
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2025
693
BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT CÁC MEN CARBAPENEMASE BẰNG TEST SẮC KÝ
MIỄN DỊCH ĐA ĐIỂM TẠI BỆNH VIỆN TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC
Lê Ngọc My1, Lê Thị Nguyệt Thanh1, Lê Kim Ngọc Giao1,2
TÓM TẮT84
Vấn đề nghiên cứu: Sự xuất hiện và lan
rộng của tình trạng kháng carbapenem ở vi khuẩn
Gram âm, đặc biệt ở các loài Enterobacteriaceae
và Pseudomonas aeruginosa là một mối quan
tâm lớn. Việc xác định men carbapenemase bằng
test sắc ký miễn dịch đa điểm trên trực khuẩn
Gram âm kháng carbapenem tại Bệnh viện
Truyền máu Huyết học giúp các bác sĩ có thể cá
nhân hóa điều trị kháng sinh cho bệnh nhân. Mục
tiêu: Xác định các loại men carbapenamase và tỉ
lệ nhạy cảm kháng sinh trên nhóm trực khuẩn
Gram âm kháng carbapenem. Đối tượng và
phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt
ngang trên mẫu Enterobacteriaceae và
Pseudomonas aeruginosa kháng carbapenem
được phân lập từ các bệnh phẩm tại khoa Vi sinh
Bệnh viện Truyền máu Huyết học từ từ
01/12/2023–30/06/2024. Kết quả và kết luận:
Qua nghiên cứu chúng tôi phân lập nhóm
Enterobacteriaceae và Pseudomonas aeruginosa
kháng carbapenem chủ yếu gặp ở khoa có bệnh
nhân hóa trị liệu liều cao và bệnh nhân ghép tế
bào gốc, thường gặp ở bệnh lý huyết học bạch
cầu cấp dòng tủy. Tỷ lệ tiết 2 loại men
carbapenemase loại OXA-48 và NDM cao nhất
1Bệnh viện Truyền máu Huyết học
2Đại học Y Dược TP.HCM
Chịu trách nhiệm chính: Lê Ngọc My
SDDT: 033.258.7182
Email: mylnz@bth.org.vn
Ngày nhận bài: 30/04/2025
Ngày phản biện khoa học: 30/06/2025
Ngày duyệt bài: 30/07/2025
(50%), tiếp theo là NDM (28%), OXA – 48
(16%) và KPC (6%). Đa số vi khuẩn tiết men
carbapenemase đều kháng hầu hết tất cả các
kháng sinh. Với nhóm vi khuẩn Gram âm tiết
men carbapenemase OXA – 48 kháng sinh
Tigecycline nhạy cảm 80%, Amikacin và
Gentamycin nhạy cảm 40%. Với nhóm tiết men
carbapenemase NDM hầu hết các kháng sinh đều
không nhạy cảm. Nghiên cứu đánh giá mức độ
nhạy kháng của kháng sinh và phổ tiết men
carbapenemase giúp các bác sĩ cân nhắc, lựa
chọn, thay đổi kháng sinh phù hợp.
Từ khóa: Enzyme carbapenemase,
Enterobacteriaceae, Pseudomonas aeruginosa,
bệnh lý huyết học, NG – test Carba 5.
SUMMARY
INITIAL SURVEY OF
CARBAPENEMSASE – PRODUCING
BACTERIA USING A MULTIPLEX
IMMUNOCHROMOTOGRAPHIC
ASSAY AT BLOOD TRANSFUSION
HEMATOLOGY HOSPITAL
Background: The emergence and spread of
carbapenem resistance in Gram-negative
bacteria, particularly Enterobacteriaceae and
Pseudomonas aeruginosa, represent a significant
public health challenge. The identification of
carbapenemases using a multiplex
immunochromatographic test in carbapenem-
resistant Gram-negative bacilli at the Blood
Transfusion Hematology Hospital supports
clinicians in customizing antibiotic treatment
regimens for patients. Objectives: This study
aimed to characterize the types of

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC VIỆT NAM LẦN 8
694
carbapenemases and evaluate the antibiotic
susceptibility profiles of carbapenem-resistant
Gram-negative bacilli. Methods: A cross-
sectional descriptive study was performed on
clinical isolates of carbapenem-resistant
Enterobacteriaceae and Pseudomonas
aeruginosa obtained from specimens processed
at the Microbiology Department of the Blood
Transfusion Hematology Hospital. The study
period spanned from December 1, 2023, to June
30, 2024. Results and conclusion: Isolates,
primarily from chemotherapy and stem cell
transplant patients with acute myeloid leukemia,
showed OXA-48 and NDM co-production
(50%), followed by NDM (28%), OXA-48
(16%), and KPC (6%). Most were multidrug-
resistant. OXA-48 producers had 80%
susceptibility to Tigecycline and 40% to
Amikacin and Gentamycin, while NDM
producers were largely resistant. This study
provides insights into antibiotic susceptibility
patterns and carbapenemase distribution,
assisting clinicians in making informed decisions
regarding antibiotic selection and adjustments.
