
www.tapchiyhcd.vn
284
► CHUYÊN ĐỀ LAO ◄
ASSESSMENT OF SELF-CARE KNOWLEDGE IN PATIENTS
WITH GASTRIC ULCER AT DEPARTMENT OF DIGESTIVE MEDICINE,
NAM DINH PROVINCIAL GENERAL HOSPITAL
Nguyen Thi Xuan Dung
Nam Dinh University of Nursing - 257 Han Thuyen, Nam Dinh City, Nam Dinh Province, Vietnam
Received: 16/12/2024
Revised: 26/04/2025; Accepted: 09/05/2025
ABSTRACT
Objective: The study aimed to evaluate the self-care knowledge of patients with peptic ulcers
undergoing inpatient treatment in the Gastroenterology Department of Nam Dinh Provincial
General Hospital.
Method: A cross-sectional descriptive study was conducted using a convenience sampling
method and a self-administered questionnaire to describe the patients' knowledge.
Results: More male patients were treated for peptic ulcers than female patients, with the
average age of the patients being 54.3 ± 5 years. The most common cause of peptic ulcers identified
by patients was the use of painkillers and anti-inflammatory drugs, which accounted for
36%. Forty percent of patients recognized that the clear symptom of peptic ulcers in the
gastrointestinal bleeding stage was vomiting blood and having black stools. Twenty-eight
percent of patients were aware of gastrointestinal bleeding as a complication, and 26% knew
about the complication of pyloric stenosis. Only 10% of patients had correct knowledge about
the diet during the bleeding stage, while 18% had correct knowledge about the diet during the
hemostasis stage. Twenty-four percent of patients knew which foods should be avoided for
peptic ulcers. Regarding rest regimes, more than 50% of patients had correct knowledge, but
58% answered incorrectly about the follow-up schedule.
Conclusion: The self-care knowledge of patients with peptic ulcers was limited, with 62%
of patients having poor knowledge, 22% having average knowledge, and 16% having good
knowledge.
Key words: Self care, peptic ulcer.
Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 7, 284-289
*Corresponding author
Email: phamnhatanhnd@gmail.com Phone: (+84) 945020382 Https://doi.org/10.52163/yhc.v66iCD7.2428

285
Nguyen Thi Xuan Dung / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 7, 284-289
ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC TỰ CHĂM SÓC Ở NGƯỜI BỆNH LOÉT DẠ DÀY
TÁ TRÀNG TẠI KHOA NỘI TIÊU HÓA BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH NAM ĐỊNH
Nguyễn Thị Xuân Dung
Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định - 257 Hàn Thuyên, Tp. Nam Định, Tỉnh Nam Định, Việt Nam
Ngày nhận bài: 16/12/2024
Chỉnh sửa ngày: 26/04/2025; Ngày duyệt đăng: 09/05/2025
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá kiến thức tự chăm sóc của người bệnh loét dạ dày tá tràng điều trị nội trú
tại khoa Nội tiêu hóa bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang với phương pháp chọn mẫu thuận tiện, bộ câu hỏi
tự điền nhằm mô tả thực trạng kiến thức của người bệnh.
Kết quả: Người bệnh nam điều trị loét dạ dày tá tràng nhiều hơn người bệnh nữ, tuổi trung bình
người bệnh là 54,3 ± 5 tuổi. Nguyên nhân gây loét dạ dày tá tràng người bệnh biết đến nhiều
nhất là do dùng thuốc giảm đau, chống viêm chiếm 36%. 40% người bệnh biết triệu chứng thể
hiện rõ loét dạ dày tá tràng giai đoạn chảy máu tiêu hóa là nôn ra máu, đại tiện phân đen. 28%
người bệnh biết đến biến chứng chảy máu tiêu hóa và 26% biết biến chứng hẹp môn vị. Chỉ
10% người bệnh có kiến thức đúng về chế độ ăn giai đoạn chảy máu, 18% người bệnh có kiến
thức đúng về chế độ ăn giai đoạn cầm máu. 24% người bệnh có kiến thức đúng về các loại thức
ăn người bệnh loét dạ dày tá tràng cần tránh. Về chế độ nghỉ ngơi, hơn 50% người bệnh có kiến
thức đúng nhưng có đến 58% người bệnh trả lời sai về thời gian tái khám.
Kết luận: Kiến thức tự chăm sóc của người bệnh loét dạ dày tá tràng còn hạn chế với 62% người
bệnh có kiến thức kém, 22% kiến thức trung bình và 16% kiến thức tốt.
Từ khóa: Tự chăm sóc, loét dạ dày tá tràng.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm loét dạ dày - tá tràng (LDD - TT) là dạng tổn
thương loét trên niêm mạc dạ dày hoặc tá tràng, đây là
bệnh lý thường gặp trên thế giới và cả Việt Nam. Tình
trạng viêm loét gây đau đớn, lo lắng và ảnh hưởng tới
cuộc sống, sinh hoạt của người bệnh dẫn đến giảm chất
lượng cuộc sống. Theo thống kê của hội Tiêu hóa, Việt
Nam có tới 26% dân số mắc bệnh, 70% dân số có nguy
cơ mắc bệnh dạ dày. Đồng thời nguy cơ mắc viêm loét
dạ dày ở nam giới cao gấp 4 lần nữ giới. Bệnh lý xảy
ra ở mọi lứa tuổi, với tuổi mắc trung bình là 50 ± 18,11
tuổi, tỉ lệ này xuất hiện tăng dần theo tuổi [1]. Bệnh lý
loét dạ dày tá tràng nếu được phát hiện sớm, tuân thủ
điều trị và thực hiện chế độ dinh dưỡng, lao động, nghỉ
ngơi hợp lý thì người bệnh có thể kiểm soát bệnh và
giảm nguy cơ tái phát. Tuy nhiên, nếu phát hiện bệnh
muộn hoặc không thực hiện chế độ điều trị, chăm sóc
phù hợp người bệnh có thể gặp các biến chứng nặng nề
như xuất huyết tiêu hóa, hẹp môn vị hay ung thư dạ dày.
Nghiên cứu tại Mỹ cho thấy mỗi năm khoảng 500.000
ca mắc mới và 4 triệu ca tái phát [2]. Lối sống và thói
quen sinh hoạt không điều độ, căng thẳng tinh thần
được chứng minh tăng nguy cơ tái phát và làm nặng
lên tình trạng bệnh. Việc thay đổi lối sống và hướng tới
những thói quen tích cực là biện pháp khả thi xuất phát
từ chính bản thân người bệnh để kiểm soát tình trạng
bệnh và phòng ngừa tái phát bệnh [3]. Theo thống kê
tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định, số người bệnh
LDD – TT nhập viện ngày một gia tăng, đặc biệt tăng
cả số lượng người tái nhập viện điều trị nhiều lần trong
năm. Vì vậy, để xây dựng được những kế hoạch thay
đổi nhận thức và lối sống cho người bệnh, giúp họ kiểm
soát và phòng tái phát bệnh trước tiên cần đánh giá được
mức độ hiểu biết của họ về bệnh. Vì thế chúng tôi thực
hiện nghiên cứu:
“Đánh giá kiến thức tự chăm sóc ở người bệnh loét dạ
dày tá tràng tại khoa Nội tiêu hóa, Bệnh viện Đa khoa
tỉnh Nam Định” với mục tiêu:
Đánh giá kiến thức tự chăm sóc của người bệnh loét dạ
dày tá tràng điều trị nội trú tại khoa Nội tiêu hóa bệnh
viện đa khoa tỉnh Nam Định.
*Tác giả liên hệ
Email: phamnhatanhnd@gmail.com Điện thoại: (+84) 945020382 Https://doi.org/10.52163/yhc.v66iCD7.2428

www.tapchiyhcd.vn
286
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng: Người bệnh được chấn đoán LDD – TT
đang điều trị nội trú tại khoa Nội tiêu hóa, bệnh viện đa
khoa tỉnh Nam Định
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Người bệnh không mắc các bệnh
lý về tâm thần, người bệnh tự nguyện tham gia nghiên
cứu.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Người bệnh mắc các bệnh lý dạ
dày không phải LDD – TT. Người bệnh hạn chế khả
năng giao tiếp, đọc hiểu. Người bệnh từ chối tham gia
nghiên cứu.
