intTypePromotion=1
ADSENSE

Báo cáo tốt nghiệp: Kế toán thanh toán không dùng tiền mặt tại Chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội Thừa Thiên Huế

Chia sẻ: Le Van Dai | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:56

495
lượt xem
210
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Báo cáo tốt nghiệp: Kế toán thanh toán không dùng tiền mặt tại Chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội Thừa Thiên Huế trình bày cơ sở lý luận về NHTM, thực trạn và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thanh toán không dùng tiền mặt tại Chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội Thừa Thiên Huế.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo tốt nghiệp: Kế toán thanh toán không dùng tiền mặt tại Chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội Thừa Thiên Huế

  1. TRƯỜNG……………….. KHOA………………………….. BÁO CÁO TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI Kế toán thanh toán không dùng tiền mặt tại Chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội Thừa Thiên Huế 1
  2. MỤC LỤC PHẦN I .........................................................................................................................3 ĐẶT VẤN ĐỀ ...........................................................................................................3 1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. ................................................................................3 CHƯƠNG 1 ................................................................................................................6 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.....................................6 U 1.1. Khát quát về Ngân hàng Thương mại .......................................................6 1.1.1. Khái niệm Ngân hàng Thương mại ........................................................6 CHƯƠNG 2 ..............................................................................................................23 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................23 U 2.1. KHÁI QUÁT VỀ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI THỪA THIÊN HUẾ ....................................................................................23 2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Quân đội .................................................................................................................................23 2.3. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG QUÂN ĐỘI T.T HUẾ. ..........................................................................................37 2.3.1. Tình hình thanh toán KDTM tại MB - Huế ......................................37 CHƯƠNG III ............................................................................................................50 2
  3. MỘT SỐ BIÊN PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN THANH TOÁN KDTM TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI THỪA THIÊN HUẾ ......................................................50 3.1. MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA MB - HUẾ TRONG CÔNG TÁC KẾ TOÁN THANH TOÁN KDTM .........................................................................................................................50 3.1.1. Những kết quả đạt được ...........................................................................50 PHẦN III....................................................................................................................57 KẾT LUẬN ...............................................................................................................57 DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ SỬ DỤNG ............58 PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. Tốc độ phát triển nhanh như vũ bão của ngành công nghệ thông tin đã đem lại cho con người những tiến bộ vượt bậc trong đời sống kinh tế - xã hội. Đặc biệt với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thế giới trong nhưng năm qua thì xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá đã trở thành một xu thế khách quan. Việt Nam không nằm ngoài xu thế này với việc tham gia vào những tổ chức, diễn đàn kinh tế và thế giới, các hiệp định thương mại song phương và đa phương. Hội nhập kinh tế quốc tế là một bước đi đúng đắn mở ra cho Việt Nam những cơ hội mới, tạo điều kiện cho Việt Nam không ngừng nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế, trên cơ sở tiếp thu và ứng dụng khoa học công nghệ, về cơ chế quản lý của các nước phát triển. Tuy nhiên hội nhập kinh tế cũng đặt Việt Nam trước những thách thức lớn cần được giải quyết, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính và ngân hàng vì đây là lĩnh vực có vai trò quyết định mức độ hội nhập kinh tế. 3
