
BẮT GIỮ, XỬ LÝ VÀ TRÌNH DIỆN
KHÁNG NGUYÊN
(Kỳ 5)
Mỗi phân tử MHC lớp II gồm có 2 chuỗi là các chuỗi a và chuỗi b. Những
vùng ở đầu N tận của hai chuỗi này (tức là các lãnh vực a1 và b1) có chứa các gốc
đa kiểu hình và tạo nên rãnh gắn peptide có kích thước đủ để tiếp nhận các peptide
có kích thước từ 10 đến 30 acid amine. Lãnh vực không đa kiểu hình b2 thì chứa
vị trí kết hợp của phân tử đồng thụ thể của tế bào T là CD4. Do CD4 chỉ gắn với
các phân tử MHC lớp II nên các tế bào TCD4+ chỉ đáp ứng với các peptide được
trình diện bởi các phân tử MHC lớp II.
Bảng 8.1 liệt kê một số đặc điểm quan trọng của các gene và phân tử MHC
liên quan đến chức năng bình thường của các phân tử này.
Bảng 8.1: Một số đặc điểm quan trọng của các gene và phân tử MHC
Đặc điểm Tầm
quan
trọng

Bi
ểu hiện
đồng trội:
Các allele
c
ủa mỗi gene
MHC c
ủa cả bố
lẫn mẹ đều đư
ợc
biểu hiện
Tăng số lư
ợng
các phân t
ử MHC khác
nhau để có thể tr
ình
di
ện các peptide cho
các tế bào T
Các gene đa
kiểu hình:
Trong m
ột
qu
ần thể có rất
nhiều allele khác
nhau
B
ảo đảm cho
các cá th
ể khác nhau
có khả năng trình di
ện
và đáp
ứng với các
peptide c
ủa vi sinh vật
khác nhau
Loại tế b
ào
biểu lộ MHC:
L
ớp II: Các
tế bào trình di
ện
Các tế b
ào
lympho T hỗ trợ CD4+
tương tác v
ới các tế
bào có tua, các đ
ại
thực b
ào và các

kháng nguyên
chuyên nghi
ệp, đại
thực bào, các t
ế
bào B
L
ớp I: Tất
cả các tế b
ào có
nhân
lympho B
Các lympho T
gây độc CD8+ có th
ể
giết bất kỳ tế b
ào có
nhân nào b
ị nhiễm
virus
Các gene MHC là các gene đồng trội có nghĩa là các allele di truyền từ bố
và mẹ được biểu hiện như nhau. Ở người, do có ba gene lớp I đa kiểu hình là các
gene HLA-A, HLA-B, và HLA-C nên mỗi cá thể sẽ thừa hưởng một tập hợp các
gene này từ người bố và một tập hợp từ người mẹ. Mỗi tế bào của cá thể đó có thể
biểu lộ sáu phân tử MHC lớp I khác nhau. Cũng có ba nhóm gene lớp II đa kiểu
hình là các gene HLA-DR, HLA-DQ, và HLA-DP, nhưng trong trường hợp này
thì cả chuỗi a và chuỗi b đều là đa kiểu hình và chuỗi a được mã hoá từ một allele
có thể kết hợp với chuỗi b do một allele khác mã hoá. Khiểu pha trộn như vậy có
thể tạo ra một số phân tử MHC lớp II “lai” và vì thế có thể có tới 10 đến 20 phân
tử MHC lớp II khác nhau.
Các gene MHC là các gene rất đa kiểu hình có nghĩa là có rất nhiều allele
khác nhau trong các cá thể khác nhau trong cùng một quần thể. Tính đa kiểu hình
này có thể lớn đến mức mà không hề có hai cá thể trong một quần thể không thuần

chủng có các gene và phân tử MHC giống hệt nhau. Do các gốc đa kiểu hình quyết
định các peptide nào sẽ được các phân tử MHC nào giới thiệu, vì thế sự tồn tại của
nhiều allele sẽ bảo đảm rằng trong một quần thể thì luôn luôn có một số thành viên
có khả năng trình diện được kháng nguyên protein của bất kỳ một vi sinh vật nào.
Điều này cho thấy rằng sự tiến hoá về tính đa kiểu hình của MHC đã bảo đảm cho
mỗi quần thể không bị thất bại trước một loại vi sinh vật mới xuất hiện hoặc vi
sinh vật cũ nhưng đã đột biến các protein của chúng. Lý do là vì trong một quần
thể thì ít nhất sẽ có một vài cá thể có thể tạo ra được các đáp ứng miễn dịch hiệu
quả chống lại các kháng nguyên peptide của các vi sinh vật mới xuất hiện hoặc
mới đột biến. Các phân tử MHC được mã hoá bởi các trình tự ADN di truyền và
các biến thể (tạo nên tính đa kiểu hình) chứ không được tạo ra do tái tổ hợp gene
như trường hợp các thụ thể dành cho kháng nguyên được trình bầy trong chương
10.

Hình 8.9: Cách thức gắn của peptide vào các phân tử MHC

