CHỨC NĂNG CỦA BÁO CHÍ

TRUYỀN HÌNH

1, Khái niệm về chức năng:

Chức năng (tiếng Latinh: Functio – mục đích, công dụng, tác dụng) được

hiểu là tổng hợp những vai trò và tác dụng của một hoạt động nào đó trong tự

nhiên và xã hội.

Ngày nay, hệ thống báo chí bao gồm nhiều loại hình: báo in, báo phát

thanh, báo truyền hình, báo internet. Truyền hình là một loại hình báo chí có lịch

sử phát triển ngắn hơn so với các loại hình truyền thông khác. Ra đời đầu thế kỷ

XX, vô tuyến truyền hình gắn bó chặt chẽ với khoa học kỹ thuật, mở ra một thời

kỳ mới trong lịch sử phát triển của các phương tiện truyền thông. Xét vai trò của

truyền hình như một tiểu hệ thống trong hệ thống báo chí nói riêng và hệ thống xã

hội liên tục vận động và phát triển nói chung, truyền hình có những chức năng cơ

bản như sau: chức năng thông tin, chức năng tư tưởng, chức tổ chức quản lý xã

hội, chức năng phát triển khai sáng và giải trí, chức năng chỉ đạo giám sát xã hội.

2. Các chức năng của báo chí truyền hình

2.1, Chức năng thông tin

Nhiệm vụ hàng đầu và cũng là lý do ra đời của báo chí là thông tin. Có

thể nói, thông tin là chức năng khởi nguồn, chức năng cơ bản nhất của báo chí nói

chung và của truyền hình nói riêng. Thông tin là nhu cầu sống của con người và xã

hội. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu thông tin càng cao và do đó, báo chí nói

chung và truyền hình nói riêng càng phải nỗ lực hơn nữa trong việc đáp ứng nhu

cầu thông tin cho xã hội. Truyền hình có những lợi thế nhất định so với các loại

hình báo chí khác trong việc phản ánh thông tin.

Trước hết, truyền hình cũng như báo chí nói chung đều phải thông tin một

cách nhanh chóng, kịp thời, đúng lúc nhất, đảm bảo tính cập nhật, tính thời sự của

thông tin. Trong thời đại bùng nổ thông tin như ngày nay, cuộc cạnh tranh trong

việc đưa tin của các loại hình báo chí ngày càng trở nên quyết liệt.Trên thực tế, cơ

quan báo chí nào đưa tinh nhanh nhất về một sự kiến mới nhất, thu hút được sự

quan tâm của công chúng, thì cơ quan báo chí đó giành được thắng lợi trong cuộc

cạnh tranh độc giả và bán báo. Truyền hình cũng tương tự, sự thành công và phát

triển của truyền hình phụ thuộc vào số lượng người xem và số tiền mà họ bỏ ra để

mua các kênh truyền hình. Truyền hình Việt Nam là một cơ quan truyền thông đại

chúng, phục vụ đắc lực cho công tác tuyên truyền của Đảng và Nhà nước, nhưng

chức năng trên hết là thông tin, và yêu cầu của công chúng đòi hỏi thông tin phải

nhanh chóng, chính xác, đảm bảo tính thời sự. Nhanh chóng và hợp thời là hai yếu

tố làm nên giá trị thông tin báo chí. Nếu thông tinh nhanh và đảm bảo tính hợp

thời sẽ đem lại khả năng tạo ra hiệu quả tác động của thông tin từ đó mà tăng hiệu

quả của công tác tuyên truyền. Truyền hình có những lợi thế đặc biệt trong việc

đưa tin nhanh chóng và hợp thời. Không giống như báo in, thông tin được phóng

viên thu thập về cho dù có “nóng hổi” đến đâu đi chăng nữa thì có thể sẽ vẫn phải

dành cho số báo ngày hôm sau, phải qua khâu in ấn rồi mới phát hành. Chính vì

vậy mà cho dù trên báo in có chạy hàng tít “hot news” thì nó đã không còn

“nóng”. Truyền hình hoàn toàn ngược lại, ngay lập tức nó có thể đưa đến cho công

chúng những hình ảnh mới nhất, nóng nhất vừa quay từ hiện trường về và phát

ngay lên sóng truyền hình nếu như đó là thông tin được toàn thể công chúng quan

tâm. Những hình ảnh mới, chưa qua bàn dựng cắt gọt sẽ đưa đến cho công chúng

những thông tin trung thực, sống động mà không loại hình báo chí nào theo kịp.

Nếu báo in sử dụng từ ngữ, ảnh là phương tiện chính để truyền tải thông tin, với

phát thanh là âm thanh thì truyền hình có khả năng truyền tải thông bằng cả âm

thanh và hình ảnh ngay tại hiện trường. Yếu tố tác động chủ yếu đến công chúng

là yếu tố nghe nhìn. Do vậy truyền hình tác động đến công chúng thông qua ngôn

ngữ ở cấp độ xem. Điều này có thể nói lên độ trung thực rất cao của thông tin trên

truyền hình. Lấy một ví dụ rất đơn giản đưa tin về một đám cháy ở một trung tâm

thương mại lớn, những lời miêu tả cùng ảnh tĩnh trên báo in hay qua giọng đọc của

phát thanh viên trên đài phát thanh sẽ không sống động bằng những hình ảnh lửa

cháy cùng tiếng la hét của nhân dân ngay tại hiện trường trên màn ảnh nhỏ. Đó là

một lợi thế và cũng chính là một đặc trưng bổi bật của truyền hình. Tuy vậy, thông

tin trên truyền hình không thể xem lại và cho công chúng có thời gian suy nghĩ

như báo in để họ hiểu sâu thông tin nên những hình ảnh trên truyền hình phải đặc

biệt gây ấn tượng sâu sắc cho công chúng. Điều này đòi hỏi người phóng viên phải

hết sức nhanh nhạy, nắm bắt thông tin và chọn được những góc quay hợp lý nhất

sao cho những âm thanh và hình ảnh trên truyền hình sẽ ngay lập tức thu hút được

sự quan tâm của công chúng.

Cuộc sống của con người hết sức phong phú và đa dạng nên việc đáp ứng

nhu cầu thông tin trên sóng truyền hình cũng phải rất đa dạng và phong phú. Đời

sống tinh thần của con người ngày càng phát triển, do đó không chấp nhận cách

đưa tin đơn điệu, nghèo nàn. Điều này yêu cầu thông tin trên báo chí phải cực kỳ

phong phú, phản ánh mọi mặt, mọi khía cạnh trong đời sống xã hội, đáp ứng một

cách tối đa nhu cầu thông tin của công chúng. Trên thực tế, tờ báo cũng như kênh

phát thanh truyền hình nào cung cấp được lượng thông tin lớn thì nó sẽ trở thành

sự lựa chọn của số đông công chúng.

Không những thông tin nhanh nhạy, phong phú đa dạng mà thông tin trên

truyền hình phải đảm bảo tính trung thực, độ chính xác cao. Một trong những

nguyên tắc của hoạt động báo chí và truyền thông đại chúng là bảo đảm tính khách

quan và chân thật. Hoạt động của truyền hình cũng không nằm ngoài nguyên tắc

đó. Do vậy, thông tin trên truyền hình phải trung thực. Không những thế thông tin

đưa ra phải nhằm những mục đích nhất định. Điều này cũng đáp ứng một trong

những yêu cầu của thông tin báo chí như Hồ Chủ tịch đã từng đề ra trong những

nguyên tắc làm báo, đó là: viết cái gì, viết cho ai, viết để làm gì, viết như thế

nào…

Một yêu cầu khác mà thông tin trên báo chí phải hết sức lưu ý đó là thông

tin phải phù hợp với hệ thống giá trị văn hoá và đạo lý của dân tộc, thông tin phù

hợp với sự phát triển và phục vụ sự phát triển. Thông tin trên truyền hình cũng

phải nhằm vào việc định hướng dư luận xã hội, định hướng thái độ, nhận thức và

hành vi cho công chúng. Đây là yêu cầu xuyên suốt, bao trùm mọi hoạt động

thông tin của truyền thông đại chúng nói chung và của truyền hình nói riêng. Do

đó thông tin truyền hình phải đặc biệt chú ý đến những yêu cầu này để đáp ứng

công tác tuyên truyền của Đảng và Nhà nước.

2.2, Chức năng tư tưởng:

Công tác tư tưởng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các chính đảng, các

hệ thống xã hội cũng như các giai cấp nắm quyền lãnh đạo xã hội. Mục đích của

công tác tư tưởng là nhằm tác động vào ý thức xã hội, hình thành một hệ thống tư

tưởng thống trị với những định hướng nhất định. Đây chính là một phương thức để

phát huy những quyền lực trong các lĩnh vực kinh tế xã hội, tập hợp lực lượng

quần chúng, phát huy được những tiềm năng to lớn của nhân dân nhằm xây dựng

xã hội theo con đường đã định. Với khả năng tác động một cách rộng lớn, nhanh

chóng và mạnh mẽ vào xã hội, hoạt động báo chí nói chung cũng như của truyền

hình nói riêng có vai trò và ý nghĩa rất lớn trong công tác tư tưởng. Các phương

tiện truyền thông đại chúng tác động vào quần chúng, lôi kéo, tập hợp thuyết phục

họ và tổ chức họ thành lực lượng cách mạng để thực hiện những mục tiêu cụ thể

trong từng thời kỳ. Truyền hình với những lợi thế đặc biệt về âm thanh và hình

ảnh có khả năng thể hiện một lượng thông tin lớn sinh động và cụ thể sẽ xây dựng

một thế giới quan sinh động cho khán thính giả của truyền hình và có tác dụng rất

lớn trong việc giáo dục tư tưởng cho người xem.

Thông tin trên truyền hình có tác động rất lớn đến nhận thức của người

xem, từ đó quyết định hành vi của họ. Vì thế, thông tin phải hết sức khách quan,

trung thực, thẳng thắn để đem đến cho khán giả nhận thức đúng đắn, phù hợp với

đường lối của Đảng và Nhà nước. Báo chí nước ta hoạt động dưới sự lãnh đạo của

Đảng, sự quản lý của Nhà nước, nên mọi thông tin đều phải đảm bảo đáp ứng nhu

cầu thông tin của công chúng, cũng như nhu cầu tuyên truyền. Truyền hình luôn

bám sát đời sống thực tiễn, tập trung phản ánh những điển hình trong xã hội, đồng

thời phê phán những cái tiêu cực trong xã hội.

Báo chí nói chung cũng như truyền hình nói riêng có vai trò rất lớn trong

việc tạo ra dư luận xã hội. Dư luận xã hội là phản ứng, thái độ của xã hội đối với

một sự kiện, hiện tượng vấn đề hoặc một nhân vật nào đó. Tính chất của dư luận

xã hội phụ thuộc vào nội dung thông tin được phản ánh. Điều đó chứng tỏ nếu

thông tin bị bóp méo hay xuyên tạc thì hậu quả sẽ rất lớn vì nó tạo ra dư luận xã

hội không tốt mà không dễ gì dập tắt được. Có thể lấy một ví dụ rất đơn giản về

việc dư luận được tạo ra từ những thông tin sai lệch do báo chí tung ra. Người dân

nước Mỹ cũng như các nước đồng minh của Mỹ đã được xem rất nhiều hình ảnh

những người lính Nam Tư ngược đãi người Coxovo, cảnh những người dân

Coxovo sống sau hàng rào thép gai, hay những hố chôn người tập thể… Tất cả

những hình ảnh dã man đó đã gây nên sự phẫn nộ của người dân, tạo nên làn sóng

dư luận phản đối Nam Tư, tạo điều kiện cho Mỹ lấy cớ bảo vệ nhân quyền để tiến

hành một cuộc chiến tranh khiến hàng ngàn người dân vô tội thiệt mạng vì bom

đạn Mỹ. Sư thật là tất cả những hình ảnh đã được phát trên toàn nước Mỹ và thế

giới đó đã được dàn dựng và nó đã gây nên cuộc chiến đẫm máu vô lý ở Nam Tư.

Ví dụ này đã cho ta thấy tác động to lớn của báo chí, đặc biệt là truyền hình, trong

việc tạo dư luận và định hướng dư luận.

2.3, Chức năng tổ chức – quản lý xã hội

Báo chí nói chung và truyền hình nói riêng đang hàng ngày hàng giờ tham

gia vào công tác tổ chức, quản lý xã hội. Truyền hình góp phần tuyên truyền

những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đến cho nhân dân, đòng thời

cũng là diễn đàn để phản ánh những tâm tư nguyện vọng của người dân. Truyền

hình là kênh thông tin hai chiều để mọi chính sách mà Đảng và Nhà nước đề ra

đều phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Báo chí được coi là “quyền lực thứ tư

trong xã hội” vì nó tạo sức mạnh dư luận thông qua thông tin. Trên truyền hình

Việt Nam hiện nay có những chương trình đặc biệt thu hút được sự quan tâm của

đông đảo khán giả xem truyền hình như: Sự kiện và dư luận, Diễn đàn… Đó là

những chương trình mà tính công khai dân chủ được thể hiện rất rõ ràng.

Cũng như các kênh truyền thông đại chúng khác báo truyền hình có vai trò

quan trọng trong tiến trình tham gia tổ chức xã hội. Vì khái niệm tổ chức có thể

được hiểu là khơi dậy năng lực, liên kết các yếu tố, bộ phận trong mối quan hệ

nhất định nhằm tạo ra sức mạnh và hướng vào mục đích được xác định để tăng

cường tính ưu việt và hiệu quả của tiến trình hoạt động.

Ở góc độ khác, vai trò tổ chức của báo chí truyền hình còn được thể hiện ở

các khía cạnh khác như biểu dương nhân tố, hình mẫu tích cực tiên tiến và nhân

rộng ra thành phong trào, làm cho cái đơn lẻ tích cực thành cái phổ biến, uốn nắn

nhận thức và hoạt động của con người và các tổ chức, trong sự phù hợp với định

hướng phát triển.

Trong khi thực hiện vai trò tổ chức xã hội, báo chí truyền hình đồng thời

thể hiện vai trò quản lý xã hội. Quản lý có thể được hiểu là quá trình tác động, chi

phối của chủ thể đối với khách thể, đảm bảo cho sự vận hành, hoạt động của các

tiểu hệ thống và toàn bộ hệ thống xã hội cùng nhằm vào mục tiêu và đạt hiệu quả.

Vì thế, để quá trình quản lý xã hội đạt hiệu quả, cần phải đạt các yếu tố như: hoạch

định chính sách, chủ trương phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể; truyền

thông vận động xã hội, đảm bảo cho các chính sách, chủ trương, các quyết định

quản lý được nhận thức đúng đắn và đầy đủ trong dân cư, tổ chức thực hiện,

hướng dẫn tư tưởng và hoạt động. Muốn thế, giữa khách thể và chủ thể thường

xuyên phải có mối quan hệ tác động hai chiều. Báo chí truyền hình đảm nhận vai

trò vừa là yếu tố liên kết thông tin, cầu nối, vừa là động lực khơi dậy tiềm năng

của chủ thể và khách thể. Như vây báo chí truyền hình là công cụ lợi hại, còn

khách thể là diễn đàn.

Báo chí truyền hình không chỉ thông tin, tuyên truyền để giáo dục nâng cao

nhận thức, hiểu biết của công chúng về chủ trương, chính sách, thông tin phản hồi

từ cuộc sống, từ bước đi, nhịp thở, tâm tư, nguyện vọng và những vấn đề bức xúc

của cuộc sống. Truyền hình còn tham gia trực tiếp vào quá trình tổ chức và quản

lý xã hội. Trên thực tế, báo chí truyền hình của nước ta đã thực hiện chức năng tổ

chức và quản lý xã hội một cách có hiệu quả, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa.

Xã hội càng phát triển vai trò tổ chức quản lý xã hội của báo chí truyền

hình càng được chú trọng. Vai trò đó được thể hiện ở cả hai phương diện tổ chức

và quản lý, đó là quản lý bằng pháp luật và bằng dư luận xã hội. Mối quan hệ này

có liên quan và gắn bó chặt chẽ để tạo hiệu quả cao trong sự phát triển của xã hội.

2.4, Chức năng phát triển văn hoá và giải trí của truyền hình.

Ngày nay, xem chương trình thời sự vào lúc 19 giờ sau mỗi bữa cơm là một

thói quen của rất nhiều gia đình. Điều này cho thấy, truyền hình đã đi vào cuộc

sống của từng gia đình, từng cá nhân và đã trở thành một nhu cầu giải trí không

thể thiếu đối với họ. Đây là một trong những chức năng quan trọng không kém

những chức năng của truyền hình đã đề cập ở trên. Ưu thế số một của truyền hình

hiện nay đó là đáp ứng được một cách cao nhất nhu cầu thông tin giải trí cho khán

giả xem truyền hình. Cuộc sống càng hiện đại, con người phải làm việc căng thằng

thì nhu cầu giải trí càng cao. Truyền hình đã và đang là sự lựa chọn hàng đầu hiện

nay. Nhờ vào khoa học kĩ thuật – công nghệ ngày càng hiện đại, người dân có thể

ngồi tại nhà và chọn lựa tất cả những kênh truyền hình mà họ yêu thích. Nếu như

phát thanh mới chỉ dáp ứng được yêu cầu về mặt âm thanh thì truyền hình là cả âm

thanh và hình ảnh. Ca nhạc, phim ảnh… tất cả những loại hình nghệ thuật đáp ứng

nhu cầu giải trí và nâng cao kiến thức của con người đều có thể đáp ứng trên

truyền hình. Đây là một ưu điểm đặc biệt mà không phải loại hình báo chí nào

cũng có được. Chính vì vậy mà mặc dù xuất hiện sau các loại hình báo chí khác

nhưng truyền hình đã nhanh chóng khẳng định được vị trí và có được một lượng

khán giả đông đảo.

Thông qua truyền hình, sự giao lưu văn hoá với các nước trong khu vực và

trên thế giới đã trở nên dễ dàng hơn. Người xem có điều kiện mở rộng tầm mắt,

cho dù ngồi ở nhà, họ vẫn được xem những hình ảnh mới nhất, sống động động

nhất về nhiều nơi trên thế giới. Đây là một yếu tố quan trọng đối với việc phát

triển văn hoá qua truyền hình.

Trong cuộc cạnh tranh khốc liệt của thế giới truyền thông hiện nay, truyền

hình đang đáp ứng những dịch vụ tốt nhất nhằm kéo khán giả đến với truyền hình

nhiều hơn nữa. Ở Việt Nam hiện nay, không chỉ có duy nhất Đài THVN mà còn

nhiều đài địa phương cũng đang nỗ lực nâng cao chất lượng để có được thế mạnh

cạnh tranh. Có thể thấy nhiều đài truyền hình địa phương có số người xem khá

lớn, vượt ra ngoài phạm vi địa phương đó, như: Đài Phát thanh và Truyền hình Hà

Nội, Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh, Đài Phát thanh vàTruyền hình Bình

Dương… Báo chí nói chung cũng như truyền hình nói riêng hoạt động dưới sự bảo

trợ của nhà nước xong không thể vì thế mà ỷ lại, không tự thân vận động phát

triển. Truyền hình cũng như các loại hình báo chí khác cần phải tập trung nhiều

hơn nữa để nâng cao chất lượng thông tin, âm thanh hình ảnh, đáp ứng tốt nhất

nhu cầu thông tin của công chúng. Một điều quan trọng nữa đó là xuất phát từ yêu

cầu khách quan của thời đại, trong điều kiện toàn cầu hoá truyền thông đại chúng

như ngày nay, nếu truyền hình không tự cải tiến thì sẽ lạc hậu so với thế giới, dẫn

đến mất đi khán giả.

Ở nước ta hiện nay đang có khá nhiều loại hình truyền hình cạnh tranh với

nhau như truyền hình kĩ thuật số, truyền hình vệ tinh… Các công ty về công nghệ

truyền hình đang nỗ lực tìm mọi cách để giảm giá dịch vụ đồng thời nâng cao chất

lượng dịch vụ để tạo thế cạnh tranh. Đó là một lợi thế, một môi trường tốt để

truyền hình ngày càng phát triển hơn nữa. Và trong cuộc cạnh tranh đó thì quyền

lợi thuộc về công chúng. Họ có nhiều sự lựa chọn hơn với gía dịch vụ rẻ hơn. Như

vậy, bên cạnh sóng của đài THVN được phát miễn phí cho người dân, họ còn có

thể lựa chọn thêm nhiều kênh truyền hình khác phù hợp với nhu cầu giải trí.

Có thể nói, chức năng phát triển văn hoá, giải trí là một trong những chức

năng quan trọng của truyền hình, là yếu tố có tính quyết định đến sự phát triển của

truyền hình. Thông qua các chương trình truyền hình, khán giả vừa có điều kiện

giải trí, vừa có điều kiện nâng cao kiến thức của mình về mọi lĩnh vực trong đời

sống xã hội.

Có thể lấy ví dụ rất đơn giản về những chương trình trò chơi truyền hình

vừa giúp khán giả giải trí, vừa cho họ có cơ hội học tập thêm như chương trình:

“Ai là triệu phú” của Đài Truyền hình Việt Nam, “Vượt qua thử thách” của Đài

Phát thanh và Truyền hình Hà Nội, “Rồng vàng” của Đài Truyền hình thành phố

Hồ Chí Minh… đó là những chương trình trò chơi kiến thức đang thu hút được sự

theo dõi của đông dảo khán giả xem truyền hình. Khán giả xem truyền hình không

những có được cảm giác hồi hộp, căng thằng cùng với người chơi mà họ còn được

cung cấp thêm rất nhiều kiến thức về các lĩnh vực trong đời sống văn hoá xã hội

như: lịch sử, địa lí, khoa học, văn học, nghệ thuật…

Bên cạnh đó còn rất nhiều những chương trình ca nhạc, phim truyện đặc

sắc đáp ứng tối đa nhu cầu giải trí của công chúng. Truyền hình cũng là một

trường học từ xa với rất nhiều những chương trình khoa học thường thức cung cấp

kiến thức cho người xem trong mọi lĩnh vực. Hiện nay, Đài Truyền hình Việt Nam

đã có những kênh chuyên biệt để tạo sự thuận lợi cho người xem. Kênh VTV 1 là

chương trình thời sự, VTV 2 là kênh khoa học, giáo dục và kênh VTV 3 là kênh

thể thao giải trí, thông tin kinh tế. Khán giả xem truyền hình có thể lựa chọn bất kì

kênh truyền hình nào họ thích. Ngoài ra, với thời lượng phát sóng lớn, 12h/ngày,

không kể các kênh truyền hình dịch vụ phát 24/24, khán giả đang ngày càng có

nhiều sự lựa chọn hơn đối với truyền hình.

2.5, Chức năng chỉ đạo, giám sát xã hội.

Báo chí tiền thân ra đời và phát triển từ khi xã hội chưa phân chia giai cấp.

Từ khi xã hội phân chia thành giai cấp, Nhà nước ra đời và báo chí luôn luôn

thuộc về một giai cấp, một lực lượng chính trị nhất định. Một công cụ lợi hại như

báo chí, các giai cáp và lực lượng chính trị tìm mọi cách để chiếm giữ, thậm chí

lũng đoạn. Này nay, báo chí còn là công cụ quan trọng của các tập đoàn kinh tế

trong cuộc đấu tranh, cạnh tranh giành giật ảnh hưởng, chiếm lĩnh thị trường. Bởi

vì, trong quá trình đấu tranh giành và giữ, cùng cố địa vị xã hội, các lực lượng

chính trị sử dụng báo chí như một công cụ lợi hại, không chỉ để truyền bá tư

tưởng, tuyên truyền ảnh hưởng mà quan trọng là chỉ đạo cuộc đấu tranh trong việc

giành và giữ quyền lực chính trị của mình.

Chức năng chỉ đạo của báo chí, chủ yếu xuất phát từ nhu cầu của chủ thể

quản lý, lãnh đạo nhằm thúc đẩy công việc theo mục tiêu đã đề ra, uốn nắn những

lệnh lạc hay cổ vũ mọi người tập trung thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch trọng tâm

trong từng thời gian.

Trong hoạt động lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước ta, sau khi đã

đề ra chủ trương, chính sách thì vấn đề quan trọng là chỉ đạo thực hiện, để biến các

chủ trương chính sách ấy thành hiện thực sinh động.

Nhiệm vụ của báo chí là giải thích và giải đáp những vấn đề của cuộc sống,

góp phần tháo gỡ và thúc đẩy tình hình phát triển. Trong cuộc sống hàng ngày có

vô vàn những sự kiện xảy ra. Nhưng trong tình hình cụ thể, báo chí chọn sự kiện

nào để thông tin, chọn vấn đề nào để phân tích là thể hiện hiện chức năng chỉ đạo

của báo chí. Chọn sự kiện và vấn đề thời sự để thông tin và phân tích, nhưng nhìn

nhận nó từ bình diện nào, với hệ thống chi tiết, ngôn từ giọng điệu như thế nào

cũng thể hiện chức năng chỉ đạo. Chọn sự kiện đơn lẻ, tiêu biểu cho cái lạ và thổi

phồng nó lên thành sự quan tâm của dư luận xã hội, đăng tải tràn lan những vụ án

giật gân, săn đón các câu chuyện đời tư câu khách… đều là những biểu hiện làm

giảm tính chỉ đạo của báo chí. Bảo đảm tính chỉ đạo của báo chí, đòi hỏi nhà báo

có tầm nhìn xa và trên nền tảng tri thức, văn hoá rộng, vững chắc, phong phú, có

tính nhân văn và trách nhiệm xã hội cao cả trước công chúng và lịch sử.

Biểu hiện chức năng chỉ đạo của báo chí không giống sự chỉ đạo của các tổ

chức Đảng hay các cơ quan quyền lực khác. Báo chí không có quyền lực như

chính quyền, không được ra lệnh mà chỉ tác động vào dư luận xã hội, tác động vào

nhận thức của nhân dân. Cho nên, báo chí chỉ đạo thông qua việc đăng tải chủ

trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, qua việc thông tin, thông qua thuyết

phục là chủ yếu. Vai trò tư vấn thuyết phục, định hướng nhận thức thay đổi thái độ

và hành vi, do đó hướng dẫn hoạt động thực tiễn được coi là vai trò chỉ đạo của

báo chí.

