S GIÁO DỤCĐÀO TẠO QUẢNG NAM
TRƯỜNG THPT LÊ QUÝ ĐÔN
---------*****---------
“ MỘT VÀI BIỆN PHÁP GIÁO DỤC
HỌC SINH CÁ BIT
TRONG CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM
LỚP
Người thực hiện: Huỳnh Thị Hoa Lài
Chức vụ: Giáo viên
Năm học: 2010 - 2011
“ MỘT VÀI BIỆN PHÁP GIÁO DỤC
HỌC SINH CÁ BIỆT TRONGNG TÁC CH NHIỆM
LỚP
A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Hin, dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên.
Theo quan nim của H Chí Minh, con người ta khi mới sinh ra vốn bản
chất là tốt, nhưng chỉ sau do ảnh hưởng của giáo dục và môi trường sống
cùng sự phấn đấu, rèn luyện của mỗi cá nhân mà hình thành những con
người thiện, ác khác nhau. Để xã hi có được những công dân tốt trong
tương lai, nhiệm vụ của nhà trường THPT là Giáo dc - Đào tạo học sinh trở
thành lp người có nhân cách, có tri thức, ích cho đất nước.
Là một giáo viên có 13 năm làm công tác chủ nhiệm ở ba khối lớp khác
nhau, tôi luôn tự vấn với lòng mình làm thế nào để : Giáo dục học sinh
biệt trong công tác chủ nhim lớp? ”. Giúp các em bị “ sa ngã ” do thiếu
nghlực sớm nhận ra lỗi lầm, tu dưỡng nhân cách để hoàn thiện chính mình,
tiếp tục thực hiện nhiệm vụ học tập mà ngay t cuối cấp THCS các em và
gia đình đã lựa chọn. Đó chính là điều suy tư trăn trở và những việc làm mà
tôi muốn gửi gắm trong bài viết này.
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
S nghiệp Giáo dục - Đào tạo hiện đang được toàn Đảng toàn dân
quan tâm. Vai trò của người giáo viên trong nhà trường gắn liền với hai
nhim vụ: vừa giảng dạy vừa làm công tác chủ nhiệm, nhằm mục đích giáo
dục những học sinh vừa có kiến thức văn hóa, vừa có nhân cáchm người.
Theo Quy chế : Đánh giá. Xếp loại học sinh THCS và THPT ( Ban hành
kèm theo Quyết định số: 40/2006/QĐ BGDĐT Ngày 05 tháng 10 năm
2006 ca Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).
Người giáo viên ch nhiệm phải đánh giá chất lượng giáo dục toàn diện
đối với học sinh sau mỗi học kì, mỗi năm học nhằm thúc đẩy học sinh rèn
luyện, học tập để không ngừng tiến b ” Cho thấy việc “ Giáo dục học sinh
cá biệt ” là nhim vụ quan trọng và cấp thiết trong công tác nhà trường
phổ thông.
Khái niệmHc sinh cá biệt ” được hiểu đó là những học sinh có cá tính
khác biệt so với số đông học sinh bình thường. Những học sinh này thường
xuyên vi phm nội qui, qui định của trường, của lớp. Chính vì vy, giáo dục
học sinh cá biệt không có biện pháp chung cho mọi đối tượng học sinh mà
y vào từng đối tượng học sinh cá biệt. Nhưng có một điểm chung là cần
sự kết hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội.
II. CƠ S THỰC TIỄN:
Học sinh bậc THPT là la tuổi sôi nổi, nhanh nhẹn, ham hiểu biết, được
sống trong môi trường xã hội tiến bộ. Các em được sự dìu dắt của các thầy
cô có tâm huyết gắn bó với hoạt động giáo dục, được sự quan tâm của nhiều
tổ chức xã hội, gia đình.
Là lứa tuổi vị thành niên, do đó các em có những suy nghĩ bồng bột kh
dại dễ bị cái xấu lôi kéo. Những mặt trái của xã hi, cơ chế thị trường
thường xun tác động gây ảnh hưởng xấu. Các em rất dễ nảy sinh hiện
tượng đua đòi, buông thả trong sinh hoạt, không chú ý học tập, lơ là các hoạt
động của tập thể cùng nhiều
biến tướng” khác.
Trường THPT Lê Quý Đôn nằm trên địa bàn Thành phố Tam kì, từ điểm
đó mà học sinh trường tôi – nhất là những em sống trong một gia đình
không đầm ấm, cha mẹ ít quan tâm do đầu tư kinh doanhcác em dần xa
ngã vào những cạm bẫy từ cuộc sống thời kinh tế thị trường, dẫn đến
hỏng, vi phạm vào hiện tượng tiêu cực…
Có mặt trong các buổi HĐKL thi hành kỉ luật những học sinh mắc
khuyết điểm, tôi kịp ghi nhận những vi phạm thường thấy ở các em như sau:
V tinh thần thái độ học tập:
- Không chăm chỉ, chuyên cần. Đi học không đúng giờ có hệ thống.
- Tới lớp kng học bài cũ (nhiều lần ở tất cả các môn), không chuẩn bị
bài tập, bài mới. Không có SGK, thiếu dụng cụ học tập, không cặp sách...)
