60
CHẾ BIẾN THUỐC THEO PHƯƠNG PHÁP CỔ TRUYỀN
MỤC TIÊU
1. Trình bày được mục đích việc chế biến thuốc theo phương pháp cổ truyền
2. Trình bày và so sánh được các phương pháp chế biến thuốc cổ truyền
3. Trình bày được một số phụ liệu được dùng chế biến thuốc cổ truyền.
NỘI DUNG
Nguyên liệu thuốc cổ truyền nguồn gốc tcây cỏ, động vật hoặc khoáng vật.
Để chuyển nguyên liệu này thành thuốc, thường qua 2 giai đoạn chế biến:
- chế: sau khi thu hoạch để tạo thành nguyên liệu thô, thể bảo quản lâu dài
(tránh mốc, mọt và bảo tồn được dược tính).
- Chế biến thuốc cổ truyền: chế biến theo phương pháp khác nhau đã được ghi lại
trong y văn trên co sở luận y học cổ truyền (các học thuyết âm –dương, nhành,
kinh lạc...) hoặc theo kinh nghiệm riêng của mỗi thầy thuốc. Sản phẩm chế biến được
coi thuốc, được sử dụng trc tiếp cho bệnh nhân hoặc bán thành phẩm để chế thành
các dạng thuốc: cao, hoàn, bột...
1. Mục đích việc chế biến thuốc theo phương pháp cổ truyền
Trong những năm gần đây, Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra tiêu chí mang tính
tiêu chuẩn thuốc cổ truyền: an toàn, hiệu lc hợp lý. Tuy y học Phương đông chưa
thành văn những tiêu chí này, nhưng qua hệ thống luận giải pháp thc hiện thì
chứng tỏ các thầy thuốc cổ truyền luôn quan tâm và thc hiên một cách nghiêm túc.
Mỗi vị thuốc nhiều phương pháp chế khác nhau tùy thuộc vào mục đích trị
bệnh khác nhau và kinh nghiệm khác nhau của thầy thuốc.
Chế biến thuốc nhằm các mục đích sau:
1.1. Tạo ra mục đích trị bệnh mới
Bản thân mỗi vị thuốc sống đều những đặc trưng (tính, vị, quy kinh), tác dụng
của riêng nó. Qua chế biến, các vị thuốc sẽ bthay đổi tính, vị dẫn đến thay đổi tác
dụng. Chế biến theo phương pháp khác nhau sẽ tạo ra tác dụng khác nhau, thậm chí
tạo ra tác dụng đối lập với tác dụng vốn có. Để làm thay đổi tính, vị, người ta thường
chế với một số phụ liệu:
- Tăng tính m, giảm tính hàn của thuốc t chế với dịch nước gừng, sa nhân,
rượu.
- Giảm tính nhiệt của vị thuốc thì chế với đồng tiện, dịch nước vo gạo.
Một số vật phẩm chỉ trở thành dược phẩm khi đã qua chế biến. Các vị thuốc sao
cháy đều có tác dụng cầm máu (đen chỉ huyết).
Ví dụ:
Sinh địa có vị đắng, ngọt, tính lương: tác dụng thanh nhiệt lương huyết.
61
Chế Sinh địa thành thục địa tính ôn, vị ngọt; tác dụng bổ âm, bổ huyết (do
chưng với dịch nước gừng, sa nhân, rượu)
+ Bổ hoàng sống có tác dụng hoạt huyết
Bổ hoàng thân có tác dụng chỉ huyết
+ Huyết dư (tóc người) không được coi là thuốc
Huyết dư thân có tác dụng chỉ huyết
1.2. Tăng hiệu lực trị bệnh
Hầu hết các vị thuốc khi chế biến thành thuốc đều chung một mục đích: tăng
hiệu lc điều trị. Một số giải pháp sau:
1.2.1. Ứng dụng học thuyết ngũ hành
Trong chế biến thuốc, học thuyết ngũ hành được vận dụng nhiều. Trên sở quy
nạp màu sắc, mùi vị theo các tạng phủ khi chế biến, người thầy thuốc chọn la
phương pháp thích hợp: Cế biến vị thuốc màu, vị tương ứng với màu, vị của các
hành trong học thuyết để dẫn thuốc vào tạng phủ mong muốn.
- Tăng tác dụng kiện tỳ, chế vthuốc màu vàng (sao vàng hoài n, ý dĩ, bạch
truật...), vị ngọt (trích mật hoàng kỳ, bạch truật, đẳng sâm...), mùi thơm (bạch truật sao
cám gạo, sao vàng).
- Tăng tác dụng dẫn thuốc vào thận, chế v thuốc màu đen (thán sao: bồ
hoàng, hòe hoa, ngải diệp..., tẩm dịch nước đậu đen: thủ ô đỏ...), vị mặn (trích
muối: đỗ trọng, cẩu tích, trạch tả, phụ tử....).
- Tăng tác dụng dẫn thuốc vào can, đởm thì chế vị thuốc với phụ liệu vị chua
(hương phụ trích giấm).
- Tăng tác dụng dẫn thuốc vào phế: chế vị thuốc với phụ liệu vị cay (trích gừng
bán hạ, đẳng sâm).
- Tăng tác dụng dẫn thuốc vào tâm: chế vị thuốc với phụ liệu có màu đỏ, vị đắng.
1.2.2. Hiệp đồng tác dụng vị thuốc với phụ liệu
Chế vị thuốc với phụ liệu có tác dụng trị bệnh tương t để hợp đồng tác dụng của
nhau.
Ví dụ: Bán hạ trích dịch gừng tăng hiệu lc chống nôn
Bán hạ trích cam thảo, bồ kết: tăng hiệu lc chỉ ho, long đờm
Hoàng kỳ trích mật tăng tác dụng nhuận bổ phế, tỳ
Bạch truật chế sữa tăng tác dụng bổ
1.2.3. Chuyển hóa tác dụng theo chiều hướng tăng hiệu lực trị bệnh
Trong quá trình chế biến, nhiều yếu tố tham gia gây ảnh hưởng đến tác dụng vị
thuốc: nhiệt độ, độ ẩm, độ pH, phụ liệu.... Các yếu tố này thể gây ra tác dụng thuận
hoặc nghịch. Qua thc tế, thầy thuốc đã la chọn được phương pháp chế biến theo
chiều hướng tăng hiệu lc điều trị bệnh.
1.2.4. Tăng hàm lượng hoạt chất trong vị thuốc theo hai cách
Chế biến sẽ làm giảm hoặc m mất các thành phần hóa học (chất nhầy, pectin,
lypid, protein...) cản trở s khuyếch tán hoạt chất.
62
Chế biến làm giảm độ bền học vị thuốc, thế làm tăng hiệu suất khuyếch tán
hoạt chất, tăng hiệu lc trị bệnh.
Ví dụ: vỏ các loại sò: mẫu lệ, cửu khổng, trân châu mẫu... nung, tôi trong giấm.
Chế biến thể làm tăng hàm lượng một số số hoạt chất do làm giảm khối lượng
vị thuốc (giảm độ ẩm)
1.3. Giảm tác dụng không mong muốn ng độ an toàn của vị thuốc
1.3.1. Giảm độc tính của thuốc
Các vị thốc được ghi là có độc thì đều được chế biến để làm giảm độ độc.
Khái niệm độc theo y học cổ truyền chia thành 2 loại:
- Những vị thuốc độc thể gây nguy hiểm cho người dùng: ngộ độc, thậm chí
gây tử vong. Những vị thuốc này thường được xếp vào độc bảng A, bảng B, như phụ
tử, mã tiền, hoàng nàn, ba đậu, thần sa, thường sơn.
- Một số vị thuốc tác dụng quá mạnh, gây rối loạn chức năng cơ thể, như: một
số vị thuốc trong nhóm thuốc trục thủy: cam toại, đại kích, khiên ngưu tử, thương lục...
- Một số vị thuốc gây kích ứng gây: mẩn ngứa, phát ban như: bán hạ, nam tính,
dã vu...
Phương pháp làm giảm độc: tùy thuộc từng vị thuốc cụ thể, thể áp dụng cách
khác nhau:
- Phương pháp hỏa chế: thường dùng mức nhiệt độ cao, thời gian dài
dụ: Ba đậu chế thành ba đậu sương, áp dụng phương pháp sao đen, nhiệt độ sao
khoảng 190-200oC.
Mã tiền chế, thường sao vàng đậm, cháy cạnh, nhiệt độ sao khoảng 170-190oC.
- Phương pháp thủy chế: sử dụng tác động của nước hay dịch phụ liệu pH khác
nhau gây tác động khác nhau.
Loại trừ chất độc: dùng phương pháp ngâm. Nhiều chất độc tan được trong dịch
phụ liệu. Loại bỏ dịch ngâm có nghĩa là loại bỏ thành phần gây độc.
Ví dụ: Ngâm phụ tử trong dịch nước muối, alcaloid độc (nhóm diterpen) bị giảm,
độc tính giảm.
Chuyển chất độc thành chất ít độc hoặc không độc. Trong điều kiện độ m cao
(ngâm, ủ...), một số thành phần gây độc bị chuyển hóa làm độc tính giảm.
dụ: ngâm phụ tử trong dịch nước muối, aconitin bị thủy phân thành benzoyl
aconin, aconin có độ độc giảm 500-2000 lần.
Ngâm bán hạ trong nước vôi trong, vị ngứa bị mất sau 72 giờ ngâm
- Phương pháp thủy hỏa hợp chế: dùng phương pháp chưng, nấu (nhiệt độ
khoảng 100oC trong môi trường nước) thúc đẩy nhanh quá trình giảm độc.
1.3.2. Giảm tác dụng không mong muốn khác
Một số vthuốc gây rối loạn một số chức năng chuyển hóa thông thường: đầy
bụng, tiêu chảy, mẩn ngứa, táo bón... thể chọn cách chế biến phù hợp thì hạn chế
được tác dụng bất lợi đó. Mỗi vị thuốc có nhiều tác dụng khác nhau. Trong bệnh cảnh
cụ thể thì tác dụng này được sử dụng trị bệnh, nhưng tác dụng kia thể gây tác dụng
63
bất lợi. Thầy thuốc thể điều hòa vị thuốc bằng cách chế biến riêng, hoặc chọn cách
chế biến phù hợp. Một số chất vô cơ dễ tan thì bị loại trừ khi ngâm.
dụ: thủ ô đỏ gây táo bón (do tanin) nhưng đại tiện nhiều (do antranoid).
Chế biến bằng cách ngâm trong dịch nước vo gạo, cả hai tác dụng bất lợi đó đều giảm.
Thục địa gây đầy bụng, tiêu chảy khi dùng cho bệnh nhân tỳ dương hư. Hạn chế
tác dụng bất lợi này bằng cách sao khô thục địa.
Bạch truật kiện tỳ táo thấp, dùng cho người âm hư nội nhiệt thì gây hao tổn tân
dịch, thế bạch truật chế với dịch nước vo gạo (làm giảm tính chất khô, táo của
thuốc).
1.4. Ổn định tác dụng của thuốc
Một số vị thuốc dễ bị giảm tác dụng trong quá trình bảo quản, người ta chế biến
nhằm bảo tồn tác dụng vốn của nó. Trong dược liệu hoạt chất dễ bị phân hủy,
nhất là các dược liệu có chứa hoạt chất nhóm glycosid (flavonoid, saponoid, antranoid,
glycosid tim ...) thì việc bảo tồn hoạt chất chính là bảo tồn hiệu lc trị bệnh.
Ví dụ: Hòe hoa sao qua, sao vàng để hạn chế s phân hủy rutin.
1.5. Bảo qun thuốc
Thuốc nguồn gốc cây cỏ, động vật. Môi trường nóng, m thuận lợi cho việc
hút m gây nấm mốc, sâu mọt. ng, m n điều kiện thuận li cho vi sinh vật
phát triển, enzym hoạt động m hỏng hoặc làm giảm tác dụng của thuốc. Mặt khác,
trong mỗi vị thuốc có chứa nhiều thành phần hóa học khác nhau. Một số thành phần có
tác dụng trị bệnh. Một số thành phần khác lại tạo môi trường thuận lợi đphát triển
nấm mốc, sâu mọt như: chất lipid, protid, glucid, đường (glucose, fructose...), acid
amin, chất nhầy, pectin. Quá trình chế biến thể làm giảm hoặc mất ảnh hưởng của
các thành phần này, thế thời gian bảo quản kéo dài hơn. Pectin, chất nhầy, một số
protein (albumin) bị đông vón khi nhiệt chế (sao, nấu) hoặc chế với rượu. Acid amin,
đường bị loại một phần khi ngâm trong dịch nước. Đường bị caramen hóa khi sao
nhiệt độ cao (sao vàng, sao đen) tạo thành chất bảo vệ.
Chế biến thuốc có ý nghĩa sau:
- Giảm độ ẩm, vị thuốc kvà thơm.
- Thay đổi tính chất một số thành phần hóa học dễ gây nấm mốc
- Diệt men gây phân hủy dược chất
- Tạo thành chất bảo vcho vị thuốc
1.6. Làm sạch thuốc
Loại trừ tạp chất cơ học khi thu hoạch
Loại trừ bộ phận không dùng làm thuốc, thu đúng bộ phận dùng làm thuốc.
Ví dụ: hạnh nhân: bỏ vỏ, tang bạch bì: cạo bỏ vỏ, kim anh tử: bỏ hạt...
Tinh chế thuốc: mt số vị thuốc khoáng vật tính chất thăng hoa như: lưu
huỳnh, thủy ngân, thạch tín... thể dùng phương pháp chế sương (nung kín) để thu
lấy hoạt chất tinh khiết, loại btạp chất (các chất khác không có tính chất thăng
hoa).
64
1.7. Thay đổi dạng dùng
Một số vị thuốc sống chỉ được dùng ngoài, sản phẩm chế được dùng trong như:
phụ tử, mã tiền, hoàng nàn, bán hạ, nam tinh...
Một số nguyên liệu chỉ được dùng m thuốc sau khi chế biến như: một số vỏ
(mẫu lệ, cửu khổng...) thường được chế dạng bột.
Phân chia vị thuốc đến kích thước thích hợp thuận tiện cho sử dụng, phù hợp với
thói quen sử dụng của người bệnh. Các vị thuốc từ thảo mộc thường chế dạng thuốc
phiến. Một số ít được chế dạng bột (mã tiền chê).
Việc phân chia vị thuốc còn mang ý nghĩa thương phẩm.
2. Các phương pháp chế biến
Chế biến thuốc cổ truyền phương pháp chế biến các nguyên liệu m thuốc đã
qua chế thành dạng thuốc phiến (thuốc chín). Các phương pháp chế da trên
nguyên của các học thuyết âm dương, nhành, tạc tượng, thuốc chè (ẩm), thuốc
bột (tán), thuốc viên (đan, đơn, hoàn) thuốc cao.
Chế thuốc cổ truyền gồm 3 phương pháp chính là: hỏa chế, thủy chế, thủy hỏa
hợp chế và một số phương pháp khác.
2.1. Hỏa chế (phương pháp chế biến chỉ dùng lửa)
Hỏa chế là phương pháp chế biến sử dụng s tác động của nhiệt độ trc tiếp hoặc
gián tiếp (qua các phụ liệu trung gian) ở các mức nhiệt độ khác nhau.
2.1.1. Mục đích
Tăng tính ấm, giảm tính hàn của vị thuốc. Lửa thuộc nhiệt, thuộc dương. Hỏa chế
nghĩa đưa thêm phần nhiệt, phần dương vào vị thuốc, m giảm tính hàn cho vị
thuốc đó.
Ví dụ:
- Đại hoàng tính hàn, tác dụng nhuậ tẩy. Đại hoàng sao cháy thể gây táo bón.
Khi sao cháy, anthanoid bị thăng hoa nên tác dụng nhuận tẩy bị giảm, nhưng tanin vẫn
tồn tại gây táo bón.
- Thục địa tính ôn, tác dụng bổ huyết, sinh tân dịch. Dùng thục địa cho bệnh nhân
tỳ dương hư sẽ gây đầy bụng trướng, rối loạn tiêu hóa. Thục địa sao khô sẽ hạn chế tác
dụng này.
- Gạo sao đen dùng để trị chứng ỉa chảy mất nước, do nhiệt làm tăng tính ấm.
Giảm độc tính, giảm tác dụng quá mạnh của vị thuốc: thường dùng nhiệt độ cao
phân hủy các chất gây độc của thuốc.
Ví dụ:
- Mã tiền sao cát ở nhiệt độ 200-2500C. Mã tiền rán trong dầu lạc, dầu vừng nhiệt
độ sôi của dầu khoảng 2000C
- Ba đậu sao đen ỏ nhiệt độ 200-2400C
- Bán hạ nam sao ở nhiệt độ 2000C thì độ ngứa mất hoàn toàn sau 30 phút
Ổn định hoạt chất trong vị thuốc khi sao qua, sao vàng