intTypePromotion=1

Đào tạo nghề nuôi trồng thủy sản nước mặn, nước lợ - tạo sinh kế cho nông dân tỉnh Kiên Giang trong điều kiện biến đổi khí hậu

Chia sẻ: ViKakashi2711 ViKakashi2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:12

0
28
lượt xem
1
download

Đào tạo nghề nuôi trồng thủy sản nước mặn, nước lợ - tạo sinh kế cho nông dân tỉnh Kiên Giang trong điều kiện biến đổi khí hậu

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã làm cho tỉnh Kiên Giang bị ngập mặn, nhiễm mặn ở nhiều khu vực, diện tích các loại cây trồng vật nuôi nước ngọt bị thu hẹp, đe dọa đời sống của người dân nông thôn, nhất là các nơi có nhiều hộ nghèo như vùng U Minh Thượng, vùng tứ giác Long Xuyên.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đào tạo nghề nuôi trồng thủy sản nước mặn, nước lợ - tạo sinh kế cho nông dân tỉnh Kiên Giang trong điều kiện biến đổi khí hậu

Đào tạo nghề nuôi trồng ...<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> ĐÀO TẠO NGHỀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN NƯỚC MẶN,<br /> NƯỚC LỢ - TẠO SINH KẾ CHO NÔNG DÂN TỈNH KIÊN GIANG<br /> TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU<br /> Vòng Thình Nam*<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> <br /> Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã làm cho tỉnh mạnh thủy sản của nước ta bằng hoạt động<br /> Kiên Giang bị ngập mặn, nhiễm mặn ở nhiều đào tạo nghề nuôi trồng thủy sản nước mặn,<br /> khu vực, diện tích các loại cây trồng vật nước lợ. Thực hiện nghiên cứu này, tác giả<br /> nuôi nước ngọt bị thu hẹp, đe dọa đời sống đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả,<br /> của người dân nông thôn, nhất là các nơi có phân tích trên cơ sở dữ liệu thứ cấp; khảo sát<br /> nhiều hộ nghèo như vùng U Minh Thượng, người lao động nông thôn ở những vùng bị<br /> vùng tứ giác Long Xuyên. Trước tình hình đó, ngập mặn, nhiễm mặn.<br /> đòi hỏi phải chủ động ứng phó tạo sinh kế Từ khóa: Đào tạo nghề, Nước mặn nước<br /> mới cho người dân đồng thời khai thác thế lợ, Sinh kế, Biến đổi khí hậu<br /> <br /> TRAINING OF AQUACULTURE AND WATERFISH AQUACULTURE TRAINING<br /> FOR KIEN GIANG PROVINCIAL FARMERS<br /> IN CLIMATE CHANGE CONDITIONS<br /> <br /> <br /> ABSTRACT to take action in responding for people life<br /> while exploiting the strength of our country’s<br /> Climate change has caused KienGiang<br /> aquaculture with marine and brackish water<br /> province to be submerged in salt water,<br /> aquaculture. In this research, the author used<br /> salinity intrusion in many areas, the area<br /> the described statistical method, analyzed it<br /> of crops and animals freshwater has been<br /> on the basic of a secondary database; Survey<br /> shrunk, threatening the lives of rural people.<br /> of rural workers in salt-marsh areas.<br /> Especially, there are many poor households<br /> such as U Minh Thuong, Long Xuyen Key words: Vocational training,<br /> quadrangle. In that situation, it is necessary brackish water, livelihoods, climate change<br /> <br /> 1. DẪN NHẬP<br /> đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có Kiên<br /> Biến đổi khí hậu ảnh hưởng nghiêm Giang. Diện tích đất bị ngập mặn, nhiễm<br /> trọng đến nước ta, nhất là các tỉnh ven biển mặn ngày càng nhiều, ảnh hưởng đến cây<br /> <br /> <br /> *<br /> Tiến sĩ, Giảng viên trường Đại học Sư phạm kỹ thuật TP.HCM<br /> <br /> 27<br /> Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật<br /> <br /> trồng, vật nuôi, đe dọa sinh kế của người kiện thổ nhưỡng của từng địa phương, có khả<br /> dân. Để tạo sinh kế cho người dân ở nông năng ứng dụng khoa học kỹ thuật cao nhằm<br /> thôn trong điều kiện ngập mặn, nhiễm mặn, tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng, có giá<br /> cần phải chủ động chuyển đổi cây trồng, vật trị, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước<br /> nuôi nước mặn, nước lợ, đồng thời phát triển và xuất khẩu. Xác định đây là một sinh kế<br /> nghề nuôi trồng thủy sản nước mặn, nước mới trong điều kiện BĐKH, đồng thời chủ<br /> lợ (NTTSNMNL) tại các địa phương bị ảnh động khai thác tiềm năng, thế mạnh của Kiên<br /> hưởng nặng, nhất là vùng U Minh Thượng (có Giang để phát triển kinh tế xã hội.<br /> diện tích rộng lớn bao gồm 4 huyện: An Biên, Ở phía biển Tây, nước mặn ảnh hưởng<br /> An Minh, Vĩnh Thuận và U Minh Thượng). đến tỉnh Kiên Giang thông qua các sông<br /> Nghề NTTSNMNL đã được người dân khai chính như: sông Cái Lớn, Cái Bé, Giang<br /> thác từ lâu nhưng còn mang nặng tính truyền Thành, Rạch Giá, Rạch Sỏi,… sau đó theo hệ<br /> thống, mới dừng lại ở hình thức truyền nghề, thống kênh đào và mương, lạch vào sâu nội<br /> học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, chưa được tổ đồng. Độ mặn trên sông rạch cao nhất vào<br /> chức đào tạo nghề có tính chuyên nghiệp cao các tháng mùa khô, đặc biệt là vào tháng 3,<br /> nên không phát triển mạnh và chưa hiệu quả. 4 hàng năm. Thời gian ngập mặn thường kéo<br /> Vì vậy, để phát triển nghề NTTSNMNL, cần dài trên dưới 3 tháng. Vào mùa mưa, độ mặn<br /> phải tổ chức đào tạo bài bản, chuyên nghiệp, trên các sông rạch có xu hướng giảm.<br /> các loại cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều<br /> <br /> Bảng 1: BĐKH làm tăng độ mặn ở các vùng ven biển tỉnh Kiên Giang<br /> <br /> Độ mặn<br /> Khoảng<br /> lớn nhất So sánh tăng (+)/giảm (-)<br /> Stt Trạm Sông rạch cách từ<br /> tháng 1 với cùng kỳ năm 2015<br /> biển (km)<br /> (g/l)<br /> <br /> 2016 2015<br /> 1 Xẻo Rô Cái Lớn 10 15,8 11,0 + 4,8<br /> <br /> 2 Gò Quao Cái Lớn 40 5,2 3,0 + 2,2<br /> <br /> <br /> Nguồn: Trần Bá Hoằng, Viện Khoa học thủy lợi Miềm Nam [4]<br /> <br /> 2. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - phía Bắc giáp Campuchia có đường biên giới<br /> XÃ HỘI TỈNH KIÊN GIANG dài 56,8km, với hơn 200 km bờ biển và 105<br /> 2.1. Đặc điểm tự nhiên hòn đảo nổi lớn nhỏ. Dân số năm 2015 là<br /> 1.762.281 người, phân bố không đều, thường<br /> Tỉnh Kiên Giang có diện tích tự nhiên là<br /> tập trung ở ven trục lộ giao thông, kênh rạch,<br /> 6.348,53 km2, bằng 1,9% diện tích cả nước.<br /> sông ngòi và ở một số đảo lớn [1]. Địa bàn<br /> Phía Đông Bắc giáp tỉnh An Giang, Cần Thơ<br /> tỉnh Kiên Giang được chia thành 4 vùng kinh<br /> và Hậu Giang; phía Nam giáp tỉnh Cà Mau<br /> tế: Tứ giác Long Xuyên, Tây sông Hậu, U<br /> và Bạc Liêu; phía Tây giáp Vịnh Thái Lan;<br /> <br /> 28<br /> Đào tạo nghề nuôi trồng ...<br /> <br /> <br /> Minh Thượng và vùng Đảo và hải đảo. Trong của tỉnh. Tuy nhiên, một số chỉ tiêu quan<br /> đó, vùng U Minh Thượng là vùng sâu, vùng trọng như nuôi tôm công nghiệp, kim ngạch<br /> xa, có nhiều khó khăn và nhiều hộ nghèo xuất khẩu, xây dựng nông thôn mới… đạt<br /> nhất tỉnh. Vùng U Minh Thượng có diện tích thấp. Đời sống một bộ phận nhân dân còn<br /> tự nhiên khoảng 1.879,4 km2, chiếm 29,6% nhiều khó khăn; chất lượng nguồn nhân lực<br /> diện tích toàn tỉnh, được giới hạn bởi sông chuyển biến chưa nhiều; hạn chế, yếu kém ở<br /> Cái Lớn và ranh giới tỉnh Cà Mau. Đây là lĩnh vực khoa học và công nghệ, văn hóa, y<br /> vùng vừa nhiễm mặn vừa nhiễm phèn, mưa tế, giáo dục, bảo vệ môi trường chậm khắc<br /> nhiều hay bị úng và bị hạn vào mùa khô. Khu phục.[1]<br /> vực này gồm các huyện An Biên, An Minh,<br /> 3. THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGHỀ<br /> Vĩnh Thuận và U Minh Thượng. Có thể chia<br /> NTTSNMNL TẠI TỈNH KIÊN GIANG<br /> vùng U Minh Thượng thành các tiểu vùng<br /> NTTS như sau: 3.1. Khái quát hoạt động đào tạo nghề<br /> NTTSNMNL<br /> - Vùng nuôi tôm nước mặn và tôm<br /> nước lợ 3.1.1. Các cơ sở có tham gia đào tạo<br /> nghề NTTSNMNL<br /> - Vùng nuôi thủy sản nước ngọt<br /> - Vùng nuôi cá dưới tán rừng tràm Hiện nay, ở Kiên Giang, có trường đại<br /> học mới được thành lập và các trường đại học<br /> Các vùng này được bố trí theo những khu<br /> nơi khác đến liên kết đào tạo như: Đại học<br /> vực có điều kiện thổ nhưỡng phù hợp.<br /> Nha Trang, Đại học Huế… nhưng chỉ đào tạo<br /> 2.2. Đặc điểm kinh tế xã hội nhân lực trình độ cao. Để đáp ứng nhu cầu<br /> Theo văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Kiên đào tạo nghề cho người lao động, UBND tỉnh<br /> Giang lần thứ IX, qua 5 năm thực hiện kế Kiên Giang đã phê duyệt qui hoạch mạng<br /> hoạch phát triển kinh tế - xã hội (từ 2010 - lưới các cơ sở đào tạo nghề trên toàn tỉnh,<br /> 2015), tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) trong đó có nhiều trường tham gia đào tạo<br /> bình quân đạt 10,35%/năm, thu nhập bình nghề NTTS nước mặn, nước lợ với các trình<br /> quân đầu người năm 2015 đạt 2.515 USD, độ: sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và cả các lớp<br /> gấp 2 lần so với năm 2010. Cơ cấu kinh tế đào tạo nghề dưới 3 tháng cho nông dân để<br /> với nhóm ngành Nông - lâm - thủy sản chiếm giúp họ có thể thực hiện NTTS ngay sau khi<br /> tỷ trọng cao: từ 42,57% năm 2010 giảm còn học. Hiện tại, hệ thống các cơ sở giáo dục<br /> 35,14% năm 2015; Dịch vụ tăng từ 33,04% nghề nghiệp của Kiên Giang gồm 31 cơ sở,<br /> lên 40,44%; Công nghiệp – xây dựng giữ ở được phân bổ trên khắp địa bàn tỉnh, gồm các<br /> mức 24,42%. Lĩnh vực nông – lâm – thủy trường: trường Cao đẳng, trường Trung cấp,<br /> sản duy trì mức tăng trưởng khá, bình quân Trung tâm dạy nghề, Trung tâm Dịch vụ việc<br /> 5,75%/năm và giữ vai trò quyết định đối với làm, Trung tâm Khuyến nông, Hội Làm vườn,<br /> tốc độ tăng trưởng của tỉnh.