- Giờ học mệt mỏi không tập trung, ghi chép qua loa đến không ghi bài,
nói chuyện làm việc riêng. (gọi và nghe di động, nghe phôn...)
- Gian lận trong học tập, thi cử ở nhiều môn học.
Về ý thức tổ chức kỉ luật:
- Hay vắng học, vắng các buổi lao động, những sinh hoạt tập trung.
- Ngh học kng có giấy xin phép của phụ huynh. Tự ý viết giấy
phép gi.
- Hiện tượng học sinh (chơi theo nhóm có thể trong một lớp hoặc khác
lớp)
hẹn nhau cúp giờ b tiết la cà quán xá, Internet hoặc tổ chức đi chơi trong
suốt buổi học...
- Tác phong đến trường không theo quy định. Văng tục chửi thề.
- Lén hút thuốc. Nghiêm trọng hơn là các vụ lập băng nhóm gây gỗ đánh
nhau gia các trường, đua đòi ăn diện, trộm cắp máy tính trong lớp và xe
đạp của các bạn
Nhng biểu hiện vừa nêu là rất phổ biến ở đối tượng HS cá biệt trong
trường tôi. Nếu thầy, cô giáo chủ nhiệm chúng ta không bám sát học sinh,
thiếu đi sự quanm kịp thời s dẫn đến tình trạng sai lầm có hệ thống trong
chính các em. Và hậu quả nghiêm trọng là điều khó có thể tránh khỏi.
III. NỘI DUNG NGHIÊN CU:
Năm học 2010 2011, tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp
10C4. Qua tiếp xúc với các em trong những buổi họp mặt đầu năm, tôi linh
cảm tính không ổn định. Đúng là khối lớp ở giai đoạn đầu cấp THPT, các
em không còn trẻ con nữa, cũng chưa hẳn là người lớn. Ở chỗ : là thời kỳ
chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng
những tên gi khác nhau như: “ thời kỳ quá độ ”, “ tuổi khó bảo ”, “ tuổi
khủng hoảng”, “tuổi bất trị ”... ( Tâm lí học. )
Là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách
dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng
thành) tạo nên ni dung cơ bản và s khác biệt trong mọi mặt phát triển : thể
chất, trí tuệ, tình cm, đạo đức… Vậy nên dễ sa ngã, rất có nguy cơ rơi
xuống học sinh cá biệt nếu như mỗi học sinh không làm ch được bản thân.
Đứng trước một tập thể có những học sinh như vậy, nói như PGS TS:
Hng Văn Hân - người GVCN phi nghm túc và cần có một kế hoạch
Thực hiện kế hoạch Kiểm tra kế hoạch – Tổng kết và vạch kế hoạch mới .
Bn thân đã phác thảo một kế hoạch ban đầu như sau:
1. Nghiên cu các văn bản quy định: Đây là cơ sở pp lí giúp người
GVCN nm vững nghiệp vụ khi thi hành công việc V nhiệm vụ và quyền
của học sinh”;Nội quy đối với học sinh trường THPT ”; Quy định đánh
giá và xếp loại học sinh” “ Quy định khen thưởng và kỉ luật . “ Nhim vụ
và quyền của GVCN : Trong những buổi tập trung học sinh
đầu m, tôi phổ biến đến cả lớp những nét đáng chú ý trong “Nội quy học
sinh”: Tác phong không đúng quy định, vắng CGP lí do không chính đáng,
bỏ giờ, sử dụng ĐTDĐ trong tiết học, gây g- đánh nhau- lấy cắp, vi phạm
5 điều cấm đối với học sinh. Và 5 tiêu chí đánh giá tiết học. Sau đó, tôi
photo cho mỗi học sinh một bảng Nội quy giúp các em thường xuyên đánh
giá chính mình.
2. Tìm hiu học sinh lớp chủ nhiệm:ng việc này rt cần thiết để
GVCN có cách tổ chức, quản lí đúng đắn và thực hiện được “ kế hoạch
theo dự kiến trong bản đăng kí nhiệm vụ năm học. Tôi thiết kế “Lí lịch học
sinh” theo các mc cần tìm hiểu như mẫu:
LÍ LỊCH HỌC SINH LỚP 10 C4 (Năm học 2010 2011)
- Hvà tên học sinh: Đoàn viên:
- Ngày tháng năm sinh: Dân tộc: Tôn giáo:
- Nơi sinh: Chỗ ở hiện tại:
- Hvà tên cha: Tuổi: Ngh nghiệp: Nơing
tác:
- Hvà tên mẹ: Tui: Ngh nghiệp: Nơi công
tác:
- DĐ (cha, mẹ): ĐT nhà:
- Anh, chị, em: 1. Lớp: Trường:
2. Lớp: Trường:
3: Lớp: Trưng:
4: Lớp: Trưng:
- tr: + Thuê: (số tiền / tháng; Htên ch trọ; Địa chỉ; Số DĐ nhà trọ)
+ Quen: ( Địa chỉ; Số DĐ; Họ tên chủ nhà)
- Đời sống kinh tế:
+ Nghèo: (ghi c thể có xác nhận của phòng LĐTBXH, hoặc xác nhận
của địa phương)