  4. Ngành Ngân hàng ngày nay được coi là ngành kinh tế huyết mạch, là hệ tuần hoàn của nền kinh tế. Có tầm quan trọng đặc biệt góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước. Để thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm đó của Đảng và Nhà nước giao cho, một trong những vấn đề cấp bách đặt ra cho Ngành ngân hàng là phải xây dựng được hệ thống đủ mạnh trên tất cả các lĩnh vực: hoạch định, thực thi chính sách, năng lực điều hành, quản lý, kinh doanh, phát triển kỹ thuật công nghệ hiện đại thích ứng với cơ chế thị trường. Nên kinh tế hội nhập sẽ làm cho các quan hệ mua bán, trao đổi hàng hoá dịch vụ từng bước phát triển cả về số lượng và chất lượng đòi hỏi sự luân chuyển vốn nhanh, các quan hệ thanh toán phải đảm bảo tính an toàn, nhanh chóng và hiệu quả. Vì vậy đi đôi với việc đổi mới cơ chế tổ chức, quản lý thì Ngành ngân hàng cần tập trung cải tiển hoạt động thanh toán, đặc biệt là trong hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt. Nhận thức rõ tầm quan trọng của hoạt động thanh toán KDTM, trong những năm qua hệ thống Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội – MCSB nói chung và Chi nhánh Ngân hàng Quân đội Thừa Thiên Huế nói riêng đã tập trung chỉ đạo, cải tiến về cơ chế, nghiệp vụ và hiện đại hoá công nghệ thanh toán nhằm thu hút ngày càng nhiều khách hàng và nhanh chóng hội nhập vào khu vực và thế giới. Mặc dù công tác thanh toán KDTM qua các ngân hàng tại MB - Huế đã đạt được những thành quả đáng kể, song còn nhiều điều bất cập, chưa tương xứng với tiềm năng vốn có. Điều này đặt ra cho MB - Huế phải tìm ra những giải pháp hữu hiệu để hoàn chỉnh dịch vụ này và tạo tiền đề để mau chóng hội nhập chung vào mạng lưới thanh toán quốc tế. Qua thời gian thực tập tại Ngân hàng Quân đội - Chi nhánh Huế, nghiên cứu các hoạt động, nghiệp vụ, đặc biệt là công tác thanh toán KDTM tại Ngân hàng, kết hợp với phần lý thuyết đã được học tập tại Trường Đại học Kinh tế Huế em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Kế toán thanh toán không dùng tiền mặt tại Chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội Thừa Thiên Huế” để hiểu rõ hơn cách thức tổ chức và hạch toán thanh toán KDTM, đặc biệt đi sâu vào tìm hiểu hai 4
  5. hình thức thanh toán là Uỷ nhiệm chi và thanh toán thẻ - hai hình thức sử dụng nhiều sự hỗ trợ của máy móc và công nghệ hiện đại mang nhiều lợi ích cho người sử dụng. 1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU. Tập hợp cơ sở khoa học về hình thức Kế toán thanh toán KDTM, từ đó làm rõ có thể làm rõ cơ sở khoa học này hơn khi đi sâu vào tìm hiểu thực tế công tác hạch toán. Đi sâu vào tìm hiểu các quy trình và nghiệp vụ kế toán của hai hình thức thanh toán: Uỷ nhiệm chi và thanh toán thẻ tại Chi nhánh Ngân hàng Quân đội Thừa Thiên Huế. Đưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác Kế toán thanh toán KDTM tại Ngân hàng, đồng thời nhận xét, đánh giá và đưa ra một số kiến nghị cá nhân về hai hình thức thanh toán nói trên tại Ngân hàng. 1.3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quy trình và kỹ thuật nghiệp vụ kế toán thanh toán KDTM tại Chi nhánh Ngân hàng Quân đội Thừa Thiên Huế. 1.4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Phạm vi nghiên cứu của đề tài là quy trình nghiệp vụ thanh toán KDTM tại Chi nhánh Ngân hàng Quân đội Thừa Thiên Huế, mà cụ thể đi sâu vào hai hình thức thanh toán uỷ nhiệm chi và thanh toán thẻ ghi nợ nội địa trong 2 năm 2007 và 2008. 1.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp nghiên cứu tài liệu: là phương pháp tham khảo các sách vở, báo chí, các quyết định của Nhà nước, các trang Web đáng tin cậy…để tạo dựng cơ sở khoa học cho vấn đề nghiên cứu. Phương pháp quan sát, phỏng vấn: là phương pháp thực hiện trong quá trình thực tập tại đơn vị. Trong thời gian thực tập đã có những quan sát và hỏi những người liên quan trong đơn vị, từ đó ghi chép, tích luỹ kiến thức. 5