Giám sát là một trong các chức năng cơ bản của báo chí. Chức năng giám

sát đựơc báo chí phương Tây tuyệt đối hoá thành quyền lực thứ tư, (ở Thuỵ Điển

là quyền lực thứ ba) sau quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng lại giám sát

cả ba quyền này. Do đó, trong xã hội tư bản, báo chí trở thành siêu quyền lực.

Đảng ta quan niệm rằng, báo chí là vũ khí sắc bén của Đảng và Nhà nước, là công

cụ lợi hại trong cuộc đấu tranh phò chính trừ tà, là tiếng nói của Đảng, Nhà nước

và là diễn đàn của nhân dân.

Trong Nghị quyết Trung ương 6 (khoá VIII) lần 2, Đảng ta xác định báo chí

là một trong 4 hệ thống giám sát xã hội quan trọng.

Đặc thù giám sát của báo chí là giám sát bằng dư luận xã hội, bằng tai mắt

của nhân dân. đó là sự giám sát mọi nơi, mọi lúc.

Do đó để báo chí làm tốt chức năng giám sát xã hội của mình, cần thiết chú

ý một số vấn đề:

- Tuyên truyền rộng khắp trong nhân dân về đường lối chủ trương chính

sách, luật pháp của Đảng và Nhà nước.

- Nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân để họ thực sự có thể là người có

năng lực làm chủ, tham gia tích cực các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội;

- Thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở và mở rộng tiến trình dân chủ hoá

đời sống xã hội, bảo đảm để mọi người và mọi tổ chức kinh tế – xã hội đều hoạt

động theo pháp luật, giữ nghiêm kỷ cương phép nước; xây dựng Nhà nước pháp

quyền XHCN.

- Nâng cao năng lực, đạo đức, phẩm chất chính trị, phẩm chất nghề nghiệp

của người làm báo.

Trong quá trình thực hiện chức năng giám sát xã hội, một số người chủ yếu

nhấn mạnh vai trò đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, phanh phui các vụ việc

không lành mạnh ra công luận. Điều đó thể hiện sự bức xúc của dư luận xã hội

trong tình hình hiện nay. Tuy nhiên, chức năng giám sát được hiểu bằng cả việc

kịp thời biểu dương các hiện tượng tích cực, phát hiện cổ vũ nhân tố mới…

Các chức năng xã hội của báo chí truyền hình quan hệ chặt chẽ, biện chứng

với nhau, khó có thể tách bóc từng chức năng trong hoạt động thực tiễn. Mỗi chức

năng có vai trò của nó. Thông tin là chức năng tiền đề, vì các chức năng khác chỉ

có thể được bảo đảm trên cơ sở làm tốt chức năng mang tính mục đích của hoạt

động báo chí là xác lập hệ tư tưởng xã hội xã hội chủ nghĩa thống nhất trong toàn

thể nhân dân. Chức năng chỉ đạo và giám sát bảo đảm cho báo chí hoạt động có

hiệu quả trong từng thời gian, nhằm vào những mục tiêu cụ thể và kịp thời phát

hiện, uốn nắn những lệch lạc, khiếm khuyết, tạo ra sự vận hành nhịp nhàng, cân

đối và hiệu quả của các tiểu hệ thống và cả hệ thống xã hội nói chung.

Nhận thức về chức năng xã hội của báo chí truyền hình cũng có nghĩa là

đồng thời nhận thức về vai trò xã hội của nhà báo truyền hình để không ngừng

phấn đấu học tập và rèn luyện nhằm góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả tác

động của báo chí. Muốn có một nền báo chí quốc gia mạnh, hoạt động có hiệu lực

và mang lại hiệu quả xã hội cao nhất thiết phải có đội ngũ nhà báo mạnh. Tuy

nhiên, có đội ngũ nhà báo giỏi, chưa hẳn đã có được nền báo chí mạnh. Điều đó

còn phụ thuộc vào năng lực quản lý, phụ thuộc vào kỷ cương phép nước và môi

trường pháp lý.