intTypePromotion=3

Danh nhân Việt Nam: An Sinh Vương Trần Liễu

Chia sẻ: Abcdef_38 Abcdef_38 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
60
lượt xem
5
download

Danh nhân Việt Nam: An Sinh Vương Trần Liễu

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Là con trưởng Thượng hoàng Trần Thừa, anh ruột vua Trần Thái Tông, Khâm Thiên tướng quốc Thái sư Trần Nhật Hiệu và công chúa Thuỵ Bà. Ông sinh năm Canh Ngọ, niên hiệu Trị Bình Long Ứng thứ 6 (1210) tại phủ đệ Tinh Cương, phủ Long Hưng (Nay là xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà). Ông là người có trí lớn, ngày thường thì ung dung, hào hoa, gặp việc lớn thì sắt đá. Thời loạn lạc, phụ thân phải gánh vác việc nước, trọng trách trong nhà hầu hết đều phải lo liệu. Được hoang hậu...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Danh nhân Việt Nam: An Sinh Vương Trần Liễu

  1. An Sinh Vương Trần Liễu Là con trưởng Thượng hoàng Trần Thừa, anh ruột vua Trần Thái Tông, Khâm Thiên tướng quốc Thái sư Trần Nhật Hiệu và công chúa Thuỵ Bà. Ông sinh năm Canh Ngọ, niên hiệu Trị Bình Long Ứng thứ 6 (1210) tại phủ đệ Tinh Cương, phủ Long Hưng (Nay là xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà). Ông là người có trí lớn, ngày thường thì ung dung, hào hoa, gặp việc lớn thì sắt đá. Thời loạn lạc, phụ thân phải gánh vác việc n ước, trọng trách trong nhà hầu hết đều phải lo liệu. Được hoang hậu tác thành, vua Lý Huệ Tông gả công chúa Thuận Thiên, vinh phong Phò mã đô uý, lại cấp đất A Sào để làm thực ấp, phong chức Phụng Càn vương. Ông xây phủ đệ tại A Sào (nay là phần đất hai xã An Đông và An Thái, huyện Quỳnh Phụ). Tuổi trẻ kiên nghị, Phụng Càn vương không tiếc tiền của thuê nhân công, mượn người làm, đêm ngày lăn lộn cung gia nô gia đồng khai hoang phục hóa, đào sông đắp đường, dựng đình, mở quán. Nhờ đức lớn của vương mà dân khang vật thịnh. Cả huyện A Côi thành vựa thóc(A Mễ), Đại Lẫm (kho lớn) góp hần nuôi quâ n. A Côi thực sự trở thành hậu thuẫn quan trọng giúp phụ thân và vương đệ (Trần Thái Tông) vững tâm dựng nghiệp.
  2. Từ A Sào, Vương vươn ra khai thác c ả vùng Phụ Phượng - Côi. Bấy giờ quận vương Thuỵ Bà (Sau được thái Tổ Trần Thừa và Trần Thái Tông phong làm công chúa) còn trẻ cung hăng hái giúp anh. Thái ấp A Sào gắn với thời trai trẻ của Phụng Càn vương và Thuận Thiên Công chúa. Tại đây Thuận Thiên phu nhân đã sinh Vũ Thành Vương Doãn - Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung và Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương. Cuối năm 1228 Phụng Càn Vương được điều về kinh thành. Tại Thăng Long, Thái uý Trần Liễu vừa lo việc chiều chính, vừa trực tiếp phụ trách cung Thánh T ừ (Nơi ở và làm việc của Thượng Hoàng). Tháng 6 năm Bính Thân (1236), đê vỡ, nước sông tràn vào cung, nhân đi thuyền vào chầu phụ hoàng, thấy một cung nữ thời Lý xinh đẹp đang vén xiêm lội liền gọi vào cung Lệ Thiên cùng ân ái. Có người đem việc ấy hặc tấu Trần Liễu bị giáng xuống làm Hoàng vương. Sau vua cho đ ổi tên cung ấy thành cung “Thưởng Xuân”. Năm Đinh Dậu (1237) Quốc Thánh phu nhân đang mang thai Trần Quốc Khang, trong khi đó vua đã 20 tuổi, hoàng hậu Lý Chiêu Hoàng cùng bằng tuổi vua, ăn ở cùng nhau 12 năm mà chưa sinh con, Thái sư Trần Thủ Độ và Linh Từ quốc mẫu lo lắng người nối dõi vương triều mà anh em họ Trần vất vả gây dựng, liền bức đưa vua đón Thuận Thiên vào cung, mạo nhận con Trần Liễu để
