CÁC YU TỐ ĐẶC HIỆU
LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC PHÒNG
NGỪA CHẤN TƠNG
Phần 2
Tốc độ co
Trong nhiu môn thể thao, tốc độ là tiêu chuẩn. Chẳng hạn tốc độ
chạy phụ thuộc vào sức chế tất cả các loại trừ hoạt đng ly m tối thiểu
cần thiết của duỗi háng (gân kheo và gluteus maximus) để thể ng
nhanh gia tốc chi trước (Hagood và CS, 1990). Cân bng giữa hoạt động
lệch m tối thiểu đó đủ để bảo vệ đầu gối cũng như xương chày tiến lên
nhanh, nhưng không đủ để ảnh hưởng đến tốc độ mong muốn là một thế n
bằng mỏng manh. S tập luyện q nhanh chóng hoặc sự chờ đợi những
điều thần kỳ các cá nhân mà không khnăng thần kinh vận động như
vậy dễ dẫn đến chấn thương.
Mức độ tối đa của bắp một giới hạn trên vsinh lý, phụ thuộc
vào độ dài của những sợi bắp thịt đó. Vượt qtốc độ i trên nghĩa là
không to được sức mạnh bắp để bảo vệ, p mặc những cấu trúc th
động như một chế bảo vệ cuối cùng. Hơn nữa, phát động sự co (thời
gian phản ứng) mặc dù đáp ng được sự tập luyện, cũng cần có một gii hạn
trên nên ngưi ta không thể đoán chắc một người sung sức được huấn
luyện lại thể min dịch được với chấn thương. Hiu biết những yêu cu
của một môn thể thao và nhng năng lực của một cơ thể thì có thể tương hợp
được giữa những yêu cu của nhiệm vụ và việc hoàn thành trách nhiệm tồn
tại, nó có thể làm giảm nhẹ tỷ lệ mắc phải chấn thương.
ththực hiện dễ dàng việc sàng lọc đối với ngẫu lực xoắn của
dùng một lực kế cầm tay và n bng tay, hoặc bằng thiết b đẳng lực và
điện ký. Sanders Eggart (1985) đã miêu tnhiều phác đồ thử và c
bảng ghi kèm theo.
Nếu xác định được những thiếu sót trong việc sinh ra những ngẫu lực
xoắn ca cơ, trong tốc độ hay thời gian phản ứng, thì phi thực hin một
chương trình luyện tập. Pearl và Moran (trong snhiều tác giả khác) đã ng
b những chương trình chi tiết minh họa rõ ràng cho hàng loạt các
chương trình tăng cường. (Pearl và Roran, 1986, American Academy of
Orthopedic Surgeons, 1991).
Tính mềm dẻo
Một bắp chặt chiều dài không đầy đlà phát sinh vấn đề. Trong
môn vượt chướng ngại vt, n kheo chặt khít sự gấp ng và s duỗi
đầu gối, gây rách thường xuyên ở các chỗ nối gân cơ trong các cuộc thi vượt
chướng ngại. m quyết liệt, nhưng cũng làm mất sức là đau phần dưới
lưng, một di chứng biết trước được do n kheo chặt nam giới (Biering -
Sorensen, 1984).
Tính mm dẻo là tng hợp các cấu trúc gân, y chằng bắp.
Davies (1985) tin rng mức vận động khớp (joint range of montion - ROM)
vận động viên ththực hiện được một cách chủ động, chứ kng phải
một cách thụ động do người giám sát, bởi vì c mức độ chủ động tính
hợp chức năng nhiều n. Dvorak đã chứng minh rằng thử nghiệm ROM
chđộng mô tả tốt hơn sự thiếu linh đng, song thử nghiệm thụ động li tỏ
sng linh động (Dvorak và CS, 1988). thế cả thử nghiệm ROM chủ
động lẫn thụ động đều cần thực hin. Clarkson Gilewich (1989) đã t
chi tiết các số đo ROM khp với nhiều hình nh minh họa.
Các chương trình huấn luyện tăng sự mềm dẻo phải đặc hiệu đối với
được xác định là có gii hạn. Bắp thịt đáp ứng lại với skéo ng chạm
ng dần dần trong khi các y chằng thì đòi hi thao tác ngang u và
các bao khớp thì đòi hỏi các qui trình vn động như Palmer và Epler đã miêu
tả (1990). Anderson và Anderson (1980) đã miêu tvà minh họa các chương
trình kéo căng hữu hiu cho vn động viên.
Sức bền của cơ
Scố gắng lặp đi lặp lại hoặc sự co rút o dài trong bất kthời gian
dài như thế nào cũng đòi hi những cơ chế ái kvận dụng chu trình Kreb.
Khi không slượng đầy đủ oxy cung cấp cho mô nữa thì độ dẫn truyền
của các thớ chậm li (Stulen và Deluca, 1981) sức ng hữu hiệu
gim đi, dù cho huy đng thêm nhiều đơn vị vận động. Những thay đổi như
thế thể đánh giá bằng thử nghiệm chuỗi lực hoặc đo bằng sự luân phiên
chu ktrung tâm của một điện cơ đồ bề mặt. Sự suy giảm sức mạnh sau các
ln co lch tâm gây mệt mỏi là đáng ghi nhận hơn sau khi co cơ đồng tâm
gây mệt mỏi, và người ta tin rằng đó là vì các tổn thương rách cơ vi thể ở các
dải Z do sự co dài của các sarcome kéo dài. Sức bền của cơ thng lên
nhluyn tập song hiu quả tương đối đặc hiu. Chẳng hạn những người
trượt ng đường trường có thể VO2max cao khi chỉ trượt bằng chân,
song tr số đó sụt gim nếu có thêm hoạt động của tay bởi vì sức cản ngoại
vi tăng lên của các chi trước ít được tập luyện hơn nhu cầu của cơ thể cn
tạo thăng bằng huyết áp (Arnot, 1981).
Các yếu tố cảm giác thần kinh
Skhông hoàn chỉnh phần bàn luận này v bắp nếu không nói đến
vai trò hthần kinh trung ương ngoi vi chỉ huy việc kiểm soát vận động và
do đó ngăn ngừa chấn thương. Ta biết rằng trong các gng sức đồng m t
giác, các đơn vị vn động nhỏ (loại I) (chủ yếu cung cấp các sợi cơ giật
chậm) được huy động đầu tiên. Tuy nhiên, trong các gng sức lệch m
(Nardone Schieppati, 1988) hoặc trong khi co rút không tự giác, như
khi kích thích bng điện (Sinacore và CS, 1990) thình y chưa
được thể hiện các đơn vị vận động loại II lớn n (cung cấp các sợi
giật nhanh), được huy động đầu tiên. Nếu không mô hình sinh bình
thường thì các phản xạ xảy ra để chống lại sự ngã đổ có thể là không đầy đ.
Hthần kinh rất quan trọng để xác định thời gian hoạt động cơ, kim
soát mc độ lực, và phối hp các bắp thịt hp đồng hay đi kháng. Một vài
trong sc hoạt động đó có thể cải thiện được nhờ tập luyện, song các tiêu
chuẩn thành tích vận động của các ththao đặc biệt cần được xác định sao
cho mỗi cá nhân có ý thức tập luyện với những mục tu đặc biệt. Ngay một