- Thời gian: từ tháng 1/2022 đến tháng 10/2022
- Địa điểm: Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định.
2.3. Mẫu và phương pháp chọn mẫu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ.
Tất cả 50 người bệnh được chẩn đoán loét dạ dày - tá
tràng đang điều trị nội trú tại khoa Nội tiêu hóa, Bệnh
viện Đa khoa tỉnh Nam Định trong thời gian nghiên
cứu và đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn đều được đưa vào
nghiên cứu.
2.4. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên
tổng quan tài liệu về kiến thức tự chăm sóc của người
bệnh loét dạ dày - tá tràng, với tham khảo từ thang đo
Exercise of Self-Care Agency (ESCA) được sử dụng
trong nghiên cứu của Wang và cộng sự (2020) [6]. Bộ
câu hỏi gồm 2 phần:
Phần 1: 12 câu hỏi về thông tin cá nhân và đặc điểm
nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu.
Phần 2: 18 câu hỏi đánh giá kiến thức tự chăm sóc, bao
gồm các khía cạnh: tự nhận thức, trách nhiệm tự chăm
sóc, kỹ năng tự chăm sóc và mức độ kiến thức về sức
khỏe. Các câu hỏi cụ thể bao gồm kiến thức chung về
bệnh, dinh dưỡng, lối sống, nghỉ ngơi, sử dụng thuốc
và tái khám.
Bộ câu hỏi được thẩm định nội dung bởi hội đồng
chuyên môn gồm 3 bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa và 2
điều dưỡng có kinh nghiệm chăm sóc bệnh nhân loét
dạ dày - tá tràng. Độ tin cậy của bộ công cụ được đánh
giá thông qua hệ số Cronbach’s alpha (α = 0.85), cho
thấy độ tin cậy tốt.
- Cách tính điểm: Mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, sai
hoặc không biết được 0 điểm. Tổng điểm tối đa là 18
điểm. Phân loại kiến thức dựa trên phân vị:
+ Kiến thức kém: 0-9 điểm (≤ 50% tổng điểm)
+ Kiến thức trung bình: 10-12 điểm (>50% đến ≤66%
tổng điểm)
+ Kiến thức tốt: 13-18 điểm (>66% tổng điểm)
- Phương pháp thu thập số liệu:
+ Lựa chọn đối tượng nghiên cứu theo tiêu chuẩn
+ Giải thích mục đích nghiên cứu và xin sự đồng ý
tham gia
+ Hướng dẫn cách trả lời bộ câu hỏi
+ Đối tượng nghiên cứu tự điền bộ câu hỏi dưới sự giám
sát của nghiên cứu viên
2.5. Phương pháp phân tích số liệu:
Mã hóa, nhập liệu, làm sạch và xử lý số liệu bằng phần
mềm SPSS 20.0.
Phân tích mô tả tần số.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 1. Phân bố ĐTNC
theo một số đặc điểm chung (n=156)
Đặc điểm chung của
ĐTNC Số lượng
(n) Tỷ lệ
(%)
Tuổi
≤ 40 10 20
40 – 50 10 20
51 – 60 10 20
> 60 20 40
Giới tính Nam 40 80
Nữ 10 20
Nơi cư trú Thành thị 18 36
Nông thôn 32 64
Nhận xét: Người bệnh thuộc nhóm tuổi trên 60 chiếm
tỷ lệ cao nhất 40%. Người bệnh nam mắc bệnh nhiều
hơn nữ, tỷ lệ tương ứng 4:1. Đa số người bệnh cư trú tại
nông thôn chiếm 64%.
Biểu đồ 1. Phân bố ĐTNC
theo thời gian phát hiện bệnh (n=50)
Nguyen Thi Xuan Dung / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 7, 284-289

287
Nguyen Thi Xuan Dung / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 7, 284-289
Nhận xét: Đa số người bệnh có thời gian mắc bệnh từ 1
đến 5 năm chiếm 64%, 22% người bệnh mắc bệnh dưới
1 năm và 14% người bệnh mắc bệnh trên 5 năm.
3.2. Thực trạng kiến thức tự chăm sóc của người
bệnh loét dạ dày – tá tràng
Bảng 2. Kiến thức chung
về bệnh loét dạ dày – tá tràng (n= 50)
Nội dung
Trả lời đúng Trả lời sai
Số
lượng Tỷ lệ
%Số
lượng Tỷ lệ
%
Nguyên nhân
gây bệnh 7 14 43 86
Triệu chứng giai
đoạn đoạn chảy máu
tiêu hóa 20 40 30 60
Biến chứng
LDD – TT 8 16 42 84
Nhận xét: Chỉ 14% người bệnh trả lời đúng về nguyên
nhân gây bệnh LDD – TT, 40% người bệnh có thể nêu
đúng triệu chứng ở giai đoạn chảy máu tiêu hóa và 16%
người bệnh biết các biến chứng của bệnh.
Bảng 3. Kiến thức về
chế độ ăn uống của ĐTNC (n=50)
Nội dung
Trả lời đúng Trả lời sai
Số
lượng Tỷ lệ
%Số
lượng Tỷ lệ
%
Chế độ ăn khi có
triệu chứng chảy
máu 5 10 45 90
Chế độ ăn khi đã
cầm máu 9 18 41 82
Chế độ ăn giai đoạn
ổn định 10 20 40 80
Uống rượu bia, chất
kích thích 27 54 23 46
Nhu cầu Vitamin 32 64 18 36
Thức ăn nên tránh 12 24 38 76
Nhận xét: 90% người bệnh không biết chính xác chế
độ ăn cần thực hiện cho người loét dạ dày – tá tràng
giai đoạn chảy máu. Tương tự có 82% và 80% người
bệnh không biết chế độ ăn thích hợp giai đoạn đã cầm
máu, giai đoạn bệnh ổn định. 54% người bệnh trả lời
đúng cần kiêng hoàn toàn bia rượu, chất kích thích, 64%
người bệnh biết về nhu cầu vitamin và 24% người bệnh
trả lời đúng các loại thức ăn nên tránh.
Bảng 4. Kiến thức về chế độ nghỉ ngơi, lao động,
tập luyện, chế độ dùng thuốc, tái khám
của ĐTNC (n=50)
Nội dung
Trả lời đúng Trả lời sai
Số
lượng Tỷ lệ
%Số
lượng Tỷ lệ
%
Nghỉ ngơi giai đoạn
ổn định 30 60 20 40
Nghỉ ngơi giai đoạn
chảy máu 26 52 24 48
Giẫc ngủ 38 76 12 24
Lao động sau khi ổn
định xuất viện 15 30 35 70
Tập thể dục 27 54 23 46
Dùng thuốc sau xuất
viện 41 82 9 18
Dùng thuốc khi bị
ốm tại nhà 17 34 33 66
Tái khám 13 26 37 74
Nhận xét: Vẫn còn 18% người bệnh chưa có kiến thức
đúng về dùng thuốc sau khi xuất viện, 66% người bệnh
còn tự ý mua thuốc khi bị ốm và 74% người bệnh chưa
có kiến thức đúng về việc tái khám. Trên 50% người
bệnh có kiến thức đúng về chế độ nghỉ ngơi, tập thể
dục. Chỉ 30% người bệnh có kiến thức đúng về chế độ
lao động sau khi xuất viện.
Biểu đồ 2. Phân loại chung kiến thức
tự chăm sóc của người bệnh LDD - TT (n=50)
Nhận xét: Khả năng tự chăm sóc của người bệnh LDD
– TT còn hạn chế với 62% người bệnh mức kiến thức
kém, 22% kiến thức trung bình và 16% kiến thức tốt.

www.tapchiyhcd.vn
288
4. BÀN LUẬN
4.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Tuổi trung bình của các đối tượng nghiên cứu là 54,3
± 5(tuổi). Trong đó độ tuổi >60 chiếm tỷ lệ cao nhất
(40%). Có thể thấy đây là lứa tuổi có nhiều nguy cơ
dùng nhiều thuốc kháng viêm, giảm đau, sức khỏe
giảm. Vì vậy việc người bệnh có kiến thức tự chăm sóc
là hết sức quan trọng bởi từ đó người bệnh sẽ có hành
vi chăm sóc đúng, tránh được các biến chứng. Kết quả
nghiên cứu cho thấy nam mắc bệnh nhiều hơn nữ, nam
chiếm 80% nhóm nghiên cứu. Tỷ lệ nam/nữ (4/1), kết
quả có sự tương đồng với nghiên cứu của Hà Thị Mai
Hương và cộng sự. Về nơi cư trú có 36% bệnh nhân
cư trú tại thành phố và thị xã, 64% bệnh nhân cư trú
ở nông thôn. Kết quả này cho thấy số người bệnh mắc
bệnh LDD-TT ở nông thôn cao hơn nhiều so với người
sống ở thành thị.
Về thời gian mắc bệnh, đa số người bệnh đã mắc từ 1
– 5 năm chiếm 64%, 22% người bệnh mắc bệnh dưới 1
năm và có tới 14% người bệnh mắc trên 5 năm. Có thể
thấy, nếu không tuân thủ điều trị và thực hiện lối sống
không lành mạnh, người bệnh sẽ tăng nguy cơ tái phát
bệnh thời gian mắc bệnh kéo dài cũng như khó khăn
trong điều trị và chăm sóc.
4.2. Kiến thức tự chăm sóc của người bệnh LDD – TT
Kiến thức chung về bệnh
Phỏng vấn 50 người bệnh đang điều trị LDD – TT cho
thấy có tới 43/50 người bệnh chiếm 86% chưa biết
nguyên nhân gây bệnh. Có thể thấy, mặc dù người bệnh
có thời gian mắc bệnh tương đối dài tuy nhiên vẫn chưa
thực sự quan tâm và chú trọng tới tình trạng sức khỏe.
Đối với mỗi giai đoạn LDD-TT (giai đoạn chảy máu,
giai đoạn ổn định) người bệnh sẽ có cách chăm sóc
nhau. Do đó điều quan trọng là người bệnh phải biết
được các triệu chứng của các giai đoạn. Trong nghiên
cứu này, khi trả lời về triệu chứng thể hiện rõ nhất giai
đoạn chảy máu chỉ có 10% người bệnh trả lời đúng. Về
biến chứng của bệnh LDD-TT chỉ có 16% người bệnh
trả lời chính xác. Đây là một trong những thiếu hụt về
mặt kiến thức của người bệnh, người điều dưỡng cần
phải hết sức chú ý nội dung này khi tiến hành giáo dục
sức khỏe cho người bệnh. Kết quả trong nghiên cứu của
chúng tôi thấp hơn nghiên cứu của Phạm Trường Giang
[5], có thể do khác biệt về thời gian, địa điểm và địa
điểm nhân khẩu của đối tượng nghiên cứu.
Kiến thức về chế độ ăn uống
Chế độ ăn uống là một trong những nội dung hết sức
quan trọng trong chế độ tự chăm sóc của người bệnh.
Một chế độ ăn đúng sẽ giúp người bệnh cải thiện được
tình hình sức khỏe, ngược lại một chế độ ăn không phù
hợp có thể làm cho bệnh tiến triển nhanh hơn và nguy
cơ mắc các biến chứng cũng cao hơn. Kết quả cho thấy
kiến thức về chế độ ăn của người bệnh LDD-TT còn
rất hạn chế. Chỉ có 15 người (30%) trả lời đúng (trong
tổng số 6 câu hỏi về chế độ ăn). Cụ thể, đối với chế độ
ăn lỏng, nguội lạnh khi người bệnh LDD-TT cầm máu
chỉ có 18% người bệnh trả lời đúng trong khi có 46%
trả lời ăn bình thường. Đặc biệt đối với chế độ nhịn ăn
hoàn toàn ở giai đoạn chảy máu chỉ có 10% người tham
gia trả lời đúng.
