
Chuyãn âãö thæûc táûp
Svth: Âoaìn Ngoüc AÏnh 1
LỜI MỞ ĐẦU
Sau gần 20 năm chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế
thị trường có sự quản lý của nhà nước. Nền kinh tế Việt Nam đã gặt hái
được nhiều thành công trên mọi phương diện. Điều đó khắng định đúng đắn
chủ trương của Đảng và nhà nước ta là đổi mới cơ chế kinh tế và thừa nhận
cơ chế thị trường là hòan toàn đúng đắn và hợp lý.
Bước vào những năm cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 nền kinh tế thế
giới trong chu kỳ vận động liên hòan của nó đã thúc đẩy phát triển lên một
tầm cao mới sự ra đời khẳng định vị thế lấn áp của thị trường chứng khóan
“Hoàn hảo” ở trên thế giới và Việt Nam. Một lần nữa Đảng và nhà nước lại
chủ trương thúc đẩy cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, để phù hợp
với xu thế kinh tế mới trên thế giới. Với chủ trương ấy chúng ta đang từng
bước hoàn thiện các thủ tục pháp lý, các thông tư hướng dẫn xác định giá trị
doanh nghiệp nhằm chuyển đổi các doanh nghiệp Nhà nước sao cho có hiệu
quả nhất. Để nâng cao sức cạnh tranh do doanh nghiệp, cho nền kinh tế. Làm
cho đồng vốn có chủ thực sự, huy động mọi nguồn lực cho phát triển và đảm
bảo lợi ích công bằng cho các bên khi tham gia.
Trước xu hướng đó đặt ra một yêu cầu qúa cấp bách là các doanh
nghiệp phải xác định giá trị của mình vì nó là tiền đề và là điều kiện trước
khi doanh nghiệp được đem ra mua bán trên thị trường.
Trong thời gian thực tập tại Công ty kiểm toán AISC chi nhánh Đã
Nẵng em được biết việc xác định giá tri doanh nghiệp phục vụ cổ phần hóa
là một phần trong nghiệp vụ của AISC thực hiện. Mặt khác để tăng thêm sự
hiểu biết về giá trị của một doanh nghiệp em đã quyết định chọn đề tài”QUY
TRÌNH XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ
DỊCH VỤ TIN HỌC AISC - CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG” Làm chuyên đề tốt nghiệp
cho mình.

Chuyãn âãö thæûc táûp
Svth: Âoaìn Ngoüc AÏnh 2
PHẦN I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP
I. Sự cần thiết phải xác định giá trị doanh nghiệp
1. Nhu cầu định giá doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
1.1 Tính tất yếu của định giá doanh nghiệp
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình phát triển hướng tới một
nền kinh tế thị trường từng bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong bối
cảnh của nền kinh tế đang hoà nhập vào xu thế toàn cầu hoá mạnh mẽ. Với
một nền kinh tế trẻ như Việt Nam đang đặt ra nhiều thủ thách, áp lực đối với
các doanh nghiệp Việt Nam trên mọi lĩnh vực như năng lực tài chính, chất
lượng, sản phẩm, tìềm lực cạnh tranh ... Đòi hỏi trong quá trình hoạt động
hướng tới mục tiêu tồn tại và phát triển trong cơ chế kinh tế ngày nay buộc
các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến kỹ thuật, nâng cao hiệu năng
quản trị, tăng vốn đầu tư để mở rộng sản xuất. Đặt ra cho các nhà doanh
nghiệp là cần phải biết" Sức khoẻ" của doanh nghiệp mình hiện tại như thế
nào, vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong thị trường hiện tại ra sao so
với đối thủ cạnh tranh, đòi hỏi các doanh nghiệp phải thường xuyên phải
đánh giá để xác định giá trị của chính mình để có chiến lược kinh doanh phù
hợp.
Mặc khác trong xu thế vận động của nền kinh tế thị trường, các nhóm
có quyền lợi trong doanh nghiệp, Chính phủ và chính doanh nghiệp luôn có
nhu cầu đánh giá một cách khách quan về tình hình hoạt động, triển vọng
tương lai, vị thế tín dụng, cần xác định giá trị doanh nghiệp để ra các quyết
định đầu tư, xác nhập, mua lại, tài trợ tín dụng...
Hơn nữa doanh nghiệp còn được xem là 1 tài sản, một loại hàng hoá
có thể đem ra mua bán. Và giá trị doanh nghiệp đem ra mua bán là bao
nhiêu, giá nào là phù hợp với giá thị trường, được thị trường chấp nhận. Bắt
buộc doanh nghiệp phải được xác định giá trị theo giá thị trường để có thể
chuyển nhượng, sáp nhập hay muốn cổ phần hoá.
Thực trạng nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây đã đạt
nhiều dấu hiệu khởi sắc, tăng trưởng liên tục trong nhiều năm, cơ chế thị
trường đang từng bước hoàn thiện. Tuy nhiên, có nhiều doanh nghiệp lâm
vào tình trạng thua lỗ kéo dài, thị phần sụt giảm, vị thế cạnh tranh trên
thương trường ngày càng thấp. Đặc biệt trong hệ thống các doanh nghiệp
Nhà nước tình trạng naỳ rất trầm trọng và phổ biến. Theo nhận định của các
chuyên gia kinh tế Phần lớn Giám đốc DNNN thiếu năng động, chưa theo
kịp yêu cầu quản lý doanh nghiệp hiện đại. Chế độ lương cứng nhắc đã làm
chảy máu chất xám, không giữ được đội ngũ công nhân có trình độ tay nghề

Chuyãn âãö thæûc táûp
Svth: Âoaìn Ngoüc AÏnh 3
cao, tổ chức quản lý cồng kềnh và kém hiệu quả. Với cùng ngành nghề và
quy mô nhưng biên chế quản lý DNNN gấp 2-3 lần DNTN. Cùng số lượng
tài sản cố định như nhau nhưng số lao động của DNNN gấp 10 lần Doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Chứng tỏ rằng thành phần kinh tế Nhà
nước cần phải có sự đổi mới trong cách quản lý, tổ chức và thực hiện. Bên
cạnh đó vưói nạn tham nhũng tràn lan, Đảng và Nhà nước Chính phủ Việt
Nam đang thúc đẩy mạnh việc cổ phần hoá làm cho các đồng vốn, tài sản có
chủ thực sự, đặt ra một yêu cầu mới Định giá doanh nghiệp để cổ phần hoá.
Từ những lý luận trên cho thấy một nhu cầu rất cấp bách đòi hỏi phải
hình thành những nội dung, chuẩn mực và phương pháp cụ thể để có thể tiến
hành định giá doanh nghiệp ở Việt Nam phù hợp với xu thế phát triển nền
kinh tế nước nhà.
1.2 Các chủ thể định giá doanh nghiệp
Các chủ thể là những thành phần có quyền lợi trong doanh nghiệp sẽ
có thể tham gia định giá doanh nghiệp với các mức độ quan tâm, cách thức
xác định giá trị doanh nghiệp và mục đích hoàn toàn khác nhau. Ta có thể
chia các chủ thể thành 2 nhóm.
* Nhóm chủ thể bên trong doanh nghiệp bao gồm: ban lãnh đạo, các
bộ phận, nhân viên và các chủ sở hữu
* Nhóm các chủ thể bên ngoài bao gồm: Các chủ nợ, các nhà cung
ứng, các khách hàng, nhà đầu tư tiềm tàng, các đối thủ cạnh tranh, cơ quan
công quyền, các tổ chức tín dụng, các cơ quan thẩm định giá, các tổ chức
kiểm toán độc lập.,..
1.3 Định giá doanh nghiệp là cơ sở để cổ phần hoá
Chúng ta đã xác định việc định giá xác định giá trị doanh nghiệp là
việc cần thiết khi doanh nghiệp dù có chuyển nhượng hay không . Nhưng với
doanh nghiệp sắp được cổ phần hoá thì cần phải xác định giá trị doanh
nghiệp là bao nhiêu bởi lẽ.
* Xác định giá trị doanh nghiệp đảm bảo được sự" bảo tồn' của nguồn
vốn các chủ sở hữu, lập nên tính công bằng khi chuyển nhượng, phân phối
lợi nhuận và không để cho chủ sở hữu bị thiệt thòi khi chuyển nhượng hay
chuyển đổi hình thức sở hữu.
* Thông qua giá trị thị trường chấp nhận để doanh nghiệp tính toán số
cổ phiếu phát hành để bán cho các cổ đông tham gia góp vốn.
* Mặt khác thông qua việc xác định giá trị doanh nghiệp, các doanh
nghiệp sẽ cho thấy rõ khả năng hiện tại và triển vọng tương lai để công
chúng đầu tư vào các loại chứng khoán của doanh nghiệp.
* Với chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là thúc đẩy nhanh quá
trình cổ phần hoá để huy động nguồn vốn nhàn rỗi của cán bộ, công nhân và

Chuyãn âãö thæûc táûp
Svth: Âoaìn Ngoüc AÏnh 4
dân cư, góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Muốn làm được điều ấy
ngay từ bây giờ các doanh nghiệp cần phải tiến hành xác định lại giá trị tài
sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp. Vì giá trị mà doanh nghiệp đang sở hữu
là tiền đề và là điều kiện khi thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp.
2. Mục đích xác đinh giá trị doanh nghiệp
* Với doanh nghiệp, họ luôn có nhu cầu biết rõ tình hình sức khoẻ
của mình để trên cơ sở đó đề ra các kế hoạch điều chỉnh chiến lược, kế hoạch
cải tiến các hoạt động kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả hay khả năng
cạnh tranh. Tại những lúc doanh nghiệp cần huy động vốn cổ phần hay
chuẩn bị cổ phần hoá thì việc xác định giá trị doanh nghiệp là tiền đề, là cơ
sở không thể thiếu để tính giá phát hành của cổ phần. Thông qua giá trị
doanh nghiệp chính doanh nghiệp có một nhận định khách quan và thực tế
thành tích mà doanh nghiệp đã đạt được. Hay nói đúng hơn định giá doanh
nghiệp để hiểu rõ vị thế của minh, trên cơ sở đó đưa ra những dự báo về triển
vọng và đề ra kế hoạch, những cải tiến cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả,
nâng cao khả năng cạnh tranh ...
* Đối với các chủ nợ và CSH vốn thì mục đích chính khi định giá
doanh nghiệp là dựa vào kết quả được xác định để họ đưa ra các quyết định
thích hợp nhằm bảo vệ quyền lợi của họ trong doanh nghiệp. Với các nhà
đầu tư, các cổ đông tiềm tàng, các nhà cung cấp hay khách hàng lớn đều có
nhu cầu biết giá trị doanh nghiệp có thể quyết định đầu tư, cung ứng, hợp tác
hay từ chối làm ăn với doanh nghiệp. Dù các mục đích là khác nhau, mức độ
quan tâm có thể khác nhau xong họ đề muốn bảo đảm lợi ích, quyền lợi của
họ đối với doanh nghiệp,
* Đối thủ cạnh tranh cũng rất quan tâm đến giá trị doanh nghiệp của
đối phương. Binh pháp Tôn Tử có câu" Biết định, biết ta, trăm trận trăm
thắng". Thương trường cũng là một chiến trường kiểu mới, vì vậy cần phải
xác định vị thế của ta, của địch để để có những sách lược có thể chiến thắng
hoặc bảo toàn so với đối thủ.
* Ngoài ra các cơ quan công quyền cũng cần phải biết đến giá trị của
doanh nghiệp, bởi để hoàn thành tốt chức năng của mình trong những thời
điểm nhất đinh Nhà nước sẽ có những quyết định phù hợp đối với từng
doanh nghiệp như chính sách thuế, chính sách hỗ trợ đầu tư, tài trợ và tín
dụng... nhằm cải thiện môi trường kinh doanh ngày càng tốt hơn. Mặt khác
từ kết quả được xác định các cơ quan công quyền có thể đưa ra các quyết
định kịp thời nhằm ngăn chặn hoặc hạn chế các hậu quả xấu đối với các nền
kinh tế xã hội, xuất phát từ các doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ hoặc những
hành động gian lận.
3. Mục tiêu của việc định giá

Chuyãn âãö thæûc táûp
Svth: Âoaìn Ngoüc AÏnh 5
Doanh nghiệp là một cơ thể sống có quá khứ, đang tồn tại và có triển
vọng sống rất dài trong tương lai, vì thế:
* Thông qua sự định giá trong quá khứ và hiện tại của doanh nghiệp
để thấy rõ, phát hiện ra những mặt yếu, những thuận lợi của doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó tìm ra con đường cho sự phát triển trong tương lai của nó.
* Tuy vậy mục tiêu trọng tâm của việc định giá doanh nghiệp là xác
định giá trị tương lai, vị thế cạnh tranh trong tương lai và những dự đoán về
mọi mặt của doanh nghiệp còn đang ở phía trước. Qua việc định giá xác định
giá trị doanh nghiệp, chúng ta có thể đánh giá được triển vọng của doanh
nghiệp (xu thế phát triển của doanh nghiệp) thông qua quy mô hiện tại, công
nghệ lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp đang có.
* Định giá xác định giá trị doanh nghiệp còn được xem là tiền đề để
đánh giá những nguy cơ tiềm tàng có thể gặp phải trong tương lai. Đây là
công việc gắn liền cùng với việc đánh giá các triển vọng trong tương lai vì
nếu doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực năng động & nhạy cảm, mang hiệu
quả kinh tế cao, đi kèm sẽ là rủi ro trong kinh doanh rất lớn. Có nhiều doanh
nghiệp hoạt động rất ổn định, hiệu quả cao song khi môi trường có sự thay
đổi lớn sẽ lâm vào tình trạng rất khó khăn.
* Ngoài ra thông qua việc đánh giá xếp hạng Doanh nghiệp để xác
định giá trị của doanh nghiệp có thể đưa ra những dự đoán về những khó
khăn gặp phải, thiết lập nên các chỉ tiêu báo động chính từ trong doanh
nghiệp bởi môi trường cạnh tranh đang diễn ra rất gay gắt. Một sự chủ quan
hay nhận diện một vấn đề của doanh nghiệp một cách phiến diện cũng đưa
doanh nghiệp tới 1 sự trả giá đắt. Đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn luôn tìm ra
những nguyên nhân, những vấn đề ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp để
hạn chế những khó khăn và cảnh báo khi gặp nguy hiểm trong kinh doanh
4. Một số nguyên tắc cần tuân thủ khi xác định giá trị doanh nghiệp
Giá trị thực tế của doanh nghiệp là toàn bộ tài sản hiện có của doanh
nghiệp khi đem ra mua bán trên thị trường sẽ được thị trường chấp nhận và
giá trị phần vốn Nhà nước là giá trị thực tế của doanh nghiệp sau khi đã trừ
đi các khoản nợ phải trả
Khi xác định giá trị doanh nghiệp theo giá thực tế cần phải kết hợp
Giữa số liệu sổ sách với giá trị thực tế tài sản tại doanh nghiệp được
xác định trên cơ sở hiện trạng về phẩm chất, tính năng kỹ thuật, nhu cầu sử
dụng của người mua tài sản và giá thị trường tại thời điểm xác định giá trị
doanh nghiệp
Khi xem xét đến lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp về vị trí địa lý,
uy tín mặt hàng (nếu có ). Lợi thế này được xác định ở tỷ suất lợi nhuận sau
thuế thu nhập doanh nghiệp trên vốn Nhà nước bình quân 3 năm trước khi
xác định giá trị doanh nghiệp hiện tại. So với lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ

