intTypePromotion=3

Cấu trúc Bảy bản Lễ nhạc Tài tử Nam Bộ

Chia sẻ: ViVatican2711 ViVatican2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
3
lượt xem
0
download

Cấu trúc Bảy bản Lễ nhạc Tài tử Nam Bộ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong bài bản nhạc cổ truyền Việt Nam, cụ thể là nhạc Tài tử Nam bộ, chúng ta thường bắt gặp những thuật ngữ như Lớp, Câu, Lái, Mô, Chầu và Rao. Đây được xem là một trong những đặc trưng của nhạc Tài tử, là khung sườn của bài bản nhạc Tài tử.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Cấu trúc Bảy bản Lễ nhạc Tài tử Nam Bộ

  1. TAÏP CHÍ KHOA HOÏC ÑAÏI HOÏC SAØI GOØN Soá 25 (50) - Thaùng 02/2017 Cấu trúc Bảy bản Lễ nhạc Tài tử Nam Bộ The structure of Seven Ceremonial Compositions in Southern “Tài tử” music TS. Bùi Thiên Hoàng Quân Nhạc viện TP.HCM Bui Thien Hoang Quan, Ph.D. Ho Chi Minh City Conservatoire Tóm tắt Trong bài bản nhạc cổ truyền Việt Nam, cụ thể là nhạc Tài tử Nam bộ, chúng ta thường bắt gặp những thuật ngữ như Lớp, Câu, Lái, Mô, Chầu và Rao. Đây được xem là một trong những đặc trưng của nhạc Tài tử, là khung sườn của bài bản nhạc Tài tử. Hiểu theo âm nhạc phương Tây, thì đó là những hình thức, cấu trúc của các thể loại hay các tác phẩm. Như vậy, trong âm nhạc cổ truyền Việt Nam, cụ thể là nhạc Tài tử Nam bộ cũng không ngoại lệ. Với bộ 7 bản Lễ trong 4 bộ Bắc, Lễ Nam, Oán (20 bản Tổ) của nhạc Tài tử Nam bộ là một trong những minh chứng cho chúng ta thấy sự cân đối, khúc chiết trong cấu trúc của một loại hình nghệ thuật đặc săc không chỉ của phương Nam mà là của dân tộc. Từ khoá: nhạc Tài tử, Nam Bộ, cấu trúc, bản Lễ. Abstract Among Vietnamese traditional musical composition, especially southern “Tai tu” style, we often see terms such as “Lop”, “Cau”, “Lai”, “Mo”, “Chau” and “Rao”, which are used to name different units that constitute the musical piece. These terms make the core of a “Tai tu” composition and are considered the prominent features of “Tai tu” music. In this paper, 7 musical compositions of group “Le” (Ceremony) - one of the 4 groups that constitute the heritage of 20 “Tai tu” compositions besides 3 other groups “Bac” (North), “Nam” (South), “Oan” (Sadness) - will be explicated to illustrate the balanced and concise structure of this treasury art form of Vietnam. Keywords: “Tài tử” music, Southern Vietnam, structure, ceremonial composition. Như chúng ta biết, hầu hết các bài bản là Chấn như (Bình Bán Chấn, Xuân Tình được sử dụng trong nhạc Tài tử nói chung Chấn,…) hoặc gọi là Vắn (Cổ Bản Vắn, hay trong số hai mươi bản Tổ nói riêng đều Tây Thi Vắn) nhưng tất cả đều có cấu trúc có nguồn gốc từ những bản nhạc không lời. tổng thể giống nhau, nghĩa là đều được Và trong nhạc Tài tử Nam bộ, ngoài phần phân Lớp, phân Câu và phân nhịp một cách đàn thì phải có phần hát đi theo, nhưng rõ ràng (hiểu theo lối ghi âm nhạc trên năm chúng ta cần xác định bản chất của nó, dòng kẻ). nhạc Tài tử vẫn là khí nhạc. Tuy trong nhạc a. Lớp: là sự phân chia thành nhiều Tài tử Nam bộ thiếu sự nhất quán về hệ phần của một bản nhạc. Do vậy, cấu trúc thống, về tên gọi trong các bài bản như khi của mỗi lớp trong nhạc Tài tử là hoàn gọi là Trường (Lưu Thủy Trường), khi gọi chỉnh, độc lập và người ta có thể diễn tấu 18
  2. BÙI THIÊN HOÀNG QUÂN độc lập từng lớp riêng. Âm kết của lớp Tài tử. Bảy bản Lễ còn có nhiều cách gọi không bắt buộc phải về chủ âm mà là bất khác như: kỳ âm nào trong thang âm, điệu thức của - Bảy bản Cò: do bảy bản này có xuất bản nhạc. xứ từ nhạc Lễ (phe Văn - dàn nhạc Lễ Nam b. Câu: là đơn vị chia đều của một bộ, phần nhạc đàn chủ yếu là đàn Cò). Lớp trong bài bản nhạc Tài tử. Câu nhạc - Bảy bản dây nhạc: phe Văn của dàn trong các bài bản nhạc Tài Tử rất cân đối, nhạc Lễ, phần nhạc đàn chủ yếu là đàn Cò, khúc chiết, biểu hiện qua số nhịp trong mỗi mà đàn Cò là nhạc khí thuộc bộ dây, nên câu. người ta gọi là “dây nhạc”. c. Lái: là đơn vị chia đôi của một nhịp. - Bảy bản Bắc Lớn: còn gọi là bảy bài Hiểu theo nhạc giới Tài tử, Lái là nhịp nhỏ, Bắc hay bảy bài Lớn vì nó và bộ sáu bản cụ thể trong hai mươi bản Tổ, mỗi Lái Bắc đều cùng hệ thống điệu Bắc hay nói tương đương với 2 phách của nhịp 4/4. cách khác là vẫn dùng dây Bắc để đàn bài d. Mô: là đoạn nghỉ thường ở đầu câu bản Lễ, chỉ có khác là sáu bản Bắc lấy Hò - nhạc, ít khi xuất hiện ở giữa câu. Xang làm trục còn bảy bản Bắc lớn lấy U - e. Chầu: là đoạn nhạc thêm thắt ở một Xê làm trục. Gọi là Bắc lớn vì các nghệ số chỗ kết câu. Về cấu trúc, có thể hiểu câu nhân đánh giá bài bản Lễ có vị trí “Lớn” Chầu là câu bổ sung của câu nhạc trước đó, hơn bài bản Bắc. làm cho người nghe hiểu rằng bản nhạc chưa - Bảy bản Hạ: Khi trình tấu nhạc Lễ, kết thúc. Cũng giống như Mô, câu nhạc mở bản Ngũ Đối Hạ được sử dụng nhiều nhất rộng này phải có tối thiểu là ba Lái. nên các nhạc sĩ thường gọi tắt là “bài Hạ” f. Rao: Trước khi vào một bản đàn, và đã lấy chữ “Hạ” thay cho chữ “Lễ” khi một bản hòa tấu, hoặc khi đệm cho ca, nói đến bảy bản Lễ. Cũng có người cho nhạc công phải diễn tấu một đoạn nhạc rằng gọi là bảy bài Hạ vì khi trình tấu nhạc mang tính tự do, ngẫu hứng, giới Tài tử gọi Lễ, các nhạc sĩ phải lên dây Hạ. Trường là “Rao”. hợp này là do trong nhạc Tài tử, tùy theo Sắc thái, nhịp độ: Trong tất cả các bài bài bản thuộc hệ thống thang âm, điệu thức bản nhạc Tài tử là không có ghi chú hay nào, lấy âm nào làm trục, các nhạc sĩ sẽ tìm quy định sắc thái, nhịp độ, Theo Giáo sư hệ thống dây hay loại Hò phù hợp để diễn Trần Văn Khê, nhạc Tài tử Nam bộ chỉ có tấu các bài bản ấy, sao cho việc thể hiện các nhịp độ: được thuận lợi nhất. Như vậy, do bản Ngũ - Cấp điệu = Tẩu mã = Presto Đối Hạ được thường xuyên sử dụng và - Bình điệu = Đoản, Vắn = Allegro, được gọi là bài Hạ, bảy bản Lễ cũng gọi là Allegretto, đôi khi là Moderato bảy bản Hạ nên cách lên