[1] Trung tâm Giáo dục thường xuyên. Trong số<br /> Kinh tế biển có bước phát triển khá toàn đó có các trường được xem là chủ lực trong<br /> diện, góp phần quan trọng vào kinh tế của hoạt động động đào tạo nghề NTTSNMNL<br /> tỉnh, tốc độ tăng trưởng đạt 11,4%/năm, trên toàn tỉnh:<br /> tỷ trọng kinh tế biển chiếm 75,6% GDP - Trường Cao đẳng nghề Kiên Giang tọa<br /> <br /> <br /> 29<br /> Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật<br /> <br /> lạc tại thành phố Rạch Giá là trường có qui quy mô tuyển sinh của nhà trường 1.480 học<br /> mô lớn nhất tại Kiên Giang, với tổng diện tích sinh/năm. Điểm nổi bật của trường là đào<br /> 562.962 m2. Tổng số cán bộ quản lý và giáo tạo theo đơn đặt hàng của các nhà máy và<br /> viên của nhà trường là 130 người, với tổng DN trên địa bàn 4 huyện; đào tạo tại các xã<br /> quy mô tuyển sinh được cấp phép cho tất cả đảo thuộc huyện Kiên Hải và Phú Quốc; đào<br /> ngành nghề và các trình độ đào tạo là 2.550 tạo cho huyện Giang Thành, thị xã Hà Tiên.<br /> học sinh/năm, trong đó nghề NTTSNMNL là Ngoài ra, còn có các trung tâm khác cũng<br /> 55 học sinh/năm. tham gia đào tạo nghề NTTSNMNL như:<br /> - Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật TTGDTX huyện An Minh, TTDN và hỗ trợ<br /> Kiên Giang là trường có bề dày trong công nông dân, TT Dạy nghề Thanh niên, Trung<br /> tác đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự phát tâm Khuyến nông, Hội Làm Vườn nhưng qui<br /> triển của tỉnh, trường được xây dựng và mô còn nhỏ.<br /> thành lập từ năm 1965, với đội ngũ cán bộ Từ chủ trương đẩy mạnh hoạt động<br /> quản lý và giáo viên là 208 người, tổng quy đào tạo nghề NTTSNMNL, đến nay nhiều<br /> mô tuyển sinh được cấp phép là 6.450 học hộ nông dân đã biết thêm một nghề mới để<br /> sinh/năm. tạo sinh kế ngay chính mảnh đất ngập mặn,<br /> - Trường Trung cấp nghề Dân tộc Nội trú nhiễm mặn của mình và nhiều mảnh đất bị bỏ<br /> tỉnh Kiên Giang tọa lạc tại ấp Xẻo Chác, xã hoang nay cũng được cải tạo để nuôi trồng,<br /> Long Thạnh, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên người dân có thu nhập để trang trải cho cuộc<br /> Giang. Đây là trường đặc thù, đào tạo nghề sống ấm no và nhiều hộ còn làm giàu. Nếu<br /> cho con, em đồng bào dân tộc thiểu số trên nhìn rộng hơn dưới góc độ xã hội, thì những<br /> địa bàn tỉnh, số luợng học sinh người dân hộ nông dân tuy nhỏ, nhưng chính họ đã sản<br /> tộc thiểu số tuyển sinh hàng năm chiếm 80% xuất tạo ra sản phẩm để cung cấp cho xã hội,<br /> trong tổng số học sinh được tuyển. Quy mô góp phần phát triển kinh tế xã hội tỉnh Kiên<br /> đào tạo hàng năm của trường là 1.350 học<br /> Giang. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc<br /> sinh/năm, trong đó trình độ trung cấp nghề<br /> tế ngày càng sâu rộng, hoạt động đào tạo<br /> NTTSNMNL là 60 học sinh/năm.<br /> nghề NTTSNMNL có ý nghĩa quan trọng,<br /> - Trường Trung cấp nghề Vùng U Minh không chỉ dừng lại ở mục đích tạo sinh kế<br /> Thượng, là một trường nằm ở trung tâm của cho nông dân mà còn phát triển ngành thủy<br /> huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang. Địa sản, khai thác lợi thế của Kiên Giang.<br /> bàn tuyển sinh của nhà trường trong phạm vi<br /> 3.1.2. Năng lực đào tạo nghề NTTSNMNL<br /> của 4 huyện (An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận<br /> của các trường trên toàn tỉnh<br /> và U Minh Thượng). Trường có tổng số cán<br /> bộ quản lý, giáo viên, nhân viên là 24 người. * Mạng lưới các trường đào tạo nghề<br /> Cơ cấu tổ chức gồm 4 phòng, 3 khoa chuyên NTTSNMNL trên địa bàn<br /> môn đào tạo các hệ: Trung cấp, sơ cấp, nghề Số lượng các trường có tham gia đào<br /> ngắn hạn dưới 3 tháng.[3] tạo nghề trên toàn tỉnh Kiên Giang hiện nay<br /> - Trường Trung cấp nghề vùng Tứ Giác là 10 cơ sở đào tạo. Số học viên học nghề<br /> Long Xuyên tọa lạc ấp Ba Núi, xã Bình An, NTTSNMNL hàng năm do các trường đào<br /> huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. Tổng tạo trung bình trên 1000 người/năm (bảng 2).<br /> <br /> <br /> <br /> 30<br /> Đào tạo nghề nuôi trồng ...<br /> <br /> <br /> Bảng 2: Số lượng người học nghề NTTSNMNL tại các trường ở Kiên Giang<br /> Tổng<br /> TT CƠ SỞ ĐÀO TẠO 2012 2013 2014 2015 2016<br /> cộng<br /> 1 Trường CĐ nghề KG 81 54 135<br /> 2 Trường CĐ Kinh tế- Kỹ thuật 33 25 58 93 34 243<br /> 3 Trường TCN DTNT 187 337 530 126 76 1.256<br /> 4 Trường TCN vùng Tứ giác Long Xuyên 224 52 127 67 93 563<br /> 5 Trường TCN vùng U Minh Thượng 125 173 201 261 125 885<br /> 6 TTGDTX H. An Minh 152 61 82 29 90 414<br /> 7 TTDN và hỗ trợ nông dân 0 553 356 298 209 1,416<br /> 8 TTDN Thanh Niên 218 102 48 53 140 561<br /> 9 Trung tâm Khuyến nông 132 191 246 289 165 1,023<br /> 10 Hội Làm Vườn 64 127 63 52 56 362<br /> Tổng cộng: 1.216 1.675 1.711 1.268 988 6.858<br /> <br /> Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Báo cáo hàng năm của Sở lao động – TB&XH Kiên Giang<br /> <br /> Từ đó cho thấy khả năng đào tạo của viên và cán bộ quản lý của các trường có<br /> các trường đào tạo nghề NTTSNMNL ở tỉnh tham gia đào tạo nghề NTTSNMNL tại Kiên<br /> Kiên Giang là rất lớn. Tuy nhiên, nếu chỉ tính Giang hiện nay là 666 người, họ có chuyên<br /> riêng hai trường Trung cấp nghề vùng Tứ môn nghiệp vụ phù hợp với các ngành đào<br /> Giác Long Xuyên và Trung cấp nghề vùng U tạo NTTSNMNL. Trình độ của đội ngũ giáo<br /> Minh Thượng thì khả năng đào tạo còn quá viên: sau đại học 16,82% (112/666), đại học<br /> khiêm tốn so với nhu cầu nhân lực nghề của 66,21% (441/666), trình độ khác 16,97%<br /> 2 địa phương này. (113/666). Với thực trạng trình độ này cho<br /> thấy lực lượng giáo viên có mặt bằng trình độ<br /> Bên cạnh việc qui hoạch mạng lưới các<br /> tương đối cao, đại học chiếm đa số.<br /> trường đào tạo nghề, nhiều vấn đề khác như:<br /> đội ngũ giáo viên, chương trình đào tạo, nội Như vậy, với trình độ của lực lượng giáo<br /> dung đào tạo… luôn cần được quan tâm cập viên của các trường hiện nay đa số có khả<br /> nhật, đổi mới theo hướng tiên tiến, hiện đại năng giảng dạy tốt, có thể đảm đương công<br /> việc giảng dạy trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.<br /> để người học luôn tiếp cận được với kiến<br /> Tuy nhiên, đối với trường trung cấp nghề<br /> thức mới để áp dụng vào thực tiễn có hiệu<br /> vùng Tứ giác Long Xuyên và trường trung<br /> quả hơn, đồng thời nuôi trồng, sản xuất sản<br /> cấp nghề vùng U Minh Thượng thì lực lượng<br /> phẩm có chất lượng tốt hơn, đáp ứng nhu cầu<br /> giáo viên còn quá ít (23-24 người) và trình độ<br /> của thị trường.<br /> thấp hơn mặt bằng chung của cả mạng lưới<br /> * Đội ngũ giáo viên của các trường có trong tỉnh. Với lực lượng này, khó có thể đảm<br /> tham gia đào tạo nghề NTTSNMNL được được công tác đào tạo cho cả hai vùng<br /> Theo số liệu của Sở Lao động – TB&XH có diện tích rộng lớn: Tứ giác Long Xuyên<br /> tỉnh Kiên Giang, tổng số giảng viên, giáo và U Minh Thượng. Hơn nữa, với lực lượng<br /> <br /> 31<br /> Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật<br /> <br /> ít người và công việc giảng dạy nhiều, giáo chuyên môn phục vụ cho yêu cầu giảng dạy<br /> viên không có điều kiện và thời gian để bồi cao hơn.<br /> dưỡng, trau dồi, nâng cao trình độ, kiến thức<br /> <br /> Bảng 3: Trình độ giáo viên các trường đào tạo nghề NTTSNMNL Kiên Giang<br /> <br /> Trình độ<br /> GV và Cử<br /> Tên cơ sở<br /> CBQL Tiến Thạc nhân / Cao Trung<br /> TT<br /> Khác<br /> sĩ sĩ đẳng cấp<br /> Kỹ sư<br /> 1 Trường CĐN Kiên Giang 130 18 94 2 3 13<br /> 2 Trường CĐ Kinh tế- Kỹ thuật 208 4 74 111 3 10 6<br /> 3 Trường TCN Dân tộc nội trú 38 4 33 1<br /> 4 Trường TCN vùng Tứ giác Long Xuyên 23 2 21<br /> 5 Trường TCN vùng U Minh Thượng 24 1 23<br /> 6 TTGDTX huyện An Minh 16 14 1 1<br /> 7 TTDN và hỗ trợ nông dân 49 3 28 13 2 3<br /> 8 TT Dạy nghề Thanh niên 17 14 2 1<br /> 9 Trung tâm Khuyến nông 150 6 96 10 25 9<br /> 10 Hội Làm Vườn 11 7 4<br /> Tổng cộng: 666 4 108 441 40 41 32<br /> <br /> Nguồn: Tác giả tổng hợp các báo cáo của Sở Lao động – TB&XH tỉnh Kiên Giang<br /> * Chương trình đào tạo NTTSNMNL của các trường<br /> <br /> Đến nay, các trường đào tạo nghề nước đã nuôi những loài mới như: Le le, vịt<br /> NTTSNMNL trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đã biển đại xuyên chi phí thấp, giá trị thu được<br /> đào tạo gồm 16 chương trình đào tạo (CTĐT). rất cao; hoặc các loài khác phù hợp với thổ<br /> Với số lượng này cho thấy CTĐT của các nhưỡng của điều kiện của một số địa phương<br /> trường tương đối phong phú, đa dạng. Tuy như: nghêu, sò, trồng các loại rong biển, tảo<br /> nhiên, CTĐT còn có sự trùng lắp và mang biển… có giá trị kinh tế cao.<br /> tính phổ biến cao, chưa có nhiều CTĐT nuôi * Số lượng người học nghề NTTSNMNL<br /> trồng các loài mới mang lại giá trị kinh tế cao tại các trường trong những năm qua<br /> cho người học, đồng thời chưa có các CTĐT<br /> Số người học nghề NTTS trong những<br /> dựa trên kỹ thuật NTTS tiên tiến hiện đại. Vì<br /> năm trước đây rất lớn. Tuy nhiên, 03 năm<br /> vậy, chưa thu hút được nhiều người học mà<br /> gần đây, số lượng người học sụt giảm nghiêm<br /> thậm chí số người học còn bị sụt giảm trong<br /> trọng, trên toàn tỉnh giảm từ 1.7111 người<br /> các năm gần đây.<br /> năm 2014 xuống còn 988 người năm 2016<br /> Hiện nay, ở nhiều địa phương khác trên cả (bảng 2). Sự giảm sút nghiêm trọng này có<br /> <br /> <br /> 32<br /> Đào tạo nghề nuôi trồng ...<br /> <br /> <br /> nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân dụng, cải tạo thành ao nuôi trồng mang lại giá<br /> là do CTĐT của các trường chưa thu hút trị kinh tế cao.<br /> người học, có tới 45% (27/60) người được * Góp phần tăng trưởng kinh tế của tỉnh<br /> hỏi thích học nuôi trồng những loài mang lại Kiên Giang ở mức cao<br /> giá trị kinh tế cao. Mặt khác, hoạt động đào<br /> Đào tạo nghề tạo sinh kế cho người dân,<br /> tạo chưa gắn với hoạt động thực tế tại các<br /> giúp họ ổn định cuộc sống và đóng góp vào<br /> doanh nghiệp (DN) và chưa được thực hiện<br /> tăng trưởng kinh tế xã hội của tỉnh ở mức cao.<br /> nhiều tại các ao hồ nuôi trồng thực nghiệm để<br /> Tăng trưởng GDP toàn tỉnh tăng mỗi năm<br /> tăng tính thực tiễn, tăng tính tích cực học tập<br /> trên 10% trong suốt giai đoạn 2010-2015.<br /> nơi người học. Vì vậy, mức độ thu hút người<br /> Tình hình an ninh trật tự được cải thiện đáng<br /> học thấp. Người học không thấy được sự<br /> kể, bộ mặt kinh tế xã hội của tỉnh được thay<br /> khác biệt giữa đến trường học nghề và truyền<br /> đổi từ thành thị đến nông thôn. Đáng chú ý<br /> nghề. Qua đó cho thấy, mức độ đáp ứng của<br /> nhất là vùng U Minh Thượng bao gồm những<br /> các trường về nhu cầu học nghề NTTSNMNL<br /> huyện vùng sâu, vùng xa có nhiều hộ nghèo<br /> chưa cao.<br /> thời gian qua đã được cải thiện rất nhiều. Đến<br /> 3.2. Đánh giá thực trạng đào tạo nghề nay, nhiều hộ dân đã thoát nghèo và có sinh<br /> NTTSNMNL tại tỉnh Kiên Giang kế ổn định.<br /> Thực hiện chủ trương của nhà nước về * Cải thiện một số chỉ số an sinh xã hội<br /> xóa đói giảm nghèo, tạo sinh kế cho người<br /> Tình hình an sinh xã hội của tỉnh Kiên<br /> dân nông thôn trong điều kiện BĐKH, các<br /> Giang trong những năm gần đây được cải<br /> trường đào tạo nghề đã có những nỗ lực trong<br /> thiện thông qua các chỉ số quan trọng:<br /> đào tạo nghề NTTSNMNL trong những năm<br /> vừa qua, từ đó cũng đã gặt hái được nhiều - Giải quyết việc làm cho người lao động,<br /> mỗi năm trên 30.000 lượt.[2]<br /> thành quả rất đáng khích lệ.<br /> - Giảm tỷ lệ thất nghiệp từ 3,45% còn<br /> 3.2.1. Những thành quả đạt được<br /> 2,44%.[2]<br /> * Tạo sinh kế cho người dân nông thôn<br /> - Số hộ thoát nghèo bình quân mỗi năm<br /> trong điều kiện BĐKH<br /> 8.689 hộ trong giai đoạn 2010-2015.[2]<br /> Trong những năm qua các trường đào tạo<br /> - Đào tạo nghề NTTSNMNL đã góp phần<br /> nghề đã có nhiều nỗ lực trong các hoạt động<br /> giảm số hộ nghèo trên toàn tỉnh. Nhờ có<br /> đào tạo. Từ đó đã tạo sinh kế cho người dân<br /> nghề NTTS mà người dân mạnh dạn làm ăn,<br /> nông thôn, tạo thêm việc làm cho người lao<br /> cải thiện thu nhập, ổn định cuộc sống, thoát<br /> động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, mang lại thu nghèo và đã có một số hộ bắt đầu có tích lũy<br /> nhập cho nhiều hộ gia đình nên số hộ nghèo để đầu tư lớn hơn. Đưa số hộ nghèo từ 34.973<br /> đã giảm đáng kể. Nhiều diện tích đất được hộ năm 2010 xuống còn 6.070 hộ năm 2015.<br /> khai thác hiệu quả hơn trước. Thậm chí có Tỷ lệ giảm bình quân trong cả giai đoạn là<br /> những mảnh ruộng trước đây bị nhiễm mặn 16,53%/năm. Đây là thành tích rất đáng trân<br /> phải bỏ hoang, nay lại có được đưa vào sử trọng.[2]<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 33<br /> Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật<br /> <br /> Bảng 4: Số hộ nghèo giảm qua các năm giai đoạn 2010 - 2015<br /> <br /> Địa phương ĐVT 2010 2011 2012 2013 2014 2015<br /> Tỉnh Kiên Giang hộ 34.973 29.066 23.294 19.742 14.867 6.070<br /> Vùng U Minh Thượng hộ 13.982 12.168 9.839 8.404 6.197 2.902<br /> - Huyện An Biên hộ 4.253 4.317 3.448 3.013 1.716 1.106<br /> - Huyện An Minh hộ 3.973 3.524 2.880 2.415 2.092 641<br /> - Huyện U Minh Thượng hộ 2.570 2.143 1.863 1.566 1.315 539<br /> - Huyện Vĩnh Thuận hộ 3.186 2.184 1.648 1.410 1.074 616<br /> <br /> Nguồn: Kết quả điều tra hộ nghèo từng năm của Sở Lao động – TB&XH tỉnh Kiên Giang;<br /> Báo cáo Tổng kết giai đoạn của ngành Lao động – TB&XH tỉnh Kiên Giang.<br /> * Thay đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng có lợi<br /> <br /> Phát triển đào tạo nghề NTTSNMNL năm 2015, tăng bình quân 10,9%/năm. Song<br /> đã góp phần thay đổi cơ cấu cây trồng vật song với việc tăng diện tích nuôi trồng, sản<br /> nuôi theo hướng tạo ra giá trị kinh tế cao lượng cũng tăng liên tục qua các năm. Tổng<br /> hơn trước đây. Diện tích NTTSNMNL tăng sản lượng năm 2010 đạt 97.673 tấn, tăng lên<br /> mạnh qua các năm, diện tích nuôi trồng từ 183.423 tấn vào năm 2015, tăng bình quân<br /> 120.527 ha năm 2010 tăng lên 202.372 ha 13,4%/năm.<br /> <br /> Bảng 5: Thực trạng phát triển NTTS của tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2010-2015<br /> <br /> Giai đoạn 2010-2015 Tăng<br /> Hạng<br /> STT ĐVT Năm Năm Năm Năm Năm Năm BQ<br /> mục<br /> 2010 2011 2012 2013 2014 2015 (%)<br /> Diện<br /> 1 Ha 120.527 135.447 114.777 126.920 169.232 202.372 10,9<br /> tích<br /> Sản<br /> 2 Tấn 97.673 109.558 127.033 143.986 173.080 183.423 13,4<br /> lượng<br /> Cá Tấn 46.071 44.046 47.371 55.114 66.268 67.451 7,9<br /> Tôm Tấn 34.765 39.968 40.292 41.978 51.430 52.210 8,5<br /> Thủy<br /> sản Tấn 16.837 25.544 39.370 46.894 55.382 63.762 30,5<br /> khác<br /> Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Niên giám thống kê tỉnh Kiên Giang năm 2015<br /> <br /> Đào tạo nghề NTTS đã góp phần khai dụng khoa học kỹ thuật để tăng năng suất,<br /> thác tiềm năng, lợi thế nguồn lực con người góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu<br /> và lợi thế so sánh ngành thủy sản của đất lao động, ứng phó với BĐKH đồng thời khai<br /> nước. Sau học nghề người dân đã biết ứng thác tiềm năng của tỉnh Kiên Giang.<br /> <br /> 34<br /> Đào tạo nghề nuôi trồng ...<br /> <br /> <br /> 3.2.2. Những vấn đề tồn tại hoạt động đào tạo không cao, không đáp ứng<br /> Bên cạnh những thành quả đạt được, hoạt được nhu cầu của người học.<br /> động đào tạo nghề NTTSNMNL tại tỉnh Kiên - Đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên<br /> Giang cũng tồn tại nhiều vấn đề cần có giải môn tương đối cao, đa số trẻ nhưng thiếu<br /> pháp khắc phục: kinh nghiệm, số lượng lại không nhiều, nhất<br /> - Qua phân tích ở trên, cho thấy mạng là tại trường trung cấp nghề vùng Tứ Giác<br /> lưới đào tạo nghề của các trường tại tỉnh Kiên Long Xuyên và trường trung cấp nghề vùng<br /> Giang tương đối lớn. Tuy nhiên, nếu chỉ tính U Minh Thượng (chỉ có 23 - 24 giáo viên).<br /> riêng đào tạo nghề NTTS nước, nước lợ thì Số lượng giáo viên ít, công việc nhiều nên<br /> qui mô của các trường còn quá nhỏ. Chẳng họ không có điều kiện đi bồi dưỡng, tự trau<br /> hạn, trường trung cấp nghề vùng U Minh dồi kiến thức… để nâng cao trình độ chuyên<br /> Thượng hay trường trung cấp nghề Tứ giác môn, phục vụ công tác giảng dạy.<br /> Long Xuyên, khả năng đào tạo không đáp - Người dân nông thôn còn nặng tâm lý và<br /> ứng đủ nhu cầu nhân sự của cả vùng chuyên thói quen thích truyền nghề hơn là học nghề,<br /> về NTTS. chưa thấy được lợi ích của việc áp dụng kiến<br /> - Chương trình đào tạo NTTSNMNL của thức, khoa học kỹ thuật vào công việc nuôi<br /> các trường nghề trên địa bàn đến nay tương trồng để nâng cao hiệu quả.<br /> đối nhiều (16 nghề), riêng Trường trung cấp<br /> 4. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐÀO TẠO<br /> nghề Vùng U Minh có 6 ngành nghề, nhưng<br /> NGHỀ NTTSNMNL TẠI TỈNH KIÊN GIANG<br /> đa số các chương trình này đã có từ lâu, thiếu<br /> Để góp phần thực hiện mục tiêu chung<br /> cập nhật và đào tạo nuôi trồng những loài khá<br /> của Chính phủ đề ra và các mục tiêu cụ thể<br /> phổ biến, chưa có những CTĐT nuôi trồng<br /> của UBND tỉnh Kiên Giang về đào tạo nghề;<br /> những loài mới lạ, có giá trị kinh tế cao để<br /> Qua phân tích, đánh giá thực trạng đào tạo<br /> thu hút người học. Từ đó làm cho người nông<br /> nghề NTTSNMNL tại tỉnh Kiên Giang, tác<br /> dân ít quan tâm đến học nghề mà nếu có cũng<br /> giả xin đề xuất một số giải pháp phát triển<br /> chỉ truyền nghề mang tính gia đình.<br /> đào tạo nghề NTTSNMNL như sau:<br /> - Chưa có sự gắn kết giữa đào tạo nghề<br /> với hoạt động thực tế tại DN để nâng cao tính 4.1. Đối với Nhà nước<br /> học thuật trong giảng dạy, kích thích tính tích - Xác định nhu cầu học nghề NTTSNMNL<br /> cực nơi người học, để từ đó nâng cao chất trên địa bàn tỉnh. Để có cơ sở hoạch định đầu<br /> lượng đào tạo nghề NTTSNMNL. tư cho hoạt động đào tạo nghề, cơ quan chức<br /> - Về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ năng cần xác định nhu cầu đào tạo hàng năm<br /> cho hoạt động đào tạo NTTS tại các trường để có cơ sở hoạch định chính xác, hiệu quả.<br /> còn nhiều hạn chế. Phòng thí nghiệm, cơ sở - Tiếp tục phát triển mạng lưới các<br /> vật chất và thiết bị thực hành trong đào tạo trường đào tạo nghề NTTSNMNL. Phát triển<br /> chưa có… ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo thêm các trường đào tạo nghề NTTS theo<br /> đồng thời chưa thu hút người học vì quá trình hướng ưu tiên cho những địa phương có nhu<br /> đào tạo không có khác biệt nhiều với hoạt cầu đào tạo cao, chẳng hạn như vùng U Minh<br /> động truyền nghề. Hàm lượng khoa học trong Thượng, vùng Tứ giác Long Xuyên nhằm tạo<br /> <br /> <br /> 35<br /> Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật<br /> <br /> điều kiện thuận lợi cho người học, đáp ứng lựa chương trình để học. Các CTĐT phải bao<br /> nhu cầu phát triển kinh tế xã hội. gồm đào tạo nuôi trồng những loài khá phổ<br /> - Chú trọng đầu tư cơ sở vật chất cho các biến và những loài mới có giá trị kinh tế cao<br /> trường đào tạo nghề NTTS. Cần tăng cường để thu hút người học.<br /> đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ - Nâng cao tính thực tế trong hoạt động<br /> cho hoạt động đào tạo như: Phòng thí nghiệm, đào tạo. Để nâng cao chất lượng đào tạo ở tất<br /> cơ sở vật chất và thiết bị thực hành trong đào cả các hệ, Nhà trường chú trọng hơn đến các<br /> tạo, ao hồ thực nghiệm… hoạt động thực tế, tăng thời lượng thực hành<br /> - Hỗ trợ kinh phí cho hoạt động đào tạo ở các chương trình đào tạo, nhất là các hệ<br /> nghề NTTSNMNL. Ngoài nguồn ngân sách đào tạo dưới 3 tháng, vì người học nghề thích<br /> Trung ương chi đào tạo nghề cho LĐNT tiếp thu từ các hoạt động thực tế hơn các bài<br /> theo các cơ chế, chính sách của quyết định giảng lý thuyết.<br /> 1956/QĐ-TTg, quyết định 971/QĐ-TTg,<br /> - Gắn kết đào tạo nghề NTTSNMNL với<br /> quyết định 46/2015/QĐ-TTg, hàng năm,<br /> hoạt động của DN. Các trường đào tạo nghề<br /> UBND tỉnh cần bố trí bổ sung thêm kinh<br /> phải có sự chủ động mời gọi để gắn kết hoạt<br /> phí đào tạo nghề, kinh phí bồi dưỡng nhà<br /> động đào tạo với hoạt động nuôi trồng của<br /> giáo và cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp<br /> từ nguồn ngân sách tỉnh để hỗ trợ các hoạt DN. Qua đó, vừa tranh thủ sự hỗ trợ của DN<br /> động đào tạo nghề NTTSNMNL như: hỗ trợ về cơ sở vật chất, vừa giúp người học tiếp<br /> người học thuộc diện chính sách, diện khó cận thực tế để nâng cao tính học thuật trong<br /> khăn; hỗ trợ giáo viên, cán bộ quản lý vì giảng dạy, kích thích tính tích cực nơi người<br /> hoạt động đào tạo nghề NTTS được thực học, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo nghề<br /> hiện tại những nơi là vùng sâu, vùng xa có NTTSNMNL.<br /> rất nhiều khó khăn. - Hoàn thiện và phát triển đội ngũ giáo<br /> - Tạo điều kiện nâng cao trình độ của viên. Tại các trường đào tạo nghề trên địa bàn<br /> giáo viên. Nhà nước cần có chủ trương cho tỉnh Kiên Giang hiện nay, có trường nhiều<br /> phép nâng qui mô của trường, tăng số lượng giáo viên nhưng cũng có những trường như<br /> nhân sự để giáo viên có thể thay nhau giảng trường trung cấp nghề vùng Tứ giác Long<br /> dạy, học tập nâng cao trình độ chuyên môn Xuyên, trường trung cấp nghề vùng U Minh<br /> nhằm phục vụ công tác đào tạo nghề tốt hơn. Thượng giáo viên còn quá ít, trình độ năng<br /> 4.2. Đối với Nhà trường lực, chất lượng đội ngũ không đồng đều. Do<br /> vậy, các trường phải có kế hoạch để không<br /> - Chú trọng xây dựng chương trình đào<br /> ngừng hoàn thiện và phát triển đội ngũ giáo<br /> tạo NTTSNMNL tiên tiến, hiện đại. Nội dung<br /> viên có trình độ chuyên môn cao.<br /> chương trình đào tạo phải chuyển tải những<br /> tiến bộ của KHKT, thường xuyên cập nhật, - Chú trọng các biện pháp nâng cao chất<br /> có tính mới nhằm nâng cao chất lượng đào lượng đào tạo. Tập trung xây dựng các CTĐT<br /> tạo nghề. Ngoài ra, các trường phải có nhiều mới có chất lượng, rà soát các CTĐT đã có,<br /> CTĐT nghề NTTSNMNL khác nhau để tạo cập nhật thông tin, kiến thức mới để có nội<br /> nên sự phong phú, giúp người học có thể chọn dung tiên tiến, hiện đại đáp ứng chuẩn đầu<br /> <br /> <br /> 36<br /> Đào tạo nghề nuôi trồng ...