55
Cơ sở của mối quan hệ Nhật Bản - Việt Nam
Hoàng Thị Minh Hoa
Đại học Huế
Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về quan hệ Nhật Bản và Việt
Nam, nhiều tác giả đã đề cập đến các nhân tố khách quan, chủ quan tác
động đến mối quan hệ này, tuy nhiên cũng chỉ đề cập đến từng góc độ, khía
cạnh và tng giai đoạn lịch sử ngắn. Trên sở kế thừa những nguồn
liệu và một số nhận t, đánh giá của các tác giả đi trước chúng tôi sẽ đi sâu
tìm hiểu cơ sở của mối quan hệ Nhật Bản - Việt Nam và đưa ra một số nhận
xét tổng quan về vấn đề này. i viết tập trung phân tích chủ yếu về sở
vtrí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, sở kinh tế, tiềm lực vật chất xã hội,
nguồn lực con nời và nhu cầu lợi ích của 2 nước.
1. Yếu tố vị trí địa lý, tài ngun thiên nhiên
Nhật Bản nằm Đông Bắc á thuộc Châu á là quốc gia nghèo vtài
nguyên thiên nhiên, nhất là du lửa vì vậy muốn phát triển đất nước hùng
cường... Nhật Bản phải chiến lược gia tăng quan hệ đối ngoại với các
nước Đông Nam á, đặt biệt là với Việt Nam - nước nguồn dầu lửa rất
lớn và rất giàu các tài nguyên thiên nhiên thcung cấp cho Nhật Bản
56
trong chiến lược phát triển nền ng nghiệp hiện đại tạo lợi thế nâng cao
hơn nữa địa vị kinh tế lẫn chính trị của Nhật Bản ở khu vực và thế giới.
Nhật Bản là một quần đảo hình cánh cung ôm lấy lục địa Châu á, với
tổng diện tích là 372.815 km2, tuyến 300 đến 450 Bắc. Trong quá trình
kiến tạo, Nhật Bản là nơi xung động địa chấn ngang, hẹp chồng lên nhau
khiến cho vỏ Trái Đất vùng này rất không ổn định tạo thành nhiều núi lửa
và thường xuyên có động đất. Nhật Bản nằm đúng vào khu vực thường phát
sinh bão ln kèm theo mưa to. Do đó, hàng ngàn năm nay người Nhật Bản
luôn phải sống triền miên trong mối lo lắng trong những môi trường khắc
nghiệt nhất. Cuộc đấu tranh vật lộn với thiên nhiên bảo vệ sức người sức
của và givững cuộc sống đã tạo nên bản lĩnh can trường giúp người Nhật
Bản vượt qua mọi khó khăn kiến tạo đất nước Nhật hiện đại như ngày nay.
Nhật Bản 3/ 4 đất đai là vùng đồi núi không thích hợp với việc
trồng cây lương thực. Đất canh tác của Nhật chỉ chiếm 1/6 diện tích toàn
quốc và rất nghèo chất hữu cơ, không thuận lợi cho thâm canh tăng năng
suất. Nhật Bản là nước đặt biệt nghèo tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản và
các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác hầu như không gì ngoài đá vôi
khí sunfua. Đối với các nguyên, nhiên liệu cơ bản, Nhật Bản phải phụ thuộc
phần lớn vào nhập khẩu từ bên ngoài. Đến giữa những năm 70, để bộ máy
công nghiệp hoạt động bình thường, Nhật Bản phải nhập tới 82% đồng,
60% chì, 57 % km, 100% nm, 100% kền, 91% quặng sắt, 92% than cốc,
100% dầu lữa, 100% uranium, 78% khí tự nhiên (1). Trong tổng số giá trị
(1) Lưu Ngọc Trịnh “Chiến lược con người trong thời ký kinh tế Nhật
Bản”, NXB CTQG-HN, 1996 trang 36-37.
(2) Hiôyshi Yushital (Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam) chính sách
của Nhật Bản ở Đông Nam Á, Tạp chí Quan hệ Quốc tế , số 9 /
1991.
57
nhập khẩu nguyên nhiên liệu, nông sản, thực phẩm của mình, Nhật Bản
nhập từ khu vực Châu á - Thái Bình Dương với 25% dầu mỏ, 60% khí đốt
nhiên liệu, 96% đay, 82% quặng sắt, 100% thiếc, 92% than đá, 77% nhôm,
88% gỗ, 69% bông, 65% đường, 88% thịt, 92% dầu mỡ, 95% len, 100% lúa
mì, đỗ tương, cá, các loại hải sản sống khác. Điều này cho thấy khu vực
Châu á - Thái Bình Dương nhất Đông Nam á rất cần thiết đối với Nhật
Bản cần thị trường cung cấp nguyên vật liệu, lương thực thực phẩm cho
cuộc sống và cho sự phát triển.
Càng thực hiện ng nghiệp hóa cao độ, Nhật Bản càng rất cần thiết
đến một khu vực thể đáp ứng đầu đủ mọi nhu cầu của mình. Khu vực
đầy tiềm năng đó là Châu á - Thái Bình Dương cửa ngõ đi vào khu vực
này Đông Nam á. Trong đó Việt Nam là một đất nước còn "hoang sơ".
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thể cung cấp được mọi
thcho Nhật Bản - đất nước không gì ngoài khối óc và đôi bàn tay. Đặc
biệt trong giai đoạn hiện nay Nhật Bản muốn Givững vị trí cường quốc
kinh tế siêu cường tài chính một trong những cường quốc đóng vai
trò ngày càng quan trọng trong trật tự chính trị thế giới và trong trật tự thế
giới mới này Nhật Bản là một cực với đầu đủ ý nghĩa của nó.
Trước những hạn chế về tài nguyên thiên nhiên cho thấy Châu á sẽ là
khu vực duy nhất tạo điều kiện cho Nhật Bản tranh giành ảnh hưởng ch
đạo với các cường quốc khác. Với Châu á, Nhật Bản không chỉ chú trọng vì
lợi kinh tế mà clợi ích chính trị an ninh. Nhật Bản biết rõ ràng không th
phát huy vai trò toàn cầu nếu không bắt đầu từ khu vực. Đông Nam á và
58
cho rằng: "Việt Nam sẽ là nước đóng vai trò quan trọng về mặt chính trvà
kinh tế trong khu vực Châu á - TBD ở thế kỷ XX này"(2)
Báo Nihon Keizai Shimbun ngày 21- 8- 1995 nêu lên 7 thế mạnh
của Việt Nam là: 70 triệu dân trong đó 33 triệu lao động cần cù, có
trình độ văn hóa cao; Giàu tài nguyên thiên nhiên như dầu lửa, khí đốt,
than, quặng sắt, Bôxit; Là miền đất nông nghiệp màu mỡ; bờ biển dài;
Nguồn du lịch phong phú; Được kích thích bi tốc độ tăng trưởng nhanh
của các nước Châu á xung quanh; Sự kiểm soát chính trị có hiệu quả.
Nhật Bản là dân tộc rất sính chính trị, vì vậy các vấn đề đuợc đưa lên
báo vcơ bản mang tính thời sự quan trọng và thiết thực. Trong 7 vấn đ
trên đến 4 yếu tố (từ thứ 2 đến thứ 5) liên quan đến vị trí địa và tài
nguyên thiên nhiên của Việt Nam. Trong quan hệ Nhật Bản - Việt Nam,
đây 4 yếu tố thế mạnh của Việt Nam về cơ bản là những yếu tố mà Nhật
Bản rất cần thiết có thể khai thác để tăng cường hợp tác.
Việt Nam là quốc gia tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng,
đất đai màu mthuận lợi cho phát triển nông nghiệp xuất khẩu nông sản
các tim năng đó mới chỉ khai thác bước đầu. Việt Nam thể đáp ứng cơ
bản phần nào cho nhu cầu này nhập khẩu nguyên vật liệu rất lớn của Nhật
Bản. (1)
Các mỏ than, Boxit, sắt và các loại đá quí rải rác ở phía Bắc và Trung.
Ngược lại, trữ lượng dầu khí đốt lại tìm thấy thềm lục địa và duyên
hải. Thiên nhiên đã tạo cho Việt Nam những điều kiện tốt: những mkim
59
loại quí hiếm, những mỏ dầu, than đá và sắt được phát hiện và khai thác với
số lượng ngày càng tăng.
Dọc theo bờ biển từ Bắc đến Nam các bãi biển rất đẹp, đặt biệt là
vịnh Hạ Long. Vịnh Hạ Long trên 3.000 hòn đảo lớn nhỏ động Phong
Nha KBàng được công nhận là di sản thế giới và Năm m 2003 Vịnh
Nha Trang được xem là một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới; Việt Nam có
nhiều đảo quần đảo như: Phú Quốc, Côn Đảo, Bạch Long Vĩ, Hoàng Sa,
Trường Sa,... đáp ứng nhu cầu về thích đi du lịch và yêu thiên nhiên giàu
đẹp của người Nhật Bản.
Việt Nam vị trí địa điều kiện tự nhiên rất thuận lợi để phát
triển du lịch. Các sân bay Quốc tế các cảng biển lớn, hệ thống đường bộ
tương đối phát triển thông với biển Đông. Việt Nam là cầu nối quan trọng
giữa Đông á - Nam á và các quần đảo kc trong khu vực Thái Bình
Dương. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch Việt Nam-Nhật Bản
một trong những thị trường trọng điểm của nghành du lịch Việt Nam.
Việt Nam có nhiều hội để khai thác triệt để những tiềm năng kinh tế vốn
của thị trường này. Nhật Bản được đánh gnước nhu cầu đi du lịch
nước ngoài rất cao và hiện đang phong trào thích đến Việt Nam. (2) Việt
Nam được đánh giá là "vùng vịnh yên tĩnh giữa biển khơi đầy sóng gió" và
hiện nay" Việt Nam hiện đang điểm đến an ninh an toàn nhất thế giới"
theo Hãng tin Keuler.
(1) Tạp chí kinh tế Châu Á-TBD, s4 năm 1999.
(2) Tạp c nghiên cứu Nhật Bản và Đông Nam á, số 6 tháng
12/2002, trang 60.