HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

BÙI THỊ THẮM

ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT

CỦA VỊT BẦU BẾN ĐÀN HẠT NHÂN

NUÔI TẠI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VỊT ĐẠI XUYÊN

Chuyên ngành:

Chăn nuôi

Mã số:

60.62.01.05

Người hướng dẫn khoa học:

1. TS. Nguyễn Văn Duy

2. TS. Phạm Kim Đăng

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng sử dụng để bảo vệ một học vị nào.

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc.

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Bùi Thị Thắm

i

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình.

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc TS. Nguyễn Văn Duy, TS. Phạm Kim Đăng đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Sinh lý - Tập tính động vật, Khoa Chăn nuôi - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Trung tâm Nghiên cứu

vịt Đại Xuyên đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./.

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Bùi Thị Thắm

ii

MỤC LỤC

Lời cam đoan ..................................................................................................................... i

Lời cảm ơn ........................................................................................................................ ii

Mục lục ........................................................................................................................... iii

Danh mục các chữ viết tắt ................................................................................................. v

Danh mục bảng ................................................................................................................ vi

Danh mục hình ................................................................................................................ vii

Trích yếu luận văn ......................................................................................................... viii

Thesis abstract ................................................................................................................... x

Phần 1. Mở đầu ............................................................................................................... 1

1.1.

Tính cấp thiết của đề tài ...................................................................................... 1

1.2. Mục đích của đề tài ............................................................................................. 2

1.3.

Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiến của đề tài ............................................... 2

1.3.1. Ý nghĩa khoa học ................................................................................................ 2

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn ................................................................................................ 2

Phần 2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu ......................................................................... 3

2.1.

Đặc điểm di truyền của các tính trạng số lượng của thủy cầm ........................... 3

2.2.

Cơ sở lý luận về đặc điểm ngoại hình của thủy cầm ......................................... 5

2.3.

Khả năng sản xuất của thủy cầm ........................................................................ 6

2.3.1. Tỷ lệ nuôi sống ................................................................................................... 6

2.3.2. Khả năng sinh trưởng và cho thịt của thủy cầm ................................................. 6

2.3.3. Khả năng sinh sản của thủy cầm ...................................................................... 11

2.3.4. Tiêu tốn thức ăn/đơn vị sản phẩm .................................................................... 18

2.4.

Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ....................................................... 19

2.4.1. Tình hình nghiên cứu trong nước ..................................................................... 19

2.4.2. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước .................................................................. 21

Phần 3. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu ............................................................ 25

3.1.

Địa điểm nghiên cứu ......................................................................................... 25

3.2.

Thời gian nghiên cứu ........................................................................................ 25

iii

3.3.

Đối tượng nghiên cứu ....................................................................................... 25

3.4.

Nội dung nghiên cứu ........................................................................................ 25

3.4.1. Đàn hạt nhân ..................................................................................................... 25

3.5.

Phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 25

3.5.1. Phương pháp chăm sóc, nuôi dưỡng ................................................................. 25

3.5.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm ......................................................................... 27

3.5.3. Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu .................................................................... 27

Phần 4. Kết quả và thảo luận ....................................................................................... 34

4.1.

Kết quả trên đàn hạt nhân ................................................................................. 34

4.1.1. Đặc điểm ngoại hình ......................................................................................... 34

4.1.2. Kích thước 1 số chiều đo cơ thể vịt .................................................................. 35

4.1.3. Tỷ lệ nuôi sống ................................................................................................. 37

4.1.4. Khối lượng cơ thể vịt Bầu Bến qua các tuần tuổi ............................................. 39

4.1.5. Tuổi đẻ và khối lượng vào đẻ ........................................................................... 42

4.1.6. Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng .............................. 44

4.1.7. Một số chỉ tiêu về chất lượng trứng .................................................................. 47

4.1.8. Một số chỉ tiêu ấp nở ........................................................................................ 50

4.2.

Khả năng sản xuất của vịt bầu bến thương phẩm ............................................. 52

4.2.1. Tỷ lệ nuôi sống ................................................................................................. 52

4.2.2. Khối lượng cơ thể vịt qua các tuần tuổi ............................................................ 53

4.2.3. Tốc độ sinh trưởng của vịt qua các tuần tuổi .................................................... 55

4.2.5. Kết quả khảo sát thân thịt ................................................................................. 60

Phần 5. Kết luận và kiến nghị ...................................................................................... 62

5.1.

Kết luận ............................................................................................................. 62

5.1.1. Trên đàn hạt nhân ............................................................................................. 62

5.1.2. Trên đàn thương phẩm ...................................................................................... 62

5.2.

Kiến nghị .......................................................................................................... 62

Tài liệu tham khảo .......................................................................................................... 63

iv

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt

Nghĩa tiếng việt

cs.

Cộng sự

ĐVT

Đơn vị tính

KL

Khối lượng

NST

Năng suất trứng

NXB

Nhà xuất bản

QCVN

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia

TB

Trung bình

TKL

Tăng khối lượng

TLNS

Tỷ lệ nuôi sống

TTTĂ

Tiêu tốn thức ăn

v

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1. Chế độ dinh dưỡng cho vịt Bầu Bến đàn hạt nhân ........................................ 26

Bảng 3.2. Lượng thức ăn cho vịt Bầu Bến đàn hạt nhân ............................................... 26

Bảng 3.3. Chế độ dinh dưỡng cho vịt Bầu Bến thương phẩm ....................................... 27

Bảng 4.1. Đặc điểm ngoại hình của vịt Bầu Bến ........................................................... 34

Bảng 4.2. Kích thước 1 số chiều đo của vịt Bầu Bến .................................................... 36

Bảng 4.3. Tỷ lệ nuôi sống qua các tuần tuổi.................................................................. 36

Bảng 4.4. Khối lượng cơ thể của Bầu Bến ở các tuần tuổi ............................................ 40

Bảng 4.5. Tuổi đẻ và khối lượng vào đẻ của vịt Bầu Bến ............................................. 43

Bảng 4.6. Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng ........................... 45

Bảng 4.7. Một số chỉ tiêu chất lượng trứng (n = 35) ..................................................... 48

Bảng 4.8. Một số chỉ tiêu ấp nở của trứng vịt Bầu Bến ................................................ 50

Bảng 4.9. Tỷ lệ nuôi sống của vịt thương phẩm ở các tuần tuổi ................................... 52

Bảng 4.10. Khối lượng vịt thương phẩm ở các tuần tuổi (n = 30) .................................. 54

Bảng 4.11. Tốc độ sinh trưởng của vịt Bầu Bến nuôi thương phẩm ............................... 56

Bảng 4.12. Tiêu tốn thức ăn và chỉ số sản xuất của vịt Bầu Bến thương phẩm .............. 59

Bảng 4.13. Một số chỉ tiêu về chất lượng thịt của vịt Bầu Bến nuôi thương phẩm

(n = 6) ............................................................................................................ 60

vi

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1. Hình ảnh vịt Bầu Bến lúc 1 ngày tuổi ............................................................. 34

Hình 4.2. Hình ảnh vịt Bầu Bến lúc trưởng thành .......................................................... 35

Hình 4.3. Khối lượng cơ thể vịt Bầu bến qua ở tuần tuổi ............................................... 41

Hình 4.4. Tỷ lệ đẻ của vịt Bầu Bến qua các tuần tuổi .................................................... 46

Hình 4.5. Khối lượng vịt thương phẩm qua các tuần tuổi .............................................. 54

Hình 4.6. Sinh trưởng tuyệt đối của vịt thương phẩm qua các tuần tuổi ........................ 56

Hình 4.7. Sinh trưởng tương đối của vịt thương phẩm qua các tuần tuổi ....................... 58

vii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Bùi Thị Thắm

Tên luận văn: Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của vịt Bầu Bến đàn

hạt nhân nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên

Ngành: Chăn nuôi Mã số: 60.62.01.05

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu:

Đánh giá được đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của vịt Bầu Bến đàn

hạt nhân và đàn thương phẩm.

Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp chăm sóc, nuôi dưỡng

Vịt Bầu Bến đàn hạt nhân và đàn thương phẩm được nuôi dưỡng và chăm sóc theo quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, vệ sinh thú y của Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên.

- Phương pháp bố trí thí nghiệm

Từ đàn hạt nhân 510 vịt ở 1 ngày tuổi (90 vịt trống + 420 vịt mái, được chia làm 3 lô, mỗi lô 30 vịt trống và 140 vịt mái) để theo dõi và đánh giá đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh trưởng, chọn 255 vịt mái và 42 vịt trống sinh sản (được chia làm ba lô, mỗi lô gồm 85 vịt mái + 14 vịt trống) để theo dõi sinh sản.

Khả năng sản xuất đàn thương phẩm được theo dõi lặp lại ba lần trên 120 vịt từ 1 ngày tuổi đến 10 tuần tuổi (mỗi lần theo dõi 20 trống và 20 mái). Khả năng sinh trưởng và khả năng cho thịt được khảo sát ở các thời điểm 8, 9 và 10 tuần tuổi (mỗi tuần mổ 3 vịt trống và 3 vịt mái).

- Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu

Đặc điểm ngoại hình theo dõi bằng phương pháp quan sát, chụp ảnh để mô tả màu lông, mỏ, chân, hình dáng, đầu, cổ vào các thời điểm 1 ngày tuổi và trưởng thành (22 tuần tuổi).

Các chỉ tiêu sản xuất trên đàn hạt nhân và đàn thương phẩm được theo dõi thông qua ghi chép, cân, đo, tính toán các chỉ tiêu bằng các dụng cụ chuyên biệt như cân điện tử, thước dây, thước compa,....

viii

Kết quả chính và kết luận

Đàn hạt nhân

- Vịt Bầu Bến đàn hạt nhân được chọn lọc là giống vịt kiêm dụng, vịt con mới nở có màu lông xám đen có khoang vàng, mỏ và chân có màu vàng nhạt. Vịt trưởng thành có thân hình khá vững chắc, ngực sâu rộng, màu lông màu cánh có màu sẻ sẫm ngoài ra còn có màu trắng tuyền, khoang trắng đen. Đầu to, con đực đầu màu xanh. Mỏ vàng - xám, chân thấp màu vàng cam.

- Tỷ lệ nuôi sống trung bình giai đoạn 0 - 22 tuần tuổi là 93,53%. Tỷ lệ đẻ bình quân/52 tuần đẻ đạt 48,91%, năng suất trứng/mái/năm là 178,03 quả, tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng là 3,776 kg.

- Trứng của vịt Bầu Bến có chất lượng tốt, đảm bảo tiêu chuẩn trứng giống, tỷ lệ

phôi và tỷ lệ ấp nở đạt cao.

Đàn thương phẩm

- Tỷ lệ nuôi sống trung bình giai đoạn từ 0 - 10 tuần tuổi của đàn vịt thương

phẩm là 97,67%.

- Khối lượng cơ thể của vịt Bầu Bến lúc 8, 9, 10 tuần tuổi lần lượt là 1695,61g, 1759,86g, 1811,12g; tiêu tốn thức ăn/kg khối lượng tăng lần lượt đạt 2,75kg, 2,98kg, 3,21kg. Để đảm bảo hiệu quả kinh tế cao trong nuôi vịt Bầu Bến thương phẩm nên giết thịt ở 9 tuần tuổi.

ix

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Bui Thi Tham

Thesistitle: Morpho-biometric and performance of the nucleus herd of Bau

Ben duck breed raised at the Dai Xuyen duck breeding and research center.

Major: Animal Science

Code: 60.62.01.05

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture

Research Objective

Determination the morpho-biometric characteristics and performance of nucleus

and commercial herd of Bau Ben duck breed.

Materials and Methods

+ Raising method

Bau Ben duck was fed and managed in accordance with bio-safe and veterinary

procedure of the Dai Xuyen duck breeding and research center.

+ Experimental method

Nucleusduck herd: The morpho-biometric and productivity of nucleus duck herd were based on measurement of 510 ducks at 1 day of age (90 male and 420 female were divided into 3 groups, each group has 30 male ducks and 140 female ducks).

Laying performance was observed on 255 female ducks and 42 male of 3 groups (each group has 85 female and 14 male ducks). Commercial duck performance was derterminated by 3 replicates of 120 ducks from 1 day to 10 weeks of age (20 males and 20 females per one replicate). Meat productivity and the growing performace were evalued at 8, 9 and 10 weeks of age (3 males and 3 female ducks per week, 3 replicates).

+ Measurement method:

Morpho-biometric characteristics was derterminated by directly observing the color of feather, beak, leg, neck, and taking the photograph at 1 day and 22 weeks of age.

For other technical measurements were derterminated by daily note and by

using electronic balance, measuring and palme tape, etc…

x

Main findings and conclusions

For the nucleus duck herd

Bau Ben nucleus duck herd selected is a dual purpose breed. At one day, the feather of duckling is gray with yellow patch. The beak and leg are light yellow. The mature ducks have stable shape, large chest, and color of feather and wings are dark gray with white and white-black stripe. The head is big. The head color of drake is dark blue. The color of beak is gray yellow, and leg is short and orange yellow.

- Average survival rate from 0 to 20 weeks of age was 93,53%. Laying rate was 48,91% at 52 weeks of age. Egg yield was 178,03 eggs/hen/52 weeks of laying. The feed consumption was 3,776 kg/10 eggs.

- Egg of Bau Ben duck has hight quality and good for choosing breeder.

For the commercial duck

- Average survival rate from 0 to 10 weeks of age is very high (96,67%).

- The body weight of commercial duck at 8, 9 and 10 weeks of age was 1695,61 g; 1759,86 g; 1811,12 g with the feed cosumption of 2,75 – 3,21 kg, respectively. The best efficiency for killing of commerial duck is 9 weeks age.

xi

PHẦN 1. MỞ ĐẦU

1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Chăn nuôi thủy cầm là một nghề truyền thống có từ lâu đời ở Việt Nam,

chăn nuôi thủy cầm ở nước ta gắn bó với nền sản xuất lúa nước nên số lượng

thủy cầm Việt Nam đứng thứ hai thế giới. Trong thập kỷ qua số vịt tăng trung

bình 7%/năm, sản lượng trên 280.000 tấn thịt hơi/năm, trứng đạt trên 2 tỷ

quả/năm, hiện nước ta số lượng có trên 89 triệu con thủy cầm trong đó Đồng

bằng sông Hồng chiếm 26,68%, Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 32,19% và

khu vực Tây Bắc chiếm 2,17% trong tổng đàn thủy cầm của Việt Nam. Trong

chăn nuôi thủy cầm của nước ta thì chăn nuôi vịt là chủ yếu và quan trọng nhất,

chăn nuôi vịt tận dụng được điều kiện tự nhiên (ao, hồ, đồng ruộng, kênh

rạch…), chi phí đầu tư thấp; đặc biệt là chăn nuôi chạy đồng, vịt chạy đồng tận

dụng được khối lượng lớn lúa rơi. Mặt khác, chăn nuôi vịt trong ruộng còn tận

dụng được thức ăn trong tự nhiên, tiêu diệt ốc, côn trùng gây hại.

Để đạt được mục tiêu phát triển nhanh đàn vịt cả về số lượng và chất

lượng ngày nay chúng ta đã nhập nhiều giống vịt ngoại có năng suất cao, người

chăn nuôi ưa chuộng những giống có năng suất cao, thời gian nuôi ngắn để phục

vụ nhu cầu chủ yếu về năng suất thịt cho người tiêu dùng. Do đó một số giống vịt

nội: vịt Bầu Bến, vịt Cỏ, vịt Đốm,.. mặc dù có chất lượng thịt, trứng ngon những

do có năng suất thấp, thời gian nuôi thịt kéo dài nên không được ưa chuộng và

ngày càng bị thu hẹp về địa bàn nuôi và số lượng.

Ngày nay, khi đời sống của người dân được nâng lên, nhu cầu về số lượng

thực phẩm giảm đi và chủ yếu quan tâm đến chất lượng, thì những giống vịt nội

có chất lượng thịt, trứng ngon ngày được ưa chuộng hơn. Giống vịt Bầu Bến là

giống vịt nội có nguồn gốc ở chợ Bến - Hòa Bình, giống vịt này có nhiều đặc

điểm quý đó là khả năng chống chịu bệnh tật tốt, chất lượng thịt thơm ngon, thích

nghi tốt với nhiều vùng sinh thái, đây là giống vịt kiêm dụng có thể sử dụng theo

hai hướng là lấy thịt và trứng. Giống vịt Bầu Bến từ trước tới nay chỉ có các

nghiên cứu về bảo tồn nguồn gen (Hồ Khắc Oánh và cs., 2003; Nguyễn Đức

Trọng và cs., 2009), có nghiên cứu đánh giá giống vịt Bầu Bến tại tỉnh Hòa Bình.

Tuy nhiên các nghiên cứu chưa theo dõi đầy đủ từ vịt sinh sản đến thương phẩm.

1

Đồng thời, trong khuôn khổ của nhiệm vụ quỹ gen cấp Nhà nước về “Khai thác,

phát triển nguồn gen vịt đặc sản: vịt Kỳ Lừa, Bầu Bến, Mốc và Đốm” đề tài

“Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của vịt bầu Bến đàn hạt nhân

nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên” được thực hiện.

1.2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

- Đánh giá được đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của vịt Bầu

Bến đàn hạt nhân.

- Đánh giá được khả năng sinh trưởng của vịt Bầu Bến nuôi thương phẩm.

1.3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIẾN CỦA ĐỀ TÀI

1.3.1. Ý nghĩa khoa học

Kết quả thu được là cơ sở đánh giá về giống vịt Bầu Bến và có kế hoạch nhân giống, phát triển nguồn gen quý hiếm phát huy tiềm năng của giống vịt địa

phương.

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn

Giúp các nhà quản lý, người chăn nuôi có thông tin đầy đủ để chọn lọc,

nhân giống, bảo tồn và phát triển giống vịt Bầu Bến.

2

PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1. ĐẶC ĐIỂM DI TRUYỀN CỦA CÁC TÍNH TRẠNG SỐ LƯỢNG CỦA

THỦY CẦM

Tính trạng số lượng là các tính trạng có thể xác định giá trị bằng các phép

đo (các cách cân, đo, đong, đếm). Tuyệt đại bộ phận các tính trạng có giá trị về

mặt kinh tế ở vật nuôi đều là các tính trạng số lượng. Sự thay đổi trong quá trình

tiến hóa của sinh vật cũng kéo theo sự thay đổi các tính trạng số lượng.

Theo quan điểm di truyền học, hầu hết các tính trạng sản xuất của vịt đều

là các tính trạng số lượng, bao gồm: sinh trưởng, sản xuất thịt, sản xuất trứng, ...

Cơ sở di truyền của các tính trạng số lượng là do các gen nằm trên nhiễm sắc thể

quy định và do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ quy định.

Theo Nguyễn Văn Thiện (1995), các tính trạng số lượng do giá trị kiểu

gen và sai lệch môi trường quy định. Giá trị kiểu gen (Genotype value) do các

gen có hiệu ứng riêng biệt nhỏ, nhưng khi tập hợp nhiều gen thì có ảnh hưởng rõ

rệt đến tính trạng, chúng gây ra các hiệu ứng cộng gộp, trội và át gen. Tính trạng

số lượng chịu tác động lớn của các tác động của ngoại cảnh.

Theo Đặng Vũ Bình (2002), để hiển thị đặc tính của những tính trạng số

lượng người ta sử dụng khái niệm giá trị, đó là các số đo dùng để đánh giá các

tính trạng số lượng. Các giá trị thu được khi đánh giá một tính trạng ở con vật gọi

là giá trị kiểu hình. Các giá trị có liên hệ đến kiểu gen gọi là giá trị kiểu gen

(genotype value) và giá trị có liên hệ với môi trường gọi là sai lệch môi trường

(environmental deviation). Như vậy, giá trị kiểu hình của con vật sẽ được biểu thị

thông qua giá trị kiểu gen và sai lệch của môi trường:

P= G + E

Trong đó: P: là giá trị kiểu hình (phenotype value);

G: là giá trị kiểu gen (genotype value);

E: sai lệch môi trường (environmental deviation).

Trong một quần thể, sai lệch ngoại cảnh trung bình của toàn bộ các cá thể sẽ bằng không, do vậy giá trị kiểu hình trung bình của quần thể sẽ bằng giá trị kiểu gen trung bình. Như vậy, trung bình quần thể liên quan đến giá trị kiểu hình hoặc giá trị kiểu gen.

3

Giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ quy định, đó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ thì ảnh hưởng rất lớn đến các tính trạng cần nghiên cứu, đây

là hiện tượng đa gen.

Giá trị kiểu gen hoạt động theo 3 phương thức: Cộng gộp, sai lệch trội-lặn và át chế gen (sự tương tác giữa các gen). Do đó, giá trị kiểu gen được biểu diễn

thông qua 3 phương thức này:

G = A + D + I

Trong đó: G : giá trị kiểu gen

A : giá trị cộng gộp (chính là giá trị giống của cá thể)

D : sai lệch trội- lặn

I : sai lệch do tương tác giữa các gen

Giá trị cộng gộp (giá trị giống - A) của một cá thể là giá trị được đánh giá

thông qua giá trị trung bình của đời con của cá thể đó. Do bố mẹ không truyền

toàn bộ các gen của mình cho đời con, kiểu gen của bố mẹ sẽ khác với kiểu gen

của con cái, vì vậy không thể sử dụng khái niệm hiệu quả trung bình của gen khi

xem xét giá trị kiểu gen trung bình ở đời con. Trong trường hợp này, chúng ta

phải sử dụng khái niệm giá trị cộng gộp (giá trị giống).

Sai lệch trội lặn (D): khi xem xét trên một locus, sai lệch trội D được sinh

ra từ sự tác động qua lại giữa các alen tại một locus. Theo quan điểm thống kê,

sai lệch trội là tương tác giữa hai allen hoặc tương tác trong locus, nó biểu thị ảnh

hưởng của việc đặt hai gen thành một cặp để cấu thành kiểu gen, ảnh hưởng này

không bao gồm ảnh hưởng riêng rẽ của từng gen trong số hai gen này.

Sai lệch tương tác của các gen (I): là sai lệch do tương tác của các gen

không cùng một locus, các locus có thể tương tác theo từng đôi hoặc ba, bốn,

thậm chí nhiều hơn nữa, tương tác cũng có thể xảy ra giữa các allen (giữa hai hay

nhiều allen khác locus, ở locus này với cặp allen ở locus khác...). Sai lệch này

thường thấy trong di truyền các tính trạng số lượng còn đối với di truyền theo

Mendel thì ít thấy hơn.

Môi trường (E) cũng có ảnh hưởng rất lớn đến các tính trạng số lượng, còn đối với các tính trạng số lượng do đơn gen quy định thì môi trường ít ảnh

hưởng đến. Ảnh hưởng của môi trường đến các tính trạng số lượng bao gồm:

4

- Sai lệch ngoại cảnh chung (Eg), là sai lệch do các yếu tố ngoại cảnh tác

động đến quần thể.

- Sai lệch ngoại cảnh riêng (Es), là các sai lệch do các yếu tố ngoại cảnh

tác động đến từng cá thể trong quần thể.

Như vậy, kiểu hình của cá thể được cấu tạo từ hai locus trở lên thì giá trị

kiểu hình của cá thể đó được biểu thị như sau:

P = A + D + I + Eg + Es

Như vậy, muốn nâng cao năng suất của vật nuôi chúng ta cần phải tác động về mặt di truyền(G) bằng cách tránh cận huyết, tác động vào hiệu ứng cộng gộp (A) bằng cách chọn lọc, tác động vào các hiệu ứng trội (D) và át gen (I) bằng cách phối giống tạp giao, tác động vào môi trường (E) bằng cách cải thiện điều kiện môi trường nuôi như thức ăn, nước uống, chăm sóc nuôi dưỡng, thú y,...

2.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH CỦA THỦY CẦM

* Màu sắc lông: Màu sắc lông của thủy cầm nói riêng và gia cầm nói chung là đặc điểm ngoại hình quan trọng để phân biệt giống, dòng. Hiện nay màu sắc lông đối với một số gia cầm còn để phân biệt trống mái khi mới nở (autosexing), các giống gia cầm bản địa, nguyên thủy thường có màu sắc lông đa dạng, phong phú và pha tạp, còn các giống gia cầm hiện đại năng suất cao ngày nay thường có màu sắc lông thuần nhất, đặc trưng. Các giống gia cầm và thủy cầm hướng thịt thường có màu lông trắng tuyền hoặc màu sáng và có giá trị hơn lông màu vì khi giết thịt không để lại gốc lông, không làm giảm sự hấp dẫn của

thịt, giống gia cầm hướng trứng thì thường có màu lông nâu.

* Hình dáng của vịt: hình dáng của vịt cũng là một yếu tố ngoại hình quan trọng để phân biệt tính năng sản xuất chuyên biệt của chúng. Vịt hướng thịt có hình dáng to, hình chữ nhật, dáng đứng thường gần song song với mặt đất; vịt hướng trứng thường có hình dáng nhỏ, gọn, thanh, mảnh và dáng đứng thường tạo với mặt đất một góc gần 900. Vịt kiêm dụng thường có dáng tạo với mặt đất một góc khoảng 450.

* Mỏ và chân: Mỏ và chân là sản phẩm của da, được tạo ra từ lớp sừng, tại đó tập trung nhiều nhánh thần kinh, mạch quản. Đối với vịt, mỏ còn chứa nhiều xúc giác, nhờ đó mà chúng có thể kiếm mồi dưới nước. Màng bơi là phần cấu tạo không có lông của da giữa các ngón chân. Màu của chân thường phù hợp với

màu của mỏ, và chúng đặc trưng cho từng giống thủy cầm.

5

2.3. KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA THỦY CẦM

2.3.1. Tỷ lệ nuôi sống

Tỷ lệ nuôi sống là một chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng trong chăn nuôi

nói chung và chăn nuôi thủy cầm nói riêng. Chỉ tiêu này không những là thước

đo việc thực hiện qui trình chăm sóc, quản lý, nuôi dưỡng mà còn đánh giá sức

sống, sức sản xuất và khả năng thích nghi của mỗi dòng, giống gia cầm. Có rất

nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nuôi sống như giống, trạng thái cơ thể, điều

kiện môi trường và chế độ dinh dưỡng... Vì tầm quan trọng của nó mà hầu hết

các thí nghiệm đánh giá khả năng sản xuất của gia cầm đều phải xác định tỷ lệ

nuôi sống.

Vịt là loài thủy cầm có sức sống cao, khả năng chống chịu bệnh tốt

(Hetzel, 1984; Nguyễn Thị Minh và cs., 1996), vịt là loài vật nuôi có khả năng

thích ứng rộng rãi hơn nhờ các tiềm năng sinh học đặc biệt (Khajarern and

Khajarern, 1990)

Theo Nageswara et al. (1999), tỷ lệ nuôi sống của vịt Khaki Campell từ 19

-58 tuần tuổi ở phương thức nuôi quảng canh, bán thâm canh và thâm canh lần

lượt là 89,4%, 93% và 93,1%.

Theo Nguyễn Đức Trọng và cs. (2009) cho biết tỷ lệ nuôi sống của vịt

Triết Giang nhập nội từ Trung Quốc nuôi tại Trung tâm nghiên cứu vịt Đại

Xuyên giai đoạn 1- 8 tuần tuổi đạt từ 93.15% - 99,54% tương đương với tỷ lệ

nuôi sống khi vịt được nuôi tại bản địa.

2.3.2. Khả năng sinh trưởng và cho thịt của thủy cầm

2.3.2.1. Khả năng sinh trưởng

a. Khái niệm sinh trưởng

Sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị

hoá (đồng hoá mạnh hơn dị hoá) là sự tăng lên về kích thước cũng như khối

lượng theo thời gian của con vật dựatrên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước.

ĐaVenPort (1899), cho rằng: Sự sinh trưởng của cơ thể là tăng thể tích,

tăng các chiều như thế là do hình thành các chất mới qua sự tổng hợp của

Plasma. Tức là nguồn nguyên liệu của đồng hoá. Hoặc sự sinh trưởng cũng có

thể thực hiện được qua hấp thu. Sự tăng này có thể nhất thời hoặc có thể mãi mãi.

6

Theo Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường (1992), quá trình sinh trưởng là quá trình phân chia tế bào, tăng thể tích tế bào để tạo nên sự sống. Tính giai đoạn của sinh trưởng biểu hiện ở nhiều hình thức khác nhau. Thời gian của các giai đoạn dài hay ngắn, số lượng giai đoạn và sự đột biến trong sinh trưởng của từng giống, từng cá thể có sự khác nhau. Giai đoạn này nối tiếp giai đoạn khác, không đi ngược trở lại, không bỏ qua thời kỳ nào, ở mỗi giai đoạn, thời kỳ

đều có đặc điểm riêng.

Căn cứ vào sự sinh trưởng ta có thể phân chia thành các thời kỳ phát triển của gia cầm như sau: Thời kỳ phát triển của phôi trong trứng trước khi đẻ, thời kỳ phát triển của phôi trong quá trình ấp, thời kỳ gia cầm con và thời kỳ gia cầm

trưởng thành.

b. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng

Sinh trưởng của gia cầm là một quá trình sinh học phức tạp chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như: dòng, giống, giới tính, tốc độ mọc lông, chế độ

dinh dưỡng và điều kiện chăn nuôi…

- Ảnh hưởng của giống, dòng đến sinh trưởng: Mỗi dòng hay giống, loài gia cầm đều có một kiểu di truyền khác nhau nên chúng sẽ khác nhau về ngoại hình, tầm vóc, sức sản xuất,… từ đó mà chúng ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng. Nhiều nghiên cứu đã khẳng định sự sinh trưởng của từng cá thể, giữa dòng, giống

có sự sai khác.

Tác giả Hoàng Văn Tiệu và cs. (1993) cho biết: Khối lượng cơ thể các cặp lai Anh Đào x Cỏ; Anh Đào x (Anh Đào x Cỏ); Anh Đào x Bầu lúc 70 ngày tuổi

có khối lượng cơ thể lần lượt là: 1,761 - 1,853 g; 2,138 - 2,269 g; 1,656 g.

Kết quả nghiên cứu trên vịt CV. Super M2 nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên, lúc 8 tuần tuổi vịt dòng trống con trống có khối lượng 2830g, con mái có khối lượng 2269g, vịt dòng mái con trống có khối lượng 2662g, con mái

có khối lượng 1964g (Nguyễn Đức Trọng và cs., 2007).

- Ảnh hưởng của tính biệt: Giới tính khác nhau thì đặc điểm và chức năng sinh lý cũng khác nhau nên khả năng đồng hoá, dị hoá và quá trình trao đổi chất dinh dưỡng của chúng là khác nhau. Nhiều thí nghiệm cho thấy ở gia cầm cùng một giống, dòng, lứa tuổi nhưng nhu cầu năng lượng, protein, axít amin,… cho trao đổi cơ bản của gia cầm trống luôn cao hơn gia cầm mái trưởng thành, do vậy

khối lượng của gia cầm trống luôn lớn hơn khối lượng của gia cầm mái.

7

Theo Dương Xuân Tuyển (1998): vịt CV - Super M nuôi thịt cho ăn theo chế độ tự do, khối lượng cơ thể ở 8 tuần tuổi ở dòng trống vịt đực là 3.323,8 g và vịt mái là 3.062,1; còn ở vịt dòng mái cho các kết quả tương ứng là 3.126,4

và 2.879,2 g.

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh, Hoàng Văn Tiệu, Phạm Văn Trượng (1996) trên vịt Cỏ màu cánh sẻ nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên cho biết: Khối lượng cơ thể của vịt Cỏ màu cánh sẻ thế hệ thứ 5, lúc đẻ

quả trứng đầu, của con trống là 1.582 g và con mái là 1.467,5 g.

- Ảnh hưởng của lứa tuổi: Lứa tuổi có ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của động vật. Gia cầm cũng vậy, cũng tuân theo quy luật chung như đối với những động vật khác. Đây là cơ sở cho những tính toán cần thiết về thời gian nuôi dưỡng, khai thác khả năng sản xuất của gia cầm để đạt mục

đích kinh tế cao nhất cho chăn nuôi.

Kết quả nghiên cứu của Lương Tất Nhợ và cs. (1997) trên vịt CV - Super

M trong các điều kiện chăn nuôi ở đồng bằng sông Hồng cho thấy: tốc độ tăng

khối lượng của vịt CV - Super M bố mẹ ở giai đoạn vịt con 4 tuần tuổi có tốc độ

tăng khối lượng tuyệt đối là 45g/con/ngày và tăng trọng tương đối là 35,65 %; 8

tuần tuổi có các kết quả tương ứng là 25,57g/con/ngày và 8,19%. Vịt CV - Super

M dòng ông có các kết quả tương ứng là 51,14g/con/ngày và 40,86% (ở 4 tuần

tuổi) và 22,57g/con/ngày và 7,12%. Vịt CV - Super M dòng bà l úc 4 tuần tuổi là

37,00g/con/ngày; 34,97% và 8 tuần tuổi là 22,00g/con/ngày; 8,01%.

Theo Lê Viết Ly và cs. (1998), công bố kết quả nghiên cứu sinh trưởng của

nhóm vịt Cỏ màu cánh sẻ: Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày) của con đực

ở 3 tuần tuổi là 8,31g/con/ngày và 8 tuần tuổi là 18,05g/con/ngày; của con mái ở

3 tuần tuổi là 6,90g/con/ngày và 8 tuần tuổi là 16,55g/con/ngày.

- Ảnh hưởng của tốc độ mọc lông: Tốc độ mọc lông là một trong những

đặc tính di truyền có liên quan đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể. Người ta

thấy rằng những gia cầm non mọc lông nhanh thì sinh trưởng phát dục tốt trong

các điều kiện khác nhau. Có mối tương quan thuận giữa tốc độ mọc lông và khả

năng sinh trưởng của cơ thể gia cầm.

Gia cầm có tốc độ mọc lông nhanh thì sự thành thục về thể trọng sớm hơn, chất lượng thịt tốt hơn gia cầm mọc lông chậm. Song dù có tốc độ mọc lông chậm thì

từ 8 - 12 tuần tuổi gia cầm cũng mọc lông đủ.

8

- Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi: Phương thức chăn nuôi cũng là

một trong những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của vịt.

Theo Nguyễn Đức Trọng và cs. (1997), nghiên cứu hai phương thức nuôi

khô và nuôi nước trên đàn vịt CV - Super M cho biết: với phương thức nuôi khô,

khối lượng bình quân lúc vào đẻ của đàn vịt dòng ông là 3,3kg; đàn vịt dòng bà

là 2,9kg. Với phương thức nuôi có nước bơi lội thì khối lượng bình quân lúc vào

đẻ của đàn vịt dòng ông là 2,9kg; đàn vịt dòng bà là 2,7kg.

Kết quả nghiên cứu của Kschischan et all. (1995) cho biết: Vịt Bắc Kinh

nuôi thâm canh có khối lượng cơ thể cao hơn nuôi quảng canh trên bãi cỏ. Khối

lượng giết thịt của vịt ở phương thức nuôi thâm canh vịt trống là 2.437,0g và vịt

mái là 2.114,0g; ở phương thức nuôi quảng canh thì khối lượng cơ thể của con

trống, con mái tương ứng là 2.209g và 2.091g.

- Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng: Các chất dinh dưỡng là vật chất để

nuôi tế bào phát triển. Vì vậy, chế độ dinh dưỡng hợp lý là một trong những yếu

tố quan trọng quyết định khả năng sinh trưởng và phát triển của gia cầm.

Theo tác giả Chamber et all.(1990) cho biết: “Chế độ dinh dưỡng ảnh

hưởng đến tốc độ sinh trưởng, đến sự phát triển của từng mô khác nhau và gây

nên sự biến đổi trong quá trình phát triển của mô này đối với mô khác. Dinh

dưỡng không chỉ ảnh hưởng tới sự sinh trưởng mà còn ảnh hưởng đến sự di

truyền về sinh trưởng”.

Kết quả nghiên cứu của Abdelsamie and Farrell (1985) về ảnh hưởng của các

mức Protein trong khẩu phần tới khả năng tăng khối lượng tuyệt đối của vịt Bắc

Kinh cho biết: Ở tuần tuổi thứ 2 với khẩu phần ăn 24% Protein thô thì tăng khối

lượng cơ thể tuyệt đối của vịt đạt 320g, ở lô nuôi với khẩu phần 18% Protein thô thì

tăng khối lượng cơ thể tuyệt đối của vịt chỉ đạt 309g.

- Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường: Các yếu tố thuộc môi trường như

nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, độ thông thoáng, mật độ.. có ảnh hưởng không nhỏ tới

khả năng sinh trưởng của gia cầm nói chung và vịt nói riêng.

+ Nhiệt độ: Trong điều kiện chăn nuôi tự nhiên ở nước ta, việc đảm bảo yêu cầu nhiệt độ trong chăn nuôi gia cầm là cần thiết vì nhiệt độ môi trường chênh lệch nhau giữa mùa đông và mùa hè là khá cao. Đối với vịt, tiêu chuẩn nhiệt độ không quá khắt khe như gà vì vịt có sức chống chịu tốt hơn gà. Tuy

9

nhiên, việc đảm bảo nhiệt độ trong khoảng cho phép vẫn rất quan trọng, đặc biệt

là trong 3 - 4 tuần tuổi đầu.

Kết quả nghiên cứu của Knust et all (1996) cho biết: Khối lượng cơ thể 7 tuần tuổi của vịt Bắc Kinh nuôi ở nhiệt độ 200C cao hơn 10% so với nuôi ở nhiệt độ 300C.

+ Ẩm độ: Một đặc tính của thủy cầm là khi ăn cần có nước đi kèm; chính vì vậy, trong điều kiện chăn nuôi công nghiệp chuồng nuôi thủy cầm thường ẩm ướt. Chất độn chuồng bị ẩm ướt dẫn đến thức ăn dễ bị nhiễm nấm mốc, tạo điều kiện cho vi khuẩn phân hủy axít nucleoic trong phân và chất độn chuồng do đó làm tăng hàm lượng NH3 làm cho gia cầm bị hen, dễ mắc các bệnh cầu trùng, Newcastle, E.coli,... Vì vậy, cần hết sức lưu ý việc thông thoáng chuồng nuôi,

giúp gia cầm có đủ O2, thải bớt khí CO2 và chất cạn bã khác.

+ Ánh sáng: Gia cầm nhạy cảm với ánh sáng. Ánh sáng có ảnh hưởng lớn tới sự sinh trưởng, phát triển và các chức năng sinh dục của cơ thể gia cầm. Thời gian chiếu sáng tăng sẽ làm tăng lượng thức ăn thu nhận, nhưng lại làm giảm hiệu quả chuyển hóa thức ăn. Vì vậy, để gia cầm có tốc độ sinh trưởng tốt nhất

cần chú ý thời gian chiếu sáng thích hợp.

+ Mật độ: Mật độ nuôi có liên quan chặt chẽ đến độ thông thoáng và ẩm độ trong chuồng nuôi. Nếu chúng ta nuôi với mật độ quá cao chuồng không thoáng khí và mau bẩn ẩm độ cao. Vì vậy việc đảm bảo mật độ phù hợp trong

chăn nuôi gia cầm có tác động tích cực đến khả năng sinh trưởng của gia cầm.

Theo nghiên cứu của Hudsky and Machalek (1981), mật độ chuồng nuôi ảnh hưởng lớn đến khối lượng giết thịt của vịt Bắc Kinh nuôi ở Tiệp Khắc. Mật độ nuôi 6 con/m2 nền chuồng có khối lượng cơ thể 7 tuần tuổi là cao nhất

3.2.2.2 Khả năng cho thịt của thủy cầm

Để đánh giá khả năng sản xuất thịt của thủy cầm người ta thường hay sử dụng các chỉ tiêu về khối lượng và thành phần thân thịt (khối lượng và tỷ lệ thịt lườn, khối lượng và tỷ lệ thịt đùi). Tỷ lệ thịt lườn và tỷ lệ thịt đùi có sự biến động theo tuổi giết thịt của vịt, tỷ lệ thịt lườn tăng lên theo tuổi còn tỷ lệ thịt đùi giảm theo tuổi.

Khả năng sản xuất thịt của thủy cầm phụ thuộc vào giống, giới tính, tuổi giết thịt và mùa vụ, Powell (1980) đã nghiên cứu sự biến đổi tỷ lệ thịt xẻ của vịt Bắc Kinh trong khoảng thời gian từ 36 - 56 ngày tuổi và thấy tỷ lệ thịt xẻ tăng từ

10

65,7% lên 70,3%, đồng thời có sự khác nhau về tỷ lệ thịt lườn và thịt ức ở vịt đực và vịt mái, trong thời gian mổ khảo sát ở 41 ngày và 50 ngày thấy tỷ lệ thịt lườn

tăng từ 8,9% lên 11,8% ở vịt đực, vịt mái tỷ lệ tăng từ 10,2% lên 13,4%.

Thành phần dinh dưỡng trong thức ăn có ảnh hưởng đến khả năng sản xuất thịt của vịt, kết quả nghiên cứu xác định ảnh hưởng của năng lượng, protein, axit amin trong khẩu phần đến chất lượng thịt của vịt CV. Super M cho thấy: các mức năng lượng và protein khẩu phần thấp có tỷ lệ thịt xẻ là 69,9%, ở mức trung bình tỷ lệ thịt xẻ là 72,9% và ở mức cao tỷ lệ này đạt 71,4%. Khẩu phần có các mức axit amin khác nhau c ng có tỷ lệ thịt xẻ khác nhau, tương ứng với các mức axit amin thấp, trung bình và cao là 70,9%, 72,6% và 70,7% tỷ lệ thịt lườn có sự sai khác giữa các lô sử dụng các mức năng lượng và protein khác nhau P < 0,001 (Trần Quốc Việt và cs., 2009).

2.3.3. Khả năng sinh sản của thủy cầm

2.3.3.1. Tuổi thành thục sinh dục

Tuổi thành thục sinh dục của một cá thể vịt là thời gian từ khi vịt mới nở đến khi đẻ quả trứng đầu tiên đối với vịt mái, đối với vịt trống thì đến khi vịt trống đạp mái và có thể cho trứng thụ tinh. Đối với một đàn vịt, tuổi thành thục sinh dục là tuổi của đàn vịt khi có tỷ lệ đẻ 5%, nhược điểm của phương pháp này là không biết được tuổi đẻ chính xác của từng cá thể.

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Trọng và cs. (2009) cho biết: vịt Triết Giang có tuổi đẻ sớm nhất, chúng có thể đẻ ở 14 tuần tuổi, song như vậy ảnh hưởng đến khối lượng trứng và thời gian khai thác trứng. Khi nuôi nên cho đẻ ở 16-17 tuần tuổi. Trong điều kiện chăn nuôi tại Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên, vịt Triết Giang có tuổi đẻ ở tuần tuổi 17 là hợp lý.

Theo Nguyễn Thị Minh và cs. (2007) cho biết giống vịt Cỏ là vịt chuyên trứng có tuổi đẻ 20-21 tuần tuổi. Lê Thị Phiên và cs. (2006) giống vịt Khaki Campbell là giống vịt chuyên trứng cũng có tuổi đẻ 20-21 tuần tuổi.

Theo Nguyễn Đức Trọng và cs. (2009) vịt Đốm (Pất Lài) là giống vịt

kiêm dụng có tuổi đẻ 22 - 23 tuần tuổi.

2.3.3.2. Năng suất trứng

Năng suất trứng là số trứng gia cầm mái đẻ ra trong một đơn vị thời gian. Thông thường người ta tính năng suất trứng cho một năm, cũng có khi tính năng suất trứng trong một năm sinh học (365 ngày hoặc 500 ngày kể từ khi gia cầm nở ra).

11

Năng suất trứng là một tính trạng di truyền số lượng, có hệ số di truyền không cao, có biên độ dao động lớn. Kết quả nghiên cứu của Hutt.F.F (1978) cho biết hệ số di truyền năng suất trứng của gà Lergohrn dao động trong khoảng 0,09 - 0,22; của gà Plymouth là 0,25 - 0,41. Theo Nguyễn Thiện (1995) hệ số di

truyền năng suất trứng gia cầm là 12 - 30%.

Theo Hoàng Thị Lan và cs. (2005) hệ số di truyền năng suất trứng của

dòng trống T5 là 0,46; T1 là 0,43 và của dòng mái T6 là 0,55; T4 là 0,52.

Như vậy thì năng suất trứng không chỉ phụ thuộc vào yếu tố di truyền -

giống mà còn phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh khác.

Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất trứng

* Các yêu tố di truyền cá thể

Có 5 yêu tố di truyền ảnh hưởng đến năng suất trứng của gia cầm đó là tuổi thành thục sinh dục, cường độ đẻ trứng, tính nghỉ đẻ mùa vụ, thời gian kéo

dài chu kỳ đẻ trứng và tính ấp bóng.

+ Tuổi thành thục sinh dục

Như đã nói ở trên, tuổi thành thục có liên quan chặt chẽ tới năng suất trứng. Thành thục sớm là một tính trạng mong muốn, tuy nhiên phải quan tâm đến khối lượng cơ thể. Tùy vào từng giống để nuôi gia cầm giai đoạn hậu bị sao

cho tuổi đẻ và khối lượng vào đẻ phù hợp.

+ Cường độ đẻ trứng

Cường độ đẻ trứng có tương quan chặt chẽ với năng suất trứng trong một năm, nhất là cường độ đẻ trứng trong 3 - 4 tháng đầu tiên. Vì vậy để đánh giá năng suất trứng của gia cầm người ta thường kiểm tra cường độ đẻ trứng của 3-4 tháng đầu để có những phán đoán sớm, kịp thời trong công tác chọn giống.

+ Thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng

Chu kỳ đẻ trứng của gia cầm được tính từ khi gia cầm đẻ quả trứng đầu tiên đến khi gia cầm nghỉ để thay lông ( đây là một bản năng của gia cầm và do yếu tố di truyền). Sau đó gia cầm lại tiếp tục đẻ chu kỳ thứ hai. Nói cách khác chu kỳ đẻ trứng của gia cầm là thời gian đẻ trứng liên tục trong một đợt của một con gia cầm. Năng suất trứng của gia cầm phụ thuộc vào thời gian này kéo dài chu kỳ đẻ thứ nhât, thời gian này càng dài thì sản lượng trứng gia cầm càng cao.

Tùy thuộc vào giống gia cầm mà thời gian này là khác nhau.

12

+ Tính nghỉ đẻ mùa vụ

Vào mùa đông nhiệt độ xuống thấp cơ thể gia cầm sử dụng thức ăn ăn vào

để chống rét, do đó nhiều giống gia cầm giảm tỷ lệ đẻ dẫn đến ảnh hưởng năng

suất trứng. Tuy nhiên, ngày nay nhiều giống gia cầm được tạo ra thì tính nghỉ đẻ

rất ngắn hoặc là không có. Tính nghỉ đẻ có tương quan nghịch với năng suất

trứng. Tính nghỉ đẻ càng dài thì năng suất trứng càng thấp.

+ Tính ấp bóng

Gia cầm nói chung đều có tính ấp bóng, đây là bản năng tự nhiên của gia

cầm nhằm duy trì nòi giống. Tính đòi ấp là do tác động của chất prolắctin (PRL).

Gia cầm nội có hàm lượng PRL cao nên bản năng đòi ấp cao. Có thể loại bỏ

được tính ấp bóng của gia cầm thông qua quá trình chọn lọc nhằm nâng cao năng

suất của gia cầm.

* Yếu tố giống, dòng ảnh hưởng đến năng suất trứng gia cầm

Các giống, dòng gia cầm khác nhau thì năng suất trứng khác nhau. Những

giống, dòng được chọn lọc một cách nghiêm ngặt cho năng suất trứng cao hơn

các giống, dòng không được chọn lọc. Những giống gia cầm hướng trứng có

năng suất cao hơn các giống gia cầm chuyên thịt và kiêm dụng.

Theo Nguyễn Đức Trọng và cs. (2009) vịt Triết Giang là vịt chuyên trứng

có năng suất trứng/mái/52 tuần đẻ ở thế hệ xuất phát là 251,3 quả, thế hệ 1 là

251,89 quả, thế hệ 2 là 259,71 quả; tương ứng tỷ lệ đẻ trung bình là 68,85%,

69,20%, 71,35%.

Nguyễn Đức Trọng và cs. (2009) cho biết năng suất trứng của vịt kiêm

dụng Đốm (Pất Lài) thế hệ 1 là 164,63 quả/mái/ 52 tuần đẻ; thế hệ 2 là

167,7quả/mái/52 tuần đẻ và tỷ lệ đẻ bình quân tương ứng là 45,16% và 46,58%.

Phùng Đức Tiến và cs. (2008) năng suất trứng của vịt Super Heavy nuôi

tại Trại Cẩm Bình vịt dòng ông là 199,9 quả/mái/48 tuần đẻ với tỷ lệ đẻ trung

bình là 59,48%; dòng bà là 223,2 quả/mái/48 tuần đẻ với tỷ lệ đẻ bình quân là

66,44%.

* Tuổi gia cầm

Tuổi gia cầm càng già thì năng suất trứng càng thấp. Thường năm thứ 2

giảm 15%-20% so với năm thứ nhất.

13

* Mùa vụ

Mùa vụ có ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất trứng của gia cầm. Ở nước ta, mùa hè sức đẻ trứng của gia cầm giảm xuống nhiều so với mùa xuân và mùa thu. Theo tác giả Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (2001): vào mùa đông nhiệt độ môi trường xuống thấp (dưới 15oC) và nhiệt độ cao mùa hè (trên 300C) sẽ ảnh hưởng lớn đến sức đẻ trứng, khối lượng trứng và làm tăng tỷ lệ hao hụt.

Theo Nguyễn Đức Trọng và cs. (1996) khi nuôi vịt thay thế CV-Super M trong vụ xuân hè cho năng suất trứng dòng ông là 165 quả/mái/40 tuần đẻ, tỷ lệ đẻ cao nhất là 85%; dòng bà đạt 178,5 quả/mái/40 tuần đẻ tỷ lệ đẻ cao nhất là 90%. Còn khi nuôi thay thế đàn vịt vào vụ đông xuân năng suất trứng của vịt dòng ông là 158 quả/mái/40 tuần đẻ, tỷ lệ đẻ cao nhất là 76,8%; dòng bà là 170 quả/mái/40 tuần đẻ, tỷ lệ đẻ cao nhất là 82%.

* Phương thức nuôi

Phương thức nuôi đối với gia cầm không có ảnh hưởng nhiều, song đối với thủy cầm thì phương thức nuôi lại có ảnh hưởng lớn đến năng suất và hiệu quả kinh tế.

Nguyễn Đức Trọng và cs. (1997) cho biết vịt CV-Super M trong điều kiện nuôi không có nước bơi lội, dòng ông đạt năng suất trứng là 154 quả/mái/40 tuần đẻ, tỷ lệ đẻ cao nhất đạt 82%; dòng bà đạt 171 quả/mái/40 tuần đẻ, tỷ lệ đẻ cao nhất đạt 91% trong khi đó khi nuôi trong điều kiện nuôi có nước bơi lội thì năng suất trứng của dòng ông là 164 quả/mái/40 tuần đẻ, tỷ lệ đẻ cao nhất đạt 79%; và dòng bà là 176 quả/mái/40 tuần đẻ, tỷ lệ đẻ cao nhất là 87%.

* Thức ăn và dinh dưỡng

Thức ăn và dinh dưỡng là yêu tố quan trọng có liên quan chặt chẽ đến

năng suất trứng của gia cầm.

Theo Trần Quốc Việt và cs. (2009) cho biết nhu cầu năng lượng, protein, lysine và methionine của ngan Pháp và vịt CV-Super M trong giai đoạn đẻ trứng như sau: năng lượng trao đổi 2700 kcal/kg thức ăn, protein thô là 18,0%, lysine tổng số là 1,1%, methionine tổng số là 0,48% thì cho năng suất trứng cao nhất.

Theo Hoàng Văn Tiệu và Lương Tất Nhợ (1996) nghiên cứu trên vịt Khaki Campell cho biết giai đoạn vịt hậu bị trong 1kg thức ăn cần đạt 13% protein thô, 2400 kcal/kg thức ăn, đến giai đoạn vịt đẻ protein thô là 17% và năng lượng là 2800 kcal/kg thức ăn.

14

* Điều kiện ngoại cảnh

Ngoài những yếu tố trên, sức đẻ trứng của gia cầm còn phụ thuộc vào rất nhiều

yếu tố ngoại cảnh khác như: nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, chăm sóc nuôi dưỡng,...

2.3.3.3. Chất lượng trứng

Chất lượng trứng bao gồm: chất lượng bên ngoài và chất lượng bên trong.

Chất lượng bên ngoài bao gồm các chỉ tiêu: khối lượng trứng, hình dạng trứng, chất lượng vỏ (gồm: khối lượng vỏ, màu sắc, độ dày vỏ, độ chịu lực vỏ và mật độ lỗ khí).

Chất lượng bên trong bao gồm các chỉ tiêu về lòng đỏ, lòng trắng, giá trị dinh dưỡng, màu sắc và mùi vị, các chỉ số hình thái của lòng đỏ và lòng trắng.trúng bên ngoài.

2.3.3.4. Chất lượng bên ngoài

* Khối lượng trứng

Khối lượng trứng là chỉ tiêu quan trọng của trứng giống có liên quan đến kết quả ấp nở, kết quả ấp nở tốt nhất ở trứng có khối lượng xung quanh giá trị trung bình của giống, trứng có khối lượng lớn hơn hoặc nhỏ hơn đều cho kết quả ấp nở thấp hơn (Nguyễn Đức Trọng, 1998). Giá trị trung bình khối lượng trứng đẻ ra trong một chu kỳ là một tính trạng do nhiều gen có tác động cộng gộp quy định. Khối lượng trứng là một tính trạng có hệ số di truyền cao. Theo Brandsch and Billchel (1978) cho biết: Hệ số di truyền của tính trạng khối lượng trứng từ 48 - 80%. Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) hệ số di truyền về khối lượng trứng của gà từ 60 - 74%. Do đó, có thể đạt được khối lượng trứng như mong muốn nhanh chóng thông qua quá trình chọn lọc.

Nhiều công trình nghiên cứu cho rằng, giữa khối lượng trứng và năng suất trứng có tương quan nghịch, hệ số tương quan giữa năng suất trứng và khối lượng trứng là tương quan âm là -0,11 (dẫn theo Janva, 1967). Tùy vào từng giống mà khối lượng trứng có khác nhau. Nguyễn Đức Trọng và cs. (2009) cho biết khối lượng trứng của vịt Triết Giang thế hệ xuất phát là 59,93g, thế hệ 1 là 62,46g, thế hệ 2 là 60,29g.

Kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Trượng và cs. (1993) cho biết khối lượng trứng bình quân của vịt bố mẹ giống CV - Super M dòng trống là 90,2g, dòng mái là 82,9g. Khối lượng trứng của vịt SM3SH khi nuôi tại Trung tâm vịt Đại Xuyên của dòng trống là 91,64g và của dòng mái là 88,59g (Nguyễn Đức Trọng và cs., 2008).

15

* Hình dạng trứng

Trứng gia cầm thường có hình ovan hoặc hình elip, một đầu lớn và một đầu nhỏ. Hình dạng trứng được biểu thị qua chỉ số hình thái: là tỷ lệ giữa đường kính lớn và đường kính nhỏ (chỉ số dài) hoặc là tỷ lệ % của chiều rộng so với chiều dài (chỉ số rộng). Theo King and Henderson (1954) cho biết hệ số di truyền của tính trạng chỉ số hình thái trứng là h2 = 0,57 và là một tính trạng tương đối ổn định.

Trong chăn nuôi thủy cầm, chỉ số hình dạng là một chỉ tiêu đánh giá chất lượng của trứng ấp. Thực tế sản xuất cho thấy, những quả trứng quá dài hoặc quá tròn đều cho tỷ lệ ấp nở thấp. Trứng của mỗi loại giống thủy cầm đều có chỉ số hình thái riêng.

Theo M.V.Orlov (1974) cho biết điều kiện nuôi dưỡng ảnh hưởng đến hình dạng quả trứng. Khi chăm sóc nuôi dưỡng tốt thì hình dạng quả trứng đều nhau và ngược lại. Chỉ số hình thái của trứng một phần cũng nói lên chất lượng của trứng. Tùy vào từng giống, dòng mà trứng có chỉ số hình thái khác nhau.

Nguyễn Đức Trọng và cs. (1996) cho biết chỉ số dài của trứng vịt CV- Super M2 năm đẻ thứ 2 là 1,42 dài hơn so với trứng của năm đẻ thứ nhất là 1,41. Nguyễn Thị Bạch Yến (1997) cho biết chỉ số rộng của vịt Khaki Campbell là 71,04 - 72,18%, tương đương với chỉ số dài là 1,41 - 1,39 và tác giả cho rằng đó là hình dạng lý tưởng của trứng ấp.

* Chất lượng vỏ trứng

Màu sắc vỏ, khối lượng vỏ, độ dày vỏ, độ chịu lực, mật độ lỗ khí là các

chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng vỏ trứng.

Màu sắc trứng không có ý nghĩa lớn trong đánh giá chất lượng trứng, nhưng có giá trị trong thương mại và kỹ thuật. Màu sắc trứng là tính trạng đa gen, ở gà khi lai hai dòng gà trứng trắng và dòng gà trứng vỏ màu thì gà lai sẽ có trứng màu vỏ trung gian. Theo Brandsh and Billchel (1978) hệ số di truyền của màu vỏ trứng là 55 - 75 %. Do đó có thể tạo gia cầm đẻ trứng vỏ màu bằng cách chọn lọc những gia cầm có màu vỏ trứng như mong muốn theo quá trình chọn lọc.

Khối lượng vỏ và độ dày lại có ý nghĩa quan trọng trong quá trình ấp nở gia cầm. Trứng mới đẻ có vỏ dày hơn trứng của gia cầm đẻ đã lâu, trứng có vỏ dày khó nở hơn trứng vỏ mỏng. Trứng vỏ mỏng dễ dập vỡ, quá trình bay hơi nước nhanh dẫn đến phôi kém phát triển, tỷ lệ chết phôi cao. Trứng có vỏ dày làm cho quá trình trao đổi khí qua vỏ của phôi kém, phôi yếu, khi nở gia cầm con gặp khó khăn để đạp vỏ, do đó tỷ lệ chết phôi cao và tỷ lệ trứng tắc cao.

16

2.3.3.5.Chất lượng bên trong

* Lòng trắng trứng

Lòng trắng của trứng bao gồm lòng trắng loãng và lòng trắng đặc, được

cấu tạo chủ yếu là Albumin, một số khoáng chất và nước. Chất lượng lòng trắng

trứng được xác định bằng đơn vị Haugh và chỉ số lòng trắng.

Đơn vị Haugh được Haugh. R năm 1930 xây dựng, sử dụng để đánh giá

chất lượng trứng, đơn vị Haugh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời gian bảo

quản trứng, tuổi gia cầm, bệnh tật, nhiệt độ bảo quản, giống gia cầm...

Chỉ số lòng trắng cũng là một chỉ tiêu để đánh giá chất lượng lòng trắng,

chỉ số này được tính bằng tỷ lệ % giữa chiều cao lòng trắng đặc so với trung bình

công đường kính lớn và đường kính nhỏ của nó.

* Lòng đỏ trứng

Lòng đỏ trứng là thành phần quan trọng nhất của trứng gồm nước, protit,

lipit, gluxit, các axit amin không thay thế và các vitamin nhóm B, ADE làm

nhiệm vụ cung cấp chất dinh dưỡng cho phôi phát triển.

Chất lượng lòng đỏ được xác định bằng chỉ số lòng đỏ. Chỉ số lòng đỏ là

tỷ số giữa chiều cao lòng đỏ so với đường kính của nó. Trứng có chỉ số lòng đỏ

càng lớn thì chất lượng trứng càng tốt.

Dương Xuân Tuyển và cs. (1993) cho biết: trứng giống vịt CV. Super M

có chỉ số lòng đỏ là 0,4; chỉ số lòng trắng là 0,1 và đơn vị Haugh đạt 92,48.

Nguyễn Đức Trọng và cs. (2009) nghiên cứu trên vịt Đốm (Pất Lài) cho

thấy khối lượng trứng của vịt Đốm là 72,65 g, chỉ số hình thái là 1,38, tỷ lệ lòng

đỏ là 35,3% độ dày vỏ là 0,348 mm và đơn vị Haugh là 84,6.

2.3.3.6. Khả năng ấp nở của trứng vịt

Khả năng ấp nở của trứng vịt được đánh giá thông qua các chỉ tiêu: tỷ lệ trứng

có phôi, tỷ lệ nở/ trứng có phôi, tỷ lệ nở/tổng trứng vào ấp và tỷ lệ vịt con loại 1.

a. Tỷ lệ trứng có phôi

Tỷ lệ trứng có phôi có ảnh hưởng trực tiếp tới số con nở ra trong quá trình sinh sản của một vịt mái, chỉ tiêu này đánh giá khả năng kết hợp giữa tinh trùng của vịt đực và bao noãn của vịt mái, chỉ tiêu này có hệ số di truyền thấp và phụ thuộc nhiều vào các yếu tố ngoại cảnh tác động, tỷ lệ trứng có phôi phụ thuộc

17

vào tỷ lệ đực mái trong đàn, khả năng cho phôi của từng cá thể vịt đực, khoảng

thời gian thụ tinh của tinh trùng sau một lần giao phối và thời điểm giao phối.

Tỷ lệ trứng có phôi khác nhau ở từng dòng khác nhau, kết quả nghiên cứu trên vịt CV. Super M qua 4 thế hệ cho thấy tỷ lệ trứng có phôi của dòng mái là 92,91% luôn cao hơn tỷ lệ trứng có phôi của dòng trống là 88,2 - 92,0% (Dương

Xuân Tuyển, 1998).

Tỷ lệ trứng có phôi phụ thuộc vào tỷ lệ ghép đực mái trong đàn, theo kết quả nghiên cứu của Aggarwal and Dipankar (1986) trên vịt Bắc Kinh, khi ghép tỷ lệ đực mái là 1/5 đến 1/10 thì tỷ lệ trứng có phôi là 81 - 91%, nhưng nếu ghép

đực mái tỷ lệ lên đến 1/15 thì tỷ lệ trứng có phôi chỉ đạt 72 - 80%.

Phương thức nuôi có ảnh hưởng đến tỷ lệ trứng có phôi của vịt, kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Trọng và cs. (2005) trên vịt CV. Super M nuôi theo phương thức nuôi khô không có nước bơi lội và nuôi có nước bơi lội tại Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên cho biết: tỷ lệ trứng có phôi ở dòng trống là 90% và dòng mái là 93% khi nuôi khô, còn khi nuôi nước tỷ lệ trứng có phôi tương

ứng là 93% và 94%.

Mùa vụ khác nhau cũng có ảnh hưởng đến tỷ lệ trứng có phôi. Theo Nguyễn Đức Trọng và cs. (2005) tỷ lệ trứng có phôi trên vịt CV. Super M khi thay thế vụ Đông Xuân và Xuân Hè là khác nhau, cụ thể ở dòng trống đạt 90% và dòng mái đạt 93% khi đàn thay thế ở vụ Đông Xuân, đàn thay thế ở vụ Xuân

Hè tỷ lệ trứng có phôi ở dòng trống đạt 93% và dòng mái đạt 95%.

b. Chỉ tiêu ấp nở

Chỉ tiêu ấp nở nói chung bao gồm tỷ lệ nở/trứng có phôi, tỷ lệ nở/tổng trứng đưa vào ấp và tỷ lệ vịt con loại 1. Tỷ lệ ấp nở là một chỉ tiêu có hệ số di truyền thấp, ở vịt Bắc Kinh hệ số di truyền h2 = 0,15 (Ping gel, 1990). Chỉ tiêu ấp nở phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố ngoại cảnh như: điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, các yếu tố trong quá trình ấp nở (nhiệt độ, ẩm độ, làm mát), thời gian bảo

quản trứng, vị trí xếp trứng trong khay và trong máy ấp.

2.3.4. Tiêu tốn thức ăn/đơn vị sản phẩm

Tiêu tốn thức ăn/đơn vị sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng trong chăn nuôi vịt, theo tính toán chi phí thức ăn thường chiếm 70 - 75% giá thành sản phẩm chăn nuôi, cho nên việc giảm chi phí thức ăn có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi. Đối với vịt nuôi sinh sản thì hiệu quả sử dụng thức ăn

18

được tính là tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng, còn đối với vịt nuôi thương phẩm lấy

thịt hiệu quả sử dụng thức ăn được tính là tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng.

Nguyễn Công Quốc và cs. (1993) cho biết tiêu tốn thức ăn cho 10 quả

trứng của vịt CV - Super M thế hệ 1 ở dòng ông là 4,84 kg, ở dòng bà là 3,26 kg.

Phạm Công Thiếu và cs. (2005) cho biết tiêu tốn thức ăn của vịt Bầu Bến qua 3 thế hệ 1, 2, 3 giai đoạn 1 - 10 tuần tuổi lần lượt là: 3,67, 4,27, 3,88 kg thức ăn/kg tăng trọng; giai đoạn hậu bị lần lượt là: 8,20, 9,67, 9,56 kg/con và giai đoạn đẻ trứng (34 tuần tuổi ở thế hệ 1, 2 và 21 tuần tuổi ở thế hệ 3) là 2,36, 2,56, 3,68

kg thức ăn/10 quả trứng (do dập vịt vì dịch cúm).

Kết quả về tiêu tốn thức ăn với vịt Bầu Quỳ thương phẩm nuôi theo 3

phương thức: thâm canh, bán thâm canh, chăn thả giai đoạn 1 - 3 tuân tuổi lần lượt

là 2,55, 2,57, 2,56 kg thức ăn/kg tăng trọng và giai đoạn 4 – 9 tuần tuổi tương ứng

là 3,35, 2,68, 1,90 kg thức ăn/kg tăng trọng (Nguyễn Quế Côi và cs., 2005).

Tóm lại, vịt là loài vật nuôi có khả năng thích ứng cao. Nhiều tính trạng

năng suất thịt của vịt có khả năng di truyền cao,do đó việc chọn lọc để nâng cao

năng suất của các tính trạng này sẽ có hiệu quả. Còn các tính trạng về khả năng

sinh sản có khả năng di truyền thấp nên chịu sự ảnh hưởng lớn của điều kiện

ngoại cảnh, do đó để cải tiến các tính trạng về khả năng sinh sản cần kết hợp cả

chọn lọc và điều kiện ngoại cảnh phù hợp sẽ mang lại hiệu quả kinh tế to lớn cho

ngành chăn nuôi thủy cầm.

2.4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

2.4.1. Tình hình nghiên cứu trong nước

Chăn nuôi vịt là một nghề truyền thống có từ lâu đời của người dân Việt Nam. Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi vịt có sự phát triển mạnh mẽ. Để có được những kết quả này phải kể đến những tiến bộ về thức ăn, quản lý, thú y và đặc biệt là công tác giống, trong đó có công tác nuôi thích nghi các giống nhập từ nước ngoài về, công tác chọn lọc và công tác lai

tạo giữa các giống với nhau.

Việt Nam có nhiều giống vịt như: vịt Cỏ, vịt Bầu, vịt Ô Môn, vịt Kỳ Lừa... nhưng năng suất thịt và trứng thấp. Từ những năm 1975 và 1983 vịt Anh Đào đã được nhập từ Hungari và đến năm 1986 vịt Anh Đào của Tiệp cũng được nhập

vào nước ta, từ đó đã có nhiều công trình nghiên cứu về giống vịt này.

19

Đến đầu những năm 1989 - 1990 nhiều giống vịt cao sản được nhập về như vịt Khaki Campbell được nhập từ Thái Lan. Giống vịt này đã phát triển ở nước ta và phục vụ chăn nuôi tốt. Đến nay có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả đã nghiên cứu trên vịt Khaki Campbell như: Nghiên cứu khả năng sản xuất vịt Khaki Campbell nuôi tại Việt Nam (Hoàng Văn Tiệu và cs., 1997), Năng suất sinh sản của vịt Khaki Campbell nuôi chăn thả ở dải ven biển đồng bằng sông Hồng (Lương Tất Nhợ và cs., 1997), Kết quả nuôi vịt Khaki Campbell trong nông hộ ở một số vùng sinh thái khác nhau (Phạm Văn Trượng và cs., 1996)...Các nghiên cứu này đều cho kết quả tốt và vịt Khaki Campbell vẫn được

nuôi giữ và được người dân ưa chuộng cho đến ngày nay.

Cũng từ năm 1989, Việt Nam đã nhập giống vịt CV-Super M bố mẹ từ Vương Quốc Anh. Giống vịt CV-Super M là giống vịt chuyên thịt có năng suất và chất lượng thịt cao. Hiện nay giống vịt này được nuôi phổ biến ở tất các vùng miền trên cả nước với hiệu quả kinh tế cao. Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trên giống vịt này như: quy trình chăn nuôi vịt CV - Super M (Hoàng Văn Tiệu và cs., 1997). Nghiên cứu một số chỉ tiêu năng suất của vịt sinh sản CV - Super M năm đẻ thứ 2 (Nguyễn Đức Trọng và cs., 1996). Nghiên cứu một số chỉ tiêu sản xuất của vịt CV - Super M các mùa trong năm. Nghiên cứu chỉ tiêu sản xuất vịt CV - Super M của hai phương thức nuôi khô và nuôi nước (Nguyễn Đức Trọng và cs., 1997). Vịt CV Super M là nguồn nguyên liệu quý để chọn tạo ra

nhiều dòng vịt mới có năng suất và chất lượng cao phục vụ sản xuất.

Đến năm 2005 giống vịt Triết Giang có nguồn gốc từ Trung Quốc đã được được nhập chính thức vào Việt nam thông qua Trung tâm chuyển giao Tiến bộ Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Hải Ninh, tỉnh Quảng Ninh. Trước đó giống vịt này cũng đã được nhập vào nước ta bằng con đường tiểu ngạch. Đây là giống vịt chuyên trứng, vịt có lông màu cánh sẻ nhạt, một số ít có màu trắng, có tuổi đẻ rất sớm 90 - 120 ngày, năng suất trứng 250 - 270 quả/mái/năm, khối lượng trứng 55 - 65g (Nguyễn Đức Trọng, 2009). Vịt Cỏ màu cánh sẻ là giống vịt nội của Việt Nam, đã được chọn lọc tại Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên qua nhiều thế hệ, vịt có tuổi đẻ là 137 - 145 ngày, năng suất trứng đạt 250 - 260 quả/mái/năm, trứng có khối lượng là 60 - 67g (Nguyễn Thị Minh, 2001). Vịt CV2000 nuôi dưỡng và chăm sóc tại trại Vigova, sau 5 thế hệ chọn lọc nhân thuần, khối lượng cơ thể vịt mái 1830g và khối lượng cơ thể vịt trống là 2014g ở thời điểm vịt

trưởng thành (Nguyễn Văn Bắc, 2005).

20

Vẫn đi theo hướng nhập nội các giống vịt cao sản của Thế giới, và vẫn lấy

vịt CV từ những năm 2000 đến nay nhiều giống vịt thuộc bộ giống vịt CV - Super

M từ Vương quốc Anh đã được nhập vào nước ta như vịt Super M2, Super M2i,

Super M3, Super M3 Super Heavy. Từ các giống vịt này đã có nhiều công trình

nghiên cứu và đã cho kết quả về khả năng sản xuất thịt cũng như trứng tốt đáp ứng

được nhu cầu và thị hiếu của người dân, đưa chăn nuôi vịt trở thành thu nhập chính

của người chăn nuôi và góp phần lớn vào thu nhập bình quân của người dân.

Bên cạnh các giống vịt chuyên thịt từ nước Anh, nước ta cũng nhập các

giống vịt từ Pháp để phục vụ cho các hướng sử dụng khác nhau như: Star 13 là

giống vịt chuyên trứng; vịt M14, vịt M15 nhằm sử dụng làm mái nền cho công

tác thụ tinh nhân tạo để tạo ra con lai ngan - vịt nhồi lấy gan béo, STAR 53 và

STAR 76 là giống vịt chuyên thịt được nhập vào nước ta nhằm làm tươi máu cho

các giống vịt CV - Super M.

Các công trình nghiên cứu về thủy cầm trên đây chỉ là một vài công trình

mang tính minh họa và không thể đề cập được hết. Nhưng không thể phủ nhận sự

đóng góp to lớn của các công trình nghiên cứu đã mang lại hiệu quả kinh tế, tìm

ra hướng đi phù hợp và đúng đắn cho sự phát triển của ngành chăn nuôi thủy cầm

Việt Nam và góp phần vào sự phát triển của ngành chăn nuôi nói riêng và sự phát

triển của đất nước nói chung.

2.4.2. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước

Trong những năm trở lại đây, ngành chăn nuôi gia cầm đã đạt những tiến bộ đáng kể về giống như: thời gian nuôi thịt giảm dần từ 136 ngày xuống còn 70 ngày, khối lượng xuất chuồng tăng từ 1,5kg/con lên 3,7kg/con, tiêu tốn thức ăn giảm từ 4,7kg TA/kg tăng khối lượng xuống còn 2,1 kg TA/kg tăng khối lượng, tỷ lệ nuôi sống tăng từ 82% lên 98%. Có được những thành quả như vậy là nhờ những thành tựu lớn trong quá trình nghiên cứu chọn lọc tạo dòng, giống mới của các nhà nghiên cứu di truyền – giống, tạo ra ưu thế lai. Do vậy mà sản phẩm của nghành chăn nuôi của thế giới không ngừng được tăng lên cả về số lượng và chất lượng. Năm 2003 tổng đàn gà trên thế giới là 45.986 triệu con, sản lượng thịt đạt 65.016 triệu tấn, sản lượng trứng đạt 55.827 triệu tấn. Cùng năm 2003, khu vực ASEAN sản xuất thịt gia cầm đạt 4,32 triệu tấn chiếm 21% so với Châu Á và 6,6 % toàn thế giới, sản lượng trứng đạt 2,65 triệu tấn chiếm 8% so với Châu Á và

4,8% toàn thế giới. Vịt có 150 triệu con trong đó hơn 100 triệu con ở Châu Á.

21

Kết quả nghiên cứu của Hall and Martin (2006) cho biết hãng Cherry Valley đã chọn lọc giống vịt siêu thịt qua 10 năm có tốc độ sinh trưởng tuyệt đối tăng từ 68g/con/ngày (năm 1996) lên 75g/con/ngày (năm 2005), đồng thời với đó tiêu tốn thức ăn giảm dần từ 2,5kg/kg tăng khối lượng xuống còn 2,15kg. Kết quả chọn lọc năng suất trứng đã tăng từ 5,55quả/mái/tuần năm 1996 lên 5,75 quả/mái/tuần.

Poivey et all (2001) cho biết: giống vịt Tsaiya được chọn lọc từ năm 1992 theo hướng tăng tỷ lệ phôi khi dùng để thụ tinh nhân tạo với ngan, kết quả sau 6 thế hệ chọn lọc với tỷ lệ chọn lọc ở vịt trống là 11,8 - 19,7% và ở vịt mái là 23,8 - 31,4%, hệ số di truyền của tính trạng năng suất trứng tính theo bố là h2 = 0,05, theo mẹ là h2 = 0,46 và theo cả bố và mẹ là h2 = 0,25. Theo Yu Shin Cheng ell all (2002) cũng chọn lọc trên vịt Tsaiya qua 8 thế hệ, kết quả tỷ lệ phôi ở thế hệ 8 trung bình từ 2 - 15 ngày sau khi thụ tinh nhân tạo của vịt được chọn lọc đạt 54,4% và vịt không được chọn lọc là 34,39%; tỷ lệ nở/trứng có phôi của vịt được chọn lọc là 73,04% và vịt không được chọn lọc là 70,6%; tỷ lệ nở/tổng số trứng vào ấp tương ứng là 39,74% và 24,28%; trung bình từ 2 - 8 ngày sau khi thụ tinh thì tỷ lệ phôi của vịt Tsaiya được chọn lọc đạt 89,18% và vịt không được chọn lọc là 63,79%, tỷ lệ nở/trứng có phôi tương ứng là 72,52% và 70,64%, tương ứng tỷ lệ nở/tổng trứng vào ấp là 64,67% và 45,06% các giá trị của vịt được chọn lọc và vịt không được chọn lọc đều có sự sai khác P < 0,05.

Theo Hu ell all (2006) quá trình theo dõi và chọn lọc ngan qua 15 thế hệ cho thấy: từ thế hệ xuất phát đến thế hệ 8 quá trình theo dõi khối lượng cơ thể 10 tuần tuổi ở ngan trống và ngan mái không có sự chênh lệch ở thế hệ xuất phát và thế hệ 8, khối lượng cơ thể ngan trống lúc 10 tuần tuổi ở thế hệ xuất phát là 3200g/con, ngan mái là 2135g/con và đến thế hệ 8 khối lượng cơ thể 10 tuần tuổi ngan trống là 3195g/con, ngan mái là 2157g/con. Từ thế hệ 8 tiến hành chọn lọc theo khối lượng cơ thể 10 tuần tuổi, thế hệ 8 khối lượng 10 tuần tuổi của ngan trống là 2752g/con, đến thế hệ 13 khối lượng 10 tuần tuổi là 4131g/con, ở ngan mái khối lượng tương ứng là 1897g/con và 2528g/con; khối lượng của ngan ở nhóm không được chọn lọc khối lượng 10 tuần tuổi thế hệ 13 là 2958g/con ở ngan trống, 2468g/con ở ngan mái.

Vịt Bắc Kinh nuôi tại Phần Lan có khối lượng trứng đạt 85,8 - 86,2g/quả, tỷ lệ phôi đạt 88,1 - 92,3%, tỷ lệ nở/trứng có phôi đạt 71,5 - 72,7% và tỷ lệ nở/tổng trứng ấp đạt 63,1 - 67,2%. Đối với vịt nuôi thương phẩm khi nuôi đến 7 tuần tuổi khối lượng cơ thể ở vịt trống là 2471,9g/con và vịt mái là 2385,7g/con, tỷ lệ cơ lườn đạt 10,5% và 11,6%, tỷ lệ cơ đùi tương ứng là 15,1% và 14,7% (Ksiazkiewicz, 2002).

22

Ngoài hệ thống giống hoàn chỉnh có chất lượng, nhiều nước cũng tập trung vào nghiên cứu đến quy trình chăn nuôi, phương thức chăn nuôi cũng như cải tiến về mặt dinh dưỡng. Nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh thủy cầm có khả năng tận dụng thức ăn nhiều xơ với khẩu phần có mức ME và CP thấp. Trong chăn nuôi thủy cầm theo hướng chăn thả tận dụng, có thể cung cấp cho chúng những thức ăn phụ phẩm, nghèo dinh dưỡng ở khẩu phần khởi động.

Như vậy, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ trên thế giới, sự phát triển của các hệ thống chăn nuôi đã mang lại hiệu quả không ngừng

cho sự phát triển chăn nuôi thủy cầm trên thế giới.

2.5. SƠ LƯỢC VÀI NÉT VỀ GIỐNG VỊT BẦU BẾN

Vịt Bầu Bến có nguồn gốc ở vùng Chợ Bến, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình, hiện nay được nuôi ở nhiều nơi như Hà Nội, Hà Tây, Thanh Hoá và một số nơi khác. Con mái có màu nâu-vàng xen lẫn. Con trống có màu cánh sẻ phía đầu, lưng. Tuy nhiên vẫn có một số con có màu khác. Vịt bầu thân hình vững chắc, hình chữ nhật, đầu to, thân mình hơi dài, cổ ngắn vừa phải, ngực rộng, sâu, bụng sâu, dáng đi nặng nề, lạch bạch, mỏ và chân có nhiều màu khác nhưng phổ biến nhất là màu vàng, con trống có mỏ màu xanh lá cây. Khả năng cho thịt của vịt Bầu Bến không cao, nhưng khả năng tự kiếm mồi tốt thích nghi tốt với điều kiện

chăn thả truyền thống.

Theo các chuyên gia về chăn nuôi, vịt Bầu Bến là một trong những giống vật nuôi đã trải qua nhiều năm dưới tác động của chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo. Chúng có những đặc điểm quý, như: khả năng sử dụng các loại thức ăn thô, nghèo dinh dưỡng, các loại côn trùng và các loại sinh vật trong tự nhiên; có khả năng chống chịu bệnh tật; khả năng sinh sản bảo tồn nòi giống và cho sản phẩm thịt có độ dinh dưỡng cao, vị thơm, ngon. Tuy nhiên, do năng suất chưa cao, và do xu hướng "chạy đua" tìm vật nuôi nhập khẩu hoặc giống lai có năng

suất cao... nên giống vịt này đã có thời gian bị người nuôi ”bỏ quên”...

Ngày nay, khi đời sống của người dân được nâng lên và chủ yếu quan tâm đến chất lượng sản phẩm thì giống vịt Bầu có chất lượng thịt thơm ngon được người tiêu dùng ưa chuộng. Giá bán vịt Bầu Bến tại các chợ địa phương thường đắt hơn 1,2 đến 1,25 lần so với các loại vịt thông thường khác. Vì thế, những nghiên cứu nhằm bảo tồn giống vịt Bầu Bến này cũng đang được nhiều người

nuôi vịt quan tâm.

23

Từ trước đến nay cũng có một số nghiên cứu về giống vịt Bầu Bến như:

nghiên cứu bảo tồn quỹ gen vịt Bầu Bến tại Hòa Bình (Hồ Khắc Oánh và cs.,

2003); kết quả bước đầu nghiên cứu một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sản

xuất của vịt Bầu Quỳ và vịt Bầu Bến nuôi tại Viện Chăn nuôi (Phạm Công Thiếu

và cs., 2003); kết quả theo dõi về ngoại hình và khả năng sản xuất của vịt Bầu

Bến qua 3 thế hệ tại Viện Chăn nuôi (Phạm Công Thiếu và cs., 2005); kết quả

nuôi giữ, bảo tồn quỹ gen vịt Đốm (Pất Lài), và vịt Bầu Bến tại trung tâm nghiên

cứu vịt Đại Xuyên (Nguyễn Đức Trọng và cs., 2006); đặc điểm ngoại hình và

khả năng sản xuất của vịt Bầu và vịt Đốm (Nguyễn Thị Thúy Nghĩa và cs.,

2011),... Những kết quả nghiên cứu thu được là cơ sở để đánh giá về giống vịt

Bầu Bến và có kế hoạch nhân giống, bảo tồn nguồn gen quý hiếm phát huy tiềm

năng của giống vịt địa phương.

24

PHẦN 3. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Tại Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên - Viện Chăn nuôi.

3.2. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Từ tháng 7/2015 - 5/2016.

3.3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Vịt Bầu Bến đàn hạt nhân

Vịt Bầu Bến đàn thương phẩm

3.4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.4.1. Đàn hạt nhân

- Đặc điểm ngoại hình của vịt Bầu Bến

- Khả năng sản xuất của vịt Bầu Bến

3.4.2. Đàn thương phẩm

- Khả năng sản xuất của đàn thương phẩm

3.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.5.1. Phương pháp chăm sóc, nuôi dưỡng

3.5.1.1. Đàn hạt nhân

Vịt Bầu Bến đàn hạt nhân được nuôi dưỡng và chăm sóc theo quy

trình chăn nuôi an toàn sinh học, vệ sinh thú y của Trung tâm Nghiên cứu

Vịt Đại Xuyên.

Giai đoạn vịt con (0 - 8 tuần tuổi): chọn vịt giống loại 1, cho vịt ăn hạn

chế theo định mức khẩu phần thức ăn, cứ 2 tuần cân khối lượng một lần, cân từng

con, cân vào 1 giờ, 1ngày cố định trong tuần vào buổi sáng, trước khi cho vịt ăn,

bằng cân điện tử có độ chính xác ± 0,05g.

Giai đoạn vịt hậu bị (9 – 20 tuần tuổi): từ 9 tuần đến khi vịt đẻ, vịt ăn hạn

chế theo định lượng, cân khối lượng vịt 2 tuần/lần, cân bằng cân đồng hồ, có độ

chính xác ± 50 g.

25

Giai đoạn vịt đẻ : được tính từ khi tỷ lệ đẻ của đàn đạt 5%, vịt được sử dụng thức ăn hỗn hợp cho vịt đẻ từ 2 tuần trước khi vào đẻ, và ăn theo chế độ

dựng đẻ. Từ khi vịt đẻ đến khi kết thúc 52 tuần đẻ cho vịt ăn tự do ở ban ngày.

Vịt được cho ăn bằng thức ăn của công ty Thái Dương với thành phần

dinh dưỡng theo bảng 3.1.

Vịt sinh sản

Chỉ tiêu

Vịt con (0 – 8 tuần tuổi)

Vịt hậu bị (9 tuần - trước khi vịt đẻ 2 tuần)

Protein thô (%)

22,0

14,5

17,5

ME (kcal/kg)

2890

2890

2700

Bảng 3.1. Chế độ dinh dưỡng cho vịt Bầu Bến đàn hạt nhân

Vịt Bầu Bến nuôi sinh sản được cho ăn hạn chế theo định lượng thức ăn

dưới đây:

Ngày tuổi

g/con/ngày

Ngày tuổi

g/con/ngày

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17

4 8 12 16 20 24 28 32 36 40 44 48 52 56 60 64 68

18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28-56 57-70 71-84 85-98 99-112 113-126 127-133

72 76 80 84 88 92 96 100 104 108 112 120 128 136 144 152 160

Bảng 3.2. Định lượng thức ăn cho vịt Bầu Bến đàn hạt nhân

26

3.5.1.2. Đàn thương phẩm

Vịt Bầu Bến đàn thương phẩm được nuôi dưỡng và chăm sóc theo quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, vệ sinh thú y của Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại

Xuyên.

Vịt được ăn tự do với chế độ dinh dưỡng theo bảng 3.3.

Chỉ tiêu

Vịt con (1 - 21 ngày tuổi)

Vịt từ 22 ngày – 70 ngày tuổi

Protein thô (%)

22,0

18

ME (kcal/kg)

2890

3200

Bảng 3.3. Chế độ dinh dưỡng cho vịt Bầu Bến thương phẩm

Thực hiện 1 tuần cân khối lượng một lần, cân từng con, cân vào 1 giờ, 1ngày cố định trong tuần vào buổi sáng, trước khi cho vịt ăn, bằng cân điện tử có

độ chính xác ± 0,05g (0 – 8 tuần tuổi), ± 50 g (9 - 10 tuần tuổi).

3.5.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm

3.5.2.1. Trên đàn hạt nhân

Thí nghiệm tiến hành trên giống vịt Bầu Bến đàn hạt nhân, số lượng

như sau:

- 1 ngày tuổi là 510 con (90 vịt trống + 420 vịt mái), vịt được chia làm 3

lô mỗi lô gồm 30 vịt trống + 140 vịt mái.

- Giai đoạn sinh sản là 255 vịt mái + 42 vịt trống (được chia làm 3 lô, mỗi

lô gồm 85 vịt mái + 14 vịt trống).

3.5.2.2. Trên đàn vịt thương phẩm

Thí nghiệm theo dõi khối lượng cơ thể và lượng thức ăn thu nhận của vịt nuôi thương phẩm, số lượng 40 con (20 trống + 20 mái), từ 1 ngày tuổi đến 10 tuần tuổi. Khảo sát vịt thương phẩm ở 8, 9 và 10 tuần tuổi, mỗi tuần mổ 3 vịt trống và 3 vịt mái để đánh giá khả năng sinh trưởng và các chỉ tiêu chất lượng thịt, thí nghiệm lặp lại 3 lần.

3.5.3. Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu

Đặc điểm ngoại hình: bằng cách quan sát, chụp ảnh, mô tả màu lông, mỏ, chân, hình dáng, đầu, cổ vào các thời điểm 1 ngày tuổi và trưởng thành (22

tuần tuổi).

27

Kích thước các chiều đo trên cơ thể được xác định lúc vịt 8 tuần tuổi và

38 tuần, bao gồm: dài thân, vòng ngực, dài lườn, cao chân, dài lông cánh.

+ Chiều dài thân: đo bằng thước dây, từ đốt xương cổ cuối cùng đến đốt

xương đuôi đầu tiên (cm).

+ Vòng ngực: đo bằng thước dây vòng quanh ngực, sát gốc phía dưới

cánh (cm).

+ Chiều dài lườn: đo bằng compa, từ mép trước của lườn, dọc theo đường thẳng tới cuối hốc ngực phía trước (từ đầu mỏm trước đến điểm cuối cùng của

xương lưỡi hái) (cm).

+ Cao chân: đo bằng thước thẳng, từ khớp khuỷu chân đến đệm bàn

chân (cm).

+ Dài lông cánh: đo bằng thước thẳng, đo lông cánh thứ tư của hàng lông

thứ nhất (cm).

Mỗi kích thước được đo ngẫu nhiên 30 con, xác định chỉ tiêu này trên cả

hai giới tính (trống và mái) theo tỷ lệ 1:1.

Tỷ lệ nuôi sống: theo dõi, ghi chép số đầu con từng ngày trong suốt quá

trình theo dõi, tính toán tỷ lệ nuôi sống theo tuần.

Khối lượng cơ thể: vịt được cân bằng cân điện tử, ở ngày cố định trong tuần vào buổi sáng trước khi cho vịt ăn. Đối với đàn hạt nhân cứ 2 tuần cân khối lượng 1 lần, cân từng con đến 22 tuần tuổi. Đối với đàn thương phẩm cân 1 tuần

1 lần, cân từng con đến 10 tuần tuổi.

Lượng thức ăn tiêu tốn: cân lượng thức ăn đổ vào máng cho vịt ăn mỗi bữa. Cuối mỗi ngày, vét sạch lượng thức ăn còn trong máng và cân lại lượng thức ăn đó, tính ra lượng thức ăn đã tiêu tốn.

Các chỉ tiêu về sinh sản: theo dõi sổ sách, ghi chép tuổi đẻ của vịt, khối lượng vào đẻ; tính toán tỷ lệ đẻ, năng suất trứng, tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng (kg); khảo sát các chỉ tiêu về chất lượng trứng (khối lượng trứng, chỉ số hình thái, chỉ số lòng đỏ, chỉ số lòng trắng, đơn vị Haugh, độ dày vỏ trứng, tỷ lệ lòng đỏ, tỷ lệ lòng trắng, tỷ lệ vỏ), khảo sát 35 quả trứng ở thế hệ xuất phát; các chỉ tiêu về ấp nở (tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ trứng chết phôi, tỷ lệ nở/phôi, tỷ lệ con loại 1). Sử dụng các dụng cụ thông thường để cân đo như cân điện tử, thước đo độ dài,

thước đo đơn vị Haugh.

28

Tỷ lệ nuôi sống

Số con còn sống đến cuối kỳ Tỷ lệ nuôi sống (%) = x 100

Số con đầu kỳ

Tuổi thành thục sinh dục:

Tuổi thành thục sinh dục của một cá thể vịt là thời gian từ khi vịt mới nở đến khi đẻ quả trứng đầu tiên. Đối với một đàn vịt, tuổi thành thục sinh dục là

tuổi của đàn vịt khi có tỷ lệ đẻ 5%.

Tỷ lệ đẻ:

Hàng ngày, đếm chính xác số lượng trứng đẻ ra, số trứng được chọn ấp và

số vịt mái có mặt. Tỷ lệ đẻ và tỷ lệ trứng giống được xác định theo công thức:

Tổng số trứng đẻ ra trong tuần (quả) Tỷ lệ đẻ (%) = x 100 Tổng số mái có mặt trong tuần (con)

Năng suất trứng/mái:

Tổng trứng đẻ ra thu được trong kỳ (quả) Năng suất trứng (quả/mái) = Số mái bình quân có mặt trong kỳ (con)

Tiêu tốn thức ăn/ 10 quả trứng:

Tổng thức ăn thu nhận (kg) TTTĂ/10 quả trứng = x 10 Tổng số trứng được đẻ ra (quả)

Số trứng đạt tiêu chuẩn, được chọn ấp (quả)

Tỷ lệ trứng giống (%) =

x 100

Số trứng đẻ ra (quả)

Tỷ lệ trứng giống

- Tỷ lệ trứng có phôi (tỷ lệ thụ tinh)

Trứng có phôi xác định bằng phương pháp soi trứng sau 7 ngày ấp, tỷ lệ

trứng có phôi được tính theo công thức:

Số trứng có phôi (quả) Tỷ trứng có phôi (%) = x 100 Số trứng đẻ ra (quả)

29

- Tỷ lệ nở

Tỷ lệ nở thường được tính bằng 1 trong các công thức sau:

Số vịt nở ra (con) TL nở/trứng ấp (%) = x 100 Số trứng đưa vào ấp (quả)

Tổng số vịt nở (con) TL nở/ trứng có phôi (%) = x 100 Số trứng có phôi (quả)

Tổng số vịt nở loại I (con) Tỷ lệ nở loại I/trứng ấp (%) = x 100 Số trứng đưa vào ấp (quả)

Đánh giá các chỉ tiêu chất lượng trứng:

- Khối lượng trứng

Tổng khối lượng trứng cân được (g) Khối lượng trứng trung bình = Tổng số trứng cân được (quả)

- Chỉ số hình dạng của trứng (CSHD)

Chỉ số hình dạng được tính bằng công thức:

D (mm) Chỉ số hình dạng = d (mm)

Trong đó: D là đường kính lớn; d là đường kính nhỏ của trứng.

- Chất lượng vỏ trứng

Chất lượng vỏ trứng hay được đánh giá thông qua các chỉ tiêu như độ chịu lực, độ dày vỏ và mật độ lỗ khí. Đo độ chịu lực, độ dày vỏ của trứng trên máy

chuyên dụng của Nhật Bản.

30

- Tỷ lệ lòng đỏ:

Khối lượng lòng đỏ (g) Tỷ lệ lòng đỏ (%) = x100 Khối lượng trứng (g)

- Tỷ lệ lòng trắng:

Khối lượng lòng trắng (g) Tỷ lệ lòng trắng(%) = x100 Khối lượng trứng (g)

- Tỷ lệ vỏ:

Khối lượng vỏ (g) Tỷ lệ lòng đỏ (%) = x100 Khối lượng trứng (g)

- Chỉ số lòng đỏ

Bằng các dụng cụ chuyên dùng để được chiều cao của lòng đỏ (H) và đường

kính của nó (D), từ đó xác định được chỉ số lòng đỏ (CSLĐ) tính theo công thức:

H (mm) Chỉ số lòng đỏ = D (mm)

Chỉ số lòng đỏ biểu hiện trạng thái và chất lượng của lòng đỏ, chỉ số này càng

cao càng tốt, trứng vịt tươi chỉ số này là 0,4 - 0,5. Chỉ số này thay đổi phụ thuộc

vào đặc điểm loài, giống, cá thể, nó giảm dần theo thời gian bảo quản trứng.

- Chỉ số lòng trắng đặc

Chỉ số lòng trắng đặc là tỷ số giữa chiều cao và đường kính trung bình của

lòng trắng đặc, có thể tính bằng công thức:

2H (mm) Chỉ số lòng trắng đặc = D +d (mm)

Trong đó: H: là chiều cao của lòng trắng đặc

D: là đường kính lớn của lòng trắng đặc

d: là đường kính nhỏ của lòng trắng đặc

31

- Đơn vị Haugh (Hu)

Ngoài chỉ số lòng trắng, chất lượng của lòng trắng còn được xác định bằng đơn vị Haugh, đây là một đại lượng biểu thị mối quan hệ giữa khối lượng trứng và chiều cao lòng trắng đặc. Đơn vị Haugh càng cao thì chất lượng trứng càng tốt. Thực nghiệm cho biết, những quả trứng chênh lệch nhau dưới 8 đơn vị Haugh thì có chất lượng trứng tương đương nhau. Công thức tính đơn vị Haugh

như sau:

HU = 100 log (H + 7,57 - 1,7 W 0,37)

Trong đó: HU: Đơn vị Haugh;

H: Chiều cao lòng trắng (mm);

W: Khối lượng trứng (g)

Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng và chỉ số sản xuất (PN)

Lượng thức ăn tiêu tốn (kg) TTTĂ/kg tăng khối lượng (kg) = Khối lượng tăng (kg)

Khối lượng cơ thể (g) x tỷ lệ nuôi sống (%) PN = 10[Số ngày nuôi x tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng (kg)]

Khảo sát năng suất thịt

Mổ khảo sát theo phương pháp của Ban gia cầm Viện Hàn Lâm khoa học Đức năm 1972 để xác định một số chỉ tiêu năng suất và chất lượng thịt của vịt Bầu Bến vỗ béo nuôi tại Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên ở 8, 9,10 tuần tuổi.

Mỗi tuần mổ 3 vịt trống + 3 vịt mái.

- Tỷ lệ thân thịt (%)

Khối lượng thân thịt (g) Tỷ lệ thân thịt = x100 Khối lượng sống (g)

- Tỷ lệ thịt đùi (%)

Khối lượng thịt đùi trái (g) x 2 Tỷ lệ thịt đùi = x100 Khối lượng thân thịt (g)

32

- Tỷ lệ thịt lườn (%)

Rạch một lát cắt dọc theo xương lưỡi hái đến xương ngực, cắt tiếp từ xương đòn đến vai. Bỏ da ngực, tách cơ ngực nông va cơ ngực sâu bên trái, bỏ

xương, cân.

Khối lượng thịt ngực trái (g) x 2 Tỷ lệ thịt ngực = x100 Khối lượng thân thịt (g)

- Tỷ lệ thịt đùi và thịt ngực (%)

Khối lượng (thịt đùi + thịt ngực) (g) Tỷ lệ thịt đùi + thịt ngực = x100 Khối lượng thân thịt (g)

- Tỷ lệ mỡ bụng (%)

Khối lượng mỡ bụng (g) Tỷ lệ mỡ bụng = x100 Khối lượng thân thịt (g)

Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học, sử dụng

chương trình excel 2007 và phần mềm Minitab16.

33

PHẦN 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. KẾT QUẢ TRÊN ĐÀN HẠT NHÂN

4.1.1. Đặc điểm ngoại hình

Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu đặc điểm ngoại hình của vịt Bầu Bến đàn

hạt nhân được thể hiện ở bảng 4.1, hình 4.1 và hình 4.2.

Chỉ tiêu

Màu lông

Đầu, cổ

Thân hình

Mỏ và chân

1

Đầu xám

Vịt ngày tuổi

Màu xám xen kẽ vàng nhạt

Màu xám có điểm vàng

Vịt trưởng thành

Đầu xám xanh

Vàng nhạt hơi xám

Vững chắc, ngực sâu, thân ngắn, thấp

Có màu lông cánh sẻ đậm, con đực có đầu xám và lông móc ở đuôi rất cong

Bảng 4.1. Đặc điểm ngoại hình của vịt Bầu Bến

Hình 4.1. Hình ảnh vịt Bầu Bến lúc 1 ngày tuổi

34

Kết quả bảng 4.1 và hình 4.1 cho thấy: đặc điểm ngoại hình của vịt con 1 ngày tuổi và vịt trưởng thành của vịt Bầu Bến ở 1 ngày tuổi có màu lông xám xen

kẽ màu vàng nhạt, mỏ và chân màu xám có điểm vàng.

Kết quả bảng 4.1 và hình 4.2 cho thấy: vịt trưởng thành có màu lông cánh sẻ đậm, con đực có đầu xám xanh và lông móc ở đuôi rất cong, thân hình vững

chắc, ngực sâu, thân ngắn, thấp mỏ và chân màu vàng nhạt hơi xám.

Hình 4.2. Hình ảnh vịt Bầu Bến lúc trưởng thành

4.1.2. Kích thước 1 số chiều đo cơ thể vịt

Vịt Bầu Bến được đo kích thước ở 8 tuần tuổi và 38 tuần tuổi, kết quả

được trình bày ở bảng 4.2.

Kết quả bảng 4.2 cho thấy kích thước chiều đo của con trống lớn hơn con

mái, chỉ tiêu dài thân và vòng ngực lúc 8 tuân tuổi và 38 tuần tuôi lần lượt là:

23,83 - 25,40; 26,71 - 28,77 cm và 26,67 - 28,27; 31,05 - 33,12 cm. Tỷ lệ vòng

ngực/dài thân ở 2 thời điểm này lần lượt là 1,12 - 1,13 và 1,16 - 1,17 đều lớn hơn

1, như vậy với chỉ số về ngoại này thì vịt Bầu Bến thiên về vịt hướng kiêm dụng

thịt trứng. Trong khi vịt Cỏ đực là 1,09 và mái là 1,14 (Nguyễn Thị Minh, 2001).

Nếu so sánh với các giống vịt khác thì tỷ lệ trên thấp hơn thấp hơn vịt chuyên thịt

nhưng lai cao hơn vịt chuyên trứng, điều này thể hiện đây là giống vịt hướng

kiêm dụng.

35

ĐVT: cm

Trống (n = 30)

Mái (n = 30)

Chỉ tiêu

SE

SE

X

X

8 tuần tuổi

Dài thân

25,40

0,20

23,83

0,21

Vòng ngực

28,77

0,19

26,71

0,20

Vòng ngực/Dài thân

1,13

0,18

1,12

0,19

Dài lườn

10,80

0,15

10,40

0,14

Cao chân

5,89

0,01

5,27

0,01

Dài lông cánh

10,40

0,21

10,47

0,20

38 tuần tuổi

Dài thân

28,27

0,23

26,67

0,20

Vòng ngực

33,12

0,21

31,05

0,19

Vòng ngực/Dài thân

1,17

0,21

1,16

0,20

Dài lườn

13,46

0,19

13,24

0,18

Cao chân

7,21

0,01

7,19

0,01

Dài lông cánh

17,45

0,26

17,12

0,22

Bảng 4.2. Kích thước 1 số chiều đo của vịt Bầu Bến

Vịt Triết Giang tỷ lệ vòng ngực/dài thân ở thời điểm 8 tuần tuổi của con trống là 1,10 và mái là 1,21 (Nguyễn Đức Trọng và cs., 2009). Ta thấy vịt Triết Giang có thân hình con trống thon hơn so với con mái, vịt Cỏ thì ngược lại thân hình con mái thon hơn so với trống (Nguyễn Thị Minh, 2001) và ở vịt Bầu Bến

thân hình con mái cũng thon hơn con trống.

Khi so sánh với kết quả nghiên cứu về kích thước của một số tác giả:

Phạm Công Thiếu và cs. (2005) cho biêt kích thước một số chiều đo lúc 8 tuần tuổi đối với vịt Bầu Bến tại Trung tâm Thực nghiệm và BTVN ở con trống và con mái lần lượt là: dài thân 21,50cm và 20,68cm; vòng ngực 26,95cm và 27,19cm; dài lườn 10,75cm và 10,79cm; cao chân 5,55cm và 5,39cm. Kết quả

nghiên cứu trên vịt Bầu Bến ở bảng 4.2 là cao hơn.

Theo Hồ Khắc Oánh và cs. (2001) cho biết kích thước các chiều đo lúc 200 ngày tuổi đối với vịt Bầu Bến ở con trống và con mái lần lượt là dài thân

24,8cm và 22,6cm; vòng ngực 33,6cm và 32,5cm; cao chân11,6cm và 10,7cm.

36

Theo Nguyễn Đức Trọng và cs. (2006) cho biết vịt Đốm và vịt Bầu Bến

lúc 8 tuần tuổi có kích thước lần lượt là: dài thân 29,08cm và 28,2cm; vòng ngực

29,14cm và 27,6cm.

Vịt Bầu nuôi ở Thanh Hóa lúc trưởng thành: dài thân là 22,9cm đối với

con đực và 21,2cm đối với con cái, vòng ngực 30,4cm đối với con đực và 29,0

đối với vịt cái (Lương Tất Nhợ và cs., 1994). Đối với vịt Bầu Quỳ: dài thân lúc

60 ngày tuổi 25,54cm; dài lườn lúc 60 ngày tuổi 8,37cm và lúc 120 ngày tuổi

26,19cm; cao chân 6,30cm lúc 60 ngày tuổi và 7,20cm lúc 120 ngày tuổi (Lê

Viết Ly và cs., 1999).

So với kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thì cho thấy vị Bầu Bến

trong thí nghiệm cho kết quả dài thân và vòng ngực thấp hơn vịt Đốm, dài thân

hơn vịt Bầu nuôi tại Thanh Hóa nhưng vòng ngực lại nhỏ hơn.

Ở vịt Triết Giang, độ dài lông cánh ở thời điểm 8 tuần tuổi của con trống

là 5,10 cm và ở con mái là 10,90 cm (Nguyễn Đức Trọng, 2009). Trong khi đó

của vịt Bầu thí nghiệm của con trống là 10,40cm, con mái là 10,47cm. Như vậy

độ dài lông cánh của vịt Bầu Bến đồng đều hơn vịt Triết Giang, trống Bầu Bến

có tốc độ dài lông cánh nhanh hơn rất nhiều so với trống Triết Giang nhưng mái

Bầu Bến lại chậm hơn so với mái Triết Giang.

4.1.3. Tỷ lệ nuôi sống

Tỷ lệ nuôi sống là chỉ tiêu quan trọng trong chăn nuôi. Tỷ lệ nuôi sống cao

hay thấp phản ánh thể chất của đàn vịt tốt hay xấu. Tỷ lệ nuôi sống của vịt qua

các tuần tuổi không những phản ánh khả năng thích nghi của chúng với điều kiện

môi trường, khả năng chống đỡ bệnh tật và còn đánh giá được quy trình săm sóc,

điều kiện nuôi dưỡng và quản lý của đàn gia cầm. Tỷ lệ nuôi sống trong giai

đoạn hậu bị có quan hệ chặt chẽ với khả năng sản xuất của đàn vịt khi bước vào

sinh sản. Nếu đàn vịt có tỷ lệ nuôi sống cao, khả năng chống chịu bệnh tật tốt thì

bước vào giai đoạn đẻ sẽ có sức sống tốt, cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao.

Kết quả theo dõi tỷ lệ nuôi sống của đàn vịt Bầu Bến hạt nhân giai đoạn từ 1

ngày tuổi đến 20 tuần tuổi được trình bày ở bảng 4.3.

37

Tuần tuổi

Số con

TLNS (%)

1 ngày tuổi

100,00

510

2

97,84

499

4

97,80

488

6

98,98

483

8

99,17

479

10

99,79

478

12

100,00

478

14

100,00

478

16

99,79

477

18

100,00

477

20

100,00

477

Giai đoạn 0 - 8

93,92

479

Giai đoạn 9 - 20

99,79

477

Bảng 4.3. Tỷ lệ nuôi sống qua các tuần tuổi

Kết quả bảng 4.3 cho thấy tỷ lệ nuôi sống của đàn vịt Bầu Bến qua các

giai đoạn đạt tỷ lệ tương đối cao, tỷ lệ nuôi sống từ 0 - 8 tuần tuổi 93,92%; giai

đoạn 9 - 20 tuần tuổi đạt 99,79%; cả giai đoạn từ 0 - 20 tuần tuổi là 93,53%.

Kết quả này tương đương với kết quả nghiên cứu của tác giả Phạm Công

Thiếu và cs. (2003): tỷ lệ nuôi sống của 2 giống vịt Bầu Bến và Bầu Quỳ ở giai

đoạn đầu (1- 10) tuần tuổi lần lượt là 93,3% và 94,8%, giai đoạn vịt dò và vịt đẻ

tỷ lệ nuôi sống là 96% và 97,3%.

Khi so sánh với kết quả nghiên cứu trên các giống vịt khác nhau của các

tác giả như sau:

Nguyễn Quế Côi và cs. (2005) cho biêt tỷ lệ nuôi sống đến 9 tuần tuổi của

vịt Bầu Quỳ thương phẩm nuôi theo 3 phương thức: thâm canh, bán thâm canh

và chăn thả tại Quảng Bình lần lượt là: 96,5%, 95,2% và 95,5%.

38

Nguyễn Thị Minh và cs. (2001), nghiên cứu trên vịt Cỏ màu cánh sẻ, có tỷ

lệ nuôi sống từ 96,5- 98,3%.

Phùng Đức Tiến và cs. (2008) cho biết tỷ lệ nuôi sống của vịt SM3 nhập nội nuôi tại Cẩm Bình giai đoạn vịt con và hậu bị là 97,58% - 98,67%, vịt Star 53 HY nhập nội có tỷ lệ nuôi sống giai đoạn vịt con và hậu bị là 96,59% - 98,62%

Nguyễn Đức Trọng và cs. (2009) nghiên cứu tỷ lệ nuôi sống vịt M14 nhập nội nuôi tại Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên giai đoạn con và hậu bị đạt 97,97 - 98,06%, vịt SM3 nhập nội có tỷ lệ nuôi sống giai đoạn này là trên 97% .

Theo Nguyễn Đức Trọng và cs. (2009) cho biết tỷ lệ nuôi sống của vịt Triết Giang nhập nội từ Trung Quốc nuôi tại Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên giai đoạn 1 - 8 tuần tuổi đạt từ 93,15% - 99,54%.

Nguyễn Đức Trọng và cs. (2011), khi nghiên cứu trên vịt Star76 (ST3, ST4) cho biết giai đoạn từ 0 - 8 tuần tuổi tỷ lệ nuôi sống của vịt ST3 thế hệ 1,2,3 đạt từ 91,11 - 95,33; tỷ lệ nuôi sống của vịt ST4 ở 3 thế hệ đạt từ 96 - 97,19%.

Dương Xuân Tuyển và cs. (2008) nghiên cứu trên hai dòng vịt hướng thịt V2 và V7 tại trại giống Vigova cho biết tỷ lệ nuôi sống từ 0 - 8 tuần tuổi qua các thế hệ của dòng V2 là 94,49 - 97,14% và dòng V7 là 95,20 - 98,23%.

Kết quả theo dõi tỷ lệ nuôi sống của vịt SM3SH nhập nội của Phùng Đức Tiến và cs. (2008) giai đoạn 0 – 8 tuần tuổi trống A là 96,34%, mái B là 99,00%, trống C là 98,63% và mái D là 98,00%. Giai đoạn vịt hậu bị từ 9 - 24 tuần tuổi tỷ lệ nuôi sống của vịt đều đạt 100%.

So sánh với kết quả nghiên cứu của các tác giả trên cho thấy vịt Bầu Bến thí nghiệm có tỷ lệ nuôi sống tương đương với các giống vịt khác và cao hơn kết quả nghiên của tác giả Nguyễn Đức Trọng và cs. (2006) trong điều kiện nuôi nhốt vịt Đốm và vịt Bầu Bến đạt được tỷ lệ nuôi sống đến 8 tuần tuổi lần lượt là 90,9% và 90%; từ mới nở đến hết giai đoạn hậu bị 25 tuần tuổi đạt 84,09% và 80,0%.

4.1.4. Khối lượng cơ thể vịt Bầu Bến qua các tuần tuổi

Đối với vịt sinh sản, khối lượng cơ thể ở giai đoạn vịt con, vịt hậu bị có ý nghĩa quan trọng, nó phản ảnh chế độ chăm sóc nuôi dưỡng giai đoạn hậu có hợp lý hay không và chúng liên quan chặt chẽ đến khả năng sinh sản. Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cs. (1994) sản lượng trứng gia cầm có tương quan âm với khối lượng cơ thể, mà sản lượng trứng hay cụ thể hơn là số gia cầm con loại I được sinh ra từ một con mái trong một năm là 1 chỉ tiêu quan trọng đối với các cơ sở giống.

39

Để đạt được mục tiêu trên cần phải có quy trình ăn hạn chế nghiêm ngặt để đạt được khối lượng chuẩn. Với kỹ thuật cho ăn hạn chế để khống chế khối lượng của vịt ở giai đoạn con và hậu bị, khi bước vào giai đoạn đẻ vịt sẽ có khối lượng thích hợp tùy vào từng dòng, giống khác nhau, đảm bảo cho giai đoạn sinh sản tốt. Nếu cho vịt ăn hạn chế quá mức thì đàn vịt dễ bị stress, thiếu dinh dưỡng dẫn đến vịt đẻ ít, trứng nhỏ và ảnh hưởng đến tỷ lệ nở. Nếu vịt không ăn hạn chế mà ăn tự do thì vịt mái béo, cơ và mỡ sẽ chèn ép các cơ quan sinh dục, dẫn đến các cơ quan sinh dục phát triển chậm hoặc không phát triển làm cho khả năng sinh sản giảm, năng suất trứng thấp, kết quả ấp nở không cao... Do đó khối lượng cơ thể còn phản ánh khả năng chăm sóc, chế độ dinh dưỡng trong các giai đoạn nuôi. Tùy theo đặc điểm của mỗi giống, mỗi dòng mà có chế độ ăn thích hợp. Kết theo dõi khối lượng cơ thể của vịt Bầu Bến qua các tuần tuổi được thể hiện ở bảng 4.4 và biểu

diễn ở hình 4.3.

ĐVT : g

Trống (n = 50)

Mái (n = 50)

Chung (n = 100)

Tuần tuổi

SE

SE

SE

X

X

X

1 ngày tuổi

43,25

0,27

41,94

0,22

42,60

0,25

187,87

2,18

177,07

2,15

182,47

2,26

2

653,75

3,51

629,58

3,72

641,67

3,64

4

858,33

5,97

824,11

5,78

841,22

5,38

6

6,87

1216,60

7,12

1209,37

6,72

1212,99

8

9,45

1398,56

9,83

1301,18

9,12

1349,87

10

1468,57

10,87

1372,79

10,41

1420,68

10,67

12

1546,94

11,42

1486,36

11,69

1516,65

11,58

14

1628,57

12,84

1571,29

12,58

1599,93

12,73

16

1736,19

13,44

1620,48

13,64

1678,34

13,54

18

1797,69

12,21

1690,62

13,11

1744,16

12,87

20

1846,22

12,88

1781,28

13,12

1813,75

13,21

22

Bảng 4.4. Khối lượng cơ thể của vịt Bầu Bến ở các tuần tuổi

40

Hình 4.3. Khối lượng cơ thể vịt Bầu bến qua ở tuần tuổi

Kết quả theo dõi khối lượng cơ thể vịt Bầu Bến đều tăng dần qua các tuần tuổi, khối lượng cơ thể con đực luôn cao hơn khối lượng cơ thể con cái cùng thời điểm. Cụ thể khối lượng vịt mới nở lần lượt là 43,25 g/con và 42,60 g/con, đến 4 tuần tuổi đạt 653,75 g/con và 641,67 g/con; ở 8 tuần tuổi khối lượng cơ thể của con đực là 1216,60g, con cái là 1212,99g; đến giai đoạn vịt trưởng thành khối

lượng cơ thể của con đực và con cái lần lượt đạt 1846,22 g/con; 1813,75 g/con.

Đàn vịt sinh sản được ăn chế độ hạn chế nghiêm ngặt nhưng vẫn đảm bảo cung cấp đủ và cân bằng các chất dinh dưỡng cho vịt. Mục đích của việc vịt ăn hạn chế là kìm hãm sự phát dục sớm hạn chế số trứng nhỏ, làm cho vịt phát dục đều, có khối lượng cơ thể phù hợp tiêu chuẩn giống, khi vào đẻ không bị quá

béo, quá gầy, ảnh hưởng đến khả năng đẻ sau này.

Kết quả bảng 4.4 cho thấy: khối lượng của vịt Bầu Bến ở 8 tuần tuổi của con trống 1216,60 g/con; con mái là 1212,99 g/con. Đến 22 tuần tuổi khối lượng

con trống là 1846,22 g/con với con mái là 1813,75 g/con.

Kết quả nghiên cứu trên vịt Khakhi Campbell (Lê Thị Phiên, 2006) cho thấy

khối lượng cơ thể vịt ở 20 tuần tuổi là 1405gam ở con đực và 1261gam ở con mái.

Kết quả nghiên cứu của tác giả Lương Tất Nhợ và cs. (1997) nghiên cứu theo dõi tính năng sản xuất của vịt CV Super M trong điều kiện chăn nuôi ở đồng bằng sông Hồng cho biết: khối lượng cơ thể của vịt mái dòng ông ở 4, 8 và 24

41

tuần tuổi lần lượt đạt 1055g/con, 2140g/con và 3094g/con; dòng bà đạt 885g/con,

1999g/con và 2681g/con; vịt cái bố mẹ đạt 1041g/con, 2273g/con và 2883g/con.

Theo Doãn Văn Xuân và cs. (2009) cho biết khối lượng cơ thể khi vào đẻ vịt CV. 2000 Layer từ 1684,17 - 1834,32gam ở con mái và từ 1786,11 -1918,46

ở con đực.

Nguyễn Đức Trọng và cs. (2008) nghiên cứu trên vịt SM3SH nhập nội từ

Anh cho biết khối lượng cơ thể ở 8 tuần tuổi của vịt trống A là 2568,59g, vịt mái

B là 2398,26g, vịt trống C là 2336,21g, vịt mái D là 2010,68g, đến 24 tuần tuổi

khối lượng của các dòng lần lượt là 4279,86g, 3500,63g, 3804,2g, 2937,51g.

So sánh với kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thì vịt Bầu Bến có

khối lượng cơ thể lớn hơn khối lượng cơ thể của vịt hướng trứng và thấp hơn

khối lượng cơ thể của vịt hướng thịt.

Trong QCVN 01-45:2011/BNNPTNT quy định khối lượng cơ thể vịt Bầu 21

- 22 tuần tuổi đối với con trống phải đạt 1800 - 2000g và con mái đạt 1750 - 1950g.

Phạm Công Thiếu và cs. (2005) cho biết khối lượng cơ thể vịt Bầu Bến

lúc 22 tuần tuổi qua 3 thế hệ 1, 2, 3 đối với con trống, mái lần lượt là 1900g,

1994g, 1880g và 1680,5g, 1740,4g, 1680,5g.

So sánh với kết quả nghiên cứu của tác giả và quy định trong QCVN 01-

45:2011/BNNPTNT thì kết quả nghiên cứu của của chúng tôi về khối lượng con

trống tương đương với khối lượng con trống ở thế hệ 3 của tác giả Phạm Công

Thiếu và cs (2005) và phù hợp với QCVN nhưng thấp hơn ở thế hệ 1 và 2 của tác

giả Phạm Công Thiếu và cs (2005), còn khối lượng con mái cho kết quả cao hơn

cả 3 thế hệ và phù hợp với QCVN. Điều đó chứng tỏ chế độ chăm sóc nuôi

dưỡng vịt Bầu Bến tại Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên là phù hợp, đàn vịt

Bầu Bến thí nghiệm đạt tiêu giống là vịt giống

4.1.5. Tuổi đẻ và khối lượng vào đẻ

Trong chăn nuôi vịt sinh sản nghiên cứu tuổi đẻ của vịt có ý nghĩa lớn. Khi đàn vịt đẻ quá sớm thì trứng đẻ ra thường nhỏ, không đồng đều về khối lượng và kích thước. Khi vịt đẻ quá muộn thì có nghĩa là thời gian nuôi hậu bị

kéo dài, tiêu tốn thức ăn cho giai đoạn này tăng.

Tuổi đẻ của vịt là chỉ tiêu quan trọng có ảnh hưởng đến năng suất trứng của gia cầm và để xác định tuổi thành thục sinh dục của đàn giống, tùy vào từng

42

dòng, giống mà tuổi đẻ của vịt có sự khác nhau. Tuy nhiên tuổi đẻ cũng phụ thuộc vào chế độ ăn, chế độ chiếu sáng, mùa vụ,... Đối với các đàn vịt quần thể có cùng độ tuổi, tuổi thành thục sinh dục của đàn được xác định là tuổi đẻ 5% số mái có mặt trong đàn. Kết quả nghiên cứu tuổi đẻ và khối lượng vào đẻ của vịt

thí nghiệm được trình bày ở bảng 4.5.

Số con

Chỉ tiêu

ĐVT

SE

X

Tuổi đẻ

tuần

255

22

1,65

Khối lượng của vịt trống

g/con

42

1873,67

12,17

Khối lượng của vịt mái

g/con

255

1790,83

12,11

Bảng 4.5. Tuổi đẻ và khối lượng vào đẻ của vịt Bầu Bến

Kết quả bảng 4.5 cho thấy vịt Bầu Bến có tuổi đẻ là 22 tuần và khối lượng

vào đẻ của vịt trống là 1873,67g, vịt mái là 1790,83g.

Theo Nguyễn Đức Trọng và cs. (2009), vịt Triết Giang có tuổi đẻ là 17

tuần tuổi; vịt Đốm có tuổi đẻ là 22 - 23 tuần tuổi (Nguyễn Đức Trọng và cs.,

2011); vịt CV. Super M3 Super Heavy tuổi đẻ là 25 tuần (Nguyễn Đức Trọng và

cs., 2008). Như vậy vịt thí nghiệm có tuổi đẻ tương đương với vịt Đốm, muộn

hơn vịt Triết Giang nhưng sớm hơn vịt CV. Super M3 Super Heavy.

Cũng theo Nguyễn Đức Trọng và cs. (2011) tuổi đẻ của vịt TP, PT, Đốm

là 23 tuần, vịt SM là 24 tuần, vậy vịt Bầu Bến đẻ sớm hơn. Khối lượng vào đẻ

của vịt TP, PT lần lượt là 2798,4 và 2703,7g; khối lượng vào đẻ của vịt Đốm và

SM lần lượt là 1789,2 và 3012,3g. Như vậy vịt Bầu Bến có khối lượng vào đẻ

cao hơn so với vịt Đốm nhưng thấp hơn vịt TP, PT và SM.

Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Văn Tiệu, Lương Tất Nhợ và cs.

(1993) cho biết: tuổi đẻ quả trứng đầu tiên của đàn vịt CV - Super M bố mẹ là 25

tuần tuổi, tuần tuổi tỷ lệ đẻ đạt 5% quần thể là 26 tuần tuổi.

Theo tác giả Lê Sĩ Cương (2001) khi nghiên cứu trên đàn vịt giống ông bà

CV - Super M2 nuôi tại Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên cho biết: tuổi đẻ

quả trứng đầu là 199 ngày (29 tuần) và tuổi đạt tỷ lệ đẻ 5% quần thể là 200 ngày

(29 tuần tuổi) đối với dòng ông; còn với dòng bà tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là

180 ngày (26 tuần) và đạt tỷ lệ đẻ 5% quần thể là 190 ngày tuổi (28 tuần).

43

Nguyễn Ngọc Dụng và cs. (2005) vịt CV- Super M2 thế hệ thứ 9 tại Trạm

nghiên cứu gia cầm Cẩm Bình cho biết: tuổi đạt tỷ lệ đẻ 5% ở vịt dòng ông là

174 ngày, dòng bà là 170 ngày.

Khi nghiên cứu trên vịt Khaki Campbell, tác giả Lê Thị Phiên (2006) cho

biết, khối lượng vào đẻ của vịt mái Khaki Campbell là 1354g. Nguyễn Thị Bạch

Yến (1997) cho kết quả tuổi đẻ của vịt Khaki Campbell là 131,8 - 144,2 ngày.

Nguyễn Song Hoan và cs. (1993) cho biết vịt Khaki Campbell nuôi theo phương

thức chăn thả ở huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa có tuổi đẻ đầu là 135 – 145 ngày.

Theo Lương Tất Nhợ và cs. (1997) vịt Khaki Campbell có tuổi đẻ là

143 ngày.

Theo Bùi Hữu Đoàn (2010) vịt Triết Giang bố mẹ đẻ rất sớm, vịt nuôi trên

cạn bắt đầu đẻ ở 95 ngày tuổi, đẻ 5% khi 100 ngày, ở đàn vịt nuôi nước tương

ứng là 92 và 98 ngày tuổi.

So sánh với kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thì vịt Bầu Bến đàn

hạt nhân thí nghiệm có tuổi đẻ sớm hơn so với vịt hướng thịt và muộn hơn so với

vịt hướng trứng, khối lượng cơ thể ở thời điểm vào đẻ nhỏ hơn vịt hướng thịt và

lớn hơn so với vịt hướng trứng. Điều đó là hoàn toàn phù hợp vì vịt Bầu Bến là

giống vịt kiêm dụng.

4.1.6. Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng

Trong chăn nuôi vịt sinh sản, tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và tiêu tốn thức

ăn/10 quả trứng là những chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá sức sinh sản của

đàn vịt. Các chỉ tiêu này cũng là các chỉ tiêu quyết định đến hiệu quả kinh tế

trong chăn nuôi. Thông qua chỉ tiêu này người ta có thể biết được trình độ chăm

sóc nuôi dưỡng cũng như phẩm chất giống của đàn. Năng suất trứng của các

giống, các dòng khác nhau chịu ảnh hưởng về mặt di truyền song hệ số di truyền của chỉ tiêu năng suất trứng lại rất thấp (h2 =0,2 - 0,3), do đó chỉ tiêu này phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện ngoại cảnh, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý

đàn giống. Các giống gia cầm thường có tỷ lệ đẻ trứng thấp ở các tuần đầu tiên,

sau đó tăng dần và đạt đỉnh cao ở các tuần trong tháng đẻ thứ 2, thứ 3 rối giảm

dần ở các tuần tiếp theo cho đến hết chu kỳ đẻ trứng. Kết quả theo dõi các chỉ

tiêu về tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng của vịt Bầu Bến

được thể hiện ở bảng 4.6 và biểu diễn ở hình 4.4

44

Tuần đẻ

Tỷ lệ đẻ (%)

NST (Quả/mái/2tuần đẻ)

TTTĂ/10 qt (kg)

Năng suất trứng cộng dồn

9,31

1--2

0,65

1,30

7,227

18,82

3--4

1,32

3,94

4,660

29,46

5--6

2,06

8,06

4,018

46,80

7--8

3,28

14,61

3,584

64,70

9--10

4,53

23,67

2,665

75,50

11--12

5,28

34,24

2,288

75,78

13--14

5,30

44,85

2,276

66,90

15--16

4,68

54,22

2,634

63,24

17--18

4,43

63,07

2,804

63,94

19--20

4,48

72,02

2,733

61,35

21--22

4,29

80,61

2,848

62,91

23--24

4,40

89,42

2,802

61,15

25--26

4,28

97,98

2,900

62,00

27--28

4,34

106,66

2,912

58,88

29--30

4,12

114,90

3,078

56.20

31--32

3,93

122,77

3,235

56,47

33--34

3,95

130,68

3,232

55,27

35--36

3,87

138,41

3,302

53,24

37--38

3,73

145,87

3,154

48,22

39--40

3,38

152,62

3,488

43,93

41--42

3,08

158,77

3,825

38,80

43--44

2,72

164,20

4,386

31,34

45--46

2,19

168,59

5,070

27,26

47--48

1,91

172,40

5,111

21,13

49--50

1,48

175,36

6,623

19.10

51--52

1,34

178,03

7,315

48,91

3,776

Tính chung 52 tuần

Bảng 4.6. Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng

45

Hình 4.4. Tỷ lệ đẻ của vịt Bầu Bến qua các tuần tuổi

Kết quả nghiên cứu cho thấy vịt Bầu Bến cho sinh sản trong suốt 52 tuần đẻ (12 tháng) khả năng cho trứng là 178,03 quả/mái/năm, tỷ lệ đẻ bình quân là 48,91%. Kết quả này cao hơn so với tỷ lệ đẻ bình quân của vịt Đốm là 45,6%, năng suất trứng là 164,63 quả/mái (Nguyễn Đức Trọng và cs., 2006) nhưng lại thấp hơn vịt Khaki Campbell có tỷ lệ đẻ trứng bình quân cả năm đạt 74,6%, tỷ lệ đẻ có tháng đạt cao nhất là 90,66% (Hồ Khắc Oánh, 1996), vịt Triết Giang có năng suất trứng/mái/52 tuần đẻ ở thế hệ xuất phát là 251,3 quả, thế hệ 1 là 251,89 quả, thế hệ 2 là 259,71 quả; tương ứng với tỷ lệ trung bình là 68,85%, 69,20%, 71,35% (Nguyễn Đức Trọng và cs., 2009).

Theo Lương Tất Nhợ và cs. (1994) cho biết vịt Bầu thường đẻ theo mùa vụ: Xuân hè và Thu đông. Tỷ lệ đẻ của vụ Xuân hè thường cao hơn vụ Thu đông và vịt có khả năng đẻ kéo dài 9 - 10 tháng trong 1 năm (280 - 290 ngày), tỷ lệ đẻ bình quân đạt 60,6%. Phạm Công Thiếu và cs. (2005) cho biết tỷ lệ đẻ bình quân của vịt Bầu Bến nuôi tại Viện Chăn nuôi qua 3 thế hệ 1, 2, 3 lần lượt là 55,9%, 61,16% và 51,40%. Như vậy vịt Bầu Bến đàn hạt nhân trong nghiên cứu này có tỷ lệ đẻ thấp hơn.

Theo Nguyễn Đức Trọng và cs. (2011), vịt Đại Xuyên PT có tỷ lệ đẻ trung bình/52 tuần đẻ là 67,8%; năng suất trứng tương ứng là 246,79 quả/mái/52 tuần đẻ; tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng là 3,79kg. Như vậy vịt Bầu Bến có tỷ lệ đẻ và năng suất trứng thấp hơn; tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng thấp hơn.

46

Cũng theo Nguyễn Đức Trọng và cs. (2009), vịt Triết Giang có năng suất

trứng/mái/52 tuần đẻ ở thế hệ xuất phát là 251,3 quả, thế hệ 1 là 251,89 quả, thế

hệ 2 là 259,71 quả; tương ứng tỷ lệ đẻ trung bình là 68,85%, 69,20%, 71,35%.

Vậy vịt Bầu Bến có tỷ lệ đẻ/52 tuần thấp hơn nhiều.

Giống vịt Bầu Bến là giống vịt nội có năng suất trứng thấp hơn so với một

số giống vịt chuyên thịt cao sản:

Theo Hoàng Thị Lan và cs. (2005), cho biết năng suất trứng của vịt Super

M thế hệ 1 dòng trống T5 là 232,2 quả/mái/42 tuần đẻ, dòng trống T1 là 232

quả/mái/42 tuần đẻ với tỷ lệ đẻ trung bình tương ứng là 75,5% và 75,9%; thế hệ

2 lần lượt là 231,4 quả/mái/42 tuần đẻ và 226,7 quả/mái/42 tuần đẻ với tỷ lệ

tương ứng là 72,12% và 70,67%.

Theo tác giả Dương Xuân Tuyển và cs. (2008) khi nghiên cứu trên vịt CV.

Super M bố mẹ V17 có tỷ lệ đẻ trung bình đạt 67,5% với năng suất trứng tương ứng là

202,6 quả/mái/10 tháng đẻ, cao hơn so với trung bình của vịt V1 có tỷ lệ đẻ là 61,3%

năng suất trứng tương ứng 183,8 quả/mái/10 tháng đẻ và vịt V7 có tỷ lệ đẻ 69,1%,

năng suất trứng là 207,4 quả/mái/10 tháng đẻ.

Vịt M14 theo dõi đến 42 tuần đẻ nhóm MT1 có năng suất trứng và tiêu tốn

thức ăn cho 10 quả ở thế hệ xuất phát, thế hệ 1, 2 và 3 tương ứng là 202,23 quả,

4,11kg; 201,68quả, 4,06kg; 202,63 quả, 4,12kg; 201,02 quả, 4,09 kg. Nhóm MT2

lần lượt tương ứng là 207,19 quả, 3,38 kg; 212,55 quả, 3,88 kg; 221,41 quả, 3,78

kg; 229,75 quả, 3,80 kg (Nguyễn Đức Trọng và cs., 2009).

4.1.7. Một số chỉ tiêu về chất lượng trứng

Chất lượng trứng có liên quan chặt chẽ tới tỷ lệ ấp nở và chất lượng con

giống. Chất lượng trứng gia cầm thường được thể hiện qua các chỉ tiêu như khối

lượng trứng, chỉ số hình thái trứng... Để đánh giá chất lượng trứng của đàn vịt

Bầu Bến hạt nhân chúng tôi tiến hành khảo sát 35 quả trứng ở 35 tuần tuổi, trứng

đem khảo sát được bảo quản không quá 48 giờ sau khi đẻ ra. Kết quả được trình

bày ở bảng 4.7.

Khối lượng trứng của vịt Bầu Bến trung bình là 70,23g nhỏ hơn khối

lượng trứng vịt Anh Đào là 71,9 - 76,3g (Nguyễn Song Hoan, 1993) nhưng tương

đương khối lượng trứng vịt Bầu nuôi tại Thanh Hóa vụ hè là là 68 - 73g (Lương

Tất Nhợ và cs., 1994), vịt Bầu Quỳ là 70,54g ( Lê Viết Ly và cs., 1999).

47

Trong QCVN 01-45:2011/BNNPTNT quy định khối lượng trứng giống lúc 13 tuần đẻ đầu đạt 68 - 78g. Như vậy trứng vịt Bầu Bến thí nghiệm phù hợp

với QCVN.

Chỉ số hình thái là chỉ tiêu hình dạng của trứng, trứng vịt Bầu Bến có chỉ số hình thái là 1,41. Theo nghiên cứu của tác giả Hoàng Văn Tiệu và cs. (1993), Lê Xuân Đồng (1994) cho biết chỉ số hình thái trứng ấp nở cho phép là 1,35 - 1,44. Như vậy, trứng vịt Bầu Bến có chất lượng trứng khá tốt, chỉ số hình thái đạt

tiêu chuẩn trứng ấp.

SE

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

X

Khối lượng trứng

Gam

70,23

0,110

Dài trứng D

mm

63,25

0,180

Rộng trứng R

mm

44,85

0,250

Chỉ số hình thái

-

1,41

0,005

Tỷ lệ lòng đỏ

%

37,25

0,230

Tỷ lệ lòng trắng

%

51,46

0,300

Đơn vị Haugh (Hu)

-

90,90

0,690

Độ dày vỏ

mm

0,335

0,030

Tỷ lệ vỏ

%

11,50

0,260

Bảng 4.7. Một số chỉ tiêu chất lượng trứng (n = 35)

So sánh với kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Trọng và cs. (2006) trên trứng vịt Đốm thì kết quả của chúng tôi cao hơn về chỉ số hình thái 1,38, đơn vị

Haugh 84,6 và tỷ lệ lòng đỏ 35,3% nhưng tương đương về tỷ lệ vỏ 11,7%.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu trên vịt Bầu Bến và vịt Đốm của Nguyễn Thị Thúy Nghĩa và cs. (2011), khối lượng trứng vịt Bầu Bến và vịt Đốm lần lượt là 70,34g và 72,65g; chỉ số hình thái lần lượt là 1,4 và 1,38; tỷ lệ lòng đỏ là 35,2% và 35,3%; đơn vị Haugh là 84,8 và 84,6; độ dày vỏ là 3,32 và 3,48. Nghiên cứu của Nguyễn Đức Trọng và cs. (2006) trên vịt Bầu Bến cũng nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên cho biết: chỉ số hình thái 1,41, tỷ lệ lòng đỏ 34,7%, tỷ lệ vỏ 11,5%,

đơn vị Haugh 83,9.

48

Theo Nguyễn Đức Trọng và cs. (2011) khi chọn lọc ổn định năng suất vịt

Đại Xuyên PT, khối lượng trứng vịt ở thế hệ 1 và thế hệ 2 lần lượt là 80,4 và

81,3g; tỷ lệ lòng đỏ là 31,4% ở thế hệ 1 và 31,56% ở thế hệ 2; đơn vị Haugh ở 2

thế hệ lần lượt là 93,95 và 93,87. Như vậy vịt Bầu Bến có khối lượng trứng và

đơn Haugh thấp hơn nhưng tỷ lệ lòng đỏ cao hơn vịt PT Đại Xuyên.

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Trọng và cs. (2011) trên vịt ST3 và

ST4 cho biết: vịt ST3 và ST4 có khối lượng lần lượt là 89,62 và 88,15g; chỉ số

hình thái là 1,41; tỷ lệ lòng đỏ là 32,31 và 31,62%; đơn vị Haugh đạt 92,42 và

94,01. Vậy, vịt ST3 và ST4 có khối lượng trứng lớn hơn, đơn vị Haugh cao hơn

nhưng tỷ lệ lòng đỏ thấp hơn so với vịt Bầu Bến.

Theo Phùng Đức Tiến và cs. (2008) vịt SM3 có khối lượng trứng, tỷ lệ lòng

đỏ, đơn vị Haugh của mái B là 84,74g, 29,32%, 86,29 và của mái D là 77,27g,

32,02%, 80,82. Như vậy trứng vịt Bầu Bến có khối lượng nhỏ hơn, nhưng tỷ lệ

lòng đỏ nhiều hơn và đơn vị Haugh cao hơn so với vịt SM3.

Theo Nguyễn Đức Trọng và cs. (2008) vịt SM3SH có khối lượng trứng, tỷ

lệ lòng đỏ, tỷ lệ vỏ, đơn vị Haugh của mái B là 91,64g, 32,64%, 11,79%, 82,15;

của mái D là 88,59g, 31,97%, 11,92%, 93,06. Kết quả cho thấy vịt Bầu Bến thí

nghiệm có khối lượng trứng nhỏ hơn nhưng tỷ lệ lòng đỏ nhiều hơn, tỷ lệ vỏ là

tương đương và đơn vị Haugh cao hơn mái B nhưng thấp hơn mái D.

Kết quả khối lượng trứng của CV Super M2 dòng trống và dòng mái

tương ứng là 85,54g và 82,90g (Nguyễn Đức Trọng và cs., 2007).

Khi nghiên cứu trên vịt CV super M tại Trại giống vịt Vigova, tác giả

Dương Xuân Tuyển (1998), cho biết khối lượng trứng của vịt dòng trống và dòng

mái tương ứng là 84,73g và 82,10g. Như vậy thì khối lượng của trứng vịt Bầu

Bến thấp hơn khối lượng dòng trống và dòng mái của nghiên cứu trên.

Theo Lê Hồng Mận và cs. (1993), trứng được coi là đạt tiêu chuẩn trứng

giống phải có đơn vị Haugh từ 80 trở lên. Với kết quả đơn vị Haugh ở trên thì

trứng vịt Bầu Bến đàn hạt nhân hoàn toàn đạt tiêu chuẩn trứng giống.

Theo Nguyễn Đức Trọng (1998), chỉ số hình thái của trứng vịt CV Super M là 1,41; và Theo Dương Xuân Tuyển (1998), trứng vịt CV Super M có chỉ số hình thái là 1,411. Như vậy, trứng vịt Bầu Bến có chỉ số hình thái tương đương

với các nghiên cứu trên.

49

Từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy các chỉ tiêu chất lượng trứng của vịt Bầu Bến đàn hạt nhân nuôi tại Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên đều tốt. Điều đó chứng tỏ chất lượng đàn giống tốt, quy trình chăm sóc nuôi dưỡng tại

Trung tâm phù hợp, kỹ thuật bảo quản trứng tốt.

4.1.8. Một số chỉ tiêu ấp nở

Tỷ lệ nở phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó tỷ lệ phôi, chất lượng trứng và kỹ thuật ấp là các yếu tố quan trọng nhất. Tỷ lệ phôi, tỷ lệ nở là các chỉ tiêu đánh giá sức khoẻ và chất lượng đàn giống bố mẹ. Để có được tỷ lệ phôi tốt không những chất lượng trống phải tốt mà cần có các điều kiện về môi trường tốt trong đó khâu vệ sinh chuồng trại là rất cần thiết. Để có tỷ lệ nở tốt ngoài chỉ tiêu phôi tốt cần phải có ký thuật ấp hoàn thiên. Do đó, các chỉ tiêu này phản ánh rất

nhiều vấn đề quan trọng trong quá trình nuôi dưỡng.

Kết quả ấp nở không những đánh giá khả năng tái sản xuất của đàn giống mà còn là chỉ tiêu quan trọng đánh giá sức sinh sản của đàn giống. Các chỉ tiêu ấp nở phụ thuộc vào giống, thức ăn, quy trình ấp nở,... Kết quả ấp nở của vịt Bầu

Bến được trình bày ở bảng 4.8.

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

X

Tổng số trứng ấp

quả

755

Số trứng có phôi

quả

720

Tỷ lệ trứng có phôi

%

95,36

Số con nở ra

con

631

Tỷ lệ nở/trứng có phôi

%

87,64

Tỷ lệ nở/tổng số

%

83,58

Số con loại I

con

597

Tỷ lệ con loại I/số con nở ra

%

94,61

Bảng 4.8. Một số chỉ tiêu ấp nở của trứng vịt Bầu Bến

50

Kết quả bảng 4.8 cho thấy: đàn vịt Bầu Bến thí nghiệm có tỷ lệ trứng có phôi cao đạt 95,36%, tỷ lệ nở/ tổng số là 83,58% và tỷ lệ vịt con loại I/số con nở

ra là 94,61%.

Khi so sánh với vịt Cỏ thì tỷ lệ trứng có phôi của vịt Cỏ là 94,6 - 95,9%

(Lê Xuân Đồng, 1994), tỷ lệ trứng có phôi của vịt Cỏ nuôi ở đồng bằng sông

Hồng là 94,5% (Hồ Khắc Oánh, 1996). Như vậy vịt Bầu Bến thí nghiệm có tỷ lệ

trứng có phôi tương đương với vịt Cỏ.

Theo Dương Xuân Tuyển, Nguyễn Văn Bắc và cs. (2008) khi nghiên cứu

trên vịt CV Super M và CV2000 theo phương thức nuôi trên khô không cần nước

bơi lội và nuôi có nước bơi lội cho tỷ lệ nở/tổng trứng ấp là 66,9 - 70,7%.

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Trọng và cs. (2009) về vịt Triết

Giang, vịt Cỏ và tổ hợp lai giữa vịt Triết Giang và Cỏ cho biết tỷ lệ trứng có phôi

của vịt Cỏ là 93,04%, của vịt Triết Giang là 94,87% và của tổ hợp lai TTC (3/4

máu Triết Giang, 1/4 máu Cỏ) đạt 96,57%. Tỷ lệ nở/ trứng có phôi đạt 85,2% ở

vịt Cỏ, 85,43% ở vịt Triết Giang và 88,86% ở tổ hợp lai TTC.

Như vậy vịt Bầu Bến đàn hạt nhân có tỷ lệ trứng có phôi cao hơn vịt CV

Super M và CV2000 nhưng tương đương với vịt Triết Giang, vịt Cỏ và tổ hợp lai

TTC, tỷ lệ nở/trứng có phôi cũng tương đương với kết quả nghiên cứu của

Nguyễn Đức Trọng và cs. (2009).

Theo Nguyễn Đức Trọng và cs. (2011) tỷ lệ nở trên trứng có phôi của vịt

ST3 và ST4 lần lượt là 86,53 và 85,07%; tỷ lệ con loại 1 là 90,28 và 94,5%. Vậy

vịt Bầu Bến tỷ lệ trứng có phôi cao hơn nhưng có tỷ lệ con loại 1 là tương đương.

So với các tác giả khác nghiên cứu trên Bầu Bến thì kết quả của chúng tôi

tương đương: tỷ lệ trứng có phôi đạt 94 - 96%, tỷ lệ nở/tổng số 71,6 - 89,5

(Nguyễn Ân và cs., 1982); tỷ lệ trứng có phôi 96,1%, tỷ lệ nở/trứng có phôi

87,2% (Nguyễn Đức Trọng và cs., 2006); tỷ lệ trứng có phôi của vịt Bầu Bến qua

3 thế hệ 1, 2, 3 lần lượt là 96,4%, 95,7%, 96,9% (Phạm Công Thiếu và cs., 2005).

Nhưng kết quả của chúng tôi thấp hơn kết quả nghiên cứu trứng vịt Bầu Quỳ của

tác Lê Viết Ly và cs. (1999) cho biết tỷ lệ trứng có phôi là 97,2 - 98,19%, tỷ lệ

nở/tổng số từ 90,9 - 92,7% và tỷ lệ nở trên trứng có phôi 93,5 - 94,5%.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn kết quả nghiên cứu của các tác

giả Phùng Đức Tiến và cs. (2008) trên vịt Star 53 nuôi tại trại Cẩm Bình về tỷ lệ

51

phôi đạt 95,53%, tỷ lệ nở/tổng trứng là 80,63%, tỷ lệ nở/phôi là 85,30%, tỷ lệ con

loại I/tổng trứng ấp là 77,34% và cao hơn vịt CV Super M2 về tỷ lệ nở/phôi đạt

từ 80,15% - 83,12% (Nguyễn Đức Trọng và cs., 2007).

Nghiên cứu cho kết quả tỷ lệ ấp nở bình quân/tổng trứng ấp phù hợp với QCVN 01-45:2011/BNNPTNT ≥ 72%. Điều này chứng tỏ chất lượng đàn vịt sinh sản hạt nhân tốt, quá trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn vịt và quá trình ấp nở

trứng của Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên là đảm bảo yêu cầu kỹ thuật.

4.2. KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA VỊT BẦU BẾN THƯƠNG PHẨM

4.2.1. Tỷ lệ nuôi sống

Tỷ lệ nuôi sống còn là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng trong chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi vịt thịt, nó quyết định hiệu quả kinh tế cao hay thấp. Kết quả nghiên cứu tỷ lệ nuôi sống của vịt Bầu Bến nuôi thương phẩm từ 1 ngày

tuổi đến 10 tuần tuổi được trình bày ở bảng 4.9.

Số con

Tỷ lệ (%)

Tuần tuổi

1 ngày tuổi

120

-

0 - 2

118

98,33

0 - 4

117

97,50

0 - 6

117

97,50

0 - 8

117

97,50

0 - 10

117

97,50

Bảng 4.9. Tỷ lệ nuôi sống của vịt thương phẩm ở các tuần tuổi

Qua bảng 4.9 cho thấy tỷ lệ nuôi sống của đàn vịt thương phẩm đạt khá

cao 97,50% giai đoạn từ 0 - 10 tuần tuổi.

Xét theo giai đoạn phát triển của vịt qua các tuần tuổi cho thấy, số lượng

vịt chết, hao hụt tập trung trong giai đoạn vịt từ 1 - 4 tuần tuổi, giai đoạn sau từ 5

- 10 tuần tuổi vịt có tỷ lệ sống tuyệt đối, không có trường hợp vịt chết. Điều này

hoàn toàn hợp với quy luật sinh trưởng phát triển, ở giai đoạn đầu 1 - 4 tuần tuổi

hệ thần kinh và các chức năng khác của cơ thể chưa hoàn chỉnh, khả năng điều

tiết thân nhiệt kém... giai đoạn sau hệ thần kinh và các chức năng khác dần dần

hoàn thiện. Điều đó chứng tỏ việc chăm sóc vịt con là rất quan trọng, người chăn

nuôi vịt cần chú ý chăm sóc vịt, đặc biệt trong giai đoạn vịt từ 0 - 4 tuần để nâng

cao tỷ lệ nuôi sống.

52

Khi so sánh kết quả nghiên cứu với vịt Bầu Bến nuôi tại tỉnh Hòa

Bình thì tỷ lệ nuôi sống đến 56 ngày tuổi đạt 94% (Hồ Khắc Oánh và cs.,

2001), tỷ lệ nuôi sống đến 10 tuần của vịt Bầu Bến nuôi tại Viện Chăn nuôi

qua 3 thế hệ 1, 2, 3 lần lượt là 94,8%, 96,6%, 97,7% (Phạm Công Thiếu và

cs., 2005). Như vậy vịt Bầu Bến thí nghiệm có tỷ lệ nuôi sống cao hơn vịt

Bầu Bến nuôi tại Hòa Bình, vịt Bầu Bến thế hệ 1, 2 và tương đương với tỷ

lệ nuôi sống của vịt Bầu Bến ở thế hệ 3.

Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ nuôi sống của chúng tôi tương đương với kết

quả của các tác giả:

Lương Tất Nhợ và cs. (1997) trên vịt CV. Super M thương phẩm ở 56

ngày tuổi có tỷ lệ nuôi sống 96,67% (nuôi nhốt hoàn toàn) và 96% (nuôi nhốt

có ao hồ).

Dương Xuân Tuyển (1993) cho biết: tỷ lệ nuôi sống của vịt CV Super M

thương phẩm nuôi theo phương thức công nghiệp đến 8 tuần tuổi đạt 98%.

Lê Sỹ Cương (2001) cho biết: tỷ lệ nuôi sống của đàn vịt CV - Super M2

nuôi theo phương thức công nghiệp ở giai đoạn 0 - 8 tuần tuổi đạt trung bình từ

97,06 - 97,76%.

Nguyễn Đức Trọng và cs. (2007) cho biết: tỷ lệ nuôi sống của vịt Super M

lai 4 dòng đến 8 tuần tuổi là 96,67 - 98,33%.

4.2.2. Khối lượng cơ thể vịt qua các tuần tuổi

Trong chăn nuôi gia cầm lấy thịt, khối lượng cơ thể là một chỉ tiêu quan

trọng được các nhà chăn nuôi quan tâm. Trong các loại gia cầm nói chung,

thủy cầm nói riêng thì con vịt nuôi với mục đích lấy thịt tương đối cao, vì vậy

khối lượng cơ thể là một chỉ tiêu được chú ý nhất. Khối lượng vịt ở các giai

đoạn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Một trong các yếu tố quan trọng

là dòng, giống, thức ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, thời tiết khí hậu,

phương thức chăn nuôi.

Vịt Bầu Bến thương phẩm cho ăn tự do đến 10 tuần tuổi, cân khối lượng

một tuần một lần. Kết quả thu được thể hiện ở bảng 4.10 và hình 4.5.

53

Tuần tuổi

SE

X

1 ngày tuổi 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

43,57 118,12 280,37 516,57 798,51 1133,97 1426,12 1601,38 1695,61 1759,86 1811,12

0,67 1,86 3,51 3,86 4,53 5,67 6,23 6,98 8,23 9,21 10,12

Bảng 4.10. Khối lượng vịt thương phẩm ở các tuần tuổi (n = 30)

Hình 4.5. Khối lượng vịt thương phẩm qua các tuần tuổi

Qua bảng 4.10 và hình 4.5 cho thấy, khối lượng cơ thể vịt Bầu Bến nuôi thương phẩm tăng dần qua các tuần tuổi. Vịt có khối lượng lúc 1 ngày tuổi là 43,57g, đến 4 tuần tuổi là 798,51g và lúc 8 tuần tuổi là 1695,61g, kết thúc ở 10

tuần tuổi đạt 1811,12g.

Vịt Bầu Bến trong thí nghiệm có khối lượng cao hơn vịt Cỏ 75 ngày tuổi đạt 1025 - 1042g (Lê Xuân Đồng và cs., 1998) và thấp hơn kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quế Côi và cs. (2005) cho biết khối lượng lúc 9 tuần tuổi của

vịt Bầu Quỳ thương phẩm nuôi tại Quảng Bình là 1805,67g.

54

Theo Nguyễn Đức Trọng và cs. (2011) khối lượng cơ thể vịt lai ngược xuôi giữa SM và Đốm: TP đạt 2463,7g lúc 8 tuần tuổi và 2749,4g lúc 10 tuần tuổi; PT đạt 2430,6g lúc 8 tuần tuổi và 2690,9g lúc 10 tuần tuổi; vịt Đốm đạt 1617,2g lúc 8 tuần tuổi và 1776,9g lúc 10 tuần tuổi; vịt SM có khối lượng cơ thể cao đạt 3175,9g lúc 8 tuần tuổi và 3487,5g lúc 10 tuần tuổi. Như vậy vịt Bầu Bến thương phẩm có khối lượng thấp hơn nhiều so với vịt TP và PT.

Kết quả vịt Bầu Bến có khối lượng thấp hơn rất nhiều so với các giống vịt chuyên thịt như: vịt Star 76 thương phẩm lúc 8 tuần tuổi đạt 2955,5g (Nguyễn Đức Trọng và cs., 2011), vịt Super M2 ở 7 và 8 tuần tuổi khối lượng cơ thể đạt 2715g và 3013,5g (Nguyễn Đức Trọng và cs., 2007), vịt nuôi tại trại giống Vigova khối lượng cơ thể ở 7 tuần tuổi đối với dòng V12 là 3245,9g, dòng V2 là 3116,4g, dòng V5 là 3013g, tổ hợp V2517 là 3085,5g, tổ hợp V1257 là 3173,2g (Dương Xuân Tuyển và cs., 2008); vịt SM3SH có khối lượng 7 và 8 tuần tuổi là 3429,4g và 3687,5g, theo Nguyễn Đức Trọng và cs.( 2009); Vịt SD nuôi tại Trại Cẩm Bình khối lượng cơ thể ở 8 tuần tuổi đối vơi dòng SD1 là 3720,2g, dòng

SD2 là 3240,6g, và tổ hợp SD12 là 3563,3g theo Phùng Đức Tiến và cs. (2008).

4.2.3. Tốc độ sinh trưởng của vịt qua các tuần tuổi

Tốc độ sinh trưởng là một trong những chỉ tiêu quan trọng có ảnh hưởng đến sức sản xuất thịt của vật nuôi. Do vậy nó mang tính chất quyết định hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi. Vật nuôi có tốc độ sinh trưởng càng nhanh thì sức sản xuất thịt càng lớn. Tốc độc sinh trưởng mang tính di truyền và có liên quan đến đặc

điểm của quá trình trao đổi chất, kiểu hình của giống.

Tốc độ sinh trưởng của gia cầm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: loài, giống, tính biệt, lứa tuổi… Ngoài ra, trong các kết quả nghiên cứu và trong thực tế sản xuất người ta thấy rằng tốc độ sinh trưởng có liên quan mật thiết đến mùa vụ, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng và điều kiện khí hậu. Đặc biệt là chất lượng thức ăn

có ảnh hưởng lớn và quan trọng nhất đến tốc độ sinh trưởng của cơ thể gia cầm.

Để biểu thị tốc độ sinh trưởng, ngoài độ sinh trưởng tích lũy (khối lượng cơ thể) người ta còn dùng hai chỉ tiêu: tốc độc sinh trưởng tuyệt đối và tốc độ sinh trưởng tương đối. Trên cơ sở theo dõi khối lượng vịt thí nghiệm ở các thời điểm khác nhau, chúng tôi xác đinh được tốc độ sinh trưởng tuyệt đối và tốc độ sinh trưởng tương đối của đàn vịt thí nghiệm. Kết quả tốc độ sinh trưởng tuyệt đối và tốc độ sinh trưởng

tương đối của đàn vịt thương phẩm được trình bày ở bảng 4.11 và hình 4.6, 4.7.

55

Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày) (n = 30)

Tuần tuổi

Sinh trưởng tương đối (%)

SE

X

0,21

1

10,65

92,21

0,59

2

23,18

81,43

1,16

3

33,74

59,28

1,63

4

40,28

42,88

2,12

5

47,92

34,72

1,45

6

41,74

22,82

1,17

7

25,04

11,58

1,67

8

13,46

5,20

1,21

9

9,18

3,72

1,33

10

7,32

2,87

Bảng 4.11. Tốc độ sinh trưởng của vịt Bầu Bến nuôi thương phẩm

Hình 4.6. Sinh trưởng tuyệt đối của vịt thương phẩm qua các tuần tuổi

Qua bảng 4.11 và hình 4.6 cho thấy tốc độ sinh trưởng tuyệt đối cơ thể vịt Bầu Bến tăng dần từ tuần tuổi thứ nhất là 10,65g/con/ngày và đạt cao nhất ở tuần tuổi thứ 5 là 47,92g/con/ngày sau đó giảm xuống còn 7,32g/con/ngày ở tuần tuổi thứ 10.

Điều này là hoàn toàn phù hợp với quy luật sinh trưởng theo giai đoạn của gia cầm.

Sở dĩ như vậy là do ở giai đoạn đầu số lượng tế bào tăng nhanh nhưng kích thước khối lượng tế bào nhỏ nên tốc độ sinh trưởng tuyệt đối còn chậm. Đến các

56

tuần sau, do cơ thể vẫn đang ở giai đoạn sinh trưởng nhanh, lúc này các tế bào tăng nhanh cả về số lượng, kích thước, khối lượng nên tốc độ sinh trưởng tuyệt đối nhanh hơn. Sau thời điểm tốc độ sinh trưởng tuyệt đối đạt đỉnh cao chúng lại có xu hướng giảm dần ở các công thức. Điều này vẫn tuân theo quy luật sinh trưởng, phát dục của gia cầm. Sở dĩ như vậy là do đến giai đoạn này khối lượng, kích thước và số lượng tế bào đang dần ổn định. Khi tế bào ổn định sẽ làm cho tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của gia cầm chậm lại thậm chí không tăng trọng thêm. Lúc này tăng trọng chủ yếu là do tích lũy mỡ. Cụ thể ở tuần thứ nhất sinh trưởng tuyệt đối của vịt thí nghiệm đạt 10,65g/con/ngày. Đến tuần tuổi thứ 5 đạt đỉnh cao là 47,92g/con/ngày, đến tuần tuổi thứ 8 còn 13,46g/con/ngày.

Vịt Bầu Bến có khả năng tích lũy từng ngày theo các giai đoạn tuổi cao hơn vịt Bầu Quỳ: sơ sinh đến 10 ngày tuổi 4,49g, 11 - 20 ngày tuổi là 10,36g, 21 - 30 ngày tuổi là 17,45g, 31 - 40 ngày tuổi là 24,72g, 41 - 50 ngày tuổi là 24,8g và 51 - 60 ngày tuổi là 19,01g (Lê Viết Ly và cs., 1999).

Đối với vịt Cỏ theo Lê Viết Ly và cs. (1998), Lê Xuân Đồng (1994) thì sinh trưởng tuyệt đối ở 3 tuần tuổi đối với con đực là 8,31g, con cái 6,9g, 8 tuần tuổi của con đực 18,05g, con cái 16,44g. Như vậy vịt Bầu Bến có tốc độ sinh trưởng tuyệt đối cao hơn vịt Cỏ.

Khi so sánh với vịt CV Super M nuôi tại Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên thì tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của vịt Bầu Bến thấp hơn. Vịt CV Super M có tốc độ sinh trưởng tuyệt đối ở 21 ngày tuổi là 39,68g/con/ngày, 28 ngày tuổi đạt 76,25g/con/ngày, 49 ngày tuổi đạt 66,55g/con/ngày, 56 ngày tuổi là 48,12 g/con/ngày, 63 ngày tuổi đạt là 28,22 g/con/ngày và 70 ngày tuổi là 5,51 g/con/ngày (Phạm văn Trượng và cs., 1997).

Theo Lương Tất Nhợ (1994), tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của vịt CV. Super M bố mẹ giai đoạn vịt con 4 tuần tuổi là 45g/con/ngày, sinh trưởng tương đối là 35,65%, đến 8 tuần tuổi tương ứng là 25,57g/con/ngày và 8,19%. Kết quả ở vịt CV. Super M dòng trống ở 4 tuần tuổi có tốc độ sinh trưởng tuyệt đối là 51,14g/con/ngày, tốc độ sinh trưởng tương đối là 40,86%, đến 8 tuần tuổi tốc độ sinh trưởng tuyệt đối là 22,57g/con/ngày, tốc độ sinh trưởng tương đối 7,12%; vịt dòng mái có kết quả tương ứng ở 4 tuần tuổi là 37,0g/con/ngày, 34,97%, ở 8 tuần tuổi là 22,0g/con/ngày và 8,01%. Như vậy vịt Bầu Bến có tốc độ sinh trưởng chậm hơn điều này phù hợp với thực tế các giống vịt nội có sinh trưởng kém hơn các giống vịt cao sản chuyên thịt.

57

Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối là chỉ tiêu cho biết thời gian nên giết mổ ở tuần tuổi nào là thích hợp và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Đối với vịt nuôi thịt, khi tốc độ sinh trưởng giảm (sinh trưởng tuyệt đối giảm thấp) lúc này ta nên giết thịt vì khi đó ta sẽ tận dụng được tối đa tốc độ sinh trưởng của vịt, giảm chi phí thức ăn và nâng cao hiệu quả kinh tế. Vì vậy nuôi vịt Bầu Bến thương phẩm thì nên giết thịt khi vịt được 9 tuần tuổi.

Hình 4.7. Sinh trưởng tương đối của vịt thương phẩm qua các tuần tuổi

Qua bảng 4.11 và hình 4.5 cho thấy sinh trưởng tương đối của vịt Bầu Bến nuôi thịt cao nhất ở tuần đầu là 92,21%, sau đó giảm dần đạt 2,87% ở tuần thứ 10. Kết quả này cùng hoàn toàn phù hợp với quy luật sinh trưởng của gia cầm, đồ thị

sinh trưởng tương đối có hình Hypepol.

Theo Dương Xuân Tuyển (1993) cho biết: tốc độ sinh trưởng tương đối của đàn vịt CV - Super M đạt giá trị cao nhất 241% ở tuần đầu sau đó giảm dần ở các tuần tuổi tiếp theo, đến 7 tuần tuổi đạt 16,93%, đạt 10,03% ở tuần tuổi thứ 8.

Kết quả này cao hơn nhiều so với kết quả thí nghiệm.

Sinh trưởng tương đối của đàn vịt thí nghiệm ngày càng giảm theo tuần tuổi, do vậy trong tạo giống để đạt hiệu quả kinh tế cao ta phải tạo được con lai có khả năng sinh trưởng phát dục nhanh để rút ngắn thời gian nuôi. Nếu thời gian nuôi càng

dài thì cường độ sinh trưởng của gia cầm càng thấp, kéo theo hiệu quả kinh tế sẽ giảm.

58

4.2.4. Tiêu tốn thức ăn và chỉ số sản xuất

Lượng thức ăn thu nhận và tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả kinh tế. Lượng thức ăn thu nhận hàng ngày phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có giống, điều kiện ngoại cảnh, chất lượng thức ăn,… Dựa trên lượng thức ăn hàng ngày, khối lượng vịt ở các tuần tuổi, chúng tôi đã tính toán được tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng, chỉ số sản xuất được

trình bày ở bảng 4.12.

Hiệu quả sử dụng thức ăn hay chính là tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể liên quan chặt chẽ tới tốc độ sinh trưởng của vịt. Vịt có tốc độ sinh trưởng thấp thì tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể cao. Ở các giai đoạn tuổi khác

nhau thì hiệu quả sử dụng thức ăn cũng khác nhau.

Bảng 4.12. Tiêu tốn thức ăn và chỉ số sản xuất của vịt Bầu Bến

Lượng thức ăn thu nhận

Chỉ số sản xuất

Tuần tuổi

Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (kg)

(g/con/tuần)

1

118,34

1,49

113,25

2

208,18

1,85

106,44

3

298,04

1,90

126,23

4

500,42

2,06

134,98

5

638,61

2,24

141,02

6

705,86

2,40

137,94

7

802,25

2,62

121,62

8

919,60

2,75

107,35

9

964,19

2,98

91,39

10

950,32

3,21

78,58

nuôi thương phẩm

Qua bảng 4.12 cho thấy tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng cơ thể tăng dần qua các tuần tuổi. Lượng thức ăn thu nhận của vịt Bầu Bến 1 tuần tuổi là là 118,34g/con/tuần, cao nhất ở 9 tuần tuổi là 964g/con/tuần. Tương ứng với tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng theo giai đoạn đến 4, 8, 9, 10 tuần tuổi lần

lượt là 2,06kg, 2,75kg, 2,98kg và 3,21kg.

59

Vịt Bầu Bến nuôi tại trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên cho kết quả về tiêu tốn thức ăn giai đoạn 1 – 10 tuần tuổi thấp hơn vịt Bầu Bến nuôi tại viện

chăn nuôi ở cả ba thế hệ 1, 2, 3 (Phạm Công Thiếu và cs., 2005).

Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng theo giai đoạn của vịt Bầu Bến tương đương kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Trọng và cs. (2011): vịt Star 76 thương phẩm nuôi đến 8 tuần tuổi tiêu tốn 2,86kg thức ăn/kg tăng trọng, vịt CV Super M ở 8 tuần tuổi tiêu tốn 2,77kg thức ăn/kg tăng trọng (Lương Tất Nhợ

và cs., 1993).

Chỉ số sản xuất là chỉ tiêu tổng hợp cả về tốc độ tăng trọng, tỷ lệ nuôi sống, tiêu tốn thức ăn ở những thời gian nhất định. Chỉ số sản xuất tỷ lệ thuận với khối lượng cơ thể bình quân, tỷ lệ nuôi sống và tỷ lệ nghịch với số ngày nuôi, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể. Chỉ số này càng cao hiệu quả chăn nuôi càng lớn. Kết quả bảng 4.12 cho thấy chỉ số sản xuất đạt cao nhất ở thời điểm 5 tuần tuổi là 141,02 sau đó giảm dần đến 10 tuần tuổi đạt 78,58. Điều này là phù hợp vì ở thời điểm 5 tuần tuổi vịt có tốc độ sinh trưởng tuyệt

đối đạt cao nhất.

Chỉ số sản xuất là một chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi, chỉ số sản xuất giảm là căn cứ để người chăn nuôi xác định thời điểm giết thịt phù hợp. Từ kết quả bảng 4.12 cho thấy nên giết thịt vịt Bầu Bến nuôi

thương phẩm ở thời điểm 8, 9 và 10 tuần tuổi.

4.2.5. Kết quả khảo sát thân thịt

Để đánh giá chất lượng thân thịt, chúng tôi tiến hành mổ khảo sát vịt thịt ở

các thời điểm 8, 9 và 10 tuần tuổi, kết quả thu được thể hiện ở bảng 4.13.

Bảng 4.13. Một số chỉ tiêu về chất lượng thịt của vịt Bầu

8 tuần tuổi

9 tuần tuổi

10 tuần tuổi

Chỉ tiêu

SE

SE

SE

X

X

X

Khối lượng sống (g)

1612,18

11,28

1775,22

12,13

1860,60 14,35

Tỷ lệ thịt xẻ (%) Tỷ lệ thịt ức (%)

66,58 14,72

67,52 12,71

0,78 0,45

68,20 12,90

0,88 1,07

0,43 0,56

Tỷ lệ thịt đùi (%)

10,91

13,53

0,30

13,80

0,11

0,47

Tỷ lệ mỡ bụng (%)

0,62

1,75

0,015

1,95

0,018

0,01

Bến nuôi thương phẩm (n = 6)

60

Qua bảng 4.13 cho thấy khối lượng vịt Bầu Bến ở các tuần tuổi 8, 9,10 là

1612,18g, 1775,22g, 1860,60g. Tỷ lệ thịt xẻ của vịt đạt cao nhất ở lúc 10 tuần tuổi

là 68,20%, tỷ lệ thịt ức đạt 12,71 - 14,72% , tỷ lệ thịt đùi đạt 10,91 - 13,80%. Kết

quả nghiên cứu về khả năng cho thịt ở vịt của một số tác giả:

Theo Nguyễn Đức Trọng và cs. (2009) khảo sát vịt Đốm (Pất Lài) ở 10 tuần

tuổi (70 ngày) cho thấy tỷ lệ thân thịt là 65,9%, tỷ lệ thịt đùi là 12,4% và tỷ lệ thịt

ức là 12,9%.

Hoàng Thị Lan và cs. (2005) cho biết vịt SM dòng T5 ở 8 tuần tuổi có tỷ

lệ thịt xẻ là 71,03%, thịt ức là 16,69% và thịt đùi là 12,08%. Dòng T6 có kết quả

tương ứng là 69,14%, 15,48% và 12,28%; con lai T56 có tỷ lệ thịt xẻ là 71,57%,

thịt lườn là 16,88%, thịt đùi là 11,19%.

Theo Nguyễn Đức Trọng (2009) một số chỉ tiêu mổ khảo sát vịt kiêm

dụng PL2 ở các tuần tuổi 8, 9, 10 lần lượt là: tỷ lệ thịt xẻ 60,9%; 65,2%; 65,9%;

tỷ lệ thịt lườn 11,7%; 12,6%; 12,9%; tỷ lệ thịt đùi 15,1%; 14,5%; 12,4%.

Cũng theo Nguyễn Đức Trọng và cs. (2011) cho biết về khả năng cho thịt

của Star 76 thương phẩm lúc 8 tuần tuổi: tỷ lệ thân thịt là 70,09%, tỷ lệ thịt đùi là

16,05% và tỷ lệ thịt ức là 15,94%.

Tác giả Lương Tất Nhợ và cs. (1993) cho kết quả tỷ lệ thân thịt khảo sát

trên đàn vịt cái thương phẩm CV Super M nuôi công nghiệp là 70,05%, tỷ lệ này

trên vịt đực là 73,59%.

So sánh với kết quả nghiên cứu về khả năng cho thịt của các tác giả cho

thấy vịt Bầu Bến đàn hạt nhân có tỷ thân thịt cao hơn vịt Đốm, vịt PL2 nhưng

thấp hơn vịt SM, Star 76, CV Super M .

Từ những kết quả thu được, để đảm bảo hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi

vịt Bầu Bến thương phẩm nên giết thịt ở thời điểm 9 tuần tuổi.

61

PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. KẾT LUẬN

5.1.1. Trên đàn hạt nhân

- Vịt Bầu Bến đàn hạt nhân được chọn lọc nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại xuyên là giống vịt kiêm dụng có đặc điểm ngoại hình đồng nhất: vịt con mới nở có màu lông xám đen có khoang vàng, mỏ và chân có màu vàng nhạt. Vịt trưởng thành có thân hình khá vững chắc, hình chữ nhật, ngực sâu rộng, màu lông chủ yếu là màu cánh sẻ sẫm ngoài ra còn có màu trắng tuyền, khoang trắng đen. Đầu to, con đực đầu màu xanh, cổ dài vừa phải đuôi con đực có lông móc

rất cong, mỏ có màu vàng - xám, chân thấp màu vàng cam.

- Tỷ lệ nuôi sống của vịt Bầu Bến cao trung bình giai đoạn 0 - 22 tuần tuổi là 93,53%. Tỷ lệ đẻ/52 tuần đạt 48,91%, năng suất trứng/mái/năm là 178,03 quả,

tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng là 3,776 kg.

- Trứng vịt Bầu Bến có khối lượng trung bình là 70,23 gam, đơn vị Haugh đạt 90,9, tỷ lệ lòng đỏ là 37,25%. Tỷ lệ trứng có phôi là 95,36%, tỷ lệ nở/phôi là

87,64%, tỷ lệ vịt con loại 1 đạt 94,61%.

5.1.2. Trên đàn thương phẩm

- Tỷ lệ nuôi sống của đàn vịt thương phẩm cao trung bình giai đoạn từ 0 –

10 tuần tuổi là 97,67%.

Khối lượng cơ thể của vịt Bầu Bến thuộc giống vịt kiêm dụng, khối lượng cơ thể vịt lúc 8, 9, 10 tuần tuổi lần lượt là 1695,61g, 1759,86g, 1811,12g; tiêu tốn thức ăn/kg khối lượng tăng trọng lần lượt đạt 2,75kg, 2,98kg, 3,21kg. Tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ thịt ức và tỷ lệ thịt đùi ở thời điểm 8, 9, 10 tuần tuổi lần lượt là: 66,3%, 67,52%, 68,2%; 14,17%, 12,71%, 12,90% và 10,91%, 13,53%, 13,80%. Để đảm bảo hiệu quả kinh tế cao trong nuôi vịt Bầu Bến thương phẩm nên giết thịt ở 9

tuần tuổi.

5.2. KIẾN NGHỊ

- Đưa vịt Bầu Bến vào nuôi giữ giống gốc để cung cấp con giống cho sản

xuất chăn nuôi và làm nguyên liệu cho lại tạo.

- Cần tăng cường nguồn kinh phí để mở rộng đàn giống phát triển ngoài sản

xuất.

62

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.

Brandsch.A and H. Biilchel (1978). Cơ sở của sự nhân giống và di truyền giống ở Gia Cầm. Cơ sở sinh học của nhân giống và nuôi dưỡng Gia Cầm (Nguyễn Chí Bảo biên dịch . Nhà xuất bản khoa học và Kỹ thuật. tr. 7 – 191.

2.

Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (2001). Thức Ăn Và dinh dưỡng Gia Cầm. Nhà xuất bản Nông Nghiệp.

3.

Bùi Hữu Đoàn (2010). Đánh giá khả năng sinh sản của vịt Triết Giang bố mẹ nuôi trong nông hộ ở huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.

4. Đặng Vũ Bình (2002). Di truyền số lượng và Chọn giống vật nuôi. Giáo trình

cao học. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà nội. tr 16-25.

5. Doãn Văn Xuân, Nguyễn Đức Trọng và Hoàng Văn Tiệu (2009). Nghiên cứu chọn lọc để tạo 2 dòng vịt CV2000 Layer tại trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên. Báo cáo Khoa học Viện Chăn nuôi Quốc Gia.

6. Dương Xuân Tuyển (1993). Khả năng sinh trưởng và phát triển của vịt thương phẩm CV – Super M nuôi tại trại vịt VIGOVA thành phố Hồ Chí Minh. Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học chăn nuôi vịt (1988 – 1992). Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội. tr. 58 – 64.

7. Dương Xuân Tuyển (1998). Nghiên cứu một số đặc điểm về tính năng sản xuất của các dòng vịt ông bà CV – Super M nuôi tại thành phố Hồ Chí Minh. Luận án Tiến sỹ khoa học Nông Nghiệp. Viện khoa học kỹ thuật Nông Nghiệp Việt Nam.

8. Dương Xuân Tuyển, Lê Thanh Hải và Hoàng Văn Tiệu (2008). Chọn lọc ổn định năng suất hai dòng vịt cao sản hướng thịt (V2 và V7) tại trại vịt giống VIGOVA. Báo cáo khoa học. Viện chăn nuôi, Hà nội. tr. 179.

9. Dương Xuân Tuyển, Nguyễn Văn Bắc, Đinh Công Tiến, Hoàng Văn Tiệu (2008). Ảnh hưởng của phương thức nuôi khô đến khả năng sinh trưởng và sinh sản của vịt CV. Super M và CV. 2000 tại Trại vịt giống Vigova. Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi (14)

Tiếng Việt:

63

10. Dương Xuân Tuyển, Nguyễn Văn Diện, Nguyễn Văn Bắc, Vũ Thị Liễu và Nguyễn Ngọc Huân (1993). Sử dụng thức ăn địa phương (Thóc, Đầu Tôm, Còng) nuôi đàn Vịt Giống Cv-Super M tại Trại vịt Vigova Thành Phố Hồ Chí Minh. Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học chăn nuôi vịt (1988-1992). tr. 63-76.

11. Hồ Khắc Oánh (1996). Nghiên cứu tính năng sản xuất của vịt Khakicampell trong các điều kiện chăn nuôi ở ven biển đồng băng sông Hồng. Luận án Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp.

12. Hồ Khắc Oánh, Hoàng Văn Tiệu, Nguyễn Đức Trọng, Phạm Văn Trượng, Nguyễn Thị Minh, Phạm Hữu Chiến, Bùi Văn Thảnh, Bùi Văn Chủm (2001). Nghiên cứu bảo tồn quỹ gen vịt Bầu Bến tại Hòa Bình. Tuyển tập các công trình nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi vịt, ngan, Hà Nội.

13. Hoàng Thị Lan, Hoàng Văn Tiệu, Nguyễn Đức Trọng, Võ Trọng Hốt, Phan Tùng Lâm, Võ Văn Sự, Doãn Văn Xuân và Nghiêm Thúy Ngọc (2005). Nghiên cứu chọn tạo hai dòng vịt cao sản SM (T5 & T6) Tại Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên. In Tuyển tập các công trình nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi vịt- ngan. NXB Nông nghiệp Hà nội.

14. Hoàng Văn Tiệu và Lương Tất Nhợ (1996). Quy trình chăn nuôi vịt Khaki Campell. Tuyển tập các công trình nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi vịt – ngan. tr 50.

15. Hoàng Văn Tiệu, Lê Xuân Đồng, Lương Tất Nhợ, Phạm Văn Trượng, Lê Thanh Hải và Lê Văn Liễn (1993). Nghiên cứu Chọn lọc nhân thuần các dòng vịt nội, ngoại và tạo ra các cặp lai có năng suất cao phù hợp với phương thức Chăn nuôi Chăn Thả. Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học chăn nuôi vịt (1988- 1992). tr 143-59.

16. Hoàng Văn Tiệu, Lương Tất Nhợ, Lê Xuân Thọ, Đặng Thị Dung, Phạm Văn Trượng và Doãn Văn Xuân (1993). Kết quả theo dõi một số tính năng sản xuất của vịt Cv-Super M. Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học chăn nuôi vịt (1988-1992). Nhà Xuất Bản Nông Nghiệp, Hà Nội. tr. 43-51.

17. Hoàng Văn Tiệu, Nguyễn Đức Trọng, Phạm Văn Trượng, Hoàng Thị Lan (1997). Quy trình chăn nuôi vịt CV.Super M. Tuyển tập các công trình nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật Chăn nuôi vịt (1981-1996). Nhà xuất bản Nông nghiệp.

64

18. Hutt.F.F. Di truyền học động vật (Phan Cự Nhân biên dịch). Nhà xuất bản khoa

học kỹ thuật, Hà Nội. tr. 122 - 170.

19. Lê Hồng Mận, Lê Hồng Hải, Nguyễn Phúc Độ và Trần Long (1993). Kết quả lai tạo gà thương phẩm trứng giữa giống Rhode Island Red với Giống Lerhorn Trắng. Tuyển tập công trình nghiên cứu Khoa học Kỹ thuật gia cầm (1986 - 1996). Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội. tr. 64-68.

20. Lê Sĩ Cương (2001). Nghiên cứu một số đặc tính về tính năng sản xuất của đàn vịt giống ông bà CV. Super M2 tại Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên. Luận văn Thạc sĩ khoa học nông nghiệp.

21. Lê Thị Phiên, Nguyễn Đức Trọng và Hoàng Văn Tiệu (2006). Nghiên cứu chọn lọc nâng cao năng suất trứng để tạo dòng vịt Khaiki Campell. Báo cáo Khoa học Viện Chăn nuôi Quốc Gia năm.

22. Lê Viết Ly, Nguyễn Đình Nhu, Dương Chuyên, Lê Xuân Đồng, Lê Minh Sắt, Cao Xuân Tuấn, Vi Văn Vân, Lê Hải Ly, Lang Thị Minh, Đặng Thị Dung (1999). Báo cáo kết quả khảo sát đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất giống vịt Bầu Quỳ - Nghệ An. tr. 16 - 35.

23. Lê Viết Ly, Nguyễn Thị Minh, Phạm Văn Trượng, Hoàng Văn Tiệu (1998). Kết quả nghiên cứu một số tính năng sản xuất của nhóm vịt Cỏ màu cánh sẻ qua 6 thế hệ. Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật chăn nuôi 1996 – 1997. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội. tr. 109 – 116.

24. Lê Xuân Đồng (1994). Nghiên cứu một số đặc điểm của giống vịt cỏ và khả năng nhân thuần hai nhóm vịt cỏ có màu lông trắng, cánh sẻ. Luận án PTS khoa học nông nghiệp. Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam.

25. Lê Xuân Đồng, Nguyễn Thượng Trữ (1998). Kỹ thuật chăn nuôi vịt con. NXB

Nông nghiệp. tr. 9 – 15.

26. Lương Tất Nhợ (1994). Đặc điểm sinh trưởng cho thịt và cho lông của vịt CV-Super M nuôi tại Miền Bắc Việt Nam. Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam.

27. Lương Tất Nhợ, Hoàng Văn Tiệu, Đặng Thị Dung, Lê Xuân Thọ, Doãn Văn Xuân, Nguyễn Đức Trọng (1997). Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và khả năng cho thịt của vịt CV – Super M trong các điều kiện chăn nuôi ở đồng bằng sông Hồng. Tuyển tập các công trình nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi vịt (1981 – 1996). Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, tr. 33 – 39.

65

28. Lương Tất Nhợ, Nguyễn Song Hoan, Hoàng Văn Tiệu, Đoàn Thị Khang (1994). Đặc điểm giống vịt Bầu Việt Nam. Kết quả nghiên cứu bảo tồn nguồn gen vật nuôi Việt Nam. NXB nông nghiệp. tr. 102 – 108.

29. Nguyễn Ân, Nguyễn Thị Xuân, Nguyễn Hữu Thới (1982). Một số chỉ tiêu chất lượng trứng vịt Bầu. Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp năm 1998 (8). Bộ Nông nghiệp. tr. 368 – 370.

30. Nguyễn Công Quốc, Dương Xuân Tuyển và cộng tác viên (1993). Nghiên cứu nhân thuần và chọn lọc đàn vịt giống gốc CV – Super M nuôi tại trại vịt VIGOVA thành phố Hồ Chí Minh. Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học chăn nuôi vịt (1988 – 1992). Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, tr. 26 – 42.

31. Nguyễn Đức Trọng (1998). Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả ấp nở của trứng vịt Cv-Super M dòng ông, dòng bà ở Việt Nam. Luận án Tiến sĩ khoa học Nông nghiệp. Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp.

32. Nguyễn Đức Trọng, Doãn Văn Xuân, Nguyễn Văn Duy, Phạm Văn Chung và Lương Thị Bột (2008). Khả năng sản xuất của vịt CV Super M3 Super Heavy (SM3SH). Báo cáo khoa học - Viện Chăn nuôi Quốc Gia, Hà Nội. tr. 149.

33. Nguyễn Đức Trọng, Hồ Khắc Oánh, Nguyễn Thị Minh, Lê Thị Phiên, Ngô Văn Vĩnh, Lê Xuân Thọ (2006). Kết quả nuôi giữ, bảo tồn quỹ gen vịt Đốm (Pất Lài) và vịt Bầu Bến tại Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên, Tuyển tập các công trình nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi vịt ngan: 173 - 177.

34. Nguyễn Đức Trọng, Hoàng Thị Lan và Doãn Văn Xuân (1996). Nghiên cứu một số chỉ tiêu năng suất của vịt sinh sản CV-Super M năm đẻ thứ 2. Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật chăn nuôi 1994-1995. tr 93-97.

35. Nguyễn Đức Trọng, Hoàng Thị Lan, Doãn Văn Xuân, Lương Thị Bột, Nguyễn Thị Ngọc Liên, Lê Xuân Thọ, Phạm Văn Trượng, Lê Sỹ Cương (2007). Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu về khả năng sản xuất của giống vịt CV. Super M2 nuôi tại Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên, Tạp chí Khoa học Công nghệ chăn nuôi - Viện chăn nuôi (7).

36. Nguyễn Đức Trọng, Hoàng Văn Tiệu và Nguyễn Đăng Vang (1997). So sánh một số chỉ tiêu năng suất của Vịt Cv-Super M dòng Ông, dòng Bà Của 2 Phương thức nuôi khô và nước. Tuyển tập các công trình nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi vịt (1981-1996). tr. 47 - 49.

66

37. Nguyễn Đức Trọng, Hoàng Văn Tiệu, Hồ Khắc Oánh, Doãn Văn Xuân, Phạm Văn Chung và Lương Thị Bột (2009). Chọn lọc vịt kiêm dụng PL2. Báo cáo khoa học - Viện Chăn nuôi. tr. 396 - 400.

38. Nguyễn Đức Trọng, Hoàng Văn Tiệu, Hoàng Thị Lan, Nguyễn Đăng Vang (2005). Nghiên cứu một số chỉ tiêu sản xuất của vịt CV. Super M dòng ông và dòng bà các mùa trong năm. Tuyển tập các công trình nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi vịt - ngan (1980-2005).

39. Nguyễn Đức Trọng, Lương Thị Bột, Mai Hương Thu, Phạm Văn Chung, Nguyễn Thị Thúy Nghĩa, Đặng Thị Vui, Đồng Thị Quyên (2011). Khả năng sản xuất của vịt STAR76 (ST3, ST4), Báo cáo khoa học Viện Chăn Nuôi: 159 - 172.

40. Nguyễn Đức Trọng, Nguyễn Văn Duy, Hoàng Văn Tiệu, Đặng Thị Vui, Ngô Văn Vĩnh, Lương Thị Bột, Nguyễn Thị Thúy Nghĩa và Đồng Thị Quyên (2009). Chọn tạo dòng vịt chuyên thịt M14, Báo cáo khoa học- Viện Chăn nuôi Quốc Gia. tr. 345 - 402.

41. Nguyễn Đức Trọng, Nguyễn Văn Duy, Hoàng Văn Tiệu, Đặng Thị Vui, Nguyễn Thị Minh, Hồ Khắc Oánh (2009). Đặc điểm và khả năng sản xuất của vịt Triết Giang. Báo cáo khoa học Viện Chăn nuôi, Hà Nội. tr. 132.

42. Nguyễn Đức Trọng, Nguyễn Văn Duy, Hoàng Văn Tiệu, Vương Thị Lan Anh, Nguyễn Thị Thúy Nghĩa (2011). Khả năng sản xuất của con lai giữa vịt SM và vịt Đốm. Báo cáo khoa học Viện Chăn Nuôi. tr. 401 – 411.

43. Nguyễn Đức Trọng, Nguyễn Văn Duy, Hoàng Văn Tiệu, Vương Thị Lan Anh, Nguyễn Thị Thúy Nghĩa, Đồng Thị Quyên, Đặng Thị Vui (2009). Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của con lai giữa vịt Cỏ và vịt Triết Giang. Báo cáo khoa học Viện Chăn Nuôi.

44. Nguyễn Đức Trọng, Nguyễn Văn Duy, Vương Thị Lan Anh, Nguyễn Thị Thúy Nghĩa, Lê Thị Mai Hoa, Đặng Vũ Hòa, Hoàng Văn Tiệu (2011). Chọn lọc ổn định năng suất vịt Đại Xuyên PT. Báo cáo khoa học Viện Chăn Nuôi. tr. 148 - 158.

45. Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Nguyễn Thị Mai, Bùi Hữu Đoàn (1994).

Chăn nuôi gia cầm. Nhà xuất bản Nông Nghiệp. tr. 11 - 25.

46. Nguyễn Ngọc Dụng, Phùng Đức Tiến (2005). Chọn lọc nâng cao khả năng sản xuất của vịt CV-Super M dòng ông, dòng bà nuôi tại trạm nghiên cứu gia cầm Cẩm Bình. Báo cáo khoa học 2005. Viện Chăn nuôi Quốc gia.

67

47. Nguyễn Quế Côi, Đặng Vũ Hòa, Nguyễn Nguyệt Cầm (2005). Kết quả nghiên cứu khả năng sản xuất của vịt Bầu Quỳ thương phẩm nuôi theo 3 hình thức khác nhau tại Quảng Bình. Tóm tắt báo cáo khoa học Viện Chăn nuôi. tr. 180 – 184.

48. Nguyễn Song Hoan (1993). Một số đặc điểm sinh học và tính năng sản xuất của vịt Anh Đào, Bầu, con lai F1 Bầu x Anh Đào nuôi theo phương thức chăn thả tại Thanh Hóa. Luận án Phó tiến sỹ khoa học nông nghiệp. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. tr. 91 – 97.

49. Nguyễn Thị Bạch Yến (1997). Một số đặc điểm di truyền và tính năng sản xuất của vịt Khaki Campbell qua 4 thế hệ nuôi thích nghi theo phương thức chăn thả. Luận án PTS khoa học nông nghiệp. Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam.

50. Nguyễn Thị Minh (2001). Nghiên cứu một số tính năng sản xuất và chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu trong việc bảo tồn quỹ gen dòng vịt cỏ màu cánh sẻ. Luận án tiến sỹ nông nghiệp. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội.

51. Nguyễn Thị Minh, Hoàng Văn Tiệu, Phạm Văn Trượng (1996). Chọn lọc, nhân thuần và bảo tồn vịt Cỏ màu cánh sẻ tại Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên. Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật chăn nuôi 1994 – 1995. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội. tr. 109 – 116.

52. Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Đức Trọng và Hoàng Văn Tiệu (2007). Chọn lọc ôn định năng suất trứng của dòng vịt Cỏ C1. Báo cáo khoa học Viện chăn nuôi - năm 2007. tr.339.

53. Nguyễn Thị Thúy Nghĩa, Nguyễn Đức Trọng, Nguyễn Văn Duy, Phạm Văn Chung, Mai Hương Thu, Lương Thị Bột, Đồng Thị Quyên, Đặng Thị Vui (2011). Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của vịt Bầu và vịt Đốm, Báo cáo khoa học Viện Chăn Nuôi 2011. tr. 189 - 196.

54. Nguyễn Văn Bắc (2005). Nghiên cứu đặc điểm về khả năng sản xuất của vịt CV2000 nuôi tại trại giống Vigova và một số nông hộ tại thành phố Hồ Chí Minh. Luận án tiến sĩ Nông nghiệp.

55. Nguyễn Văn Thiện (1995). Di truyền học số lượng ứng dụng trong Chăn nuôi.

Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội. tr: 9-16.

56. Phạm Công Thiếu, Lương Thị Hồng, Hồ Lam Sơn và Trần Quốc Tuấn (2005). Kết quả theo dõi về ngoại hình và khả năng sản xuất của vịt Bầu Bến qua 3 thế hệ tại Viện Chăn nuôi.

68

57. Phạm Công Thiếu, Lương Thị Hồng, Hồ Lam Sơn, Trần Quốc Tuấn, Hoàng Văn Tiệu, Võ Văn Sự (2003). Kết quả bước đầu nghiên cứu một số đặc điểm về ngoại hình và khả năng sản xuất của vịt Bầu Quỳ và vịt Bầu Bến nuôi tại Viện Chăn nuôi.

58. Phạm Văn Trượng, Hoàng Văn Tiệu, Lương Tất Nhợ và Nghiêm Thúy Ngọc (1993). Hiệu quả kinh tế của vịt Cv-Super M nuôi thịt theo phương thức Chăn thả cổ truyền và phương thức chăn thả có bổ sung thức ăn hỗn hợp. Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học chăn nuôi vịt (1988-1992), Hà Nội. tr. 93 - 97

59. Phạm Văn Trượng, Hoàng Văn Tiệu, Nguyễn Thị Bạch Yến, Lê Xuân Thọ, Hồ Khắc Oánh, Trần Thanh Vân, Đoàn Xuân Hưng (1996). Kết quả nuôi vịt Khaki Campbell trong nông hộ ở một số vùng sinh thái khác nhau. Tuyển tập các công trình nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật Chăn nuôi vịt (1981-1996).

60. Phạm Văn Trượng, Ngô Văn Vĩnh, Lương Thị Bột (1997). Nghiên cứu lai kinh tế giữa ngan Pháp R31 với vịt CV Super M. Báo cáo khoa học chăn nuôi thú y 1996 – 1997 (tại Nha Trang), Hà Nội. tr.175 – 178.

61. Phùng Đức Tiến, Nguyễn Ngọc Dụng, Lê Thị Nga, Vũ Đức Cảnh, Nguyễn Thị Hường, Phạm Thị Xuân, Lê Thị Cẩm và Trần Thị Thu Hằng (2008). Kết quả nghiên cứu khả năng sản xuất của vịt Ông Bà Star 53 nhập nội. Báo cáo khoa học - Viện Chăn nuôi Quốc Gia. tr. 147.

62. Phùng Đức Tiến, Nguyễn Ngọc Dụng, Lê Thị Nga, Vũ Đức Cảnh, Nguyễn Thị Hường, Phạm Thị Xuân, Lê Thị Cẩm, Trần Thị Thu Hằng và Vũ Anh Bình (2008). Kết quả nghiên cứu khả năng sản xuất của vịt ông bà Super Heavy nhập nội. Báo cáo khoa học viện chăn nuôi. tr. 156 - 165.

63. QCVN 01 – 45: 2011/BNNPTNT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm,

kiểm định vịt giống.

64. Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường (1992). Chọn giống và nhân giống gia

súc. NXB Nông nghiệp.

65. Trần Quốc Việt, Ninh Thị Len, Lê Văn Huyên, Trần Việt Phương, Sầm Văn Hải, Vũ Thị Thảo, Phùng Đức Tiến, Nguyễn Ngọc Dụng, Vũ Đức Cảnh, Nguyễn Thị Hường và Phạm Thị Hằng (2009). Xác định nhu cầu năng lượng, Protein Và Axit Amin (Lysine, Methionine) của Ngan Pháp Và Vịt Cv-Super M giai đoạn đẻ trứng trong điều kiện chăn nuôi tập trung. Báo cáo khoa học Viện chăn nuôi năm 2009. tr. 337.

69

Tiếng nước ngoài:

66. Abdelsamic R. E and D. J. Farrel (1985). Carcass composition and carcass

67. Aggarwal C. K and K. Dipankar (1986). Effect of male, female ratio on fertility on white pekin ducks. Indian Journal of animal production and management. Vol 2(4). pp. 193 – 194.

68. Chambers J. R. (1990). Genetic of growth and meat production in chicken. Part IV – Poultry breeding and genetic. 2nd ed R. D. Crawford – Elsevier – Amsterdam – Oxford – Newyork – Tokyo. pp. 599.

69. Chen D. T., S. R. Lee, H. Y. Hu, C. C. Huang, Y. S. Cheng, C. Tai, J.P. Poivey and R. Rouvier (2003). Genetic trends for laying traits in the Brown Tsaiya (Anas platyrhynchos) selected with restricted genetic selection index. Asian- Australian Journal Animal Science. Vol 16(12). pp. 1705 – 1710.

70. Hall, A. D. and Martin, D. M. ( 2006). Where next with duck meat production.

International Hatchery Practice. 20(6): 7 - 8.

71. Hetzel D. J. S (1984). Comparative performane of intensively managed Khaki

cambell and native Indonesian duck. Tropical Animal Health and Production.

72. Hu Y. H., R. Rouvier, J. P., Poivey, H. C., Liu, C. Tai. (2006). Selection studies for 15 generations of Muscovy duck (Carina moschata) in duck research center, Symposium COA/INRA Scientific Cooperation in Agriculture. Tainan (Taiwan, R. O. C.). pp. 7 - 114.

73. Hudsky, Z. and Manchalek, E. (1981). Effect of stocking density on carcass

characters of ducks. ABA. pp. 353-354.

74.

J. Khajarern and S. Khajaern (1990). Duck Breeding Guide. FAO/Khonkoen University training programmes fellows from Vietnam, Thailand.

75. King C. and C. R. Henderson (1954). Heritability studies of egg production in

the domestic fowl. Poult. Sci. Vol 33. pp. 155 - 164.

76. Knust, U., Pingel, H. and Lengerken, G. V. (1996). Investigations on the Effect of High Tempratures on Carrcas Composition and Meat Quality of Peckin and Mulards, Proceedings, Proceedings world’s poultry congress. Vol 3. pp. 579 – 88.

70

77. Kschischan. M., Wagner, A., Knust, U., Pingel, H. and Kohler, D. (1995). Effects of different fattening methods on Mullards and Pekin ducks, 10th European Symp, on waterfowl,WPSA. Halle(saale), Geramany. pp. 26 – 66.

78. Ksiazkiewicz (2002). Reproductive and meat characteristics of Polish ducks threatened with extinction, Czech Journal Animal Science. Vol 47(10). pp. 401 - 410.

79. Orlov. M. V. (1974). Control Biologico En La Incubacion.

80.

Pingel, H. (1990). Genetics of egg production and reproduction in waterfowl. Poultry Breeding and Genetic, Crawford R. D., Elsevier. Vol 31. tr. 771 - 780.

81.

Powell J. C. (1980). Age related change in the carcass of domestic duck. Proc. 6th European Poultry Conference, Hamburg, 8 - 12 Sept. World’s Poultry Sci. ASSm. pp. 457 - 463.

82.

Poivey J. P., Y. S. Cheng, R. Rouvier, C. Tai, C. T. Wang, H. L. Liu. (2001) Genetic parameters off reproduction traits Brown Tsaiya ducks artificially inseminated with semen from Muscovy drake,.Poultry Scinece. Vol 80. tr. 703 – 709.

83. Yu Shin Cheng, Roger Rouvier, Jean Paul Poivey, Jui Jane Liu Tai, Chein Tai, Shang Chi Huang (2002). Selection respones for the number of fertile eggs of Brown Tsaiya duck. Anas platyrhynchos after a single artificial insemination wit pooled Muscovy (Cairina moschata) semen. Genetic Selection Evolution. Vol (34). pp. 579 – 611.

71