<br /> <br /> <br /> ra của chương trình các cấp, các hệ đào tạo, 4.4. Đối với người dân nông thôn liên<br /> đảm bảo người học sau khi học xong có thể quan đến học nghề NTTSNMNL<br /> làm việc được ngay, chất lượng tốt. - Thay đổi nhận thức về đào tạo nghề và<br /> - Đổi mới công tác quản lý: (i) Đổi mới hình thức truyền nghề. Người dân nông thôn<br /> phương thức dạy và học, lấy người học làm cũng cần phải tự mình thay đổi nhận thức đối<br /> trung tâm của quá trình đào tạo; (ii) Ứng với hoạt động đào tạo nghề. Phải tìm hiểu<br /> dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động để thấy được những lợi ích thật sự mà đào<br /> quản lý, hoạt động dạy và học trong các cơ tạo nghề NTTSNMNL mang lại so với hình<br /> sở đào tạo; (iii) Áp dụng nhiều biện pháp để thức truyền nghề. Trong điều kiện xã hội phát<br /> tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đôn triển nhanh chóng như hiện nay, NTTS phải<br /> đốc, động viên cả người dạy lẫn người học làm theo nhau là được, mà phải áp dụng kiến<br /> để đảm bảo thực hiện việc dạy và học có chất thức, khoa học kỹ thuật vào công việc nuôi<br /> lượng, có hiệu quả cao; (iv) Đa dạng hóa các trồng để tạo ra sản phẩm đạt chất lượng cao,<br /> trình độ, các hệ đào tạo như: trình độ trung phù hợp với tiêu chuẩn thị trường, sản phẩm<br /> cấp chính qui dài hạn, trung cấp vừa làm có giá trị và dễ tiêu thụ, từ đó nâng cao hiệu<br /> vừa học (tại chức), ngắn hạn dưới 3 tháng, quả nuôi trồng.<br /> đào tạo theo đơn đặt hàng của DN…; (v) Tổ - Thay đổi định kiến về nghề nghiệp tương<br /> chức tuyển sinh nhiều lần trong năm để tạo lai của con em. Đối với người dân nông thôn,<br /> sự thuận lợi cho người học. điều kiện tự nhiên có nhiều khó khăn do ngập<br /> 4.3. Đối với địa phương mặn, nhiễm mặn nhưng đó cũng là lợi thế cho<br /> việc NTTSNMNL so với nhiều nơi khác. Do<br /> - Nâng cao nhận thức của xã hội về đào<br /> vậy, người dân nông thôn cần phải xóa bỏ<br /> tạo nghề. Đẩy mạnh tuyên truyền bằng nhiều<br /> định kiến, thay đổi nhận thức về phát triển<br /> hình thức, nhiều biện pháp về chủ trương của<br /> nghề nghiệp để hướng con em mình chọn<br /> Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước<br /> nghề nghiệp tương lai đúng với năng lực bản<br /> về đào tạo nghề, cụ thể là nghế NTTSNMNL<br /> thân, đúng với những lợi thế mà gia đình<br /> cho người dân nông thôn để họ thấy rõ lợi<br /> và địa phương đang có để phát triển tốt hơn<br /> ích của việc học nghề trong mối liên hệ với<br /> trong tương lai.<br /> đất đai, điều kiện tự nhiên của địa phương<br /> họ đang sinh sống, giúp họ thấy rõ học nghề 5. KẾT LUẬN<br /> NTTSNMNL gắn với giải quyết việc làm và<br /> Trong điều kiện chịu ảnh hưởng của<br /> là sinh kế thiết thực giúp họ thay đổi và nâng<br /> BĐKH, nước biển dâng, ngập mặn, việc đào<br /> cao mức sống.<br /> tạo nguồn nhân lực NTTSNMNL là tất yếu.<br /> - Đẩy mạnh công tác tư vấn, hướng Tuy nhiên, việc đào tạo phải có chiến lược<br /> nghiệp. Các địa phương cần chú trọng hơn ngắn hạn, dài hạn sao cho phù hợp với các<br /> công tác phân luồng, hướng nghiệp học sinh điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng của từng địa<br /> sau trung học cơ sở, trung học phổ thông để phương, phù hợp với nguồn lực thực hiện và<br /> các em thấy được sau khi học xong phổ thông đặc biệt chú trọng đào tạo gắn với hoạt động<br /> có nhiều con đường phát triển bản thân để thực tế của doanh nghiệp để giúp người dân<br /> các em lựa chọn hướng đi tương lai. ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế xã hội.<br /> <br /> <br /> 37<br /> Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật<br /> <br /> Mặt khác, trong bối cảnh hội nhập kinh tế [2]. Báo cáo của ngành Lao động – TB&XH<br /> quốc tế, thủy sản là thế mạnh của nước ta. tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2010 – 2016<br /> Việc đào tạo nguồn nhân lực để NTTSNMNL [3]. Báo cáo của Trường TCN vùng U Minh<br /> có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác lợi Thượng<br /> thế của đất nước, nhằm nâng cao hiệu quả [4]. Trần Bá Hoằng, Dự báo xâm nhập mặn<br /> phát triển kinh tế xã hội. tại các cửa sông vùng ven biển đồng bằng<br /> sông Cửu Long và đề xuất các giải pháp<br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO chống hạn, Viện Khoa học thủy lợi Miền<br /> [1]. Báo cáo 5 năm (2010-2015) về phát triển Nam, Báo cáo cuối tháng 01/2016.<br /> kinh tế xã hội của UBND tỉnh Kiên Giang<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 38<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2