intTypePromotion=1
ADSENSE

Cứu tinh dân tộc Việt - Hồ Chí Minh: Phần 2

Chia sẻ: Lê Na | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:166

116
lượt xem
20
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tài liệu Hồ Chí Minh - cứu tinh dân tộc Việtgồm các nội dung chính:Chủ tịch Hồ Chí Minh(1890-1969), Di chúc Bác Hồ;Từ Đầm Sen;Đi tìm đường cứu nước;Lãnh đạo cách mạng thắng lợi;Ra đi Bác dặn còn non nước;Cha mẹ, anh chị của Bác Hồ. Tài liệu là một Tài liệu vô cùng quý giá đối với những ai mong muốn được tìm hiểu và nghiên cứu về Bác. Với 240 câu chuyện được xâu chuỗi và phần Cha mẹ, anh chị của Bác Hồ với ngồn ngộn những sự kiện - giúp mỗi người dân Việt thêm hiểu, yêu quý vị Chủ tịch Hồ Chí Minh và truyền thống gia đình của Bác Hồ. Tài liệu gồm 2 phần, sau đây là phần 2. Mời bạn đọc cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Cứu tinh dân tộc Việt - Hồ Chí Minh: Phần 2

  1. 133. CHẠY NÀO! Đi đường với Bác Hồ thật là vui, vì được nghe những chuyện lạ, những lòi khuyên bảo nhẹ nhàng mà bổ ích. Lại có những chuyện bất ngờ thú vị. Nhớ lại chuyến đi Cao Bằng năm 1952 như sau. Hôm ấy, Bác cùng mấy cán bộ, chiến sĩ nghỉ đêm lại ở một bản bên đường. Bác cháu cùng nằm quanh đông lửa. Sáng hôm sau, tròi rét, anh em muôn nằm thêm, nhưng thấy Bác đã dậy, nên không ai dám liều. Bên ngoài sương mù dày đặc, hơi lạnh của núi rừng tỏa ra buốt cóng chân tay, anh em đểu không muôn đi sớm, Bác bèn hỏi: - Các chú có biết làm thê nào cho bớt rét không? Mọi ngưòi chưa biết trả lòi ra sao, thì Bác nói: - Bây giờ ta mặc áo vào rồi chạy thi, xem ai chạy nhanh và dai sức, như vậy thì khỏi rét và tranh thủ được thời gian. Thế rồi, Bác đứng lên trước, hô: - Chạy nào! Mấy Bác cháu vui vẻ chạy ào ra, gần một cây số thì Bác vượt lên trước. Nhà nhiếp ánh Đinh Đăng Định ráng sức bám theo, chụp được một “pô” ảnh hiếm có. Chạy chừng bôn cây số, ai nấy đều thấm mệt, ngưòi nóng rực lên. Bác ngừng chạy, bước thong thả, nhìn anh em, tươi cười và bắt đầu kê chuyện... (Theo Đinh Đăng Định) 134. BÁC CHO PHÉP CÒNG KÉNH ĐẠI TƯỚNG ò Đại hội liên hoan Chiên sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất (5-1952), vào giò nghỉ buổi chiều, Bác Hồ đến vui chơi vối các anh hùng, chiến sĩ thi đua. Dạo ấy, ở Việt Bắc có phong trào “Nông tác vũ”, mọi người tham gia nhảy múa cùng vui. Bác Hồ hô lên: - Các cô các chú chiến đấu, đã chiến đấu hăng, vui nhộn, phải vui nhộn mạnh. Nào, ta nhảy đi! Đám trai trẻ ùa ra quanh Bác, nhưng đám con gái còn rụt rè, đứng cụm lại, Bác bảo; - Các cô còn phong kiến thê à? Nhìn đám trai gái như đàn con trẻ, cầm tay nhau nhảy hát, Bác rất vui. Nhảy xong, mấy cậu bộ đội rối rít; - Bác cho phép các cháu làm kiệu công kênh Bác đi một vòng ạ! Bác cười khoan dung, rồi chỉ đại tướng Võ Nguyên Giáp đang đi tới: 195
  2. - Đấy kìa, các chú trông thấy không? Đại tiíớng của các chú sắp tới. Bác cho phép các chú công kênh đại tiíống của các chú đấy! Và trong lúc đám lính trẻ ùa đến phía đại tướng giữa tiếng hoan hô náo nhiệt, thì Bác Hồ ciíòi và đến trò chuyện với các đại biểu khác. (Theo Tú Aid) Bác Hồ và đại biểu Chiến s ĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất 135. ‘THẮNG KHỔNG KIÊU, BẠI KHỔNG NẢN” Tại Paris năm 1952, nhà văn Pháp Phi-líp Đò- vin-le có xuất bản cuô'n “Lic/ỉ sử Việt Nam từ năm 1940 đến 1952”. Khi nói đến Cách mạng tháng Tám 1945, sau khi nêu lên bức tranh toàn cục của Đông Dương, tác giả viết: '''Chắc, chắn cuộc cách mạng đó phải nổ ra và trên thực tế nó đã nổ ra, bởi vi cuộc cách mạng đó đã đưỢc một người chỉ huy chuẩn bị và thúc đẩy sự chín muồi của nó cách đây 20 năm." Tác giả còn viết: ‘''Nguyễn Ai Quốc là con người sáng suốt, luôn luôn thấy trước được vấn đề. Sự kiện ông lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội từ năm 1925 là ngọn lửa nhen nhóm đầu tiên góp sức cho sự bùng nổ cuộc Cách mạng tháng Tám - 1945. Sau ’ năm 1925 đến năm 1941, do sáng kiến của ông Nguyễn Ai Quốc mà Mặt trận Việt Minh ra đời, đóng vai trò rất quan trọng trong việc tập hỢp đông đảo quần chúng, thúc đẩy thêm tiến trinh của cuộc cách mạng." Tác giả nhấn mạnh: “Không phảiđến năm 1945, mà khi mới ngoài 30 tuổi, ông Nguyễn Ái Quốc đã Là một nhà hoạt động chính trị tích lũy đưỢc nhiều kinh nghiệm thành công và không 196
  3. thành còng. Nhờ đỏ ông đã nêu ra được phiùíììíị châm hoạt động cách mạng cho ông và những người cùng di theo ông: "Thắng không kièu, hại không nản". Với độ nhạy cảm chính trị rất cao, ông Hồ Chí Minh đã nghĩ n g a y đến mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước nói chung và nhất là V(H các nước lớn như Liên Xô, Trung Quốc, Mỹ, Pháp...” Tác giả phân tích độc lập và thông nhất đất nước là mục đích, là khẩu hiệu hành động của ông Hồ Chí Minh và Đảng của ông: "Độc lập và thống nhất của ông Hồ Chí Minh là thật sự cả nội dung và hình thức, nên được nhân dân Việt Nam triệt để ủng hộ. Độc lập và thống nhất gắn liền với nhau, không có độc lập thi không thể thống nhất đất nước đưỢc. Không thống nhất đất nước thi không thể có độc lập thật sự đư ợc’. Nhà cầm quvền của Pháp lúc đó coi Nam bộ là thuộc địa của Pháp rồi, nên âm mưa tách Nam bộ ra khỏi Việt Nam. Do đó có cuộc đấu tranh đòi không được tách Nam bộ ra khỏi Việt Nam vì Việt Nam là một nước thông nhất cả Trung Nam Bắc từ xa xưa. Tác giả ghi rõ câu nói kiên quyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 12-7-1946 tại cuộc họp báo của Hội nghị Phông-ten-nơ-blô đề cập vấn đề Nam bộ: "Nam kỳ cùng một tô tiên với chúng tôi, tại sao Nam kỳ lại không muôn ỏ trong đất nước Việt Nam ? Người Baxcơ (Basques), người Brơtôn (Breton) không nói tiếng Pháp mà vẫn là người Pháp. Người Nam kỳ nói tiếng Việt Nam, tại sao còn nghĩ đến sự cản trở việc thống nhất nước Việt Nam. Câu nói đanh thép đó không gi có thê lay chuyển nổi. Chính vi tinh hinh trên mà nhà cầm quyền Pháp không muốn thương lượng với Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề '‘độc lập và thống nhất". Tác giả Phi-líp Đờ-vin-le lại viết: “Cần phải công nhận một sự thật, một sự thật khá chua cay đối với một sô'nhà cầm quyền Pháp lúc đo. Nếu những người cộng sản có thê’lãnh đạo được phòng trào độc lập dân tộc, vì họ đã chuãn bị việc này từ lâu, bởi vì họ có những nhà lãnh đạo rất tài ba, rất sáriịỉ suốt do ông Nguyễn Ai Quốc phụ trách, biết thu hút mọi phần tử năng động của đất nước không muôn hy sinh một cach vô ich, mà săn sàng tham gia chống lại chế độ thực dân. đã biết thu hút đại đa sô thanh niên và trí thức đi theo cách mạng và tât cả dã hinh thành một lớp cán hộ mới cho một nước Việt Nam mới". (Theo N. Tiến Thông) 136. NGUYỄN THỊ CHIÊN - NGƯỜI NỮ ANH HÙNG Tham gia lực lượng du kích CUÔI năm 1946, Nguyễn Thị Chiên được chị em tín nhiệm bầu làm trung đội trưởng, hoạt động vùng chiêm trũng tỉnh Thái Bình. Trong một lẩn dẫn đưòng cho đồng chí Bí thư huyện uỷ và một sô" đồng chí lãnh đạo khác, chảng may chị bị địch bắt và tra tấn dã man. Những lúc đó, hình ảnh Bác Hồ lại hiện lên trong đầu óc chị, cắn răng chịu đựng, không khai báo một lòi và từ đó ước mơ được gặp Bác Hồ nhen nhóm trong trái tim chị từ những ngày gian khổ ấy. 197
  4. Năm 1952. Nguyễn Thị Chiên được vinh dự đón nhận Huân chương Quân công hạng Ba tại Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất (5-1952) tổ chức ỏ Việt Bắc. Đoàn của Thái Bình phải trèo đèo, lội SUÔI, xuyên rừng bằng đôi chân trần dưới nắng như đổ lửa cả mười mấy ngày liền, lại thêm gánh lương thực nặng trên vai, nên không khỏi mỏi mệt. Lòi động viên của đồng chí trưởng đoàn đã làm Bác Hồ với Anh hùng quân đội được tuyên dương tan biến bao nhiêu nhọc nhằn của anh chị em: - Các đồng chí cố gắng lên, chỉ còn một đoạn đưòng nữa là có thể đến nơi Bác Hồ ở. Thế rồi, nỗi ước mong của Nguyễn Thị Chiên đã thành sự thật. Biết anh chị em về dự Đại hội thi đua, Bác ra đến tận mỏm đồi đón đợi. Bác ân cần hỏi: - Các cô, các chú đi đường có mệt, có vất vả lắm không? Có cô nào, chú nào bị ốm dọc đường không? Đoàn cán bộ, chiến sĩ Thái Bình vô cùng xúc động. Bác lại căn dặn: - Hôm nay các cô, các chú đi đưòng mệt, hãy nghỉ ngơi. Ngày mai Bác cháu ta sẽ nói chuyện nhiều. Các cô chú không nên tắm vội, đi đường mệt, tắm ngay dễ bị cảm. Hôm sau, trong lúc mọi ngưòi chú ý lắng nghe từng lời của Bác, bỗng Bác hỏi: - Đoàn của Thái Bình đâu? Cô Chiên đâu? Không ai ngò Bác lại gọi đến tỉnh Thái Bình và tên ngưòi nữ anh hùng Nguyỗn Thị Chiên, cảm động quá, Chiên òa lên khóc. Thấy chị khóc, mọi ngưòi đứng hai bỏn đêu giãn ra. Chị chưa kịp bưóc đến thi Bác đă đến. Chị vội ôm chẩm lấy cánh tay Bác: - Thưa Bác... thưa Bác, cháu đây ạ! Chị muôn nói thêm, nhưng cổ nghẹn lại. Bác xoa đầu chị và âu yếm bảo: - Cháu kể chuyện cho Bác nghe về nhân dân vùng hậu địch. Mùa màng thê nào? Đời sốhg của bà con ra sao? Các cháu thiếu nhi có được đi học không? Chị không ngờ Bác bận việc nước như thế mà vẫn quan tâm đến bà con và đòi sống của nhân dân Thái Bình quê chị. Sau này, Nguyễn Thị Chiên may mắn được công tác gần Bác Hồ hơn. Có lần đưỢc ngồi ăn cơm cùng Bác, thấy chị rụt rè e ngại, Bác gắp thức ăn cho chị và động viên: - Cháu Chiên ăn khỏe vào, để có thêm sức lực mà làm việc nhiều cho kháng chiến. Kháng chiến chốhg Pháp thắng lợi, Bác cùng Trung ương Đảng, Chính phủ về Thủ đô. Vào những ngày lễ, Tết, chị lại vinh dự được gặp Bác. Lần nào gặp, Bác cũng thường hỏi: - Cháu Chiên học văn hóa đến lớp mấy rồi? Sức khỏe của cháu ra sao? Hằng ngày cháu có đọc báo và nghe đài không? Đọc báo cháu thích nhất mục nào? Năm 1957, Nguyễn Thị Chiên lập gia đình. Đến năm 1958, chị lại được gặp Bác. Bác hỏi về công tác và sức khỏe của cả hai vỢ chồng chị và Bác hỏi chị đã có tin vui 198
  5. chưa. Chị thưa V'ới Bác là chưa có tin vui, tliì Người khuyên nên đến y tê kiểm tra. Đên năm 1966. chị có thai, chị thưa với Bác tin này. Người rất vui rồi hỏi: - Hiện cháu làm công việc gì? - Cháu theo dõi phong trào dân quân tự vệ của bôn huyện ngoại thành Hà Nội. Bác hỏi các huyện xa cháu đi bằng gì. Chị thành thật thưa: - Thưa Bác, cháu đi bằng xe đạp ạ. Thế là năm ngàv sau, chị được bô' trí công tác ở Ban Tổ chức, theo dõi bô"n khu phô" nội thành để bảo đảm sức khỏe. Nguyễn Thị Chiên vô cùng xúc động vì biết rằng đây là sự quan tâm đặc biệt của Bác đối với chị. Bác thật là người ông, người cha dịu hiền của gia đình chị và của mọi nhà. (Theo Mai Binh An) 137. “CÁC CHÚ NAM BỘ NGỐl LÊN GẦN BÁC” Giữa tháng 11- 1952, đoàn cán bộ Nam bộ vượt đèo cao, dốc thẳm của núi rừng Trường Sơn thâm u và trùng điệp ra chiến khu Việt Bắc dự hội nghị vê chiến tranh du kích. Một buổi sáng, đưỢc tin Bác đến. Không được báo trước nên khi Bác xuất hiện, ai nấy đều bất ngờ. Bác xuất hiện, cả hội nghị đều đứng dậy chào Bác. Bác Hồ với các anh hùng và chiến s ĩ thi đua miền Nam Bác ra hiệu ngồi xuông. Câu đầu Bác hỏi: - Các chú có khỏe không? - Thưa Bác, chúng cháu khỏe ạ. Bác nhìn anh em dự hội nghị một cách trìu mến, nói: - Các chú nói vậy để Bác vui, có những chú không được khỏe lắm thì phải? Nước da tai tái. người hao gầy, chứng tỏ các chú đi đường xa tới đây vất vả, gian khổ lắm, nhất là những chú từ vùng sâu hậu địch, vượt qua bao lớp đồn bót giặc để có mặt như 199
  6. thê này. Hơn nữa, dân ta đang kháng chiến vất vả, thiếu thôn trăm bề, nên các chú càng thêm cực khổ... Bác mới nói có bấy nhiêu mà tất cầ anh em không cầm nổi nước mắt, Bác nói tiếp: - Bác vừa đi chiến dịch Tây Bác về. nghe tin có cuộc hội nghị chiến tranh du kích, Bác tranh thủ tới thăm động viên các chú. Bác nói chuyện tình hình chiến tranh, tình hình ta và địch, tình hình trong nước rồi thế giới, tương quan lực lượng giữa ta và địch, cuối cùng, Bác dặn; - Thòi gian không có nhiều, Bác chỉ tới thăm các chú trong chốc lát. Mong các chú cố gắng học hỏi nhau giữa các chiến trường. Để sau hội nghị này, lực lượng ta phát triển phong phú hơn. Kẻ thù có trăm mưu ngàn kê cũng nhất định phải chịu thua, cũng phải thất bại. Có đúng thế không nào? - Dạ thưa đúng ạ! Nói xong, Bác giơ tay chào tất cả và ra về, làm ai nấy hết sức lưu luyến đến bâng khuâng. Cuộc hội nghị về chiến tranh du kích kéo dài một tháng mới kết thúc. Đoàn cán bộ Nam bộ cũng như các đoàn khác còn phải dự tiếp lớp học chính thức 6 tháng, mà chủ đề chính là chiến tranh du kích. Lớp học sắp kết thúc thì được tin Bác đến thăm. Lúc ấy là vào giữa năm 1953. Khác với lần tối thăm trước, Bác hỏi chung tất cả mọi người. Còn lần này, vào đẩu Bác hỏi: - ơ đây các chú Nam bộ có đông không? Sô' anh em Nam bộ đều giơ tay lên để giới thiệu với Bác. Điều bất ngò đến cảm động là Bác yêu cầu lãnh đạo lớp học để sô" anh em Nam bộ ngồi lên đầu cho thêm gần Bác. Cử chỉ ấy làm cho sô' anh em Nam bộ vui sướng cảm động biết bao! Sau khi dồn đội hình theo ý Bác, Ngưòi nói: - Các chú Nam bộ ỏ xa xôi. Mai mot về trong đó lại càng xa xôi hơn, ít có dịp gặp Bác hơn các chú ngoài này. Bác cho phép như vậy là để các chú có dịp gần gũi Bác và Bác thì lại có dịp gần gũi đồng bào miền Nam thân yêu... Nói đến đây, Bác lặng trong giây lát. Rút chiếc khăn trong túi áo ra chấm nước mắt. Cử chỉ ấy của Người làm cho ai nấy đều lặng đi. Bác nói tiếp: - Sau mấy tháng học tập, các chú được bồi bổ thêm kiến thức mới về chiến tranh du kích rồi nhé. Điều cÔt yếu là vận dụng cho tốt, cho có hiệu quả. Các chú hãy đem kiến thức đã học phổ biến rộng rãi cho nhiều ngưòi, góp phần đưa cuộc kháng chiến của dân tộc tối thắng lợi. Bác chúc các chú thêm sức khỏe. Cho Bác gửi lòi thăm hỏi đồng bào, đồng chí khắp mọi miền mà các chú có dịp gần gũi, tiếp xúc. (Theo Trần Công An) 200
  7. 138. TRONG CƠN LŨ DỮ, BÁC VẪN đ ú n g hẹn Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba (khóa II) tháng 4-1952, đặt công tác chỉnh Đảng là công tác trung tâm vể xây dựng Đảng, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ của thòi kỳ mới, đưa cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp đến thắng lợi cuôl cùng. Tại một khu rừng sâu ven con suôi lốn ở xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, lớp chỉnh Đảng Trung ương khóa 3 khai mạc ngày 5-2-1953, ngay tại nơi Đại hội đại biểu toàn quôc lần thứ II của Đảng đã họp hồi đầu năm 1951. Lớp học đã hơn 3 tháng thì hiệu ủy thông báo: Lớp học sẽ bế mạc đúng kế hoạch vào ngày 19-6-1953, Bác Hồ sẽ đến dự và huấn thị. Ai nấy đều háo hức mong chóng đến ngày ấy. Bất thần, trời mưa tầm tã mấy ngày liền. Nước suối đổ về mạnh, thành lũ, nhanh chóng dâng cao và chảy xiết. Trước đấy, từ bò đi xuông qua bãi cát sỏi tới lòng suôi sâu nhất cũng chỉ đến đầu gối. Nay nước ngập bãi, đầy lên sát bờ, rộng ra gấp mấy lần, nom như một dòng sông nhỏ. Nước lũ đục ngầu cuôn băng băng những cành lá, những thân cây, những xác súc vật, đứng trông thấy rờn rỢn tưởng chừng như chỉ sẩy chân xuống là bị dòng lũ cuốn lôi cả mình trôi tuột theo. Xhìn dòng lũ hung dữ cuồn cuộn ấy, ai cũng ngao ngán quá chừng, không ai dám vượt qua suôi. Chỉ còn một ngày nữa là đến ngày bê mạc lớp học, liệu nước có rút được chút Iiào không? Mỗi lần đến thăm lớp học, Bác thường đến trưòng từ chiều tôi hôm trước. Xẩm tôì, có tin lan truyền: Lũ lớn quá, Bác không đến được! Hòm sau, lũ tiếp tục dâng cao và chảy xiết hơn. Sau bữa cơm chiểu, nước vẫn chưa rút bót, lũ vẫn chưa nhẹ đi mà có phần tăng lên. Lể bế mạc lớp học vần tiến hành. Ai cũng chán ngán vì sẽ ra về mà không được gặp và nghe Bác Hồ dặn dò, dạy bảo. Ca hội trường vô cùng sửng sô't nghe tin: “Bác Hồ vừa mới đến”. Mọi ngưòi cảm động và quá đỗi ngạc nhiên vì lũ lớn và dữ như thê mà Bác vẫn đúng hẹn, vẫn đến với đíin con cháu và tự hỏi: “Bác làm thế nào mà đến được?” Khi Bác bước vào hội trường, tiếng vỗ tay rộ lên lâu hơn mọi lần. Bác đã khoát tay ra hiệu im lặng mà tiếng vỗ tay vẫn không ngót. Còn Bác, Bác vẫn bình thản, cười hiền hậu thắm thiết, vẫn như mọi lần, Bác ôn tồn vào đề ngay: - Hôm nav, lớp chỉnh Đảng kết thúc. Bác dặn một điều: về bảo anh em xung quanh giữ bí mật; giữ bí mật nhiều điều (chỗ ở, công việc, đi lại...), vì địch tìm nhiều cách tấn công mình về quân sự, chính trị, kinh tế và cả bằng chiến tranh gián điệp... Nó biết mình nhiều hay ít, đêu là có hại. Bác thay mặt Trung ương cám ơn đồng chí Lương'" và các cán bộ đã giúp các cô, các chú học tập; cảm ơn các anh chị em tiếp tế đã làm cơm dẻo canh ngọt; cảm ơn đội báo vệ đã giúp Bác lội qua suôi mới đến đây được. (1) Là đồng chi Lê Văn Lương, ủy viên Bộ Chính trị BCH TW Đảng, phụ tràch lớp chỉnh Đảng. 201
  8. Sau đó, Bác nói vắn tắt, rõ ràng tình hình thê giới, tình hình nhiệm vụ trong nước và một sô" việc cần phải làm khi về địa phương. Bác biểu dương kết quả lốp chỉnh Đảng. Cuôi cùng, Bác nhấn mạnh: - Một ngưòi đảng viên bất kỳ ở hoàn cảnh nào, địa vị nào, công tác gì cũng phải làm kiểu mẫu. Trong công tác, phải điều tra nghiên cứu; việc quan trọng phải giữ vững nguyên tắc xin chỉ thị cấp trên, báo cáo thật thà thành tích và thất bại của mình; nắm vững chính sách, theo đúng đường lôi quần chúng, hết sức chống quan liêu, mệnh lệnh... Nếu Bác nói nhiều, các cô các chú đau đầu. Bác nói ít nhưng đủ, phải suy nghĩ... Hành động vượt qua lũ dữ - Bác đã lội đến tận ngực, vượt qua mấy con suôi đang cơn lũ dữ cuô"n lôi người đi, để làm nhiệm vụ đúng kế hoạch là một trong muôn nghìn hành động phấn đấu vì cách mạng quên mình, vì Đảng quên mình của Bác. Đó là một bài học sông cho mọi ngưòi ghi nhổ suôt đòi; Vì cách mạng quên mình, vì Đảng quên mình, không có lý do gì mà do dự thụt lùi. Hành động quên mình vượt qua lũ dữ vì nhiệm vụ ngày ấy cùng với muôn vàn hành động khác của Bác mãi mãi là tấm gương sáng. (Theo Trần Đức) 139. VỚI DIỆP MINH CHÂU 1- Họa sĩ Diệp Minh Châu ở Nam bộ ra, được Bác Hồ cho về ở cùng nhà trong chiến khu để sáng tác. Những lúc nghỉ việc, Bác thirờng đến xem vẽ. Một hôm, xem tranh, Bác nói: - Bác có ý kiến, chú đồng ý không? - Cháu xin Bác cho ý kiến ạ. Bác chỉ vào bức tranh, nói: - Chú vẽ nhà Bác chỗ này còn trôVig quá. Chú cho thêm con chó nhỏ vào đây nhé. Thường ngày nó vẫn nằm đây. Họa s ĩ Diệp Minh Châu vẽ B á c Hồ ở Việt Bắc năm 1951 Có ngưòi, có vật cho nó vui. Đe Bác giữ nó lại cho chú vẽ. Bác vuốt ve con chó nằm yên. Họa sĩ sỢ Bác mất thì giờ, bèn chấm màu vẽ qua một vòng làm dấu để sau này vẽ kỹ lại. - Thưa Bác, xong rồi ạ. Ợ) Họa sĩ Diệp Minh Chàu mất ngày 12-7-2002, thọ 83 tuồi, tại TP. Hô Chí Minh. 202
  9. - Không, chú cứ vẽ nữa đi, để Bác ngồi giữ nó lại đây cho... Con chó này là con của con chó mẹ béc-giê chính cống. Đêm nào hai mẹ con nó cũng nằm ngoài cửa hang canh chỗ ở của Bác. Một hôm, hố đến, chó mẹ xông ra sủa, bị hổ vồ mất. Chó con sỢ quá, chạy trôn vào rừng, mấy tháng sau mới trở về, to lón nhanh nhẹn và khỏe lắm. Nó lại nằm canh nhà cho Bác. Ngoài con chó, Bác còn nuôi một con khỉ và một con mèo. Không hiểu Bác huấn luyện th ế nào mà ba con vật vôn không ưa gì nhau, lại sông rất hòa thuân. Bác Hố xem tranh hoa sĩ Dièp Minh Châu vẽ _ ' , ■ Môi lần dời cơ quan đi đến nơi khác, thì khỉ nhảy phóc cưỡi lên lưng chó. Chó đi chậm, khỉ nắm tai giật giật, chó chạy sái. Khỉ gò lưng như người phi ngựa. Chó chạy tế, khỉ buông thõng hai tay, ngồi ngúc nga, ngúc ngắc, qua suôi, nước ngập lưng, khỉ ngồi lên đỉnh đầu chó. Còn con mèo đen trắng vừa chạy lững thững theo sau, vừa kêu ngao ngao... Ai trông thấy ba con vật cũng phải cười. 2- Năm 1951, gần đến ngày 19-5, hoạ sĩ Diệp Minh Châu vẽ chân dung Bác để làm quà mừng sinh nhật. Bên cạnh chân dung Bác, họa sĩ vẽ quốc kỳ các nước xã hội chủ nghĩa. Do có cảm tình vổi Liên Xô, nên họa sĩ vẽ quôc kỳ họ kê bên cạnh Bác, rồi mới đến Trung Quôc v.v... Bác xem tranh rất thích, ngắm một lúc lâu, lỉác ghé tai họa sĩ nói: - Chú Châu à! Bác có ý kiến này chú có đồng ý không? Thấy Diệp Minh Châu lặng im, Bác ôn tổn: - Liên Xô giúp ta từ trước đến nay, Đảng ta cũng theo chủ nghĩa Mác Lênin, sự gắn bó giữa hai nhà nước Việt Nam và Liên Xô đã đành rồi, tuy nhiên Trung Quốc củng giúp đỡ ta về nhiều mặt. Bác nghĩ không nên vẽ theo cảm tính, chú đặt cò Trung Quốc ỏ sau Liên Xô chưa ổn lắm, chú sắp theo thứ tự địa lý Trung Quốc rồi đến Liên Xô là tốt hơn cá, không ai trách được. Qua việc này, ta thấy về mặt chính trị, ngoại giao, Bác vồ cùng thâm thúy ngay cả những chuyện nhỏ. 3 - Cũng năm 1951, có một chuyện mà họa sĩ Diệp Minh Châu đã kể lại là sau cuộc họp Đại hội Việt Minh - Liên Việt, Bác chụp ảnh kỷ niệm chung Vổi các khôl Nam bộ, Việt Bảc, Khu 5, Phụ nữ, Thanh niên... Sau đó, Bác mời riêng các tu sĩ, linh mục, tăng lữ tập trung lại chụp với Bác một tấm kỷ niệm, khiến nhiều người có mặt ngạc nhiên. Sau khi chụp xong, Bác hóm hỉnh nói; 203
  10. - Nous sommes des contre nature - Đây là khôi... của những ngưòi đi ngược lại tự nhiên, Khối K.v. Mọi người hiểu “K .v tức là khòng vợ" nên cưòi ồ! (Theo Diệp Minh Châu) 140. NGƯỜI BẮT TƯỚNG ĐỜ CÁT Sáng 19-5-1954, năm chiến sĩ xuất sắc của các đơn vị đã từng tham gia chiên đấu tại chiến trường Điện Biên Phủ được vinh dự gặp Bác HỒ. Hôm ấy, Bác mặc hộ quần áo ka ki đã bạc màu cùng với các đồng chí lãnh đạo của Đảng và nhà nước đang đứng dưới tán lá cô thụ xum xuê. Mọi ngưòi quây quần bên Bác, sung sướng Bác Hồ gắn huy chương cho Hoàng Đăng Vinh như những đứa con lâu ngày mới được gặp cha, quên hết mọi lễ nghi và những điều đã được chuẩn bị từ mấy hôm trước. Thấy vậy, Bác nhắc: - Nào! Các chú ngồi cả xuô'ng, ngồi lại gần đây với Bác! Sau khi nghe các chiến sĩ xuất sắc lần lượt báo cáo thành tích trong chiến đấu. Bác rất vui và nhắc: - Các chú phải cười lên chứ! Cười lên để còn quay phim, chụp ảnh. Thấy anh em ngượng ngập trước ống kính của đạo diễn điện ảnh Liên Xô Các-men, Bác nói vui: - Chú nào cười trước, Bác sẽ lấy vợ trước cho. Anh em vẫn chưa dám cười to, Bác lại nói: - Chú nào cưòi to, Bác lấy cho vỢ đẹp. Thế là tất cả các chiến sĩ cùng cười thật to. Bác cũng cưòi và nụ cười của Bác rạng rỡ như xóa hết những nỗi ưu tư trên vầng trán rộng mênh mông của Người, rồi Bác ôn tồn nói: - Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác rất vui vì các chú đã giành thắng lợi ở Điện Biên Phủ. Thay mặt Trung ương và Chính phủ, Bác khen ngỢi toàn thể cán bộ, chiên sĩ ở mặt trận. Các chú đã lập công, nhưng chớ vì thắng lợi mà kiêu căng, tự mãn, chủ quan, khinh địch; phải luôn luôn sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao cho. 204
  11. Ngưng một lát, Bác nói tiếp: - Trước chiến dịch, Bác và Chính phủ có hứa sẽ thưởng Huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên Phủ” cho tất cả các chú đã tham gia chiến dịch. Bây giờ quân ta đã thắng, Bác thưởng mỗi chú một Huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên Phủ” và một Huy hiệu của Bác, các chú có phấn khởi không? Anh em đồng thanh trả lời: - Thưa Bác! Chúng cháu phấn khởi lắm ạ! Bác đứng dậy lấy Huy hiệu, còn các chiến sĩ thì đứng nghiêm chờ đợi. Trong số’các anh em, người ít tuổi nhất, bé nhất, đứng gần Bác nhất, lại có thành tích bắt sống tướng Đò Cát“’ là Hoàng Đăng Vinh, được Bác gắn Huy hiệu trước. Thoáng nhìn mái tóc bạc vàhơi thở của Người, Vinhthấy Bác vô cùng gần gũi; tim Vinh đập dồn dập khi bàn tay của Ngưòi gắn tấm Huy hiệu mang hình ảnh của Người lên ngực áo của mình. Vinh cứ đứng ngây ra, thấy vậy Bác nhắc: - Chú Vinh chào đi chứ! Vinh vội vàng làm theo lời Bác. Buổi chiểu hôm ấy, Bác mời năm chiến sĩ Điện Biên Phủ dự tiệc mừng chiến thắng và sinh nhật lần thứ sáu mươi tư của Người. Sau khi mòi khách nước ngoài cùng ngồi với Bác, Bác hỏi: - Chú Vinh! Chú Vinh có ở đây không? Nhìn khắp lượt hội trường, Bác lại hỏi: - Chú Vmh bát tướng Đơ Cát có ỏ đay khỏng? Vì quá bất ngò, Vinh lúng túng, tim đập mạnh và chưa kịp đứng dậy thì đồng chí trưởng đoàn vỗ vai Vinh giục: - Kìa Bác gọi! Chú Vinh thưa lên đi chứ! Vinh run run đứng dậy và Bác lại gọi: Lên đây! Chú lên đây với Bác. Bác chi’ tay vào chiếc ghế bên phải nói: - Chú ngồi đây ăn cơm với Bác! Vậy là Vinh rất sung sướng được ngồi sát bên phải của Bác, đôl diện vối các vị khách nước ngoài. Bác giới thiệu Vinh với họ bằng tiếng nước ngoài, tuy không hiểu nhưng Vinh thấy họ nhìn mình với ánh mắt khâm phục. (Theo Hoàng Đăng Vinh) (1) Hoàng Đăng Vinh củng vời chiến sĩ Luật và chiến sĩ Nhỏ bắt sống tướng Đò Cát. Sau này. Hoàng Đãng Vinh kể: “Khi vào hầm tưởng De Castries, tất cả quân linh đầu hàng, riêng tưởng De Castries thi không, tôi đi một bước, hắn lùi một bước, đến chăn tường thi hắn ngồi im, nhất định không chịu đẩu hàng. Sau khi đọc lệnh bắt tướng De Castries, tôi đưa tay ra bắt hắn, hắn đưa tay lên để bắt tay. lúc đó tôi rất lúng túng không biết làm gi. Tôi quát to và giơ súng, tưóng De Castries nói một tràng tiếng Phấp: Xin các ông đừng bấn, tôi xin đầu hàng" và giơ tay đáu hàng. 205
  12. 141. TẤM LÒNG NHÂN ÁI, Vị THA Sau khi quân Pháp rút khỏi Hà Nội, trên đường công tác, Bác Hồ ghé thăm một làng nhỏ, nguyên là làng nằm trong vùng du kích của ta. Đồng bào, già trẻ, trai gái ùa ra đón Bác. Bác hỏi thăm, trò chuyện với mọi người và chia kẹo cho các cháu nhỏ. Một cháu gái chừng năm sáu tuổi, tay cầm kẹo, đứng nhìn Bác không chớp mắt. Bác âu yếm bảo: - Ãn kẹo đi cháu. - Cháu để phần mẹ cháu. Một cán bộ cùng đi vổi Bác liền lấy thêm một phần kẹo trao cho cháu và nói: - Cháu ăn phần kẹo này, còn phần kia dành cho mẹ. Cháu bé vẫn không ăn, trân trân nhìn Bác, Bác lại nhắc: - Cháu ăn kẹo đi. - Cháu chờ mẹ cháu cùng ăn ạ! Nghe cháu nói dễ thương, Bác Hồ cúi vuốt tóc cháu, hỏi: - Cháu tên là gì? - Mẹ cháu gọi cháu là Chiến. Bác gật đầu, nhắc lại: - Tên cháu là Chiến? - Mẹ cháu bảo phải đuổi hết giặc đi mới sông được, nên gọi cháu là cái Chiến. Bác kéo cháu bé vào lòng. Một cụ già bèn kể cho Bác nghe tình cảnh của giađình cháu. Ông cháu bị Pháp bắt đi phu, không trở về. Bố”cháu bị Pháp giếtkhi cháu vừa ra đời. Mẹ cháu vừa sản xuất, nuôi con, vừa tham gia đánh giặc, vì vậy cháu rất quý mẹ. Bác Hồ rất xúc động, khuyên bà con chăm sóc các cháu và các gia đình liệt sĩ, thương binh. Nghe cụ già kể chuyện gia đình mình với Bác Hồ, bé Chiến như muốh nói điều gì. Mãi đến lúc Bác Hồ sắp đi, cháu mới níu lấy tay Bác, hỏi: - Bác ơi, cháu lốn lên còn giặc để đánh không? - Bác chỉ muôn các cháu được học hành, lớn lên xây dựng đất nước. 206
  13. Có lần.
  14. Đến lúc quân Mỹ lăm le đánh phá miền Bắc Việt Nam, nhà báo Bưốc-sét lại có dịp qua Hà Nội, gặp Bác Hồ. ô n g muốn biết ý kiến của Bác về điều mà báo chí Mỹ làm rùm beng, Hồ Chủ tịch lại cười, đáp: - Tôt hơn hết là ông bạn nói việc đó với đồng chí Võ Nguyên Giáp. Nhưng ý kiến đó (tức việc Mỹ định đánh miền Bắc) làm cho tôi nhớ lại hình ảnh một con chồn mắc một chân vào bẫy. Nó bắt đầu giãy giụa để tìm cách thoát, thì úp, một chân thứ hai lại mắc vào một chiếc bẫy khác. Sau đó, Bơớc-sét gặp đại tướng Võ Nguyên Giáp, đọc đoạn trích báo Mỹ chế nhạo “Tướng Giáp là tín đồ của chiến tranh nhân dân với một đội quân trang bị bằng những vũ khí cũ lấy được ở Điện Biên Phủ”. Với nụ cưòi mỉa mai, đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: - Hãy để cho họ thử. Chúng tôi sẽ tiếp đón họ nơi nào chúng tôi gặp họ với những vũ khí hiện đại mà các đồng chí chúng tôi ở miền Nam không có. Nhưng rồi họ cũng sẽ tự thấy mình mắc vào cuộc chiến tranh nhân dân. (Theo Bơớc-sét) 143. ĐÓN BÁC VỀ Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cao cấp cùng các cơ quan Trung ương, Chính phủ rời căn cứ địa Việt Bắc về tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Đồng chí Lê Thanh Nghị được Trung ưdng giao thành lập một tổ công tác tiền trạm để gấp rút tiến hành những công việc chuẩn bị đón Bác, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cơ quan Trung ương, Chính phủ vể Hà Nội. Tổ công tác tiền trạm gồm các đồng chí Tạ Quang Chiến, Phan Văn Xoàn, Quách Quý Hợi, Nông Đức Chiến, Tạ Đình Hiển. Kế hoạch bảo vệ được nhanh chóng xây dựng, tính toán từng trạm nghỉ dừng chân, địa điểm ăn ở và làm việc của Bác... Sau khi hoàn thành nhiệm vụ tiền trạm, tổ công tác được lệnh quay lại chiến khu Việt Bắc để đón Bác Hồ về Hà Nội. v ề tới thôn Vai cầy, xã Văn Lang, huyện Đạ: Từ, Thái Nguyên, Bác triệu lập toàn bộ cán bộ, chiến sĩ bảo vệ và phục vụ đế căn dặn trước khi về thành phố Hà Nội: 208
  15. - "Bác cháu ta từng quen chịu đựng gian khổ, nay về Hà Nội địch chiếm đóng lâu năm đầy rẫy những cánh sông xa hoa, trụy lạc nên dễ nảy sinh thèm muốn hường thụ. ơ thành thị tinh hình phức tạp, có nhiều sự quyến rủ làm cho người ta mê muội, hủ hóa, trụy lạc. Đê tránh những cạm bẫy nguy hiểm ấy, để làm tròn nhiệm vụ cao quý của quân đội nhân dân, toàn thể cán hộ và chiến sĩ ta phải ghi nhớ: Chớ tự kiêu tự mãn. Chớ cờ hạc rượu chè, trai gái, hút thuốc phiện. Chớ để lộ bí mật. Chớ xa xỉ, tham ô, lăng phí. Phải kính trọng nhân dân, giúp đỡ nhân dân, đoàn kết với nhân dân. Phải khiêm tốn, nghiêm chỉnh. Phải giữgin tính chất trong sạch, chất phác của người chiến sĩ cách mạng. Phải thực hiện cần kiệm, liêm chính. Phải làm đúng 10 điều kỷ luật. Phải luôn luôn cảnh giác và phải thực hiện tự phê bình và phê binh để tiến hộ không ngừng!' Lời dạy của Bác có ý nghĩa giáo dục vô cùng to lớn đối với lực lượng vũ trang nói riêng và đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung. Trong những ngày lưu lại ở thôn Vai cầy, Bác đến thăm Đền Hùng tại xã Hy Cvíơng, huyện Lâm Thao (nay là huyện Phong Châu - Phú Thọ). Tại đây, Bác nói chuyện với Đại đoàn 308 - Đại đoàn quân tiên phong. Bác đã căn dặn: - '"Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước". Nói chuyện xong, Bác thăm Đền Hùng và trở lại Vai cầy, nơi dừng chân CUÔ1 cùng ỏ căn cứ địa Việt Bắc trước khi về tiếp quản Thủ đô. Ngày 12-10-1954, Bác rời Đại Từ về Sơn Tây và hai ngày sau Bác về Hà Nội ở tại ngôi nhà trong nhà thương Đồn Thủy, rồi về ở tại căn nhà hai gian vốn là nơi ở của người thợ điện bỏ không, sau khi từ chối ý định của Trung ương mòi Bác về ở tại Phủ Chủ tịch. Ngày 16-10-1954, tại Bắc Bộ Phủ, Bác có buổi tiếp chuyện thân mật với các đại biểu nhân dân Thủ đô. Đây là lần đầu tiên kể từ năm 1946. Mở đầu cuộc gặp gỡ, Ngưòi nói: - "Sau tám năm bận việc kháng chiến, hôm nay tôi rất vui mừng lại gặp bà con Thủ đỏ. Đống hào Hà Nội chuẩn bị đón tôi thật tưng bừng, tấm thịnh tinh đó tôi rất cảrh động. Nhưng tôi không muốn đồng bào bỏ nhiều vải vóc, giấy màu vào việc viết khẩu hiệu, làm cờ. Tôi không rõ việc đó sẽ gây tốn kém bao nhiêu là tiền bạc. Lãng phí hơn nữa là mấy chục vạn người mất cả một ngày vi tôi. Thời gian xa cách đâu phải ngắn, ta củng nên gặp mặt nhau, nhưng còn rất nhiều dịp. Việc quan trọng nhất trước mắt chúng ta là sản xuất khôi phục, khôi phục sản xuất. Nếu mọi người thật sự hoan nghênh Đảng và Chính phủ trở về, thi hãy đem cái tỉnh thần quý báu đó vào các công việc nêu trên... ... Nhân dân Thủ đô ta có truyền thống cách mạng vẻ vang và lòng nồng nàn yêu nước, tôi chắc rằng đồng bào Thủ đô sẽ hăng hái phấn đấu làm cho mọi ngành hoạt động của Thủ đô ngày thêm phát triển, để làm gương mẫu, để xây dựng một đời sống sung sướng, tươi đẹp thái binh mãi mãi cho con cháu chúng ta." (Theo Nguyễn Đức Quý vá Đỗ Hoàng Linh) 209
  16. 144. CÁC VUA HÙNG VÀ BÁC CHÁU TA “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước '. Đó là câvi nói lịch sử của Bác Hồ dặn dò Đại đoàn 308 tại Đền Hùng ngày 19-9-1954, trước khi vào tiếp quán Thủ đô Hà Nội. Không chỉ dân Hà Nội, mà nhân dân cả nước, mỗi lần kỷ niệm ngày Giải Bác Hổ nói chuyện với các chiến s ĩ ở Đền Giếng phóng Thủ đô (10- 10-1954), đều nhớ đến lời chỉ bảo thiêng liêng của Bác. Những ngày này, ca khúc Tiến về Hà Nội của nhạc sĩ Văn Cao lại rộn rã, tưng bừng tiếng hát lòi ca, điệu nhạc bay bổng reo vui khắp phô' phường với niềm tự hào, kiêu hãnh ‘Wăm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về... Như đài hoa đón mừng nở năm cánh chào..." Đoàn quân từ năm cửa ô rầm rập hùng dũng tiến quân vào tiếp quản Hà Nội là Đại đoàn 308 Quân Tiền Phong - một Đại đoàn chủ lực được thành lập đầu tiên của quân đội ta, trong đó có Trung đoàn Thủ đô là đơn vị chiến đấu giữ thành phô' Hà Nội ròng rã 60 ngày đầu Toàn Quốc kháng chiến cuối năm 1946. Trên đường về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, ngày 19-9-1954, một đoàn đại biểu cán bộ, chiến sĩ của Đại đoàn 308, do đồng chí Song Hào (bí thư Đảng ủy - Chính ủy Đại đoàn) dẫn đầu, đến gặp Bác Hồ tại đền Hùng"*, để nghe Bác ân cần căn dặn, chỉ bảo nhiệm vụ. Bác nói: (1) Ngày 19-8-1962, lần thứ hai Bác thăm đền Hùng, sau khi thăm HTX Nam Tiến (Cao Mại, Phong Châu), thăm Nhà mày xu-pe phốt phát Lăm Thao. Bác và các đống chí cùng đi đã nghỉ, ăn cơm nắm và nghỉ trưa tại Đền Thượng trên đỉnh núi (Theo Quỳnh Cư). - Ngày 18-9-1954 Bác Hổ đến thăm Đền Hùng. - Bác Hồ và càc đồng chi cùng đi ngủ tại Đền Giếng 1 đêm. Sáng hóm sau (19-9-1954) Bác nói chuyện vời cán bộ từ cấp đội trỏ lên của Đại đoàn quân tiên phong (sư đoàn 308) tại sản đền (Giếng). “Ngày xưa các vua Hùng đã có công dựng nước Ngày nay Bác cháu ta phải giữ lấy nước" Phan Bà Khiêm Trưởng ban quản lý khu di tích Đền Hùng 210
  17. - Hóm nay ^ặp các cháu ở Đền Hùng có ý nghĩa rất to lớn, vì vua Hùng là một vị khai quốc. Nhiệm \-ụ tiếp quản Thủ đô của Đại đoàn là rất quan trọng và rất vinh dự, từ trước đến nav, các chiến dịch, Trung ương và Bác vẫn chú ý theo dõi hoạt động của Đại đoàn, nhưng lần này vào Hà Nội, Trung ương và Bác càng quan tâm hơn. Rồi Bác dặn đủ thứ, kể cả cần tránh kẻ thù chính trị (viên đạn bọc đường); Giữ gìn tố chức kỷ luật, trật tự an ninh; Phải bảo vệ công thương nghiệp; Phải chú ý học tập, phải đoàn kết rộng rãi.... Vê thi đua lập công, Bác đã dạy: - Trong hòa bình, cũng có thể lập được công, như giúp dân chông lụt, chống bão, tăng gia sản xuất. Phải ra sức học tập kỹ thuật, chiến thuật quân sự đê xây dựng lực lượng quân đội mạnh. Mục kích để trở thành một chiến sĩ quân đội cách mạng. ...Nhiệm vụ giải phóng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ta còn rất nặng nề và quan trọng. Các cháu đã thấy: “Các vua Hùng đã, có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước". Lòi giáo huấn đó đã hơn bốn thập kỷ qua và Bác đã đi xa hơn ba thập kỷ, nhưng lời của Ngưòi vẫn mãi vang vọng núi sông, khắc ghi sâu đậm tâm hồn các thế hệ nôi tiếp trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, để xứng đáng với các vua Hùng đã có công dựng nước. (Theo Song Hào) 145. SỐ PHẬN NHỮNG “CÔ TẤM” Lúc chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn, một buổi tối ở ATK (An toàn khu), Bác Hồ và ĩnột phóng viên Liên Xô đi xem văn công diễn vở “Chị Tâm - Anh Điển” về, cùng n^^ồi nói chuyện với mấy cán bộ, thanh niên. Bác kể lại: - Dạo ấy, Bác lên bảy, lên tám gì đó, trong làng có ngưòi con gái đi ở bị nhà chủ hanh hạ cho đến chết. Nhân đó, Bác được bà mẹ kể cho nghe chuyện “Tấm Cám". Bác rất xúc động, ước mình có phép như ông Bụt đế cứu những ngưòi con gái nghèo khổ trong làng... Sau này, Bác được biết thêm nhiều chuyện của các nước có nội dung tương tự như "Lọ Lem" của Pháp, ''Người ăn mày vàng” của Nga, “ßo vàng” của Triều Tiên... Bác xoay qua nói với anh bạn phóng viên: - Thì ra trên thế giối này, sô' phận những cô Tấm, những người con gái lao động nghèo khổ, nhân hậu ở mọi nơi đều có những nét chung giống nhau. Nhân dân lao động dù ở châu Âu, châu Á hay châu Phi, Khu vực Á Rập cũng đều có những sô" phận đáng cay như nhau và đều có mơ ước chung vươn tới một cuộc đời tôt đẹp. Bác nhắc đến vụ quân Pháp tàn sát phụ nữ trẻ em ở chợ Cháy (Hà Đông) và những tin tức về phụ nữ vùng tự do hăng hái sản xuất đi dân công phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, rồi nói tiếp: 211
  18. - Mọi sự so sánh đều què quặt. Nhưng nếu đứng về một mặt nào đó thì Đảng ichúng tôi bây giò cũng đang đóng vai trò một ông Bụt - ông Bụt trong tưởng tượng của nhân dân có đủ phép mầu nhiệm giúp đỡ người đòi... Bác Hồ như mơ màng, nhớ lại câu chuyện ông Bụt thời thơ ấu. (Theo Trương Thị Kim Dang) 146. CÓ MỘT ■ NHÀ PHIÊN DỊCH • LẠ• THƯỜNG Một tờ báo ở Hồng Kông có bài viết về ba nhà ngôn ngữ cự phách thời hiện đại; ông Gu-lích, người Ba Lan am tường 14 tiếng nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh rành 12 thứ tiếng ngoại quốc, ông Tiền Chung Thư, người Trung Quốc biết ít nhất 8 ngoại ngữ. “Cụ Hồ Chí Minh là nhân vật chính trị quốc tế. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, phương Tây mới hiểu đúng đắn và triệt để về lãnh tụ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Và cũng từ nhân vật Hồ Chí Minh với chiến dịch Điện Biên Phủ, Việt Nam trở nên lừng danh thếgiới. Sau thắng lợi lừng lẫy ở Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức một buổi chiêu đãi có khá nhiều vị khách quốc tê đến dự. Nỗi khổ tâm của khách là sự hất đồng ngôn ngữ. Nhiều người Nga không biết tiếng Pháp, nhiều người Trung Quốc không nghe được tiếng Anh... Lúc ấy rất thiếu người phiên dịch và dường như chỉ có người Việt Nam phiên dịch Tiếng tháp. Trước tinh hinh như vậy. Bất ngờ Chủ tịch Hồ Chí Minh đích thân phiên dịch nhiều thứ tiếng. Nếu không gặp tinh huống này, có lẽ người ta không biết vị lãnh tụ của Việt Nam thông thạo nhiều ngôn ngữ đến thế. Mọi người ngạc nhiên vi đây là một nhà chính trị, nhà quản sự miệt mài nơi rừng Việt Bắc, lại nói lưu loát các thứ tiếng Trung, Anh, Pháp, Nga... Người nói trôi chảy, tự nhiên và rất chuẩn. Tài ngoại giao của Người khôn khéo ưà linh hoạt. Trong sô' các vị lãnh tụ trên thế giới, đây là hiện tượng hiếm có. Chính cuộc đời hoạt động sôi nổi ở nhiều nước, tạơ điểu kiện để lãnh tụ Hồ Chí Minh tiếp xúc với nhiều ngoại ngữ. Phải thừa nhận rằng cụ Hồ Chí Minh là một thiên tài ngôn ngữ. Hồ Chí Minh có thể nói chuyện bằng tiếng Nga với Stalin. thảo luận với Mao Trạch Đông bằng Trung văn, trao đổi ý kiến với các nhà lãnh tụ Đảng Cộng sản Pháp bằng tiếng Pháp, trả lời với các nhà báo bằng tiếng Anh... Quả thật, có thể xếp Hồ Chí Minh vào hàng cự phách trong lãnh vực ngôn ngữ một cách xứng đáng, đầy tự hào". (Theo NT) 212
  19. 147. THĂM VẠN LÝ TRƯỜNG THÀNH Tháng 7 - 1955, Bác Hồ dẫn đầu đoàn đại biểu Chính phủ ta đi thăm các nước Liên Xô, Trung Quốc. ở Trung Quô'c, Bác và các đại biểu đi thăm Vạn Lý Trường Thành. Sau vài chặng đường quanh co bên sườn núi, dọc lôl Trường Thành, đưòng càng dốc. Mọi người thấm mệt. Đến chỗ nghỉ, các bạn Trung Quốc tỏ ý áy náy về sức khoẻ của Bác, đề nghị dừng chân ở đây, nghỉ ngơi, ngắm cảnh, rồi xin Bác trở về. Bác cười, bảo: - Có mỏi chân thật, nhưng chúng ta vẫn cô' gắng đi đến cái chòi kia như chương trình đã đặt ra. Ai mệt, cần nghỉ thì đi sau. Nào, đi cho tới đích! Nói xong, Bác đứng vậy, bước lên. Mọi người hào hứng theo sau. Tới cái chòi canh ngày xưa, nay được tu sửa lại, gọi là “Lầu đón gió”, Bác và đoàn ngưòi dừng chân. Từ đáy mọi người có thể nhìn bao quát được toàn cảnh một vùng rộng lớn tận nơi xa tắp dọc Trường Thành. Ai nấy đều thích thú trước cảnh núi non tươi đẹp, hùng vĩ.. Bác cười vui nói: - Nếu dừng lại dưới kia thì sao thấy được cảnh ở đây mà cảm xúc? Rồi Bác lấy bút đề thơ. Bài thơ bằng chữ Hán dịch ra như sau: "Nghe nói Trường Thành vạn dặm trường, Chạy từ Đông Hải đến Tây Cương Hàng hao nhiêu triệu người lao động Xây đắp thành này trấn mổt phương". (Theo Vũ Kỳ) 148. CHIẾC MŨ CỦA BÀ TỐNG KHÁNH LINH Ta thường thấy trong hình hay trong phim thời sự Bác Hồ đội một cái mũ kiểu nón cỐl vành rộng, đánh phấn trắng. Chiếc mũ đã rất cũ. Nắng mưa đã làm phai hết cả phấn trắng. Khi trở về Thủ đô 1955, đứng trên lễ đài tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Bác cầm chiếc mũ ấy vẫy đồng bào, cán bộ, chiến sĩ... diễu hành qua lễ đài. Đi thăm các tỉnh, các đơn vỊ bộ đội, tham gia chông hạn ở Hà Tây... Bác luôn luôn đội chiếc mũ ấy. Chiếc mũ cũ kỹ đã lộ ra lớp vải phủ nên không còn trắng nữa mà đã ngả màu nâu. Khi Bác lãnh đạo đoàn Đại biểu Đảng, Chính phủ ta đi thăm Trung Quốc, Liên Xô và các nước XHCN tháng 7 -1955, có ngưòi để nghị sắm cho Bác một chiếc mũ mới, 213
  20. nhưng Bác không chịu. Bác bảo đem chiếc mũ rất cũ ấy giặt sạch và đánh phấn tráng. Khi cầm chiếc mũ được đánh phấn trắng tinh, Bác rất vui, nói: - Cái cũ bỏ đi thì uổng. Cái gì cũ kỹ mà ta biết giữ gìn, sửa sang thì cũng thành cái mới. Khi đoàn đến thăm Bắc Kinh, ra đón có Chủ tịch Mao Trạch Đông và Phó Chủ tịch Tống Khánh Linh. Bác cùng bước lên xe mui trần với bà Tông Khánh Linh. Bác cũng vẫy mũ đáp lại nhân dân đứng hai bên đưòng vẫy cò, hoa chào đón đoàn ta. Tròi nắng, bà Tông Khánh Linh đầu trần, còn Bác thì vẫn đội chiếc mũ trắng ấy. Thấy vậy, Bác bèn giở mũ ra, chụp lên đầu bà Tông Khánh Linh và nói: - Bây giờ chiếc mũ lại trở về với chủ của nó. Nghe chuyện này, anh em cùng đi xe với Bác hôm đó hỏi thì được Bác cho biết: Chiếc mũ đó do bà Tông Khánh Linh tặng cho Bác năm 1927 ở Thượng Hải, khi Bác từ Quảng Châu lên đường trở qua Liên Xô vì bọn Quốc dân Đảng Trung Quốc phản bội cách mạng, truy bắt những ngưòi cách mạng, kể cả Nguyễn Ái Quốc. Thì ra chiếc mũ ấy là kỷ vật trong cuộc đòi hoạt động cách mạng của Bác. (Theo Vũ Kỳ) 149. NGHỆ• SĨ LÊ THANH GẶP ■ BÁC Hồ Khán giả yêu thích cải lương ỏ Hà Nội đều biết tiếng và tỏ lòng mến mộ nghệ sĩ ưu tú Lê Thanh. Lê Thanh sinh năm 1927, là bạn diễn và bạn đòi của đạo diễn cải lương có uy tín ở đất Bắc Hà là nghệ sĩ Ngọc Dư. Nghệ sĩ Lê Thanh vói những vai diển nôi tiếng: Lục Vân Tiên trong "Kiều Nguyệt Nga”, Trưng Trắc trong “Trưng Vương", mẹ Thảo trong “Bà mẹ sông Hồng", bà mẹ Cam-pu-chia trong “Hai phương trời thương nhđ'... cùng với hàng trăm vai diễn khác trên sân khấu cải lương Thủ đô suốt mấy thập niên qua. Trong cuộc đòi nghệ thuật, người nghệ sĩ tài ba ấy đã có những lần được vào Phủ Chủ tịch hát phục vụ Bác Hồ. ★ Lần đầu tiên, C U Ô I năm 1955, một vinh dự lớn lao đôi với Lê Thanh. Đứng trước Bác, càng bồi hồi xúc động, không biết hát, diễn thế nào cho hay. Đôi chân cứ díu lại. Thấy vậy, Bác thân mật động viên: - Nghệ sĩ phải là chiến sĩ. Đã là chiến sĩ, phải dũng cảm đấy nhé! - Thưa Bác... Vâng ạ! Rồi Bác ân cần hỏi tiếp: - Cô đã lập gia đình chưa? Lê Thanh nhỏ nhẹ: - Dạ, thưa Bác, cháu đã có hai con rồi ạ! Bác bảo: 214
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2