Điều này là hết sức nguy hiểm bởi người bệnh thường
có thói quen bồi bổ khi bị ốm, việc nhận thức không
đúng này có thể đưa đến những hành vi sai lầm từ đó
đưa đến những hậu quả đáng tiếc. Tuy nhiên, đối với
việc uống rượu có đến 44% người bệnh nhận thức sai
khi cho rằng có thể uống rượu với số lượng ít (100 –
200ml/ngày) khi bệnh ổn định. Trong khi đó, một trong
những nguyên tắc hàng đầu của chăm sóc và điều trị
bệnh LDD-TT là tuyệt đối không được sử dụng rượu,
bia và chất kích thích có ga. Về nhu cầu vitamin có 64%
người bệnh trả lời chính xác. Nhận thức về các thức ăn
người bệnh LDD-TT nên tránh chỉ có 24% đối tượng
nghiên cứu trả lợi đúng là họ nên hạn chế các thức ăn
chế biến sẵn, thức ăn khó tiêu và các chất kích thích.
Kiến thức về chế độ nghỉ ngơi, tập luyện
Kiến thức về chế độ nghỉ ngơi, lao động và tập luyện
thể dục thể thao đối với người bệnh LDD-TT ở mức
độ trung bình: Có 60% người bệnh có kiến thức cho
giải pháp hoạt động nhẹ nhàng trong giai đoạn bệnh
ổn định, nhưng có tới 74% bệnh nhân không có kiến
thức đúng khi chăm sóc người bệnh trong giai đoạn
chảy máu. Người bệnh cần biệt trong giai đoạn mất máu
người bệnh phải nghỉ ngơi hoàn toàn tại giường. Về
việc đảm bảo giấc ngủ có 76% người bệnh trả lời chính
xác, nhưng khi trả lời về chế độ nghỉ ngơi và lao động
sau khi người bệnh ra viện có đến 50% người bệnh trả
lời sai khi cho rằng người bệnh LDD-TT vẫn tham gia
lao động như người khỏe mạnh bình thường. Điều này
có thể là do đối tượng trong nghiên cứu này chủ yếu là
người lao động và là đối tượng lao động chính của gia
đình. Do đó người điều dưỡng cần phải chú ý đến thiếu
hụt này trong khi giáo dục sức khỏe. Đối với việc tập
luyện thể dục có tới 40% người bệnh cho rằng không
nên luyện tập thể dục.
Kiến thức về dùng thuốc và tái khám
Kiến thức về dùng thuốc và tái khám của người bệnh
là khá tốt. Trong đó có >50% người bệnh có kiến thức
trung bình, khoảng 30 % người bệnh có kiến thức đúng.
Tuy nhiên vẫn tồn tại những thiếu hụt kiến thức của
người bệnh trong phần này. Cụ thể, có rất nhiều người
bệnh (56%) trả lời sai khi cho rằng có thể tự ra hiệu
thuốc mua thuốc hoặc sử dụng lại đơn thuốc cũ của bác
sỹ lý khi bị ốm, đau nhức tại nhà. Hơn nữa, người bệnh
vẫn chưa có nhận thức về việc khám sức khỏe định kỳ,
có đến 58% bệnh nhân trả lời chỉ đi khám chi nào thấy
xuất hiện các triệu chứng bất thường. Hầu hết người
bệnh nhận thức được các triệu chứng bất thường như
phân đen hoặc có máu, nôn ra máu, cổ trướng, phù, rối
loạn nhận thức, vàng da… có đến 100% người bệnh
biết khi thấy phân đen hoặc có máu, nôn ra máu phải
đi khám ngay.
Nguyen Thi Xuan Dung / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 7, 284-289