Keywords: Carbapenemase,
Enterobacteriaceae, Pseudomonas aeruginosa,
Hematology, NG - test Carba 5.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Vi khuẩn kháng kháng sinh, đặc biệt là
các chủng kháng carbapenem trong họ
Enterobacteriaceae và Pseudomonas
aeruginosa, đang là thách thức lớn đối với
điều trị và kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện.
Cơ chế kháng carbapenem chủ yếu do vi
khuẩn sản xuất enzyme carbapenemase
(chiếm khoảng 85%), với 5 nhóm enzyme
phổ biến nhất gồm KPC, OXA-48, IMP,
VIM và NDM. Việc phát hiện nhanh các
enzyme này bằng sắc ký miễn dịch trực tiếp
từ khuẩn lạc trong vòng 15 phút đã chứng
minh hiệu quả chẩn đoán cao [5]. Tại Bệnh
viện Truyền máu Huyết học, bệnh nhân có
nhiều yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn đa kháng.
Do đó, xác định nhanh enzyme
carbapenemase giúp lựa chọn kháng sinh phù
hợp, giảm tỉ lệ tử vong.
Tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học,
bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ cao như
hóa trị liệu, sử dụng thuốc ức chế miễn dịch,
giảm bạch cầu kéo dài và tiền sử nhiễm trùng
tái phát nhiều lần. Do đó, việc xác định
enzyme carbapenemase nhanh chóng có ý
nghĩa lớn trong cá thể hóa điều trị, như sử
dụng Ceftazidime/Avibactam cho nhóm
OXA-48, hoặc Ceftolozane/Tazobactam cho
nhóm KPC,… Trên cơ sở đó, khoa Vi sinh -
Bệnh viện Truyền máu Huyết học tiến hành
nghiên cứu xác định enzyme carbapenemase
bằng phương pháp sắc ký miễn dịch đa điểm
trên trực khuẩn Gram âm kháng carbapenem,
nhằm mô tả đặc điểm phân bố enzyme
carbapenemase đặc hiệu trong quần thể vi
khuẩn phân lập tại bệnh viện.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Trực khuẩn
Gram âm kháng carbapenem được phân lập
tại khoa Vi sinh Bệnh viện Truyền máu
Huyết học từ 01/12/2023 – 30/06/2024.
Tiêu chuẩn chọn mẫu: Trực khuẩn
Gram âm kháng carbapenem được phân lập
từ các bệnh phẩm (kháng hết các kháng sinh
được thử nghiệm trong nhóm carbapenem:
imipenem, meropenem, ertapenem).
Tiêu chuẩn loại trừ: Những vi khuẩn
trên cùng bệnh nhân lặp lại trong một đợt
điều trị, nghi ngờ mẫu ngoại nhiễm.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu
mô tả cắt ngang.
Phương pháp thực hiện: Thu thập
Enterobacteriaceae và Pseudomonas

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2025
695
aeruginosa đã được phân lập từ các bệnh
phẩm của các khoa lâm sàng, được định danh
và kháng sinh đồ tự động bằng hệ thống máy
Phoenix M50 và xác định là kháng
carbapenem được lưu dữ liệu trên Labconn
tại khoa Vi sinh. Các mẫu đạt tiêu chuẩn
được thực hiện xét nghiệm xác định enzyme
carbapenemase bằng kỹ thuật sắc ký miễn
dịch đa điểm NG-Test Carba 5 (NG Biotech,
Guipry, Pháp).
Phương pháp xử lí số liệu: Nhập và xử
lý số liệu bằng Excel, SPSS.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong khoảng thời gian từ 01/12/2023
đến 30/06/2024, chúng tôi đã phân lập được
32 mẫu bệnh phẩm dương tính
Enterobacteriaceae và Pseudomonas
aeruginosa kháng hoàn toàn với carbapenem
để đưa vào nghiên cứu.
3.1. Đặc điểm dịch tễ
Bảng 3.1. Đặc điểm chung của nghiên cứu
Đặc điểm
Tần số (n=32)
Tỷ lệ (%)
Tuổi
<18 tuổi
7
21,9
18 – 29 tuổi
7
21,9
30 - 44 tuổi
4
12,5
45 - 59 tuổi
7
21,9
>60 tuổi
7
21,9
Giới
Nữ
14
43,8
Nam
18
56,3
Khoa
Hồi sức tích cực
8
25,0
Huyết học trẻ em 1
4
12,5
Huyết học trẻ em 2
1
3,1
Huyết học Người lớn 1
1
3,1
Huyết học Người lớn 2
3
9,4
Huyết học Người lớn 3
10
31,3
Chăm sóc giảm nhẹ
1
3,1
Ghép tế bào gốc
4
12,5
Bệnh lý huyết học
Bệnh bạch cầu cấp dòng tủy
13
40,6
Bệnh bạch cầu cấp dòng lympho
7
21,9
Suy tủy xương
4
12,5
Đa u tủy
2
6,3
Khác
6
18,8
Tuổi trung vị của bệnh nhân trong nghiên
cứu là 43 tuổi, dao động từ 2 đến 93 tuổi. Không ghi nhận sự khác biệt đáng kể về phân
bố tuổi giữa các bệnh nhân nhiễm

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC VIỆT NAM LẦN 8
696
Enterobacteriaceae và Pseudomonas
aeruginosa kháng carbapenem. Tỷ lệ bệnh
nhân nam cao hơn nữ, chiếm 56,3%. Phân bố
bệnh nhân theo khoa cho thấy tỷ lệ cao nhất
tại Khoa Huyết học Người lớn 3 (31,3%),
tiếp theo là Khoa Hồi sức tích cực (25,0%).
Về mặt bệnh lý, bạch cầu cấp dòng tủy là
nhóm bệnh lý chiếm tỷ lệ cao nhất (40,6%),
kế đến là bạch cầu cấp dòng lympho (21,9%)
và suy tủy xương (12,5%). Hầu hết bệnh
nhân đều trải qua quá trình hóa trị liệu.
3.2. Đặc điểm vi sinh
3.2.1. Các bệnh phẩm phân lập được
Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ bệnh phẩm phân lập trong nghiên cứu (n=32)
Bệnh phẩm máu là bệnh phẩm được phân lập nhiều nhất, chiếm ưu thế (78%).
3.2.2. Các vi khuẩn phân lập được
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ vi khuẩn phân lập được trong nghiên cứu (n=32)
Enterobacteriaceae chiếm ưu thế trong
đó Klebsiella pneumoniae là vi khuẩn thường
gặp nhất chiếm 72%. Pseudomonas
aeruginosa chỉ chiếm 16%.
3.2.3. Tỉ lệ đề kháng kháng sinh của
Enterobactericae và Pseudomonas
aeruginosa

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2025
697
Biểu đồ 3.3. Mức độ nhạy của Enterobacteriaceae kháng carbapenem
Trong 29 mẫu phân lập
Enterobacteriaceae kháng carbapenem,
Enterobacteriaceae kháng hết các kháng sinh
thuộc nhóm Beta-lactam, nhóm quinolone
(100%), nhóm Aminoglycoside có tỉ lệ đề
kháng (>70%), có sự đề kháng của Colistin
(28%). Với nhóm kháng sinh điều trị đa
kháng, Enterobacteriaceae chỉ còn còn nhạy
tương đối với kháng sinh Tigecycline (55%),
Fosfomycin (38%), Ceftazidime/avibactam
(24%).
Biểu đồ 3.4. Mức độ nhạy cảm của Pseudomonas aeruginosa kháng carbapenem
Với 3 mẫu phân lập Pseudomonas
aeruginosa kháng carbapenem mức độ nhạy
cảm chủ yếu ở nhóm Aminoglycoside,
Ceftazidime/avibactam (33%). Colistin vẫn
là kháng sinh cuối cùng được dùng để phối
hợp điều trị Pseudomonas aeruginosa đa
kháng và toàn kháng.
3.4. Sự phân bố các men
carbapenemase trong quần thể nghiên cứu

