
Bùi Xuân Phái và những huyền
thoại thời “mở cửa”
Họa sỹ Bùi Xuân Phái là cái tên được trả lời không một chút ngần ngừ
với hầu như tất cả các họa sỹ, những người yêu tranh Việt Nam khi
được hỏi về những họa sỹ mà họ yêu mến.
Tên của ông được nhắc đến trong nhóm bốn danh họa đương đại Việt
Nam mà giới yêu tranh thường truyền tụng: Nghiêm, Liên, Sáng, Phái,
với Bùi Xuân Phái như một biểu tượng của Hà Nội. Phái yêu Hà Nội,
Hà Nội và người Hà Nội yêu Phái, chẳng có một ai yêu Hà Nội mà
không mang trong tâm tưởng, gần như một nỗi ám ảnh của hình ảnh
những phố cũ Hà Nội trong tranh Bùi Xuân Phái. Người Hà Nội yêu
cái sức mạnh thuyết phục của sự im ắng đến kì lạ, sự ngây thơ đến nín

chịu, đầy vẻ phong trần của những phố nhỏ bình dị không một chút phô
trương xa xỉ.
Tranh của Bùi Xuân Phái cũng giống như cuộc đời của ông vậy – ông
cùng nó lặng lẽ ẩn náu sau đền miếu, vài ô cửa ván màu nâu của những
tên phố thân quen: Hàng Mắm, Hàng Bồ, ngõ Phất Lộc, Đồng Xuân,
đình Yên Thái, đình Hàng Than… nhấp nhô ngói thẫm đổ bóng xuống
tấm biển chỉ đường, vài cô áo đỏ lặng lẽ, kín đáo bước đi như muốn
nép mình vào ngõ nhỏ.
Sinh năm 1920 và mất 1988, với hơn 40 năm sống với hội họa như
sống với chính hơi thở của mình, ông đã để lại cho những, người yêu
ông hàng ngàn bức tranh. Ông đã hào phóng tặng rất nhiều trong số
những bức tranh cho những ai yêu Hà Nội, yêu tranh ông mà chẳng
màng đến chút tiền bạc. Đối với ông, tìm được nguồn dãi bầy tình cảm
là niềm đam mê duy nhất mà hội họa là cứu cánh, ông đã được toại
nguyện vì tìm được những người bạn tri kỷ, tri âm.

Bạn bè xem Bùi Xuân Phái vẽ. Người ngồi cạnh hút thuốc là họa sĩ
Nguyễn Sáng. Người đứng ngoài cùng bên trái là họa sĩ Lưu Công
Nhân.
Người Hà Nội chia sẻ tình yêu của Phái với Hà Nội theo cách riêng của
mình, không ồn ào, đầy ý nhị, nó giản dị nhận Phái như một phần rất tự
nhiên trong cái đời sống văn hóa sâu lắng nhất, cùng với “phố của
Phái” (Thái Bá Vân, 1986) là nơi tất cả những ai nhớ về Hà Nội với
một tiếng rao đêm, cây bàng cuối đông đứng đầu ngõ run rẩy đang đợi
đâm chồi, mùi hoa sữa da diết lan trên ngói xám.Người Hà Nội yêu
Phái như một điều hiển nhiên của định mệnh mà chẳng cần nhiều lời
băn khoăn về nó. Có lẽ mọi việc vẫn tiếp diễn như thế nếu không có sự
ra đi của ông và việc cái thành phố cũ kỹ và nhỏ bé này chợt bừng tỉnh
bởi những luồng gió mới. Người ta bắt đầu nói nhiều hơn đến ông với
những câu chuyện đang được xây dựng như những huyền thoại về một
anh hùng theo một “hương vị” mới.
Tranh của Bùi Xuân Phái mặc dù đã được người trong nước biết đến rất
lâu trước đó nhưng chỉ bắt đầu được bán chạy vào khoảng những năm
90 và ngày càng trở thành đối tượng săn lùng của các nhà sưu tập và
các nhà buôn nghệ thuật. Với chính sách “ đổi mới”, “mở cửa” là cơ
hội để rất nhiều người phương Tây vào Việt Nam. Khách hàng của
nghệ thuật Việt Nam hầu như chỉ gói gọn trong đám người nước ngoài
và họ cũng là những người đầu tiên tạo nên ở đất nước này một thị
trường tranh.

Vậy những người phương Tây thấy gì ở tranh của Bùi Xuân Phái?
Chèo - tranh Bùi Xuân Phái
Vấn đề này bắt nguồn từ những quan tâm mà ở đó người phương Tây
nhìn thấy nghệ thuật Việt Nam bắt nguồn ở chỗ trông nó có vẻ “ kỳ lạ”
và “thuần khiết”. Họ cho rằng hội họa Việt Nam gần gũi với dân gian
hơn, mang cái vẻ là lạ, cũ kỹ, châu Á hơn và ít trừu tượng hơn hội họa
đương đại ở châu Âu (Nora Taylor, 1998).
Sự thích thú tranh của ông cũng phản ánh phần nào sự tiếc nuối một Hà
Nội “cổ xưa” như là một biểu tượng đang bị thu hẹp dần trước sự “phát
triển” lấn át của văn hóa mang màu sắc phương Tây. Họ, những người
phương Tây đến Hà Nội thường tỏ ra xót xa chỉ ra những thay đổi của
thành phố này so với thời trong tranh Phái vẽ, cứ như họ là những nhân
chứng cho sự thay đổi này chứ không hề góp phần vào chúng.
(Benjamin. Chifford 1986).

Một lý do nữa kích thích mối quan tâm này là sự hoài nhớ“ Hà Nội cổ”
khi coi nó là một hình ảnh tưởng tượng về Đông Dương được tạo ra từ
thời thực dân (Norindr. 1996). Cái mốt văn hóa Đông Dương trong văn
hóa đại chúng Pháp được Parivong Norindr giải thích đó là một cách để
nước Pháp tìm lại vai trò thực dân của mình, nhưng lại cố khơi gợi lại
những hình ảnh quyến rũ đầy lãng mạn để mà che đi cái quá khứ xấu xa
của các “ông chủ” thời thuộc địa.
Còn người Việt Nam thì sao?
Hơn ai hết họ tự hiểu tất cả những gì mà số phận đau đớn mang lại qua
những cuộc chiến dài, và họ cố xử trí nó bằng cách chấp nhận, thích
ứng tất cả các vết thương tâm lý để mà bước vào tương lai.
Cũng lần đầu tiên các họa sỹ Việt Nam biết đến giá trị của họa sỹ với
thị trường. Họ sửng sốt trước sự cuồng nhiệt săn lùng, say mê ngưỡng
mộ của những người phương Tây đối với tranh của Phái. Họ nhận thấy
rằng cái cách ngưỡng mộ một bậc thầy như cách mà họ vẫn ngưỡng mộ
Phái trước kia có vẻ quá tinh tế và tế nhị theo truyền thống phương
Đông, và dường như không hợp thời trước phong cách bày tỏ cuồng
nhiệt của những người hâm mộ “ ngôi sao” theo trào lưu phương Tây.
Mặt khác, sự yêu thích cuồng nhiệt này có vẻ hữu hiệu và luôn đi đôi
với hiệu quả kinh tế – bằng chứng là giá tranh của Phái tăng rất nhanh
và tranh của ông trở nên khan hiếm – điều mà vài năm trước đó thôi,
người ta có thể mua nó với giá cả rất phải chăng.