dây để đàn bản - Hoãn điệu = Trường = Lento (1) Ngũ Đối Hạ nói riêng hay bảy bản Lễ nói - Giữa Hoãn điệu và Bình điệu là nhịp chung được gọi là dây Hạ. Lơi, tức đàn mở ra, chậm lại, tương đương Do xuất xứ từ nhạc Lễ nên bảy bản Andante nhạc Lễ đều mang tính chất trang nghiêm Những vấn đề về cấu trúc của 7 bản Lễ với thang âm chủ đạo là Hò – Xư – Xang – Theo một số nhà nghiên cứu, ông Xê – Công – Liu. Nguyễn Quang Đại, tức Ba Đợi đã chuyển Xàng Xê soạn các bài bản từ nhạc Lễ sang cho nhạc Nếu bản Ngũ Đối Hạ được sử dụng 19
  3. CẤU TRÚC BẢY BẢN LỄ NHẠC TÀI TỬ NAM B nhiều nhất trong những buổi sinh hoạt của đó sẽ được chuyển thành Chầu 2 lái, nghỉ 1 nhạc Lễ thì khi đưa vào nhạc Tài tử, bản lái. Chữ kết của câu Chầu trùng với chữ kết Xàng Xê lại là bài thông dụng nhất. Bản của câu trước đó. Trong khi hòa đàn, nhạc có tính chất trang nghiêm nhưng những câu Chầu có thể chuyển thành Mô. không căng cứng, đôi lúc giai điệu rất du + Dứt các lớp ở bậc I và V, nhịp nội dương, ngân nga. Đặc biệt bản nhạc có sự Song Loan. xen lẫn hai thang âm trong cùng một lớp đã Ngũ Đối Thượng tạo cho người nghe cảm giác rất thú vị. Với nhịp độ vừa phải, Ngũ Đối Xàng Xê được viết theo nhịp tám, lái Thượng được thể hiện với một phong cách mười sáu hay còn gọi là nhịp tư lơi, có 4 đỉnh đạc, cùng với sự xuất hiện của các lớp và 64 câu. Mở đầu bằng chữ Xang và chữ nhạc I, Phan đã làm cho bản nhạc có Kết bằng chữ Liu, nhịp nội Song Loan. màu sắc “Lễ” hơn. + Đặc biệt ở lớp III (lớp Xề), thang âm Ngũ Đối Thượng được viết theo nhịp đã thay đổi thành Xề - Phan - Liu - U - tư, lái tám, có 5 lớp và 61 câu. Mở đầu Xang. Đây là sự chuyển hơi điệu thức, lấy bằng chữ U và Kết bằng chữ Liu, nhịp nội Xê làm Hò, do đó, ta có thể có điệu thức Song Loan. Hò - I (2) - Xang - Xê - Phan, hơi Nam - + Có 2 âm ngoại I và Phan là hai âm Oán. Hai điệu thức này thay đổi gần như lướt. liên tục nên người nghe có được cảm giác + Một số nhạc sĩ thì chia lớp I có 16 buồn vui hòa lẫn vào nhau. câu, lớp II 8 câu, lớp III có 8 câu, lớp IV có + Các lớp đều có nhiều câu, ít nhất 12 16 câu và lớp V có 13 câu. Một số nhạc sĩ câu (Lớp III), nhiều nhất 20 câu (Lớp I). khác sắp xếp lớp I có 10 câu, lớp II có 6 Ngoài cách chia lớp như trên, còn có cách câu, lớp III có 8 câu, lớp IV có 24 câu và chia bản nhạc thành 5 lớp vì giới nhạc Tài lớp V cũng có 13 câu. Chúng tôi chọn cách tử, Cải lương ngày nay thường chỉ hát 8 chia lớp như phân tích trên vì thấy rằng độ câu đầu nên đặt luôn là lớp I, còn 12 câu dài của mỗi lớp không có cách biệt quá sau thì đặt là lớp II. Chúng tôi chọn cách lớn, bố cục bản nhạc cân đối hơn. chia lớp như trên để bảo đảm tính cổ truyền + Có nhiều câu trùng, nhiều nhất là ở của bài bản. lớp II, từ câu 18 đến câu 22 giống từ câu + Có nhiều câu trùng với nhau như 10 đến câu 15 của lớp I, câu 24 cũng trùng trong lớp II, câu 23 trùng câu 21, câu 31 với câu 10. trùng câu 28; Nhiều nhất là ở lớp IV, hầu + Lớp I và II không nghỉ 3 lái như hết đều giống các câu ở lớp I: từ câu 49 – thường gặp. Các lớp III, IV và V khi vào 54 giống từ câu 9 – 14, câu 55, 56 giống đầu có thể nghỉ 3 lái nếu chúng được trình câu 11, 12, câu 57, 58 giống câu 15, 16, từ tấu độc lập nhưng nếu trình tấu một cách câu 59 – 62 giống từ câu 11 – 14, câu 63 lien hoàn từ lớp này sang lớp kia thì 3 lái giống câu 11. đó sẽ được chuyển thành chầu 2 lái, nghỉ 1 + Nghỉ 3 lái trước khi vào bản nhạc lái.Chữ kết của câu Chầu trùng với chữ kết hay vào lớp I. Các lớp II, III và IV khi vào của câu trước đó.Trong khi hòa đàn, những đầu có thể nghỉ 3 lái nếu chúng được trình câu Chầu có thể chuyển thành Mô. tấu độc lập nhưng nếu trình tấu một cách + Thường sử dụng nhịp ngoại và nhịp liên hoàn từ lớp này sang lớp kia thì 3 lái ngoại Song Loan. 20
  4. BÙI THIÊN HOÀNG QUÂN + Kết các lớp ở bậc I và II (rất ít gặp), Long Đăng nhịp nội Song Loan. Với tiết tấu vừa phải, tính chất âm Ngũ Đối Hạ nhạc khoan thai, đượm một ít sự u buồn, do Như trên đã nêu, Ngũ Đối Hạ là tác đó, Long Đăng không thể hiện rõ nét trang phẩm được sử dụng nhiều nhất trong nghiêm như thường thấy trong nhạc Lễ. những buổi trình tấu nhạc Lễ, còn được gọi Long Đăng được viết theo nhịp tư, lái là bản Hạ và đã trở thành tên gọi của bộ tám, có 3 lớp và 40 câu. Mở đầu bằng chữ U bảy bản Lễ: bảy bài Hạ. Tính chất nghiêm và Kết bằng chữ Liu, nhịp nội Song Loan. trang là tính chất chung của bảy bản Lễ mà + Có 2 âm ngoại I và Phan. Âm I đôi Ngũ Đối Hạ như là một đại diện. lúc có giá trị như âm chính, làm cho điệu Ngũ Đối Hạ được viết theo nhịp tư, lái thức có sự chuyển tạm (ly điệu) sang Hò – tám, có 5 lớp và 38 câu. Mở đầu bằng chữ I – Xang – Xê – Công – Liu. Liu và Kết bằng chữ Liu, nhịp nội Song + Lớp I có câu 3 và 4 trùng câu 9 và Loan. 10. Tất cả các câu của lớp III (từ câu 29 + Có 2 âm ngoại I và Phan. Âm I đôi đến 40) trùng từ câu 5 đến câu 16 của lớp I. lúc có giá trị là âm chính, làm cho điệu + Chỉ có lớp I nghỉ 3 lái trước khi vào thức có sự chuyển tạm (ly điệu) sang Hò – bản nhạc, còn các lớp khác thì không. I – Xang – Xê – Công – Liu (là điệu thức Không thấy sự xuất hiện của Chầu hay Mô Nam nhưng khác Hơi). ở giữa bài. + Một số nhạc sĩ chia bản nhạc chỉ có + Thường sử dụng nhịp ngoại. ba lớp: lớp I có 20 câu, lớp II có 10 câu và + 3 lớp đều kết ở âm bậc I, nhịp nội lớp III có 8 câu. Chúng ta dễ dàng nhận Song Loan. thấy sự mất cân đối giữa các lớp nếu được Long Ngâm phân chiatheo cách này nên chúng tôi chọn Như Long Đăng, Long Ngâm cũng cách chia thành năm lớp như trên. Trong không thể hiện rõ tính trang nghiêm của khi các lớp II, III, IV có số câu chẵn thì lớp nhạc Lễ mà lại nhẹ nhàng, khoan thai, I và V có số câu lẻ, lớp V còn là lớp dài mang nhiều chất tự sự. nhất (11 câu). Long Ngâm được viết theo nhịp tư, lái + Có nhiều câu trùng, nhiều nhất là ở tám, có 3 lớp và 33 câu. Mở đầu bằng chữ Xư lớp III, từ câu 16 đến câu 21 giống từ câu và Kết bằng chữ Xang, nhịp nội Song Loan. 10 đến câu 15 của lớp II, câu 24 cũng trùng + Có 2 âm ngoại I và Phan. Âm I đôi với câu 10. lúc có giá trị là âm chính, làm cho điệu + Chỉ có lớp I nghỉ 3 lái trước khi vào thức có sự chuyển tạm (ly điệu) sang Hò – bản nhạc, còn các lớp khác thì không. Việc I – Xang – Xê – Công – Liu. không nghỉ 3 lái trước khi vào mỗi lớp đã + Lớp I có câu 6 và 7 trùng câu 2 và 3. tạo cho người nghe một cảm xúc trọn vẹn + Nghỉ 3 lái trước khi vào bản nhạc từ đầu đến cuối bản nhạc, không bị chia cắt hay vào lớp I. Các lớp II và III khi vào đầu ở các lớp với nhau. Ngoài ra, cả bản nhạc có thể nghỉ 3 lái nếu chúng được trình tấu không có sự xuất hiện của Chầu hay Mô. độc lập nhưng nếu trình tấu một cách liên + Thường sử dụng nhịp ngoại. hoàn từ lớp này sang lớp kia thì 3 lái đó sẽ + Kết các lớp ở bậc I, II và V, nhịp nội được chuyển thành chầu 2 lái, nghỉ 1 lái. Song Loan. Chữ kết của câu Chầu trùng với chữ kết 21
  5. CẤU TRÚC BẢY BẢN LỄ NHẠC TÀI TỬ NAM B của câu trước đó. Trong khi hòa đàn, trong bộ bảy bản Lễ: 29 câu. Nhịp độ chậm những câu Chầu có thể chuyển thành Mô. rãi, tính chất trang nghiêm của nhạc Lễ + Thường sử dụng nhịp ngoại và nhịp được thể hiện rất rõ. ngoại Song Loan. Tiểu Khúc được viết theo nhịp tư, lái + Bài không có lớp nào kết ở âm bậc I tám, có 4 lớp và 29 câu. Mở đầu bằng chữ U mà kết ở những bậc II, V và VI. Các lớp và Kết bằng chữ Liu, nhịp nội Song Loan. đều kết ở nhịp nội Song Loan. + Có 2 âm ngoại I và Phan. Vạn Giá + Một số nhạc sĩ chia bản nhạc thành 4 Tính chất âm nhạc trang nghiêm. Tuy lớp nhưng số câu trong mỗi lớp khác nhau: Vạn Giá đã được “chuyển hóa” để mang lớp I – 10 câu, lớp II – 7 câu, lớp III – 8 cho mình phong cách Tài tử nhưng sự đỉnh câu và lớp IV – 4 câu. Ngoài ra, chúng ta đạc của nhạc Lễ vẫn còn thể hiện rất rõ. còn thấy một số nhạc sĩ chia bản nhạc chỉ Vạn Giá được viết theo nhịp tư, lái tám, còn 3 lớp: lớp I – 10 câu, lớp II – 7 câu và có 5 lớp và 47 câu Mở đầu bằng chữ Liu và lớp III – 12 câu. Kết bằng chữ Liu, nhịp nội Song Loan. + Có một số câu trùng nhau như ở lớp + Có 2 âm ngoại I và Phan. Âm I đôi III: các câu 20, 21, 22 trùng với các câu 16, lúc có giá trị là âm chính, làm cho điệu 17, 18. thức có sự chuyển tạm (ly điệu) sang Hò – + Các lớp đều được vào thẳng, không I – Xang – Xê – Công – Liu. nghỉ 3 lái trước khi vào bản nhạc hay vào + Có một số câu trùng nhau như ở lớp các lớp như thường thấy. Thêm nữa, cả bản III – các câu 20, 21, 22 trùng với các câu nhạc chỉ có hai câu Chầu (hoặc Mô) nhưng 16, 17, 18. lại xuất hiện liền nhau và rất sớm là câu 2 + Nghỉ 3 lái trước khi vào bản nhạc hay và 3 của lớp I. Chữ kết của câu Chầu trùng vào lớp I. Các lớp khác khi vào đầu có thể với chữ kết của câu trước đó. Trong khi nghỉ 3 lái nếu chúng được trình tấu độc lập hòa đàn, những câu Chầu có thể chuyển nhưng nếu trình tấu một cách liên hoàn từ thành Mô. lớp này sang lớp kia thì 3 lái đó sẽ được + Thường sử dụng nhịp ngoại và nhịp chuyển thành Chầu 2 lái, nghỉ 1 lái. Chữ kết ngoại Song Loan. của câu Chầu trùng với chữ kết của câu trước + Cả ba lớp đều Kết ở âm bậc I, nhịp đó. Trong khi hòa đàn, những câu Chầu có nội Song Loan. thể chuyển thành Mô. Đặc biệt là sự xuất Tóm lại, trong cấu trúc của bảy bản hiện câu Chầu hay Mô rất sớm như Chầu ở Lễ, ta thấy có những điểm như sau: câu thứ 2 của lớp III (câu 16), hoặc rất muộn - Về thang âm: Hò – Xư – Xang – Xê – như câu Kết của lớp V (câu 47). Việc Chầu ở Công – Liu là thang âm chủ đạo. Tuy nhiên, câu 47 làm cho câu nhạc này có giá trị như với sự xuất hiện thường xuyên của hai âm câu Kết của lớp và của bản nhạc. ngoại là I và Phan đã làm cho hơi Lễ được + Thường sử dụng nhịp ngoại và nhịp thể hiện một cách rõ nét hơn. Khác với âm ngoại Song Loan. ngoại (Phan) trong bộ sáu bản Bắc có giá trị + Kết lớp ở âm bậc I, V và VI, nhịp như âm lướt, thường hay xuất hiện ở cuối nội Song Loan. các lớp, cuối bản nhạc, âm chữ I trong bảy Tiểu Khúc bản Lễ đôi lúc trở thành âm chính của câu Đây là bản nhạc có số câu ngắn nhất nhạc, tạo nên sự chuyển đổi điệu thức tạm 22
  6. BÙI THIÊN HOÀNG QUÂN thời (hình thức ly điệu trong âm nhạc vào đầu của các bản nhạc, các Lớp không phương Tây) sang Hò – I – Xang – Xê – quy định phải là âm nào của thang âm mà Công. Ngoài ra, đã có sự luân chuyển Thang bất kỳ, tùy theo yêu cầu của bài bản. Chữ âm – Điệu thức – Hơi: Bản Xàng Xê, lớp kết ở các Câu, các Lớp không quy định ở Xề, từ Hò – Xư – Xang – Xê – Công chuyển bậc nào trong thang âm nhưng chữ kết của sang Hò – I – Xang – Xê – Phan. Hai thang các bản, hầu hết đều về chủ âm, ngoại trừ âm này được kết nối xen lẫn nhau, đã tạo bản Long Ngâm kết ở chữ Xang (bậc IV). cảm giác mới lạ cho người nghe. Kết lớp hay kết bài hầu hết đều ở phách 1 - Về tính chất: Tuy một vài bản nhạc có (nhịp nội Song Loan), riêng lớp II (lớp Hò) tiết tấu chậm rãi, tạo nên một phong cách bản Xàng Xê kết ở phách 3, nhịp thứ 4 thư thái, nhàn hạ, đôi lúc có nét u buồn (nhịp ngoại Song Loan). Trong mỗi bản nhưng sự trang nghiêm vẫn là tính chất chủ đều có một số câu trùng lặp với nhau. đạo trong âm nhạc của bảy bản Lễ. - Về Chầu, Mô: Việc Mô hay nghỉ 3 - Về Lớp: các lớp có độ dài, ngắn khác lái trước khi vào bản nhạc đa số vẫn được nhau nhưng không chênh lệch nhiều nên bố tuân thủ, ngoại trừ Ngũ Đối Thượng và cục của các bản Lễ nhìn chung là cân đối. Tiểu Khúc. Đối với những bản nhạc có Riêng bản Vạn Giá có bố cục ít cân đối nghỉ 3 lái ở mỗi lớp, nếu được trình tấu độc hơn do có lớp quá ngắn như lớp II chỉ có 6 lập, chúng sẽ nghỉ 3 lái nhưng nếu được câu trong khi lớp IV lại có tới 14 câu. Đa trình tấu liên hoàn thì 3 lái đó sẽ được số các bài bản có 4 lớp, một số chia thành 5 chuyển thành Chầu 2 lái, nghỉ 1 lái. Bảy lớp như Ngũ Đối Thượng, Ngũ Đối Hạ; bản Lễ có ít câu Chầu và Mô hơn sáu bản Một số chia thành 3 lớp là Long Đăng, Bắc. Hầu hết các bản nhạc đều có Mô và Long Ngâm. Cũng như các bản Bắc, việc Chầu ở giữa bài, chỉ riêng bản Ngũ Đối Hạ phân lớp của bảy bản Lễ hiện nay vẫn chưa thì không. Các câu Chầu đều có chữ dứt đi đến sự thống nhất trong giới nhạc Tài tử trùng với chữ dứt của câu nhạc trước đó. như bản Ngũ Đối Hạ, người chia năm lớp, Các câu Chầu hay Mô không diễn ra một người chia ba lớp hay bản Tiểu Khúc, cách đều đặn mà rất tùy thích, thường thì người chia bốn lớp, người lại chia còn ba phải cách mấy câu mới có Chầu hay Mô, lớp. Số câu trong mỗi lớp cũng có sự sắp cũng có khi cách một câu đã có như ở các xếp, phân chia khác nhau như trong bản câu 15, 17, 19 ở lớp I bản Xàng Xê, lúc thì Ngũ Đối Thượng. Không có hiện tượng cứ câu 3 của mỗi lớp là có như trong bản giống nguyên xi giữa các lớp với nhau Ngũ Đối Thượng. Đặc biệt cũng trong bản trong cùng một bản thuộc bộ bảy bản Lễ; Ngũ Đối Thượng, ta thấy Chầu hay Mô Ngũ Đối Thượng, Long Ngâm, Tiểu Khúc xuất hiện ở hai câu liền nhau ở câu 7 và và Vạn Giá có tổng số câu bị lẻ còn các câu 8; Ta cũng thấy điều này ở câu 2 và 3 bản khác đều chẵn. của lớp I trong bản Tiểu Khúc. Ngoài ra, - Về Câu: thông thường ở các bản Bắc, Chầu hay Mô đôi khi xuất hiện rất sớm khi câu nhạc được kết thúc ở các câu chẵn và mới câu 2 đã có (lớp I – Tiểu Khúc và lớp sau đó sẽ Chầu hay Mô ở những câu lẻ III –Vạn Giá) hoặc rất muộn như tới câu 47 nhưng trong bảy bản Lễ thì việc kết câu cũng là câu kết của bản Vạn Giá mới xuất không thấy theo kết cấu như trên mà có thể hiện, những điều này rất ít gặp trong nhạc kết thúc ở vị trí nào, câu nào tùy thích. Chữ Tài tử, cụ thể là trong các bản thuộc các bộ 23
  7. CẤU TRÚC BẢY BẢN LỄ NHẠC TÀI TỬ NAM B Bắc, Lễ và Nam. dụng nhịp ngoại và nhịp ngoại Song Loan, - Về nhịp: các bản nhạc Lễ hay sử có khi gần như liên tục. CẤU TRÚC BẢY BẢN LỄ 24
  8. BÙI THIÊN HOÀNG QUÂN Chú thích: 3. Nguyễn Thị Mỹ Liêm (2010), Nhạc khí trong 1. Trương Bỉnh Tòng (1992), Từ điệu đến hơi và “dàn đờn” Tài tử (Nam Bộ), ANVN số 13. quá trình hình thành bản Vọng Cổ, Viện 4. Nguyễn Thụy Loan (1990), Lược sử âm nhạc nghiên cứu Cải lương, tr. 5. Việt Nam, Nxb âm nhạc Hà Nội, Nhạc Viện 2. Tác giả, âm Xư nhấn mạnh hơn một chút Hà Nội. thành âm I. 5. Đắc Nhẫn (1990), Văn hóa và cư dân đồng TÀI LIỆU THAM KHẢO bằng sông Cửu Long, Nxb Khoa học xã hội. 1. Nguyễn Hữu Ba (1970), Nhạc pháp quốc 6. Lê Thương (1963), Nhạc lý quốc nhạc, Nxb nhạc, Trường QGAN & Kịch nghệ Sài Gòn. Nhạc Thư. 2. Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc 7. Trương Bình Tòng (1992), Từ điệu đến hơi và Đường (1990), Văn hóa và cư dân đồng bằng quá trình hình thành bản Vọng Cổ, Viện sông Cửu Long, Nxb Khoa học xã hội. Nghiên cứu Cải lương. Ngày nhận bài: 08/01/2017 Biên tập xong: 15/02/2017 Duyệt đăng: 20/02/2017 25

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản