intTypePromotion=1
ADSENSE

ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU MẠCH MÁU THẬN

Chia sẻ: Van Tien | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:27

354
lượt xem
42
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đặt vấn đề: Phẫu thuật về mạch máu cuống thận rất quan trọng, trong khi việc mô tả hệ thống động mạch – tĩnh mạch ngoài thận vẫn còn khảo sát rất ít, nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với hy vọng cung cấp cho các nhà phẫu thuật có thêm những thông tin về mạch máu đoạn ngoài thận. Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm giải phẫu học mạch máu thận trong cuống thận và rốn thận ở người Việt nam trưởng thành nhằm ứng dụng trong các phẫu thuật mạch máu thận đoạn...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU MẠCH MÁU THẬN

  1. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU MẠCH MÁU THẬN TÓM TẮT Đặt vấn đề: Phẫu thuật về mạch máu cuống thận rất quan trọng, trong khi việc mô tả hệ thống động mạch – tĩnh mạch ngoài thận vẫn còn khảo sát rất ít, nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với hy vọng cung cấp cho các nhà phẫu thuật có thêm những thông tin về mạch máu đoạn ngoài thận. Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm giải phẫu học mạch máu thận trong cuống thận và rốn thận ở người Việt nam trưởng thành nhằm ứng dụng trong các phẫu thuật mạch máu thận đoạn ngoài thận. Phương pháp: Mô tả nghiên cứu cắt ngang với 34 xác ướp formole người Việt nam trưởng thành tại bộ môn Giải phẫu học trường ĐH Y Dược thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả: Có 64 quả thận với tất cả 69 ĐM thận chính thức (phân chia thành 324 nhánh đi vào rốn thận) và có 68 TM thận chính thức (được hình thành từ 143 nhánh TM từ rốn thận đi ra). Tỉ lệ xuất hiện ĐM cực trên khá cao (45,32%), ĐM cực dưới lại thấp (3,12%). Có đầyđủ các dạng ĐM thận mà các tác giả khác đã từng công bố. Thận có 1 TM chiếm tỷ lệ cao.
  2. Kết luận: Đa số bất thường ĐM thận xảy ra nhiều hơn TM thận. Sự thay đổi của TM thận cũng không nhất thiết phải đi kèm với sự thay đổi của ĐM thận và ngược lại. Nếu không đa dạng ĐM thận chính thức thì sẽ có sự xuất hiện đa dạng ĐM cực trên của thận với tỷ lệ xuất hiện cao. Không gặp trường hợp nào trong cùng một người có đa ĐM và đa TM xảy ra đồng thời trên 2 cuống thận. ABSTRACT Background: The surgery of hilum and pedicle of kidney is important, but the description of anatomical characteristics of renal vessels is still little. Therefore, we carried out the study to provide the surgeon with more information. Aim: Describe anatomical characteristics of vessels in hilum and pedicle of the Vietnamese kidney to apply for renal surgery. Material and Method: We conducted a cross sectional descriptive study in 34 corpses at Anatomy Department of University of Medicine and Pharmaceutical of HCMC. Result: There are 64 kidneys with 69 arteries (which are divided into 324 branches) and 68 veins (which are made of 143 branches). The appearance rate of upper polar arteries is quite high (45.32%), whereas the
  3. appearance rate of lower polar arteries is low (3.12%). All forms of renal arteries present as other authors had stated. There is a high rate of appearance of kidneys with one renal vein. Conclusion: Most anomalies of renal vessels happen more frequently in renal arteries than in veins. The variation of renal veins does not necessarily go with the variation of renal arteries and vice versa. If there is no anomalous renal arteries, the appearance rate of upper polar arteries is high. No anomalies of arteries and veins exist in two pedicles of kidneys in the same body. ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh lý ngoại khoa về thận (sỏi bể thận, chấn thương thận, ung thư thận...) ở nước ta rất thường gặp và có nhiều bệnh nhân cần can thiệp điều trị bằng phẫu thuật với ít nhiều tai biến, biến chứng trong và sau mổ vì gặp phải những thay đổi đa dạng của hệ thống mạch máu này. Bên cạnh đó, cùng với xu hướng phát triển nhanh của phẫu thuật ghép thận trong những thập niên 1970 đến nay9,13,16, nền Y học Việt nam cũng đã ghép thận được hơn 100 trường hợp. Mặc dù có rất nhiều tài liệu đề cập đến giải phẫu học về thận nói chung17, việc mô tả hệ thống động mạch – tĩnh mạch ngoài thận vẫn còn nghiên cứu rất ít, nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với hy vọng đưa ra kết quả nhằm cung cấp cho các nhà phẫu thuật có thêm những thông tin để
  4. tham khảo, đồng thời bổ sung cho ngành hình thái học và sách giáo khoa về số liệu sinh học của thận ở người Việt nam. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát Mô tả một số đặc điểm giải phẫu học mạch máu thận trong cuống thận và rốn thận ở người Việt nam trưởng thành nhằm ứng dụng trong các phẫu thuật mạch máu thận đoạn ngoài thận. Mục tiêu chuyên biệt Mô tả số lượng, hình dạng và kích thước của động mạch (ĐM) thận và tĩnh mạch (TM) thận trong cuống và rốn thận. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang. Mẩu: Lấy mẩu theo cách thuận tiện và ngẩu nhiên 34 xác ướp formole người việt nam trưởng thành tại bộ môn giải phẫu học trường đh y dược thành phố hồ chí minh. Tiêu chuẩn loại trừ: những xác có sẹo mổ vùng bụng thắt lưng, xác có bệnh lý vùng hệ niệu (niệu quản dãn to, thận trướng nước, thận đa nang, u thận, thận teo nhỏ biến dạng...) và xác có bệnh vùng lân cận có ảnh hưởng đến thận và mạch máu thận (u các cơ quan vùng lân cận, xơ gan... điều này thường chỉ thấy được khi mổ vào vùng bụng).
  5. Phẫu tích và ghi nhận kết quả - Đường mổ: chọn đường trắng giữa trên và dưới rốn, bờ dưới cung sườn hai bên và đường ngang rốn hai bên đến đường nách giữa qua các lớp của thành bụng. - Cắt và bóc tách mạc nối lớn, bộc lộ dạ dày – ruột. Sau đó lật vùng dạ dày và khối tá tụy sang bên để bộc lộ vùng thận, rốn thận, niệu quản, ĐM thận và TM thận, đồng thời quan sát vị trí nguyên uỷ của ĐM thận xuất phát từ ĐM chủ bụng. - Bóc tách thận, cuống thận, TM chủ dưới, ĐM thận, niệu quản thành một khối, đem ra ngoài phẫu tich và làm bộc lộ rõ các mạch máu vùng rốn và cuống thận để quan sát và đo đạc. - Cách đo các mạch máu: Đo chiều dài các mạch máu bằng cách lấy sợi dây đồng (đã được bọc nhựa) đặt dọc và uốn theo đường đi của mạch máu từ nguyên ủy đến tận cùng. Sau đó kéo thẳng dây đồng, đo chiều dài đoạn này ta được chiều dài của mạch máu cần đo. Về đường kính (ĐK) của mạch máu: kẹp ngang đoạn mạch máu muốn đo bằng kelly thẳng rồi đo chiều rộng đoạn đã kẹp, ghi nhận số đo này là a (a được xem là nửa chu vi đoạn cần đo). Gọi R là bán kính đoạn cần đo, ta có cách tính như sau: 2a = 2R x 3,14. Do đó ĐK đoạn đo được (2R) sẽ tính theo công thức sau: ĐK =
  6. 2R = 2a / 3,14. Các số liệu được xử lý với phần mềm SPPSS for Windows 11.5. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN Bảng 1. Bảng So sánh các dạng ĐM thận chính thức của các tác giả ĐM thận Các dạng (%) Tác giả 1 2 3 ĐM ĐM ĐM Chúng tôi 93,75 4,69 1,56 Trịnh 68,52 20,37 11,11 21 Xuân Đàn Trịnh Xuân Đàn và 66,6 26,7 6,7 Lê Gia Vinh 19 Trịnh 65,8 26,8 7,4 Xuân Đàn và
  7. ĐM thận Các dạng (%) Tác giả 1 2 3 ĐM ĐM ĐM Lê Văn Minh 20 Merklin và 72 * 15 cs Basmajian4 97 3 Gillapsie7, 67,75 32,25 1 Pick và Anson Anson2 70 30 Kater và Có 5 ĐM thận (hiếm) 11 Gray Trong mẫu nghiên cứu này, chúng tôi ghi nhận được trên 64 quả thận có tất cả 69 ĐM thận chính thức với 324 nhánh lớn nhỏ đ ược phân chia khi đi vào rốn thận và có 68 TM thận chính thức được hình thành từ 143 nhánh TM từ rốn thận đi ra.
  8. Số lượng và kích thước của ĐM thận trong cuống thận và rốn thận Với 64 quả thận, chúng tôi ghi nhận được 69 ĐM thận chính thức với số lượng được tóm tắt trong bảng 1 và kích thước trong bảng 2 và 3. Với số lượng 69 ĐM thận chính thức ở 2 bên phải và trái đã phân nhánh ra 324 nhánh đi vào rốn thận. Qua bảng 1, mẫu khảo sát mà chúng tôi ghi nhận được có tỉ lệ đa ĐM thận chính thức khá thấp so với các tác giả trong cũng như ngoài nước, duy kết quả của chúng tôi gần giống với Basmajian 4. Sự sai biệt này có thể giải thích một phần vào sự lựa chọn mẫu của chúng tôi có được tại bộ môn Giải Phẫu học. Từ bảng so sánh kết quả 3 và 4, khảo sát này cho thấy rằng tần xuất xuất hiện các dạng tuy có khác nhau, nh ưng về kích thước thì hoàn toàn giống nhau giữa các mẫu khảo sát. Về kết quả các dạng ĐM thận chính thức xuất hiện bên trái trong mẫu khảo sát của chúng tôi giống với kết quả của Gillapsie 7, Pick và Anson 1, tuy vậy thận bên phải chúng tôi không có dạng thận có 3 ĐM thận chính thức. Bảng 2. Bảng so sánh kích thước và các dạng ĐM thận Phải của các tác giả
  9. ĐM thận phải Kích thước Các dạng (%) (mm) Tác giả 1 ĐM 2 ĐM 3 ĐM Dài ĐK (I) (II) (III) 30 2 0 14- 5,1- 81 5,7 Chúng 93,74 6,26 tôi (42,9 3,8- 0% % % ) 4,9(II) 5.3 (I) Trịnh 30- Xuân Đàn và 60 33,3 2-6 60% 6,7% % (40,0 (II) Lê Gia Vinh 19 ) 2-4 (III) 68,5% Trịnh 20,4 11,1
  10. ĐM thận phải Kích thước Các dạng (%) (mm) Tác giả 1 ĐM 2 ĐM 3 ĐM Dài ĐK (I) (II) (III) Xuân Đàn và % % Lê Văn Minh 20 Lê Văn 4,3 55 14 Cường 4 35 – 50 Trịnh 5,2 21 Xuân Đàn (39,5 ± 0,8 ± 10,2) Gillapsi 72,2% 27,8% 7 e , Pick
  11. ĐM thận phải Kích thước Các dạng (%) (mm) Tác giả 1 ĐM 2 ĐM 3 ĐM Dài ĐK (I) (II) (III) và Anson 1 Chữ Latinh I, II và III tương ứng với phân nhómthận có 1 ĐM, 2 ĐM và 3 ĐM Bảng 3. Bảng so sánh kích thước và các dạng ĐM thận Trái của các tác giả ĐM thận phải Kích thước Các dạng (%) (mm) Tác giả 1 ĐM 2 ĐM 3 ĐM Đ Dài K (I) (II) (III)
  12. 30 1 1 5- 5,7 (I) 19- 50 Chúng 3,1 93,74 3,13 3,13 tôi (33,9 -5,3(II) % % % ) 2,5 -3,8(III) 5.1 21- (I) Trịnh 40 Xuân Đàn và 2-6 73,3% 20% 6,7% (29,3 (II) Lê Gia ) 19 Vinh 2-5 (I) (III) Trịnh Xuân Đàn và 33,3 63% 3,7% % Lê Văn Minh 20 48,36 4,2 Lê Văn
  13. Cường14 15 – 40 Trịnh 5,1 Xuân Đàn 21 (28,9 ± 1,1 ± 11,6) Gillapsi e 7, Pick 99% 1% và Anson 1 Về ĐM cực thận (cực trên và cực dưới) Về ĐM cực trên Chúng tôi đã ghi nhận được 29 ĐM cực trên trong tổng số 64 quả thận (45,32%) với 16 ĐM cực trên phải (16/32 = 53,33%) và 13 ĐM cực trên trái (13/32 = 43,33%). Trong đó có 7 ĐM c ực trên xuất phát trực tiếp từ ĐM chủ bụng (7/64 = 10,94%), và có 22 ĐM cực trên xuất phát từ ĐM thận chính thức (22/64 = 34,38%) với 14 ĐM cực trên xuất phát từ nhánh bên của ĐM thận chính thức (21,88%) và 8 ĐM cực trên là nhánh tận của ĐM thận chính
  14. thức (12,5%). Nguyên ủy và kích thước của các ĐM cực trên của các tác giả được tóm tắt trong các bảng 5 và biểu đồ 1. Bảng 4. Nguyên ủy của các ĐM cực trên Trị Lê Anso Chúng tôi nh Xuân Văn n2 Nguyên ủy Đàn21 Cường14 ĐM cực trên Số Tỉ Tỉ Tỉ Tỉ lệ lệ (%) lệ (%) lệ (%) (%) lượng 10, 4, ĐM chủ bụng 7 * 7 94 8 Nhá 21, 12 ĐM 14 * nh bên 88 ,9 thận 12 chí Nhá 12, 8 * * nh thức nh tận 5 29/ 45, 17 Tổng 9,30 19,0 64 32 ,7 (*) tác giả không đề cập
  15. Như vậy qua bảng 5, chúng tôi nhận thấy tỉ lệ xuất hiện ĐM cực trên ở mẫu chúng tôi khảo sát được khá cao và chênh lệch nhiều so với Lê Văn Cường14, Trịnh Xuân Đàn21 và Anson3,2. Từ đó nói lên được phần nào sự xuất hiện mang tính phổ biến khá cao của ĐM cực trên qua mẫu khảo sát này (45,32%). Về ĐM cực dưới Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đã ghi nhận được 2 ĐM cực dưới (3,12%) với một xuất phát trực tiếp từ ĐM chủ bụng (1,56 %), và một còn lại xuất phát từ ĐM thận chính thức (nhánh bên) (1,56%). So với nghiên cứu của Anson2 thì tỉ lệ ĐM cực dưới xuất phát từ ĐM chủ bụng thấp và tỉ lệ xuất phát từ ĐM thận chính thức phù hợp so với nghiên cứu của Anson, nhưng so với tỉ lệ xuất hiện ĐM cực dưới thì lại thấp hơn tác giả trong nước là Trịnh Xuân Đàn và thấp hơn nhiều so với khảo sát của tác giả Lê Văn
  16. Cường14 và Vũ Lê Chuyên22 (biểu đồ 2). Tuy nhiên mẫu của chúng tôi là xác hiến có tại bộ môn Giải Phẫu thì trong cả 2 trường hợp xuất hiện ĐM cực dưới đều là dạng đa ĐM thận và vừa có ĐM cực trên vừa có ĐM cực dưới. Trong khi đó tác giả Vũ Lê Chuyên khảo sát trên nhóm có hẹp khúc nối bồn thận niệu quản bẩm sinh, điều đó nói lên cách chọn mẫu khác nhau nên đã có sự khác biệt hai tỉ lệ của chúng tôi và tác giả. Như vậy, khi xét trên phương diện đa ĐM thận trên mẫu của chúng tôi thì tần suất xuất hiện đa ĐM thận tuy ít hơn, nhưng lại xuất hiện ĐM cực trên nhiều hơn hẳn các khảo sát nghiên cứu trong và ngoài nước và với tỷ lệ rất cao. Điều này phải chăng cho thấy được sự đa dạng các ĐM thận trước khi vào cung cấp máu cho thận vẫn xảy ra tỉ lệ cao và có sự hoán đổi qua lại và bù trừ giữa sự đa dạng ĐM thận chính thức và ĐM thận cực trên này. Hay có thể nói khác đi là nếu không đa dạng ĐM thận chính thức thì sẽ có sự xuất hiện đa dạng ĐM cực trên của thận với tỷ lệ xuất hiện cao. Các dạng ĐM thận trong cuống thận và rốn thận
  17. Bảng 5. Tỷ lệ các dạng cuống thận Merklin và Chúng tôi Michele15 Các dạng ĐM thận trong cuống thận và rốn thận Số Tỷ Tỷ lệ lệ trường (%) (%) hợp 1 ĐM rốn thận (I) 35 51,67 71,1 1 ĐM rốn thận và 17 28,33 12,6 1 nhánh cực trên (II) 3 5 10,8 2 ĐM rốn thận 3 5 6,2 (III) 0 0 6,9 1 ĐM rốn thận và 0 0 3,1 1 ĐM cực trên (IV) 0 0 1,7 1 ĐM rốn thận và 1 1,67 2,7 1 ĐM cực dưới (V) 5 8,33 --- 1 ĐM rốn thận và
  18. 1 nhánh cực dưới (VI) 3 ĐM rốn thận (VII) 2 ĐM rốn thận (một ĐM cho nhánh cực trên) Các trường hợp khác: (1) 3ĐM+1 cực trên từ ĐM chủ, (1) 1ĐM+1 cực trên+1cực dưới, (1) 1ĐM+2 cực trên+1cực dưới (2) 1 ĐM + 2 cực trên Tổng 64 100% 100%
  19. Ngoài ra, khi so sánh với tác giả Merklin và Michele15 nghiên cứu trên 11.000 thận, mẫu của chúng tôi tuy khá nhỏ nhưng cũng cho thấy được sự đa dạng phần nào của các ĐM thận trong cuống thận và rốn thận trong bảng 6. Qua bảng này, chúng ta thấy các dạng mà trong mẫu khảo sát chúng tôi không có (nhóm V, VI, VII) thực chất vẫn xuất hiện đầy đủ trong nhóm “các dạng khác” của tác giả. Một lần nữa lại cho thấy được ở người Việt nam trên mẫu khảo sát này vẫn mang đầy đủ tính chất đa dạng mà các tác giả khác đã từng công bố. Số lượng, hình dạng và kích thước của TM thận trong cuốn thận và rốn thận Về số lượng TM Bảng 6. Tóm tắt tỉ lệ các dạng của TM thận phải và trái TM thận phải TM thận trái Tác Các dạng Các dạng giả 1 2 3 1 2 3 TM TM TM TM TM TM 0% 0% Chú 93,7 6,25 100 0
  20. TM thận phải TM thận trái Tác Các dạng Các dạng giả 1 2 3 1 2 3 TM TM TM TM TM TM ng tôi 5% % % % Trịn h Xuân Đàn và 66,7 26,6 100 0 6,7% 0% Lê % % % % Gia Vinh 19 Trịn 84,2 12,9 2,78 96,3 3,7 0 h Xuân 6% 6% % % % % 21 Đàn Ans 22,0 3,0% on và cs2 % **
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2