  6. Phương pháp tổng hợp và phân tích: là phương pháp thu thập số liệu, sau đó phân tích các số liệu thu thập được, từ các số liệu đó thực hiện việc nhận xét, đánh giá. Phương pháp kế toán: là phương pháp thu thập chứng từ, các số liệu kế toán để phân tích, hạch toán và tổng hợp CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1. Khát quát về Ngân hàng Thương mại 1.1.1. Khái niệm Ngân hàng Thương mại NHTM được hiểu theo nhiều cách khác nhau ở các nước khác nhau trên thế giới. Ở một số nước thì khái niệm này được hiểu là các tổ chức tài chính tiền tệ mà hoạt động kinh doanh chủ yếu của nó là nhận tiền gửi trong dân cư sau đó cho các tổ chức kinh tế khác vay lại để sản xuất kinh doanh hoặc cho những hộ gia đình vay với mục đích tiêu dùng; Các Ngân hàng không được phép kinh doanh tổng hợp các dịch vụ khác như đầu tư tài chính, cung cấp dịch vụ cho các nhóm nghề riêng biệt. Trong khi đó ở một số nước khác cho rằng NHTM có thể kinh doanh tổng hợp các dịch vụ như buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và giá trị địa ốc… Ở Việt Nam, tại khoản 7, điều 20 Luật các Tổ Chức Tín dụng được sửa đổi, bổ sung năm 2004 có quy định: “Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ 6
  7. và dịch vụ Ngân hàng với nội dung thương xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Trên thực tế, các NHTM ở nước ta ngoài việc thực hiện các hoạt động ghi trong luật nêu trên thì còn phải thực hiện các hoạt động khác phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội thực hiện theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là cho vay để khuyến khích phát triển một số thành phần kinh tế, ưu đãi đối với một số dự án và đối tượng đặc biệt… Do đó, ở Việt Nam các NHTM thường được hiểu như một Ngân hàng thực hiện các dịch vụ tổng hợp về kinh doanh tiền tệ như nhận tiền gửi của khách hàng để cho vay, cung cấp lại vốn đầu tư,… chịu sự chỉ đạo, định hướng và giám sát chặt chẽ của Nhà nước. 1.1.2. Bản chất của NHTM NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt trong nền kinh tế, hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Bản chất của NHTM thể hiện qua các khía cạnh sau: NHTM là một loại hình doanh nghiệp và là một đơn vị kinh tế: NHTM hoạt động trong một ngành kinh tế, có cơ cấu tổ chức bộ máy như một doanh nghiệp, bình đẳng trong quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp khác, phải tự chủ về kinh tế và phải có nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước như các đơn vị khác. Hoạt động của NHTM là hoạt động kinh doanh. Vì vậy, các NHTM phải có vốn, phải tự chủ về tài chính, hoạt động nhằm mục tiêu lợi nhuận trên cơ sở chấp hành pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng, góp phần cung ứng một khối lượng vốn tín dụng rất lớn cho nền kinh tế. 1.1.3. Chức năng của Ngân hàng Thường mại Trung gian tài chính Trong nền kinh tế luôn luôn tồn tại hai loại tổ chức, cá nhân như sau: Một là những người tạm thời thâm hụt chi tiêu hoặc có nhu cầu tiêu dùng mà chưa có tiền, tức là nhu cầu về tiêu dùng và đầu tư của họ vượt quá mức thu nhập hiện tại. Thứ hai là 7
  8. những cá nhân hoặc tổ chức có thu nhập lớn hơn mức chi tiêu của họ, còn gọi là thặng dư trong chi tiêu. Nhóm thứ nhất có nhu cầu vay một khoản tiền trong hiện tại để bù đắp thâm hụt, tất nhiên họ sẽ chi trả trong tương lai. Còn nhóm thứ hai muốn số tiền tiết kiệm của mình được bảo vệ an toàn và nhất là có khả năng sinh lãi. Hai nhóm người này sẽ đạt được lợi ích tối đa nếu họ gặp được nhau, quan hệ của họ khi đó gọi là quan hệ Tài chính trực tiếp. Nhưng những giới hạn do sự không phù hợp về quy mô, không gian, thời gian…đã ngăn cản họ. NHTM ra đời, nhờ khả năng thẩm định thông tin tốt và lợi thế về quy mô, NHTM hút tiết kiệm từ nhóm thứ hai cho nhóm thứ nhất - những người đảm bảo được khả năng trả nợ vay. Người đi vay phải trả cho Ngân hàng chi phí sử dụng tiền vay, gọi là lãi suất vay tính trên tổng số tiền vay, ngược lại thì Ngân hàng phải trả cho người gửi tiền một khoản lợi nhuận gọi là lãi suất tiết kiệm đề bù đắp cho sự hy sinh không tiêu dùng trong hiện tại mà cho Ngân hàng tại thời sử dụng. Lãi suất vay bao giờ cũng lớn hơn lãi suất huy động, sau khi trừ những chi phí thì phần chênh lệch còn lại là thu nhập của Ngân hàng. Hoạt động kinh doanh của NHTM dựa trên hai nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi tiết kiệm và cho vay còn được gọi là kinh doanh rủi ro. Ngân hàng luôn đảm bảo chi trả cho khách hàng gửi tiền đúng kỳ hạn và đủ cả gốc lẫn lãi. Mặt khác những món cho vay của Ngân hàng thì có rủi ro cao hơn do khả năng trả nợ của khách hàng thường ẩn chứa yếu tố bất trắc. Với nguyên tắc rủi ro càng lớn, lợi nhuận càng cao, Ngân hàng sẽ sử dụng khả năng thẩm định thông tin của mình cân băng giữa lợi nhuận và rủi ro để đem về cho mình một kết quả kinh doanh tốt nhất. Chức năng tiền ghi sổ Quá trình tạo bút tệ của NHTM được thực hiện thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán trong hệ thống Ngân hàng, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống Ngân hàng Trung Ương (NHTW) của mỗi nước. Đó là khả năng biến mức tiền gửi ban đầu tại một Ngân hàng thành một khoản tiền lớn gấp nhiều lần khi thực hiện các nghiệp vụ tín dụng thanh toán qua nhiều Ngân hàng. NHTM tạo được bút tệ xuất phát từ NHTW. 8
  9. Nếu không có sự ràng buộc nào thì khả năng tạo bút tệ là vô hạn, tuy nhiên dưới sự kiểm soát của NHTW thì NHTM chỉ tạo bút tệ trong giới hạn nhất định. Trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán Thực hiện chức năng thanh toán, NHTM cung cấp các phương tiện thanh toán cho nên kinh tế, tiết kiệm chi phí lưu thông và nâng cao khả năng tín dụng. Thay vì phải thanh toán hàng hoá, dịch vụ trực tiếp bằng tiền mặt, giờ đây khách chỉ cần mở tài khoản, Ngân hàng sẽ thừa lệnh của khách hàng thực hiện toàn bộ các nghiệp vụ ngân quỹ và thanh toán cho khách hàng thông qua nhiều hình thức như chuyển khoản, séc, Uỷ nhiệm chi, Uỷ nhiệm thu, thư tín dung L/C, các loại thẻ thanh toán khác….Khi sử dụng các phương tiện thanh toán này, các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí lao động, thời gian, lại an toàn. Đồng thời, hệ thống NHTM lại tích tụ được một số vốn lớn để mở rộng khả năng tín dụng. Để thực hiện tốt chức năng là một trung gian thanh toán, Ngân hàng đầu tiên phải đầu tư vào yếu tố cống nghệ, chuẩn hoá quy trình thanh toán và cần thiết phải có một sự kết nối giữa các Ngân hàng trên toàn hệ thống. Hiện nay, nhiều trung tâm thanh toán bù trừ quốc tế đã ra đời làm gia tăng hiệu quả thanh toán qua Ngân hàng, khách hàng dù ở bất kỳ đâu trên thế giới đều có thề sử dụng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt này. Chức năng tài trợ ngoại thương, mở rộng nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế Một trong những chức năng quan trọng nhất do các Ngân hàng thực hiện trong việc tham gia vào nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế là tài trợ xuất nhập khẩu và nền thương mại giữa các quốc gia. Ngày nay, khi tài trợ thành một phần không thể thiếu đối với nhiều giao dịch thương mại, các Ngân hàng đã phát triển các dịch vụ này từ việc tài trợ các hợp đồng thương mại riêng biệt đến cung cấp các giải pháp tổng hợp đối với các nhu cầu thương mại. Điều này bao gồm sự kết hợp việc cho vay của Ngân hàng với các nguồn tài trợ từ các cơ quan xuất khẩu của Chính phủ, công ty thuê mua tài chính quốc tế và các nguồn tài trợ phi Ngân hàng khác, cùng với bảo hiểm rủi ro chính trị và kinh tế Cung cấp các dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác 9
  10. Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng và ngân quỹ, NHTM có những điều kiện thuận lợi về kho quỹ, thông tin, quan hệ rộng rãi với các doanh nghiệp. Với những điều kiện đó, Ngân hàng có thể thực hiện việc tư vấn về tài chính và đầu tư cho các doanh nghiệp, làm đại lý phát hành cổ phiếu, trái phiếu bảo đảm đạt hiệu quả cao và tiết kiệm chi phí. Và ngoài ra, NHTM còn cung cấp cho khách hàng các dịch vụ khác như: Dịch vụ bảo quản an toàn vật có giá của khách hàng, dịch vụ cho thuê két sắt, dịch vụ tín thác hoặc uỷ thác Ngân hàng… 1.2. Tổng quan về hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại NHTM 1.2.1. Khái niệm về hình thức thanh toán không dùng tiền mặt Thanh toán KDTM là cách thức thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ không có sự xuất hiện của tiền mặt mà được tiến hành bằng cách trích từ tài khoản của người chi trả chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. (Giáo trình kế toán ngân hàng của TS Nguyễn Thị Thu Hương). Như vậy, xét về góc độ kế toán thì kế toán nghiệp vụ thanh toán KDTM là thực hiện các bút toán bằng đồng tiền ghi sổ hay bút tệ. 1.2.2. Đặc điểm của thanh toán không dùng tiền mặt Trong thanh toán qua Ngân hàng sự vận động của vật tư hàng hoá độc lập với sự vận động của tiền tệ cả về thời gian lẫn không gian. Trong thanh toán KDTM, vật trung gian trao đổi (tiền mặt) không xuất hiện như trong thanh toán tiền mặt theo kiểu hàng - tiền – hàng, mà chỉ xuất hiện dưới hình thức tiền tệ kế toán và được ghi chép trên các chứng từ sổ sách. Mỗi bên tham gia thanh toán phải mở tài khoản tại ngân hàng. Do việc mở tài khoản tại ngân hàng nên ngân hàng là người quản lý các tài khoản tiền gửi của các cá nhân, tổ chức. Đồng thời ngân hàng có vai trò là người thực hiện và là người kết thúc quá trình thanh toán. 10
  11. Trong thanh toán KDTM, ngoài chủ thể chịu trách nhiệm thanh toán và chủ thể được hưởng, còn có sự tham gia của ít nhất là một ngân hàng. Quá trình thanh toán KDTM được diễn ra tại ngân hàng nên ngân hàng có vai trò to lớn không thể “vắng mặt” vì ngân hàng vừa là người thực hiện các khoản thanh toán. 1.2.3. Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế Chức năng thanh toán của tiền tệ với nhiều mô thức ngày càng đa dạng. Sự nhanh chóng, tiện ích, an toàn, hiệu quả của thanh toán sẽ đẩy nhanh việc tập trung và phân phối các dòng vốn trong nền kinh tế và xã hội, cung ứng vốn cho nền kinh tế phát triển. Đã đến lúc điều hành chính sách tài chính, tiền tệ phải thông qua màn hình thanh toán quốc gia, với những phương tiện, kỹ thuật công nghệ thanh toán hiện đại, hạn chế việc sử dụng tiền mặt trong lưu thông. Hình thức thanh toán KDTM đã phổ biến ở nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển và đã chứng tỏ được vai trò quan trọng của mình: Thứ nhất, thanh toán KDTM sẽ đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn trong nền kinh tế. Bất cứ một hoạt động sản xuất kinh doang nào cũng cần cố vốn, và nếu dòng vốn luân chuyển càng nhanh thì việc sản xuất kinh doanh diễn ra càng liên tục và thuận lợi, mang lại hiệu qua cao. Thanh toán KDTM được thực hiện dựa trên việc áp dụng công nghệ tin học hiện đại, thông qua việc bù trừ các tài khoản tại ngân hàng, do đó tạo điều kiện nhanh chóng cho việc giao dịch, chu chuyển vốn, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả của đồng vốn trong nền kinh tế. Thứ hai, thanh toán KDTM góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt. Nếu không sử dụng tiền mặt để giao dịch thì sẽ tiết kiệm được chi phí phát sinh do việc in ấn, vận chuyển, phát hành, bảo quản tiền. Thứ ba, muốn sử dụng hình thức thanh toán KDTM thì nhất thiết mỗi chủ thể phải mở cho mình một tài khoản riêng với số dư nhất định trong tài khoản tại ngân hàng, và qua đó đã tạo ra một lượng tiền gửi trong ngân hàng. Do đó Ngân hàng luôn huy động được một lượng vốn nhất định từ số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán mà khách hàng chưa sử dụng đến. 11
  12. Thứ tư, thông qua việc thực hiện các giao dịch thanh toán cho khách hàng, ngân hàng sẽ thu được một khoản lợi nhuận từ việc thu phí thực hiện dịch vụ. Thứ năm, thanh toán KDTM còn có vai trò nổi bật so với thanh toán dùng tiền mặt, đó là việc hạn chế những rủi ro gặp phải trong lưu thông. Chẳng hạn người bán hàng chỉ cầm tờ séc của người mua phát hành tới Ngân hàng phục vụ mình hoặc Ngân hàng phục vụ người phát hành thì Ngân hàng sẽ trích Nợ tài khoản của người phát hành séc nếu tờ séc đó hợp lệ, hợp pháp. Không may trong thời gian chưa nộp séc (séc vẫn còn thời hạn) mà bị mất thì tài sản của họ vẫn được đảm bảo không bị mất nếu khách hàng thông báo việc mất séc với Ngân hàng mình kịp thời. Xét về mặt vĩ mô, thanh toán KDTM còn tạo điều kiện cho Nhà nước quản lý, kiểm soát về mặt tài chính, tiền tệ trong xã hội được dễ dàng. Với những thông tin so Ngân hàng cung cấp, Nhà nước nắm bắt được chính xác hơn lượng tiền lưu thông trong xã hội, từ đó có những chính sách, kế hoạch điều hoà, ổn định giá trị của đồng tiền. Rõ ràng, thanh toán KDTM giữ vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế. Muốn đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế thì đẩy mạnh từng bước công tác thanh toán KDTM và đi kèm với nó là các nghiệp vụ kế toán phản ánh quá trình thanh toán đó phải trở nên hoàn thiện, đầy đủ, kịp thời và chính xác. 1.2.4. Các nguyên tắc trong thanh toán không dùng tiền mặt Các chủ thể tham gia thanh toán (kể cả pháp nhân và thế nhân) đều phải mở tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và được quyền lựa chọn tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán để mở tài khoản. Số tiền thanh toán giữa người chi trả và người thụ hưởng phải dựa trên cơ sở lượng hàng hoá, dịch vụ đã giao giữa người mua và người bán. Người mua phải chuẩn bị đầy đủ phương tiện thanh toán (số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán hoặc hạn mức thấu chi nếu có) để đáp ứng yêu cầu thanh toán đầy đủ, kịp thời khi xuất hiện yêu cầu thanh toán. Nếu người mua chậm trễ thanh toán; hoặc vi phạm chế độ thanh toán thì phải chịu phạt theo chế độ thanh toán hiện hành. 12
  13. Người bán hay người cung cấp dich vụ là người được hưởng số tiền do người chi trả chuyển vào tài khoản của mình nên phải có trách nhiệm giao hàng hay cung cấp dịch vụ kịp thời và đúng với lượng giá trị mà người mua đã thanh toán; đồng thời phải kiểm soát kỹ càng các chứng từ phát sinh trong quá trình thanh toán. Là trung gian thanh toán giữa người mua và người bán, các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phải thực hiện đúng vai trò trung gian thanh toán: Chỉ trích từ tài khoản của người chi trả chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng khi có lệnh của người chi trả (thể hiện trên các chứng từ thanh toán). Trường hợp không cần có lệnh của người chi trả (không cần chữ ký của chủ tài khoản trên chứng từ) chỉ áp dụng đối với một số hình thức thanh toán như Uỷ nhiệm thu, hay lệnh của toà án kinh tế. Các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phải có trách nhiệm hưỡng dẫn, giúp đỡ khách hàng mở tài khoản, sử dụng các công cụ thanh toán phù hợp với điều kiện sản xuất, kinh doanh, phương thức giao nhận, vận chuyển hàng hoá. Cung cấp đầy đủ các chứng từ sử dụng trong quá trình thanh toán cho khách hàng. Tổ chức hạch toán, luân chuyển chứng từ thanh toán một cách nhanh chóng, chính xác, an toàn tài sản. Nếu để chậm trễ hay hạch toán thiếu chính xác gây thiệt hại cho khách hàng trong qua trình thanh toán thì phải chịu phạt để bồi thường cho khách hàng theo chế tài chung. 1.2.5. Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt Các hình thức thanh toán KDTM không phải mang tính ngẫu nhiên, nó được hình thành và phát triển từng bước trên cơ sở phát triển của nền sản xuất và lưu thông hàng hoá. Trong lịch sử phát triển, phương tiện thanh toán KDTM được sử dụng rất đa dạng, phong phú, phù hợp với điều kiện của mỗi nước, mỗi vùng. Theo văn bản pháp quy do Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành thì hiện nay ở Việt Nam có 5 hình thức thanh toán KDTM chủ yếu được sử dụng để thanh toán giữa các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế đó là: • Sec thanh toán: Séc chuyển khoản, séc bảo chi, séc bảo lãnh • Uỷ nhiệm thu – nhờ thu 13
  14. • Uỷ nhiệm chi – nhờ chi • Thẻ thanh toán • Thư tín dụng L/C Do phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ giới hạn ở hai hình thức thanh toán KDTM là thanh toán Uỷ nhiệm chi và thanh toán thẻ ghi nợ nên ở phần cơ sở khoa học này em chỉ xin trình bày cơ sở lý luận về thanh toán Uỷ nhiệm chi và thanh toán thẻ. 1.2.5.1. Uỷ nhiệm chi - lệnh chi Uỷ nhiệm chi là lệnh của chủ tài khoản, được lập theo mẫu in sẵn của Ngân hàng, yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình trích một số tiền nhất định trên tài khoản của mình trả cho người thụ hưởng có tài khoản ở cùng hoặc khác Ngân hàng. Uỷ nhiệm chi ra đời khá lâu, được sử dụng phổ biến trong quan hệ thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ giữa người mua và người bán có mở tài khoản tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Uỷ nhiệm chi có những ưu điểm sau: Uỷ nhiệm chi có tính an toàn cao. Người phát hành là người ra lệnh chi tiền từ tài khoản của mình, và chỉ có thể lập uỷ nhiệm chi khi trên tài khoản có đủ số dư. Điều này đảm bảo an toàn cho cả Ngân hàng và khách hàng, tránh trường hợp phát hành quá số dư. Uỷ nhiệm chi rất đơn giản khi sử dụng và phát hành, thủ tục thanh toán nhanh gọn. Mẫu uỷ nhiệm chi có thể do người phát hành tự lập theo mẵu chung hoặc dễ dàng được Ngân hàng cung cấp và không cần phải quản lý chặt chẽ để tránh mất cắp. So với séc và uỷ nhiệm thu thì uỷ nhiệm chi không bị giới hạn trong phạm vi thanh toán mà có thể được thanh toán trong toàn quốc. Đồng thời uỷ nhiệm chi cũng không cần yêu cầu các điều kiện như kỹ quỹ hay phải gắn với các hợp đồng kinh tế… Vì vậy, uỷ nhiệm chi là hình thức thanh toán KDTM được ưa thích và có tỷ trọng thanh toán cao nhất tại Việt Nam hiện nay. 14
  15. Quy trình thanh toán uỷ nhiệm chi: Sơ đồ 1: Thanh toán uỷ nhiệm chi cùng một Ngân hàng. (1) Bên mua Bên bán (Bên chi trả) (Bên thụ hưởng) (2) (4) (3) Ngân hàng Chú thích: (1) Bên bán giao hàng hoá và cung cấp dịch vụ cho bên mua theo hợp đồng đã được ký kết. (2) Bên mua lập uỷ nhiệm chi gửi tới Ngân hàng. (3) Ngân hàng tiến hành kiểm tra nếu hợp lệ thì ghi "Nợ" và báo "Nợ" cho bên mua. (4) Ngân hàng tiến hành ghi "Có" và báo "Có" cho bên bán. Sơ đồ 2: Thanh toán uỷ nhiệm chi khác Ngân hàng. (1) Người thụ hưởng Người chi trả (Người bán) (Người mua) (5) (2) (3) (4) Ngân hàng Ngân hàng bên bán bên mua Chú thích: (1) Bên bán giao hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ cho bên mua. 15
  16. (2) Bên mua lập uỷ nhiệm chi theo mẫu và gửi đến Ngân hàng phục vụ mình để thanh toán tiền cho bên bán. (3) Ngân hàng bên mua kiểm tra uỷ nhiệm chi do bên mua chuyển đến, nếu tất cả hợp lệ thì tiến hàng thanh toán bằng cách trích chuyển tiền trên tài khoản của bên mua (ghi "Nợ" tài khoản bên mua) để trả cho bên bán. (4) Ngân hàng phục vụ bên chi trả thanh toán cho Ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng. (5) Ngân hàng bên thụ hưởng tiến hành ghi "Có" và báo "Có" cho bên thụ hưởng. 1.2.5.2. Thẻ thanh toán Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán mà người chủ thẻ có thể sử dụng nó để rút tiền tự động hoặc thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ tại các cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ. Thẻ thanh toán là phương tiện chi trả hiện đại,xuất hiện với tư cách là phương tiện thanh toán đầu tiên tại Mỹ vào năm 1914 và được sử dụng rộng rãi vào những năm 1950. Cho đến những năm 1960 thẻ thanh toán đã dần thâm nhập vào cuộc sống của dân cư tại các nước Châu Âu và ngày càng phát triển rộng rãi, trở thành phương tiện thanh toán thông dụng trên thế giới. Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán KDTM do Ngân hàng phát hành. Thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hay tại các ngân hàng đại lý trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được ký kết giữa ngân hàng và chủ thẻ. Hoá đơn chấp nhận thanh toán thẻ chính là giấy nhận nợ của chủ thẻ đối với cơ sở chấp nhận thẻ. Đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ là đơn vị cung ứng dịch vụ sẽ nhận lại tiền của chủ thẻ thông qua ngân hàng phát hành và ngân hàng thanh toán thẻ. Thẻ thanh toán là phương thức ghi sổ những số tiền cần thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giữa ngân hàng tổ chức tài 16
  17. chính với các điểm thanh toán. Nó cho phép thực hiện thanh toán nhanh chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thành phần tham gia thanh toán. a, Đặc tính của thẻ thanh toán U Tính tiện ích: Là phương tiện thanh toán thay thế tiền mặt trong lưu thông, mang đến cho khách hàng sự tiện lợi hơn hẳn các phương tiện thanh toán khác. Nó có thể giúp cho người sự dụng thanh toán bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu mà không cần phải mang theo tiền mặt. Bên cạnh đó, kích cỡ của tấm thẻ chỉ bằng giấy chứng minh thư nhân dân nên khách hàng không phải lo lắng khi mang theo trong người. Tính linh hoạt: Với nhiều loại đa dạng và phong phú, thẻ thanh toán thích hợp cho mọi đối tượn khách hàng, từ những khách hàng có thu nhập thấp đến khách hàng có thu nhập cao, khách hàng có nhu cầu rút tiền mặt cho tới giải trí, mua sắm hàng hoá… Do đó, thẻ cung cấp cho khách hàng độ thoả mãn tối đa nhu cầu cần sử dụng của mọi đối tượng khách hàng. Tính an toàn và nhanh chóng: Với quy trình và nghiệp vụ thanh toán thẻ mà Ngân hàng cung ứng cho khách hàng, khách hàng sử dụng thẻ có thể hoàn toàn yên tâm trước nguy cơ bị mất thẻ vì Ngân hàng vẫn bảo vệ được tiền trong tài khoản của khách hàng bằng mã số Pin, chữ ký trên thẻ, mã tài khoản thẻ…Điều này cho thấy tính an toàn hơn của thanh toán thẻ so với các phương tiện thanh toán khác. Ngoài ra, các giao dịch thẻ đều được thựuc hiện qua mạng kết nối trực tuyến từ cơ sở chấp nhân thẻ hay điểm rút tiền mặt tới Ngân hàng thanh toán và Ngân hàng phát hành. Vì vậy, việc ghi Nợ - Có cho các chủ thẻ tham gia vào quá trình thanh toán được thực hiện một cách tự động, nhanh chóng và chính xác. Tính sinh lời: Đối với thẻ tín dụng, khách hàng có thể sử dụng tiền của ngân hàng mà không trả lãi nếu thanh toán đúng hạn; nghĩa là khách hàng đã được cho vay không tính lãi trong một khoảng thời gian nhất định. Còn đối với thẻ ghi nợ thì chủ thẻ sẽ được hưỡng lãi trên số dư của tài khoản (lãi suất không ky hạn). Như vậy, khách hàng vừa chi tiêu và tiền vẫn sinh lời. b, Phân loại thẻ thanh toán U 17
  18. Có nhiêu cách để phân loại thẻ thanh toán nhưng theo tính chất thanh toán (nội dung kinh tế) của thẻ thì có thể phân loại thẻ thanh toán thanh 3loại sau: Thẻ ghi nợ (Debit Card): Là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn với tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ thẻ. Để sử dụng loại thẻ này, chủ thẻ phải có tài khoản hoạt động thường xuyên tại ngân hàng. Loại thẻ này khi rút tiền tài các máy rút tiền tự động (ATM) hay mua hàng hoá dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ (DVCNT) thì giá trị giao dịch sẽ được trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ tại ngân hàng. Như vậy, căn cứ để thanh toán là số dư tài khoản tiền gửi của chủ thẻ tại ngân hàng và hạn mức thanh toán tối đa của chủ thẻ do ngân hàng đó quy định. Thẻ trả trước (Prepaid Card): Là loại thẻ mới được phát triểnt trên thế giới, khách hàng không cần phải thực hiện các thủ tục phát hành thẻ theo yêu cầu của ngân hàng như: điền vào phiếu yêu cầu phát hành thẻ, chứng minh tài chính,…., mà chỉ cần trả cho ngân hàng một số tiền, ngân hàng sẽ bán cho một tấm thẻ với mệnh giá tương đương. Loại thẻ này có đặc điểm giống như mọi loại thẻ bình thường khác, tuy nhiên thẻ này chỉ được giới hạn với số tiền có trong thẻ và chi tiêu trong một khoảng thời gian nhất định tuy vào quy định riêng của mỗi ngân hàng. Thẻ tín dụng (Credit Card): Là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất. Với loại thẻ này, chủ thẻ được sử dụng một hạn mức tín dụng mà không phải trả lãi (với điều kiện chủ thẻ hoàn trả số tiền đúng kỳ hạn) để mua sắm hàng hoá, dịch vụ tại những cơ sở chấp nhận thẻ. Thẻ tín dụng là một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt cho phép người sử dụng có khả năng chi tiêu trước và trả tiền sau. Quy trình thanh toán bằng thẻ thanh toán NHTM Sơ đồ 3: Quy trình thanh toán thẻ: (3) Đơn vị chấp Chủ thẻ nhận thẻ (1) (2) (4) (5) (6) 18
  19. ATM (8) Ngân hàng Ngân hàng đại lý phát hành thẻ thanh toán thẻ (7) Chú thích: (1) Các đơn vị, cá nhân có nhu cầu giao dịch thanh toán thẻ liên hệ với ngân hàng phát hành để được sử dụng dịch vụ thẻ thanh toán. (2) Ngân hàng phát hành tiến hành việc phát hành thẻ và cung cấp thẻ thanh toán cho khách hàng theo từng loại phù hợp với đối tượng và điều kiện quy định (3) Chủ thẻ mua hàng hoá, dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ và giao thẻ cho người tiếp nhận kiểm tra. Nếu đảm bảo an toàn, hợp lệ và chính xác thi ĐVCNT sẽ thực hiện cà thẻ qua máy và in biên lai thanh toán phù hợp với giá trị hàng hoá, dịch vụ để trừ vào giá trị của thẻ rồi trả lại thẻ cho người sử dụng. (4) Chủ thẻ cũng có thể yêu cầu ngân hàng đại lý thanh toán thẻ cho rút tiền mặt hoặc tự mình rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động (ATM). (5) ĐVCNT nộp biên lai cùng các hoá đơn chứng từ hàng hoá liên quan vào ngân hàng đại lý thanh toán để thu tiền. (6) Ngân hàng đại lý tiến hành trả tiền cho ĐVCNT theo số tiền đã phản ánh ở biên lai bằng cách ghi "Có" vào tài khoản của ĐVCNT. (7) Ngân hàng đại lý thanh toán thẻ lập bảng kê và chuyển biên lai đã thanh toán cho ngân hàng phát hành thẻ. (8) Ngân hàng phát hành thẻ hoàn lại số tiền mà ngân hàng đại lý đã thanh toán trên cơ sở các biên lai hợp lệ. 1.2.6. Các phương thức thanh toán KDTM - Phương thức thanh toán vốn giữa các Ngân hàng. Thanh toán vốn giữa các ngân hàng là nhu cầu không thể thiếu được trong hoạt động của ngân hàng do vốn được chuyển qua lại giữa các ngân hàng là nghiệp vụ xẩy 19
  20. ra hằng ngày tại các ngân hàng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Như vậy thanh toán vốn giữa các ngân hàng là nghiệp vụ thanh toán qua lại giữa các ngân hàng nhằm tiếp tục quá trình thanh toán tiền giữa các đơn vị tổ chức kinh tế, cá nhân với nhau mà họ không cùng mở tài khoản tại một ngân hàng và thanh toán vốn nội bộ giữa các đơn vị trong ngành ngân hàng. Sự cần thiết của hoạt động thanh toán vốn: Đáp ứng nhu cầu thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ giữa các khách hàng không cùng mở tài khoản tại cùng một ngân hàng. Đáp ứng nhu cầu chuyển tiền của các tổ chức và cá nhân khác địa phương. Thanh toán giữa các ngân hàng còn đáp ứng được yêu cầu tập trung và phân phối vốn thuộc ngân sách Nhà nước, của các ngành và nhu cầu điều hoà vốn giữa các ngân hàng. Ý nghĩa của hoạt động thanh toán vốn giữa các ngân hàng. Thực hiện tốt nghiệp vụ thanh toán vốn giữa các ngân hàng là góp phần quan trọng vào việc đáp ứng tốt các yêu cầu thanh toán của nền kinh tế một cách chính xác, nhanh chóng, thuận tiện và an toàn. Từ đó tập trung được công tác thanh toán KDTM qua ngân hàng và phát huy tốt tác dụng của thanh toán KDTM đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Góp phần tiết kiệm đáng kể chi phí lưu thông tiền mặt trong nền kinh tế. Thanh toán vốn giữa các ngân hàng góp phần đáng kể vào việc tiết kiệm chi phí trong quá trình tập trung và phân phối vốn. Trên cơ sở đó tạo điều kiện để tổ chức tốt công tác điều hoà vốn trong hệ thông ngân hàng. Hình thức chuyển vốn giữa các ngân hàng rất đa dạng nhưng phổ biến nhất là không dùng tiền mặt với các phương thức: Thanh toán liên ngân hàng, uỷ nhiệm thu chi hộ, thanh toán qua tài khoản lẫn nhau giữa các ngân hàng, thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại NHNN, và thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng thành viên thông qua ngân hàng chủ trì. 1.2.6.1. Uỷ nhiệm thu chi hộ 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2