
KHÚC NGỌC TUYÊN
(SƯU TẦM)
Cầm Nã Thủ, Kĩ thuật và cách luyện
HÀ NỘI 2010
GIỚI THIỆU

Trong tiếng Hoa, Cầm có nghĩa là bắt, chộp theo kiểu một con đại bàng bắt mồi hay
một viên cảnh sát bắt một tội phạm. Nã có nghĩa giữ gìn kiểm soát. Như vậy, Cầm Nã là nghệ
thuật bắt giữ, chộp và kiểm soát. Cũng cần phải nói rõ là bên cạnh những kỹ thuật khóa đúng
theo tên gọi còn có những kỹ thuật ấn, áp, điểm … Các kỹ thuật trước có tính cơ bản còn các
kỹ thuật sau thuộc dạng cao cấp.
Các chiêu thức Cầm Nã giúp kiểm soát đối phương bằng các thế khóa nhắm vào các
quan tiết cơ, dây chằng cho đến khi y hoàn toàn như bất động và bị triệt tiêu khả năng tiếp tục
chiến đấu. Các kỹ thuật ấn, điểm trong Cầm Nã tác động lên đối phương bằng cách làm tê liệt
các chi, gây bất tỉnh hoặc đôi khi là tử vong. Chúng nhằm vào các huyệt của khí để gây xao
trộn trong việc lưu thông của khí đến các phủ tạng chính yếu hoặc não bộ. Chúng cũng tác
động lên các đầu dây thần kinh khiến tạo ra một cơn đau kinh khủng và đôi khi bất tỉnh.
Các kỹ thuật điểm huyệt trong Cầm Nã chủ yếu nhắm vào các trọng huyệt và do đó có
thể dễ dàng gây tử vong. Trong trường hợp này cũng vậy, các điểm được nhắm vào thường
nằm trên các kinh mạch hoặc những nơi mà một đòn tấn công có thể làm vỡ một độngmạch.
Dù loại kỹ thuật cầm nã được sử dụng là gì chăng nữa thì đại lược nó cũng nhằm nắm
bắt và kềm giữ một đối phương.
Thế khóa trong cầm nã

Thông thường cầm nã được sắp sếp như sau:
1.Tác động lên cơ / dây chằng
2.Tác động trên xương / quan tiết
3.Tác động trên hô hấp
4.Tác động trên tuần hoàn
5.Tác động trên huyệt, kinh mạch và thần kinh
Phân Cân, Thác cốt thủ
Thông thường học Phân cân, Thác cốt hay các
kỹ thuật Bế khí thì tương đối đơn giản và cũng dễ
nắm bắt được các nguyên lý được sử dụng. Các chiêu
thức đó chỉ đòi hỏi một ít sức mạnh cơ bắp và không
nhiều công phu để thủ đắc được hiệu quả trong lúc thi
triển, nhưng nếu muốn làm gãy xương hay làm tổn
hại một quan tiết, một dây chằng ở sâu bên trong thì
cần phải sử dụng đến kình lực … Về phần các kỹ
thuật phong bế khí mạch hay huyết mạch thì cần phải
nắm vững vị trí chính xác các huyệt, độ sâu của
chúng và thời điểm chúng dễ bị thương tổn nhất,
ngoài ra còn có một số thủ thuật được luyện tập đặc
biệt cùng với việc quán triệt được Ý, Khí và Kình.
Lúc này hành giả cần phải được hướng dẫn bởi một vị
thầy đủ trình độ để hy vọng có thể tiến, bởi vì đây là
một kiến thức phong phú và thâm sâu mà việc nghiên
cứu rất tinh tế và gắn liền một cách thiết yếu với sự
cảm nhận tế vi phức tạp.
Một số các kỹ thuật đó có thể gây ra tử vong,
do đó sư phụ chỉ truyền lại cho những đệ tử xứng
đáng về mặt đạo đức mà ông có thể tin cậy… Do tính
kiến hiệu của chúng trong thực dụng, các kỹ thuật
cầm nã được học kèm theo các hình thức chiến đấu
khác trong các môn võ thuật Trung Hoa từ khi mới
được phát sinh cách đây nhiều ngàn năm, dù không
có một hệ thống võ thuật nào chỉ dựa trên cầm nã để
phát triển, hầu hết các bộ môn võ thuật đều đã dung nạp các chiêu thức phù hợp với bộ môn.
Ngay cả tại Nhật, Hàn Quốc hoặc bất cứ quốc gia nào ở Đông Phương được thấm nhuần văn
hóa Trung Quốc, thì các bộ môn võ thuật địa phương cũng đều chịu ảnh hưởng cầm nã ở mức
độ khác nhau.
Thường người ta công nhận rằng các môn phái võ miền Nam Trung Quốc do thường
chuyên về các kỹ thuật, các chiêu thức quyền pháp và về cận chiến nên có khuynh hướng phát
triển các kỹ thuật cầm nã và về mặt đấu pháp dựa vào chúng nhiều hơn các môn phái Bắc
Trung Hoa. Cũng vì vậy các phái võ Hoa Nam thường lưu tâm đến việc công phu quyền pháp
và việc thi triển cầm nã đòi hỏi nhiều sức lực hơn trong các kỹ thuật nắm bắt hoặc bế huyệt.

Mặt khác, vì lưu tâm đặc biệt đến cận chiến
nên các trường phái miền Nam thường nhấn mạnh
đến việc thính kình và niêm kình với đối thủ và
các chiêu thức thường được thực hiện theo dạng
vòng cầu khiến người ta có thể áp dụng cầm nã
mà kẻ địch không cảm nhận được việc chuẩn bị
trước đó. Cước pháp cũng là một phần quan trọng
trong việc luyện tập của họ.
Tuy nhiên điều cần nhớ là đây chỉ là những
ý niệm khái quát: Các trường phái vùng Hoa Bắc
đôi khi cũng phát triển những đặc tính như vậy.
Trong các môn phái nội gia như Thái Cực, Lục
Hợp Bát Pháp, việc vô hiệu hóa đối phương
thường được thực hiện bằng một động tác vòng
cầu, dạng thức đó giải thích cho ta khuynh hướng
của cầm nã là sự nhu nhuyễn và tròn trịa trong
mọi thực hiện kỹ thuật … Các kỹ thuật vòng tròn
này gắn liền với những bộ pháp vòng cung cho
phép đẩy bật bất cứ đối thủ nào và ném y xuống
đất.
Hiệp Khí Đạo và các môn Jujutsu của Nhật
và Hàn Quốc cũng hoạt động trên nguyên lý đó.
Chắc hẳn phép cầm nã cũng như các khía cạnh
khác của văn hóa Trong Quốc nói chung đã ảnh
hưởng một cách rõ ràng lên các đấu pháp của
chúng …
Nguyên lí phân cân thác cốt
1. PHÂN CÂN
Trong tiếng Hoa, Phân cân bao gồm dây
chằng, gân hoặc cơ bắp. Phân cân hoặc trảo cân là
nhằm chỉ các thế chộp cơ thể gây rách dây chằng
hay cơ của đối thủ và đôi khi làm bung điểm nối
dài dây chằng và xương.
Cơ chứa đựng các dây chằng và nhiều đường khí. Nếu bạn xé rách cơ hoặc dây chằng,
không chỉ bạn gây ra cảm gác đau được não ghi nhận mà bạn càn tác động lên khí một cách
trực tiếp hoặc gián tiếp và sự hoạt động bình thường của các cơ quan. Một cơn đau cao độ có
thể làm với xáo trộn việc luân lưu của khí và làm thương tổn trầm trọng nội tạng thậm chí có
thể đem đến tử vong. Đo đó, trường hợp cảm giác đau dâng cao quá mức não bộ có thể gây
kích ngất để hóa giải. Khi bị rôi vào tình trạng bất tỉnh, sự luân chuyển của khí giảm hẳn tốc

độ, và điều này giúp hạn chế các thương tổn gây ra cho các cơ quan và có thể cứu được sinh
mạng.
Phép cầm nã phân cân chính yếu có hai cách làm giãn cơ và dây chằng. Một cách là vặn
và gập khớp. Vặn khớp đồng nghĩa với việc vặn cơ và dây chằng của khớp liên hệ khi bạn gập
khớp lại bạn có thể làm bung dây chằng hay làm rách cơ. Cách thứ hai là căng dãn cơ và dây
chằng thay vì vặn. Phương pháp này áp dụng vào các ngón tay rất dễ dàng.