  3. có nối dõi. Trần Liễu phẫn uất đem quân tiên về sông Cái (Sông Hồng) làm loạn. Vua Thái Tông đau l òng trốn lên chùa Yên T ử, Thủ Độ ép vua về cung, Linh Từ vất vả dàn xếp cho trong ấm ngoài êm. Trần Thái Tông xuống tận thuyền đón anh cùng ôm nhau khóc. Trần Thủ Độ biết tin dẫn quân đến bắt, vua giấu anh trong thuyền, bảo Thủ Độ: “ Phụng Càn vương đến hàng đấy”, rồi lấy thân che đường kiếm bảo vệ anh. Thủ Độ ném kiế m xuống sông, xử hoà mắng hai cháu “ Ta chỉ là con chó săn thôi, biết đâu anh em các ngươi thuận nghịc thế nào”… Về sau Trần Thái Tông tuy sinh Thái T ử Hoảng (Tức vua Trần Thánh Tông), nhưng vẫn yêu quý Trần Quốc Khang, vua thay ho àng huynh chăm sóc dạy bảo, phong tới phẩm t ước Đại Vương. Mùa xuân năm Đinh Dậu (1237), lấy đất Yên Phụ (Nay thuộc huyện Kim Môn, tỉnh Hải D ương), Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang (Nay là huy ện Đông Triều, Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh) Phong cho Trần Liễu, vì thế từ đấy sử sách đều chép ông là Yên Sinh Vương. Yên Sinh Vương giúp vua trấn thủ vùng Đông Bắc, từ đỉnh Yên Thụ, Yên Tử, Vương đã ra sức kiến thiết một c õi Hải Đông thành vùng giầu có, dân các huyện Kim Môn. Đông Triều, Yên Hưng nhiều nơi thờ ông làm thành hoàng. Cuộc đời An Sinh Vương sống đạm bạc, lấy việc xây trang ấp giầu mạnh, dân
  4. trang ấp no đủ làm vui, dạy các con phương trưởng là điều hạnh phúc. Trong việc Khai hoá vùng sơn dã thành một trung tâm văn hoá, khoa bảng nở rộ, tăng viện huy hoàng, đạo quán rộng khắp nổi tiếng v ương triều, đề có công mở đường của An Sinh Vương. Năm Tân Hợi, mùa hạ, tháng 4, ni ên hiệu Nguyên Phong thứ nhất (1251), An Sinh Vương tạ thế tại phủ đệ Yên Phụ, hưởng thọ 41 tuổi. Vua Trần Thái Tông truy phong tước Đại Vương, cho sửa chữa phủ đệ trên đỉnh núi Yên Phụ (Kim Môn, Hải Dương) thành đền Cao để thờ. Đời Hoàng Định triều Lê, vua lấy quốc khố tu sửa chùa Tường Lâm (do Đại Vương xây dựng) và đền Cao. Tưởng nhớ công đức của Đại Vương dầy công xây dựng hương ấp A Côi, nhân dân đã dựng đền thờ Đại Vương tại ấp A Sào. Trần Liễu sinh được 7 người con (2 trai 5 gái). Hai con ông là Trần Quốc Tung (có bản chép Trần Trung) và Trần Quốc Tuấn sinh ra từ ấp A Sào, trưởng thành lại về A Sào, Long Hưng xây dựng phòng tuyến chống giặc và đánh giặc. Trong giai hai lần kháng chiến chống Mông -Nguyên (1285-1288) Trần Quốc Tung từng được giao quản trấn Lô Hồng (Hải D ương) sau lại giao trọng trách trấn giữ Hải Đạo Thái Bình.
  5. Thần tích A Sào ghi: năm 18 tuổi Trần Quốc Tuấn được vua Thái Tông phong là Thượng Vị hầu (tước của con các vương) sai về trấn giữ vùng đất A Sào. Nhiều nguồn tài liệu xác định Trần Hưng Đạo có 3 sinh từ: Kiếp Bạc (nơi ông sống cuối đời), A Sào (khi ông còn là Thượng Vị Hầu sống thời niên thiếu), Tức Mạc (đất thang mộc - tắm gội để vào yết kiến Thượng Hoàng ở cung Thiên Trường). Lưu Đồn Sử Ký ghi: Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên lần thứ hai và thứ ba, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn c ùng Thượng Hoàng Trần Thánh Tông, vua Trần Nhân Tông đã từng ở “cung Trần Vương dã ngoại Lưu Đồn” chỉ đạo cuộc kháng chiến, cũng từ đây H ưng Đạo Vương thường xuyên tới nhiều vùng đất chiến lược ở Thái Bình. Từ cứ địa Lưu Đồn đại quân ta đã tiến ra Vạn Kiếp, Bạch Đằng đánh bại quân Mông – Nguyên. Chiến công đánh thắng quân Mông -Nguyên thế kỷ XIII gắn liền với tên tuổi các vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn- Những tên tuổi đó nhiều người sinh ra trên đất Thái Bình và yên nghỉ mãi mãi tại đây.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản