Chữa viêm xoang phụ ncho con
Viêm mũi xoang là bệnh phổ biến ở Việt Nam và có xu
hướng ngày càng tăng. Theo thng kê, 70% phụ nữ có thai
bị ngạt tc i và có thdn ti viêm xoang nếu không
được điều trị thích hp. Viêm xoang vn có thtn tại ngay
cả khi đang mang thai hoặc bà mẹ mc phải sau sinh.
Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú thường có tâm lý ngạ
i
sử dụng thuc (google image)
Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú thường có tâm lý ngại
sử dụng thuc, chính vì thế mà họ c chịu đựng cho ti khi
không th. c này bnh lý xoang thường đã nng và đã có
biến chng, hay gp nht là viêm thanh quản, viêm phế
quản.
Viêm xoang là hiện tượng bít tắc các lỗ thông từ xoang đổ
ra mũi gây ra hiện tượng ứ trệ dịch trong xoang, làm vi
khuẩn phát triển và gây nên quá trình viêm. Sự bít tắc các
lỗ thông của xoang có thể gây ra do rất nhiều nguyên nhân
nhưng thường là do viêm nhiễm từ mũi.
Mục đích khi điều trị là trả lại sự thông thoáng cho hệ
thống lỗ thông của mũi xoang. Điều trị viêm mũi xoang đặc
biệt là viêm mũi xoang mạn tính gặp rất nhiu khó khăn vì
cấu tạo của hệ thống mũi xoang rất phức tạp nên bệnh hay
tái phát, đồng thời quan niệm chưa đúng đắn của bệnh nhân
trong quá trình điều trị làm giảm tỷ lệ thành công khi chữa
viêm mũi xoang.
Thuốc chữa viêm mũi xoang là nhng thuốc có thể can
thiệp để giải phóng tình trạng tắc nghẽn của lỗ thông mũi
xoang. Các thuốc này phải được phối hợp đồng bộ dưới sự
theo dõi chặt chẽ của các thầy thuốc tai mũi họng. Tùy theo
giai đoạn của viêm mũi xoang, loại viêm mũi xoang (viêm
mũi xoang m, viêm mũi xoang dị ứng, viêm xoang do
nấm…) mà thy thuốc ra quyết định sử dụng thuốc như thế
nào.
Thuốc toàn thân
- Kháng sinh uống hoặc tiêm: Ở phụ nđang cho con
thường sử dụng nhóm ß lactam.
- Thuc chống viêm, gim phù nề để giải phóng lỗ thông
mũi xoang.
Thuốc hay sử dụng là kháng viêm nhóm steroid và non
steroid như prednisolone, medrol, medexa, celestene…
Nhóm thuốc này có rất nhiều tác dụng phụ như loét, thủng
dạ dày, loãng xương, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, tăng
đường huyết, suy tuyến thượng thận… Chính vì thế các
thuốc này thường được dùng trong thời gian ngắn (dưới 1
tuần ở giai đoạn cấp) và phải được thầy thuốc chỉ định mới
dùng.
Nhóm thuốc chống viêm do các men đảm nhận để chống
phù nề như alphachymotrypsine choay uống hoặc ngậm.
- Thuc giảm đau như paracetamol.
- Thuc long đờm: acetylcysteine, ambroxol, carbocisteine.
- Thuc chống dị ứng: telfast, clarytine…
Thuc tại chỗ
phươmg pháp điều trị hu hiu nht vi viêm i xoang
cho các phụ n nuôi con bú.
Thuốc chống viêm, chng xung huyết mũi, thuốc co mạch.
Nhóm thuốc nhỏ mũi thường phải phối hợp giữa kháng
sinh với một số thành phần chống viêm, gim phù nề, giảm
xung huyết mới có hiệu quả.
Kháng sinh nhóm moxifloxacine hydrochloride,
tobramycine thường được sử dụng để bào chế làm thành
phần của thuốc nhỏ mũi. Lý do chính là qua nghiên cứu
người ta nhận thấy khả năng thấm qua máu thấp dưới 2%,
đồng thời thuốc lại không bị hấp thu qua đường tiêu hoá
nên khá an toàn khi sử dụng. Tuy nhiên khi dùng kéo dài
thuốc nhỏ mũi chứa kháng sinh thì khả năng tạo ra các
chủng vi khuẩn kháng thuốc, bao gồm cả nấm có thể xảy
ra. Nếu bội nhiễm xuất hiện phải ngưng thuốc và chuyn
sang phương pháp điều trị thích hợp khác.
Thuốc co mạch – chống ngạt là loại thuốc hiện nay đang
được sử dụng rộng rãi. Thuốc có tác dụng thu nhỏ tổ chức
cương ở cuốn mũi dưới, chống xung huyết niêm mạc.
Thuốc tác dụng nhanh trong vài phút và duy trì trong nhiều
giờ sau đó. Thuốc nhỏ mũi có khả năng gây các phản ứng
dị ứng tại chỗ như cảm giác ngứa mũi, sưng mũi, đỏ cánh
mũi, đau nhức dọc theo sống mũi… tuy không xảy ra tới
3% các trường hợp dùng thuc.
Một số bnh nhân gặp phản ứng không dung nạp thuốc. Tại
niêm mạc hốc mũi biểu hiện có cảm giác như kim châm,