
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN
VI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
HỌC PHẦN: 2111POLI1903 – PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hương Lan
Mã số sinh viên: 47.01.751.152
Mã lớp học phần: 2111POLI190317
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 01 năm 2022

2
MỤC LỤC
I. LỜI MỞ ĐẦU........................................................................................................3
II. VI PHẠM PHÁP LUẬT.......................................................................................4
1. Pháp luật là gì?..................................................................................................4
2. Thế nào là vi phạm pháp luật?...........................................................................4
3. Các dấu hiệu của vi phạm pháp luật..................................................................4
4. Các yếu tố cấu thành hành vi vi phạm pháp luật................................................7
a./ Mặt khách quan của vi phạm pháp luật.........................................................7
b./ Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật............................................................8
c./ Chủ thể của vi phạm pháp luật....................................................................10
d./ Khách thể của vi phạm pháp luật................................................................10
5. Các loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí..........................................11
a./ Vi phạm hình sự và trách nhiệm hình sự.....................................................11
b./ Vi phạm hành chính và trách nhiệm hành chính.........................................11
c./ Vi phạm dân sự và trách nhiệm dân sự.......................................................12
d./ Vi phạm kỉ luật và trách nhiệm kỉ luật........................................................12
III. THỰC TIỄN VỀ TÌNH HÌNH VI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA SINH VIÊN
HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP...................................................................12
1. Thực tiễn về tình hình vi phạm pháp luật của sinh viên hiện nay....................12
2. Một số giải pháp để hạn chế tình hình vi phạm pháp luật của sinh viên..........14
IV. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................16

3
I. LỜI MỞ ĐẦU
Bên cạnh sự tiến bộ không ngừng của các mặt trong xã hội như kinh tế, giáo dục, y
học, chất lượng cuộc sống,....Thì nước ta cũng đã và đang phải đối mặt với sự gia
tăng tội phạm hằng ngày, hằng giờ. Đặc biệt hơn nữa, hiện nay những đối tượng ấy
ngày càng có xu hướng trẻ hóa và đa dạng hóa, nếu trước kia những người vi phạm
pháp luật thường là những người ở độ tuổi trung niên, những người thất nghiệp, học
vấn không cao,...thì giờ đây, người vi phạm pháp luật đã “xâm nhập” vào thế giới
học đường. Vâng! Đó là những học sinh, sinh viên - tầng lớp tri thức của xã hội,
những chủ nhân tương lai của đất nước. Bởi vì tình hình sinh viên vi phạm pháp
luật đang ở mức báo động, làm nhiều người quan tâm, đặc biệt là các bậc phụ
huynh. Hàng nghìn câu hỏi vì sao trong đầu dư luận dấy lên khi những người phạm
tội lại là những tầng lớp tri thức, đại diện cho đất nước, cho quê hương. Họ bức xúc,
thất vọng, không tin vào sự thật,...Chính vì thế, em chọn đề tài “vi phạm pháp luật
của sinh viên hiện nay – những vấn đề lí luận và thực tiễn” để có thể giải đáp
nguyên nhân tại sao lại tầng lớp chúng ta vi phạm pháp luật ngày càng nhiều cũng
như tìm ra những biện pháp khắc phục tình hình đó.

4
II. VI PHẠM PHÁP LUẬT
Để có thể dễ dàng hiểu được tại sao sinh viên chúng ta lại vi phạm pháp luật thì
trước tiên chúng ta cần hiểu rõ thế nào là pháp luật, vi phạm pháp luật, các dấu hiệu
của vi phạm pháp luật, các yếu tố cấu thành hành vi vi phạm pháp luật cũng như các
loại vi phạm pháp luật. Có như vậy, ta mới có cái nhìn tổng thể, khách quan theo
đúng định hướng mà pháp luật nước ta hướng đến.
1. Pháp luật là gì?
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành và được đảm
bảo thực hiện bằng quyền lực của nhà nước (1).Chẳng hạn như người dân khi tham
gia giao thông bằng xe gắn máy thì phải đội mũ bảo hiểm; cấm mọi người dân sử
dụng, tàng trữ, sản xuất, buôn bán trái phép chất ma túy;....Đó là một số ví dụ về
những quy tắc xử sự mà nhà nước ta quy định. Bên cạnh việc ban hành những quy
tắc xử sự chung thì nhà nước ta còn thừa nhận những tập quán, những tín điều tôn
giáo,... phù hợp với ý chí của nhà nước thành pháp luật.(2)
2. Thế nào là vi phạm pháp luật?
Vi phạm pháp luật là hành vi xác định của con người trái với quy định của pháp
luật, có lỗi do chủ thể có đủ năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại hoặc
đe dọa xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ. (3)
3. Các dấu hiệu của vi phạm pháp luật.
Thứ nhất, là hành vi xác định của chủ thể. Chủ thể ở đây là các cá nhân, tổ
chức khi có hành vi xác định mang tính chất nguy hiểm cho xã hội hoặc đe dọa
nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này là sự thể hiện ý chí ra bên ngoài bằng hành động
hoặc không hành động một cách có ý thức nhằm đạt được mục đích nào đó mà mục
đích đó gây ra thiệt hại cho xã hội thì được xem là dấu hiệu để xem xét một hành vi
nào đó có vi phạm pháp luật hay không. Còn những gì vẫn còn nằm trong suy nghĩ
của chủ thể thì không bị chi phối bởi các quy phạm pháp luật.Ví dụ như, hành vi
giết người cướp của, đây là hành vi gây nguy hiểm cho tính mạng con người được
thực hiện dưới dạng hành động (làm những điều mà pháp luật cấm đó là giết người

5
cướp của) hoặc hành vi tham gia giao thông đường bộ bằng xe gắn máy không đội
mũ bảo hiểm gây nguy hiểm cho chính chủ thể đó cũng như mọi người xung quanh
và được thực hiện dưới dạng không hành động (tức là không làm những điều mà
pháp luật quy định phải làm, đó là đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông bằng xe
gắn máy).
Thứ hai, là hành vi trái pháp luật xâm hại tới quan hệ xã hội được pháp luật
xác lập bảo vệ. Quan hệ xã hội là quan hệ được hình thành giữa cá nhân với cá
nhân, giữa các cá nhân với tổ chức được hình thành khi tham gia các quá trình sản
xuất, lao động,....(4) Và những quan hệ xã hội ấy luôn được pháp luật bảo vệ bằng hệ
thống pháp luật. Cho nên, khi những chủ thể có hành vi xâm hại đến quyền và lợi
ích của những ai trong mối quan hệ ấy mà trái với quy định của pháp luật thì được
xem là một dấu hiệu của hành vi vi phạm pháp luật. Ví dụ như, hành vi lái xe ngược
chiều quy định xâm phạm trật tự an toàn giao thông, ảnh hưởng đến những người
tham gia giao thông khác.
Thứ ba, hành vi trái pháp luật đó phải có lỗi của chủ thể. Hành vi trái pháp
luật này phải thể hiện ý chí của chủ thể tức là mặt chủ quan của hành vi, hay lỗi của
chủ thể.(5) Lỗi thể hiện thái độ của người biết hành vi của mình là sai, trái pháp luật,
có thể gây hậu quả không tốt nhưng vẫn cố ý làm hoặc vô tình để mặc cho sự việc
xảy ra.(6) Lỗi là yếu tố không thể thiếu khi xác định hành vi vi phạm pháp luật.
Chẳng hạn như, khi đang đi trên đường gặp tai nạn giao thông, mặc dù nhận thấy
mình có khả năng giúp người gặp nạn gọi xe cứu thương nhưng vì sợ phiền phức
nên đã làm ngơ chạy đi dẫn đến người đó chết vì không được cấp cứu kịp thời thì
người làm ngơ ấy có lỗi và có thể được xem xét là một hành vi vi phạm pháp luật.
Thứ tư, chủ thể vi phạm pháp luật phải có đủ năng lực trách nhiệm pháp lí.
Năng lực trách nhiệm pháp lí là khả năng của chủ thể vi phạm pháp luật vào thời
điểm thực hiện hành vi (họ đạt được độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật,
họ hoàn toàn có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội và hậu
quả của hành vi cũng như tự quyết định cách xử sự của mình); khả năng tự chịu

