intTypePromotion=1

Đánh giá hiện trạng, nguyên nhân ngập lụt cục bộ địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang và đề xuất các giải pháp khắc phục

Chia sẻ: Bautroibinhyen17 Bautroibinhyen17 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
52
lượt xem
7
download

Đánh giá hiện trạng, nguyên nhân ngập lụt cục bộ địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang và đề xuất các giải pháp khắc phục

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu này được thực hiện tại địa bàn nội ô thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang để đánh giá hiện trạng và xác định các nguyên nhân gây ngập lụt cục bộ, từ đó kiến nghị một số giải pháp nhằm khắc phục tình trạng ngập úng. Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đánh giá hiện trạng, nguyên nhân ngập lụt cục bộ địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang và đề xuất các giải pháp khắc phục

Journal of Science – 2014, Vol. 4 (3), 57 – 64<br /> <br /> An Giang University<br /> <br /> ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG, NGUYÊN NHÂN NGẬP LỤT CỤC BỘ ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ<br /> LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC<br /> Nguyễn Phú Thắng1<br /> 1<br /> <br /> ThS. Khoa Sư phạm, Trường Đại học An Giang<br /> <br /> Thông tin chung:<br /> Ngày nhận bài: 25/02/13<br /> Ngày nhận kết quả bình duyệt:<br /> 04/05/14<br /> Ngày chấp nhận đăng:<br /> 22/10/14<br /> Title:<br /> Evaluating the reality, causes<br /> of the local flooding in Long<br /> Xuyen, An Giang and its<br /> solutions<br /> Từ khóa:<br /> Ngập lụt cục bộ, Long Xuyên,<br /> hiện trạng, nguyên nhân, giải<br /> pháp<br /> Keywords:<br /> Local flooding, Long Xuyen,<br /> reality, cause, solutions<br /> <br /> ABSTRACT<br /> The research was conducted in Long Xuyen City of An Giang Province in order<br /> to assess the reality of local flooding and the reasons, thus provide solutions to<br /> the problem. The research was employed many research methods including field<br /> work and mapping. The results show that there are 19 flooding points, in which 3<br /> points are severely, 4 are averagely and 12 are slightly affected. Streets such as<br /> Vo Thi Sau, Yet Kieu and Phan Dang Luu have the worst conditions with<br /> flooding period over one hour. The reasons include heavy rains, uncompleted<br /> sewerage systems, increase of urbanization and garbage.<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Nghiên cứu này được thực hiện tại địa bàn nội ô thành phố Long Xuyên, tỉnh An<br /> Giang để đánh giá hiện trạng và xác định các nguyên nhân gây ngập lụt cục bộ,<br /> từ đó kiến nghị một số giải pháp nhằm khắc phục tình trạng ngập úng. Các<br /> phương pháp nghiên cứu thực địa, phương pháp bản đồ được sử dụng cho cuộc<br /> điều tra. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 19 điểm ngập, trong đó có 3 điểm ngập<br /> nặng, 4 điểm ngập trung bình và 12 điểm ngập nhỏ. Các điểm ngập nặng nhất là<br /> đường Võ Thị Sáu, Yết Kiêu và Phan Đăng Lưu, thời gian ngập kéo dài trên 1<br /> giờ. Nguyên nhân gây ngập chủ yếu là do mưa cường suất lớn; hệ thống tiêu<br /> thoát nước chưa hoàn thiện; quá trình đô thị hóa làm gia tăng bề mặt không<br /> thấm nước; rác thải dân sinh làm ảnh hưởng đến hệ thống tiêu thoát.<br /> <br /> trong mùa mưa ở các đô thị loại II trở lên; đến<br /> năm 2025, xoá bỏ hoàn toàn tình trạng ngập úng<br /> thường xuyên tại các đô thị (Thủ tướng chính phủ<br /> (TTCP), 2009).<br /> Nằm ở vĩ độ cận xích đạo, chịu tác động của hệ<br /> thống gió mùa Đông Bắc và Tây Nam, đặc điểm<br /> tự nhiên ở thành phố (TP) Long Xuyên có sự phân<br /> hóa theo mùa, đặc biệt là lượng mưa. Đây là tiền<br /> đề làm xuất hiện hiện tượng ngập úng tại một số<br /> điểm trong nội ô. Tuy mức độ chưa thực sự<br /> nghiêm trọng như các đô thị lớn như Hà Nội, TP.<br /> Hồ Chí Minh, Cần Thơ (Hồ Long Phi, 2010;<br /> Nguyễn Song Dũng, 2004; Viện Quy hoạch thủy<br /> lợi Miền Nam, 2011). Song trong bối cảnh biến<br /> đổi khí hậu ngày càng tác động sâu rộng đến toàn<br /> vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã đặt ra yêu cầu<br /> cần nhìn nhận đầy đủ về mức tác động và xây<br /> <br /> 1. GIỚI THIỆU<br /> Ngập lụt cục bộ tại các đô thị được xem là một<br /> trong những hiện tượng có tính quy luật trong quá<br /> trình phát triển ở các đô thị và là vấn đề nổi bật<br /> cần giải quyết. Những hậu quả do ngập lụt gây ra<br /> đối với đời sống của con người trong những năm<br /> gần đây đã cho thấy yêu cầu cấp thiết cần xác<br /> định nguyên nhân trọng tâm và đề xuất các giải<br /> pháp nhằm giải quyết có hiệu quả hiện tượng này,<br /> thúc đẩy quá trình đô thị hóa diễn ra thuận lợi.<br /> Yêu cầu giải quyết ngập úng tại các đô thị Việt<br /> Nam đã được xác định trong Quyết định phê<br /> duyệt định hướng phát triển cấp, thoát nước đô thị<br /> và khu công nghiệp (KCN) Việt Nam đến năm<br /> 2025 và tầm nhìn đến năm 2050 với mục tiêu từ<br /> nay đến năm 2015, ưu tiên giải quyết thoát nước<br /> mưa, xoá bỏ tình trạng ngập úng thường xuyên<br /> 57<br /> <br /> Journal of Science – 2014, Vol. 4 (3), 57 – 64<br /> <br /> An Giang University<br /> <br /> dựng giải pháp khắc phục đối với hiện tượng ngập<br /> úng (Võ Khắc Trí. 1999; Nguyễn Ngọc Trân,<br /> 2013). Bài viết nhằm đánh giá hiện trạng, xác<br /> định các nguyên nhân ngập lụt cục bộ tại địa bàn<br /> TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang, từ đó đề xuất các<br /> giải pháp khắc phục.<br /> <br /> Phương pháp bản đồ được vận dụng để đánh giá<br /> sự phân bố của hiện tượng ngập lụt cục bộ tại<br /> Long Xuyên cũng như xác lập mối liên hệ giữa<br /> ngập lụt với các yếu tố về tự nhiên và xã hội của<br /> vùng nghiên cứu. Dựa trên hệ thống các bản đồ<br /> được sử dụng để nghiên cứu ngập lụt cục bộ tại<br /> Long Xuyên gồm bản đồ địa hình, bản độ ngập lụt<br /> tỉnh An Giang, bản đồ hành chính TP. Long<br /> Xuyên, bản đồ hiện trạng và quy hoạch kết cấu hạ<br /> tầng Long Xuyên đến năm 2020, đề tài phân tích<br /> sự phân bố không đều của các yếu tố về tự nhiên<br /> và xã hội có tác động trực tiếp và gián tiếp đến<br /> ngập úng. Mặt khác, kết hợp với dữ liệu quan trắc<br /> thực tế, đề tài đã sử dụng phần mềm apinfo để<br /> biên tập bản đồ chuyên đề như bản đồ các điểm<br /> ngập lụt tại địa bàn TP Long Xuyên nhằm đưa ra<br /> thực trạng phân bố của các điểm ngập trong mối<br /> quan hệ với các yếu tố tự nhiên và xã hội.<br /> <br /> 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> - Phương pháp điều tra thực địa<br /> Đây là phương pháp cơ bản trong việc nghiên cứu<br /> ngập lụt cục bộ tại Long Xuyên. Phương pháp<br /> điều tra thực địa được vận dụng nhằm thu thập<br /> các giá trị định lượng về ngập lụt trên địa bàn<br /> nghiên cứu, từ đó đưa ra các nhận định mang tính<br /> khoa học, khách quan. Việc đo đạc quan trắc mức<br /> ngập thực hiện theo trình tự sau: Xác lập địa điểm<br /> và thời gian nghiên cứu: lựa chọn 5 phường nội ô:<br /> Mỹ Bình, Bình Khánh, Mỹ Phước, ỹ Xuyên,<br /> Mỹ Long (các phường nội thành có hệ thống thoát<br /> nước xây ựng lâu và xuống cấp, đồng thời có các<br /> điểm ngập xuất hiện với tần suất lớn, thời gian lâu<br /> dài) với 15 điểm, tuyến ngập ở các phường. Thời<br /> điểm quan trắc và đo đạc tập trung trong tháng<br /> (tháng – 8 – 9) là những tháng có lượng mưa tập<br /> trung lớn và thực tế tần suất xuất hiện của ngập<br /> lụt cao; Thực hiện đo đạc và thu thập giá trị ngập<br /> lụt: Các giá trị quan trắc chủ yếu là mức ngập tại<br /> các địa bàn và thời điểm khác nhau; Tổng hợp và<br /> xử lí dữ liệu: Các giá trị thu được từ thực địa sẽ<br /> được tổng hợp thành các bảng số liệu, đồng thời<br /> vận dụng các chỉ số phản ánh mức ngập (bảng 1)<br /> để đánh giá và xếp loại. Kết luận: đưa ra các kết<br /> luận về thực trạng ngập theo không gian và thời<br /> gian, nhận định về nguyên nhân gây ngập.<br /> <br /> - Phương pháp tổng hợp, so sánh<br /> Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng hợp, so<br /> sánh để chỉ ra sự khác biệt về mức ngập úng tại<br /> các địa bàn trong nội ô ở các thời điểm khác nhau.<br /> Phương pháp này được vận dụng trong việc xây<br /> dựng cơ sở lí luận và thực tiễn về ngập lụt cục bộ,<br /> tổng hợp và đánh giá các chỉ số về tự nhiên và xã<br /> hội như khí hậu, khí tượng, thủy văn, đất đai, ân<br /> cư, cơ sở hạ tầng… ở Long Xuyên, qua đó góp<br /> phần làm rõ mối quan hệ giữa hiện trạng và các<br /> nhân tố gây ngập.<br /> 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN<br /> 3.1 Hiện trạng ngập lụt cục bộ tại địa bàn TP.<br /> Long Xuyên, tỉnh An Giang<br /> 3.1.1 Thực trạng ngập lụt theo không gian<br /> <br /> Bảng 1. Các chỉ số phản ánh mức độ ngập úng<br /> Mức độ ngập<br /> Nặng<br /> <br /> Thời gian ngập<br /> (phút)<br /> >120<br /> <br /> Vừa<br /> Nhẹ<br /> <br /> 30 – 120<br /> 30<br /> <br /> Hàng năm, vào mùa mưa, đặc biệt từ giai đoạn<br /> tháng VII đến tháng XI, hiện tượng ngập lụt cục<br /> bộ xuất hiện ở nội ô TP. Long Xuyên. Tình trạng<br /> ngập lụt ở Long Xuyên diễn ra ngày càng nghiêm<br /> trọng trên diện rộng và kéo dài.<br /> <br /> Độ sâu ngập<br /> (m)<br /> > 0,5<br /> 0,2 – 0,5<br /> 0,1 – 0,2<br /> <br /> [Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Hương, 200 ]<br /> <br /> Do sự phân bố của các yếu tố gây ngập không<br /> giống nhau nên hiện tượng ngập úng diễn ra<br /> không đồng đều trên địa bàn TP. Long Xuyên<br /> (Bảng 2).<br /> <br /> - Phương pháp bản đồ<br /> <br /> Bảng 2. Số lượng các điểm ngập úng trên địa bàn TP. Long Xuyên năm 2012<br /> Địa bàn TP<br /> Phường Mỹ Bình<br /> Phường Mỹ Long<br /> Phường Mỹ Xuyên<br /> <br /> Số lượng địa điểm ngập úng<br /> Nặng<br /> > 50 cm<br /> 1<br /> 0<br /> 1<br /> <br /> 2<br /> 1<br /> 3<br /> <br /> 58<br /> <br /> Mức độ ngập úng<br /> Vừa<br /> 20 - 50 cm<br /> 0<br /> 1<br /> 1<br /> <br /> Nhẹ<br /> < 20 cm<br /> 1<br /> 0<br /> 1<br /> <br /> Journal of Science – 2014, Vol. 4 (3), 57 – 64<br /> Phường Đông Xuyên<br /> Phường Bình Đức<br /> Phường Bình Khánh<br /> Phường Mỹ Quý<br /> Phường Mỹ Phước<br /> Phường Mỹ Thới<br /> Phường Mỹ Thạnh<br /> Phường Mỹ Hòa<br /> Tổng số điểm ngập<br /> <br /> An Giang University<br /> 3<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> 5<br /> 1<br /> 1<br /> 0<br /> 19<br /> <br /> 0<br /> 0<br /> 0<br /> 0<br /> 1<br /> 0<br /> 0<br /> 0<br /> 3<br /> <br /> 1<br /> 0<br /> 0<br /> 0<br /> 1<br /> 0<br /> 0<br /> 0<br /> 4<br /> <br /> 2<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> 3<br /> 1<br /> 1<br /> 0<br /> 12<br /> <br /> (Ghi chú: 0 – Không có điểm ngập; 1,2, … là số lượng điểm ngập tồn tại)<br /> [Nguồn: Điều tra thực tế, 2012]<br /> <br /> Bảng 2 cho thấy tình trạng ngập ở nội ô Long<br /> Xuyên chủ yếu ở mức ngập nhẹ và vừa. Số lượng<br /> các điểm ngập tập trung nhiều nhất ở phường<br /> Mỹ Phước và Mỹ Xuyên, Đông Xuyên (chiếm<br /> 50% số lượng điểm ngập các tuyến điều tra).<br /> Trong đó các điểm ngập sâu tập trung ở phường<br /> <br /> Mỹ Phước, Mỹ Bình và Mỹ Xuyên. Các điểm<br /> ngập vừa (20 – 50 cm) và ngập nhẹ (< 20 cm)<br /> phân bố rải rác ở các phường. Tần suất xuất hiện<br /> các điểm ngập cũng có sự phân hóa qua không<br /> gian, được thể hiện ở Bảng 3.<br /> <br /> Bảng 3. Đánh giá mức ngập tại một số tuyến điểm ngập do mưa trong nội ô TP. Long Xuyên 2012<br /> STT<br /> <br /> TÊN ĐƯỜNG<br /> <br /> TỔNG HỢP<br /> <br /> PHẠM VI NGẬP<br /> Số lần ngập<br /> <br /> Nhẹ<br /> <br /> Vừa<br /> <br /> Nặng<br /> <br /> 2/3 tuyến đường<br /> Ngã ba – hết tuyến<br /> ½ tuyến<br /> <br /> 10<br /> 8<br /> <br /> 2<br /> 3<br /> <br /> 4<br /> 5<br /> <br /> 4<br /> <br /> 6<br /> <br /> 4<br /> <br /> 2<br /> <br /> Toàn tuyến<br /> Toàn tuyến<br /> Toàn tuyến<br /> <br /> 8<br /> 6<br /> <br /> 3<br /> 4<br /> <br /> 5<br /> 2<br /> <br /> 6<br /> <br /> 4<br /> <br /> 2<br /> <br /> Toàn tuyến<br /> 2/3 tuyến<br /> Toàn tuyến<br /> Ngã ba chợ Xẻo<br /> Trôm<br /> Toàn tuyến<br /> <br /> 9<br /> 7<br /> 6<br /> <br /> 2<br /> 3<br /> 5<br /> <br /> 3<br /> 4<br /> 1<br /> <br /> 6<br /> <br /> 5<br /> <br /> 1<br /> <br /> 6<br /> <br /> 6<br /> <br /> Ngập 2/3 tuyến<br /> ½ tuyến<br /> <br /> 9<br /> <br /> 2<br /> <br /> 3<br /> <br /> 6<br /> <br /> 5<br /> <br /> 1<br /> <br /> 6<br /> <br /> 2<br /> <br /> 4<br /> <br /> 6<br /> <br /> 4<br /> <br /> 2<br /> <br /> ĐÁNH<br /> GIÁ<br /> <br /> PHƯỜNG MỸ XUYÊN<br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> <br /> Võ Thị Sáu<br /> Võ Thị Sáu kéo dài<br /> Trần Bình Trọng<br /> <br /> Nặng<br /> Vừa<br /> Nhẹ<br /> <br /> PHƯỜNG ĐÔNG XUYÊN<br /> 4<br /> 5<br /> 6<br /> <br /> Đinh Trường Sanh<br /> Trần Văn Lẫm<br /> Trần Văn Thạnh<br /> <br /> Vừa<br /> Nhẹ<br /> Nhẹ<br /> <br /> PHƯỜNG MỸ PHƯỚC<br /> 7<br /> 8<br /> 9<br /> 10<br /> 11<br /> <br /> Phan Đăng Lưu<br /> Nguyễn Hữu Thọ<br /> Nguyễn Đức Cảnh<br /> Khu vực Trần Phú – Chợ Xẻo<br /> Trôm<br /> Đinh Văn Sỹ<br /> <br /> 4<br /> <br /> Nặng<br /> Vừa<br /> Nhẹ<br /> Nhẹ<br /> Nhẹ<br /> <br /> PHƯỜNG MỸ BÌNH<br /> 12<br /> 13<br /> <br /> Khu vực đường Yết Kiêu<br /> Nguyễn Xí<br /> <br /> 4<br /> <br /> Nặng<br /> Nhẹ<br /> <br /> PHƯỜNG MỸ LONG<br /> 14<br /> <br /> Đường Lý Thái Tổ<br /> <br /> Ngã ba Lý Thái Tổ<br /> <br /> Vừa<br /> <br /> PHƯỜNG BÌNH KHÁNH<br /> 15<br /> <br /> Cao Thắng<br /> <br /> Từ chợ đến ngã ba<br /> <br /> [Nguồn: Điều tra thực tế, 2012]<br /> <br /> 59<br /> <br /> Nhẹ<br /> <br /> Journal of Science – 2014, Vol. 4 (3), 57 – 64<br /> <br /> An Giang University<br /> <br /> tuyến được xây dựng lâu đời. Trong điều kiện<br /> cường suất mưa cực đại có xu hướng gia tăng, các<br /> chỉ số kĩ thuật của cống không còn đảm bảo hiệu<br /> suất tiêu thoát. Đặc biệt, một số yếu tố như rác<br /> thải, đất đai của cư ân sinh sống tại địa bàn làm<br /> giảm tiết diện tiêu thoát, gây nghẽn đường cống,<br /> giảm hiệu suất của cống rãnh như cống ở đường<br /> Võ Thị Sáu kéo dài, Trần Bình Trọng, Phan Đăng<br /> Lưu.<br /> - Các tuyến ngập xuất hiện ở các phường đều có<br /> đặc điểm là sự xuất hiện của lượng mưa lớn kéo<br /> dài trên 30 phút – 1 giờ. Khi mưa lớn kéo dài,<br /> cộng hưởng với các yếu tố về cao độ và khả năng<br /> thoát nước của hệ thống cống rãnh, làm xuất hiện<br /> ngập lụt cục bộ.<br /> - Thời gian rút nước tại các điểm ngập theo khảo<br /> sát thực tế và điều tra ân cư tại địa bàn ngập lụt<br /> cục bộ cho thấy: đối với các tuyến ngập sâu, thời<br /> gian rút là từ >1 giờ. Đối với các tuyến ngập vừa<br /> và ngập nhẹ, thời gian rút tương đối nhanh, ưới<br /> 15-20 phút.<br /> <br /> Hình 1. Bản đồ các điểm,<br /> tuyến ngập nội ô TP. Long Xuyên<br /> <br /> Bảng 3 cho thấy, các khu vực có tần suất ngập<br /> xuất hiện thường xuyên là Mỹ Phước, Mỹ Xuyên.<br /> Trong đó, số lần ngập úng xuất hiện nhiều nhất ở<br /> các tuyến Võ Thị Sáu, Yết Kiêu, Phan Đăng Lưu.<br /> Đây cũng là các tuyến có mức ngập nặng, phạm vi<br /> ngập từ ½ đến ngập toàn tuyến trong điều kiện<br /> mưa lớn và kéo dài. Bên cạnh các tuyến ngập<br /> nặng, các phường Mỹ Xuyên và Mỹ Phước còn<br /> tồn tại một số điểm ngập nhẹ và vừa với tần suất<br /> xuất hiện khá thường xuyên (Hình 1). Hiện tượng<br /> ngập lụt cục bộ trên địa bàn TP tiếp diễn trong<br /> năm 201 với xu hướng xuất hiện các điểm ngập<br /> mới bên cạnh sự tồn tại của các điểm ngập cũ như<br /> điểm ngập Ung Văn Khiêm, Trịnh Hoài Đức.<br /> <br /> - Tuyến điểm ngập tại các địa bàn chủ yếu là các<br /> tuyến điểm ngập cũ, xảy ra trong một thời gian<br /> dài. Các tuyến như Võ Thị Sáu, Phan Đăng Lưu,<br /> Yết Kiêu đã xảy ra hiện tượng ngập trong khoảng<br /> 5 năm trở lại và mức độ ngập úng có xu hướng<br /> ngày càng gia tăng.<br /> - Bên cạnh các điểm ngập cũ, sự xuất hiện của<br /> một số điểm ngập mới trên tuyến Ung Văn Khiêm<br /> của Đại học An Giang (khu trung tâm), Hà Hoàng<br /> Hổ (phía giáp với Ung Văn Khiêm), Trịnh Hoài<br /> Đức (Bình Khánh). Các tuyến điểm này có mức<br /> ngập không đáng kể và thời gian nước rút nhanh.<br /> <br /> Qua nghiên cứu, khảo sát mức độ ngập lụt cục bộ<br /> tại địa bàn TP. Long Xuyên trong giai đoạn 2010 2013, có thể rút ra các đặc điểm cơ bản về ngập<br /> lụt cục bộ tại địa bàn như sau:<br /> - Các điểm ngập úng sâu (> 50cm) là các tuyến<br /> đường có cao trình thấp hơn so với các tuyến<br /> đường khác. (Ví dụ: tuyến Yết Kiêu, cao trình bề<br /> mặt đường thấp hơn từ 15 – 20 cm so với tuyến<br /> Trần Hưng Đạo nơi giáp ranh; tuyến Võ Thị Sáu<br /> có cao trình đường thấp hơn Hà Hoàng Hổ từ 5 –<br /> 15 cm). Việc nâng nền đường ở một số tuyến làm<br /> thay đổi cao trình khiến một số tuyến khác trở<br /> thành vùng trũng, ễ hình thành các dòng chảy bề<br /> mặt khi mưa xuất hiện (điển hình như đường Võ<br /> Thị Sáu và Yết Kiêu).<br /> <br /> 3.1.2. Thực trạng ngập lụt theo thời gian<br /> Do đặc điểm của hoàn lưu, ở Long Xuyên, sự xuất<br /> hiện của hiện tượng ngập lụt cục bộ tại nội ô TP<br /> tập trung chủ yếu từ tháng V đến tháng X. Thực<br /> trạng ngập lụt cục bộ tại các địa điểm có sự thay<br /> đổi theo thời gian:<br /> Theo năm: số lượng điểm ngập thay đổi qua các<br /> năm thể hiện ở Hình 2:<br /> <br /> - Tuyến ngập lớn của TP. Long Xuyên như Võ<br /> Thị Sáu, Phan Đăng Lưu, Yết Kiêu là những<br /> tuyến đông ân cư, hệ thống cấp thoát nước ở các<br /> 60<br /> <br /> Journal of Science – 2014, Vol. 4 (3), 57 – 64<br /> <br /> An Giang University<br /> <br /> 30<br /> 20<br /> <br /> 151719<br /> <br /> 20<br /> 10<br /> <br /> 9<br /> 0 0 0 0<br /> <br /> 10<br /> <br /> 3<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> Hình 2. Số tuyến, điểm ngập tại Long Xuyên 2010-2013<br /> 2011 2012<br /> [Nguồn: Điều tra thực tế, 2012]2010<br /> <br /> 18<br /> 27<br /> Hình 2 choĐiểmsố lượng các điểm ngập lụt có 19<br /> thấy, ngập<br /> xu<br /> hướng giảm trong giai đoạn 2010 – 2013. Một số<br /> tuyến điểm ngập cũ được cải tạo, hoạt động tu bổ<br /> nạo vét hệ thống cấp thoát nước được tiến hành<br /> thường xuyên. Trong năm 2011, sự gia tăng đột<br /> biến của hiện tượng ngập lụt cục bộ tại địa bàn TP<br /> gắn liền với sự xuất hiện của đợt mưa kỷ lục,<br /> cộng với triều cường ở mức cao (lượng mưa và<br /> triều cực đại đo được tại trạm Long Xuyên năm<br /> 2011 là 302,3 mm và 281 cm (CTK, 2012), khiến<br /> gần 70% tuyến phố của nội thành chìm sâu trong<br /> nước. Năm 201 , nhiều tuyến phố được xây dựng,<br /> nâng đường và xây dựng hệ thoát nước riêng, số<br /> lượng điểm ngập giảm. Sự xuất hiện của các điểm<br /> ngập mới ít phổ biến.<br /> <br /> 1 2 3 4 5 6 7 8 91<br /> Hình 3 cho thấy, hiện ngập ngập xuất 0 3 bắt 151719<br /> 2013 Số điểm tượng 0 0 0 hiện 9<br /> đầu từ tháng 5 và có xu hướng tăng về số điểm,<br /> Hình 3. Số điểm ngập theo tháng Long Xuyên 2012<br /> <br /> 15<br /> tập trung nhiều nhất trong thời điểm tháng 7 –<br /> tháng 9. Trong đó, tần suất xuất hiện của các điểm<br /> ngập sâu thường diễn ra trong thời điểm này.<br /> Trong năm 201 , số lượng các ngày mưa lớn<br /> không nhiều, tập trung chủ yếu vào tháng 8, 9.<br /> 3.2 Nguyên nhân gây ngập lụt cục bộ tại địa<br /> bàn TP. Long Xuyên<br /> 3.2.1 Nguyên nhân về khí tượng, thủy văn<br /> Sự xuất hiện của ngập lụt cục bộ trước hết do sự<br /> xuất hiện của mưa cường suất lớn, kéo dài, tổng<br /> lượng mưa lớn. Theo thống kê về lượng mưa thời<br /> đoạn ngắn thì đặc điểm mưa tại TP. Long Xuyên<br /> thường kéo dài từ 30 – 120 phút, có ít những cơn<br /> mưa kéo ài quá giờ. Lượng mưa trận thường<br /> ao động trong khoảng 30 – 70 mm (Trung tâm<br /> Khí tượng Thủy văn An Giang (TTKTTV), 201 ).<br /> Vào những tháng trung tâm mùa mưa, những trận<br /> mưa rào kéo ài khiến một số tuyến điểm có cao<br /> trình thấp, cống thoát chậm bị ngập, một số ngõ,<br /> hẻm bị ngập do không có hệ thống tiêu thoát nước<br /> riêng biệt. Các đỉnh mưa và tổng lượng mưa trong<br /> năm 2012 có xu hướng tăng qua các tháng là điều<br /> kiện cho sự gia tăng của xu hướng ngập lụt cục bộ<br /> ở Long Xuyên (Bảng 4).<br /> <br /> Theo tháng: Số lượng điểm ngập gia tăng tùy vào<br /> lượng mưa thay đổi trong năm. Do sự tác động<br /> của hệ thống gió mùa Tây Nam gây mưa lớn từ<br /> tháng V đến tháng X đối với các tỉnh Đồng bằng<br /> sông Cửu Long nói chung và TP. Long Xuyên nói<br /> riêng nên hiện tượng ngập lụt cục bộ cũng tập<br /> trung chủ yếu vào thời gian này (Hình 3).<br /> <br /> [Nguồn: Điều tra thực tế, 2012]<br /> Bảng 4. Lượng mưa ngày (max) và tổng lượng mưa tháng tại Long Xuyên một số tháng năm 2012<br /> Lượng mưa ax (mm)<br /> Tổng lượng mưa tháng (mm)<br /> <br /> Tháng 6<br /> 23,7<br /> 154<br /> <br /> Tháng 7<br /> 38,4<br /> 127<br /> <br /> Tháng 8<br /> 50,7<br /> 190<br /> <br /> Tháng 9<br /> 128.2<br /> 335.6<br /> <br /> [Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn An Giang, 201 ]<br /> <br /> Sự xuất hiện của lượng mưa năm lớn trùng với sự<br /> xuất hiện của các đỉnh lũ trên sông. Hầu hết các<br /> trận ngập sâu, trên diện rộng thường xảy ra trong<br /> khoảng thời điểm bắt đầu từ tháng VII đến tháng<br /> XI (Bùi Đạt Trâm, 1985).<br /> 3.2.2 Nguyên nhân về cơ sở hạ tầng và hệ thống<br /> thoát nước<br /> <br /> Sự xuất hiện của hiện tượng ngập lụt cục bộ là do<br /> hệ thống tiêu thoát nước chưa hoàn thiện. Tuy là<br /> đô thị loại II, song TP có sự phát triển qua nhiều<br /> giai đoạn lịch sử khác nhau, tầm nhìn và đầu tư<br /> hoàn thiện cơ sở hạ tầng tiêu thoát nước khác<br /> nhau, nên đến nay hệ thống cơ sở hạ tầng nói<br /> chung và tiêu thoát nước nói riêng nhìn chung vẫn<br /> chưa đáp ứng yêu cầu.<br /> <br /> 61<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản