Nhật Bản).
Cùng với quá trình đàm phán, TPP đã tiếp nhận thêm các thành viên mới là Ma-
lai-xi-a, Mê-hi-cô, Ca-na-đa và Nhật Bản, nâng tổng số nước tham gia lên thành 12.
Trải qua hơn 30 phiên đàm phán ở cấp kỹ thuật và hơn 10 cuộc đàm phán ở cấp
Bộ trưởng, các nước TPP đã kết thúc cơ bản toàn bộ các nội dung đàm phán tại Hội
nghị Bộ trưởng tổ chức tại Át-lan-ta, Hoa Kỳ vào tháng 10 năm 2015. Ngày 04 tháng

