VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN MINH TUẤN
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA MỸ VÀO VIỆT NAM TỪ KHI THỰC HIỆN LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐẾN 2010
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế Mã số: 62 31 01 06
i
HÀ NỘI - 2016
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN MINH TUẤN
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA MỸ VÀO VIỆT NAM TỪ KHI THỰC HIỆN LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐẾN 2010
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế Mã số: 62 31 01 06
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. PGS. TS. Đỗ Đức Định 2. PGS. TS. Phạm Thị Thanh Bình
HÀ NỘI-2016
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số
liệu nêu trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án là
của tác giả và các thông tin trích dẫn trong luận án đã được ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận án
i
Nguyễn Minh Tuấn
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu ............................................................................................................ 1
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đầu tư trực
tiếp nước ngoài của Mỹ vào việt nam .......................................................... 5
1.1. Nghiên cứu ngoài nước ............................................................................. 5
1.2. Nghiên cứu trong nước ........................................................................... 10
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đầu tư trực tiếp nước ngoài của
Mỹ vào Việt Nam.......................................................................................... 21
2.1. Cơ sở lý luận ........................................................................................... 21
2.1.1. Khái niệm của các tổ chức quốc tế và Việt Nam về đầu tư trực tiếp
nước ngoài ...................................................................................................... 21
2.1.2. Quan điểm của Mỹ về đầu tư trực tiếp nước ngoài ............................. 23
2.1.3. Các lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài ....................................... 25
2.2. Cơ sở thực tiễn ........................................................................................ 37
2.2.1. Dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới .................................... 37
2.2.2. Tình hình và đặc điểm đầu tư trực tiếp của Mỹ ra nước ngoài ............... 42
2.2.3. Thực tiễn thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số quốc gia
Châu Á ........................................................................................................... 54
Chương 3: Thực trạng đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam............... 60
3.1. Quan điểm chính sách của Mỹ về đầu tư vào Việt Nam ........................ 60
3.1.1. Quan điểm chính sách của các nhà đầu tư Mỹ .................................... 60
3.1.2. Quan điểm chính sách của Chính phủ Mỹ ........................................... 64
3.2. Quan điểm chính sách của Việt Nam đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài
........................................................................................................................ 66
3.3. Thực trạng đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam ................................. 74
3.3.1. Quy mô đầu tư ...................................................................................... 74
3.3.2. Cơ cấu đầu tư ....................................................................................... 82
ii
3.3.3. Hình thức đầu tư .................................................................................. 92
3.3.4. Phân bố đầu tư ...................................................................................... 96
3.4. Đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài Mỹ tại Việt Nam ............... 101
3.5. Những nhân tố hạn chế đầu tư Mỹ vào Việt Nam ................................ 108
Chương 4: Triển vọng đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam và một số
gợi ý chính sách cho Việt Nam .................................................................. 116
4.1. Triển vọng đầu tư trực tiếp nước ngoài của Mỹ vào Việt Nam ............ 116
4.1.1. Bối cảnh quốc tế, Mỹ và Việt Nam ................................................... 116
4.1.2. Triển vọng đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam ............................ 128
4.2. Một số gợi ý chính sách tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
của Mỹ vào Việt Nam .................................................................................. 132
4.2.1. Những chính sách chung .................................................................... 132
4.2.2. Những chính sách thu hút đầu tư từ các nhà đầu tư Mỹ .................... 139
Kết luận ....................................................................................................... 143
Danh mục công trình của tác giả .............................................................. 147
Tài liệu tham khảo ..................................................................................... 148
iii
Phụ lục ......................................................................................................... 162
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
APEC : Asia-Pacific Economic Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á -
Cooperation Thái Bình Dương
ASEAN : Association of Southeast Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Asian Nations
: Bilateral Investment Treaty Hiệp định đầu tư song phương BIT
: Bilateral Trade Agreement Hiệp định thương mại song phương BTA
BRICS : Brazil, Russia, India, China, Các nền kinh tế mới nổi (Brazil, Nga,
South Africa Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi)
CAGR : Compounded Annual Growth Tốc độ tăng trưởng kép hàng năm
Rate
ĐTNN : Đầu tư nước ngoài
: European Union Liên minh Châu Âu EU
: Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
: Gross Domestic Product Tổng sản phẩn quốc nội GDP
: Gross National Product Tổng sản phẩm phẩm quốc dân GNP
: Investment Development Path Các bước phát triển của đầu tư IDP
: International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế IMF
: Intellectual Property Rights Quyền sở hữu trí tuệ IPR
: Internal Transaction Giao dịch nội bộ IT
: Information Technology Hiệp định công nghệ thông tin ITA
Agreement
M&A : Mergers and Acquisitions Mua bán và sáp nhập xuyên biên
giới
: Marginal Cost Chi phí cận biên MC
: Market Transaction Giao dịch thị trường MT
OECD : Organization for Economic Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát
Co-operation and triển
iv
Development
OLI : Lý thuyết chiết chung
OPIC : Overseas Private Investment Công ty Đầu tư tư nhân hải ngoại
Corporation
TNC : Transnational Corporation Công ty xuyên quốc gia
TPP : Trans-Pacific Partnership Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình
Dương
UNCTAD : United Nations Conference on Diễn đàn Thương mại và Phát triển
Trade and Development Liên Hiệp quốc
USAID : United States Agency for Cơ quan phát triển Quốc tế Mỹ
International Development
v
WTO : World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 76
Bảng 3.1 FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 1988-2001
Bảng 3.2 FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 2002-2007 79
Bảng 3.3 FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 2008 đến nay 81
Bảng 3.4 Cơ cấu FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 1988 - 2001 83
Bảng 3.5 Cơ cấu FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 2001 - 2007 84
Bảng 3.6 Cơ cấu FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 2008 - 2015 88
Bảng 3.7 Hình thức FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 1988 - 2001 93
Bảng 3.8 Hình thức FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 2002 - 2007 94
Bảng 3.9 Hình thức FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 2008 - 2015 96
Bảng 3.10 Phân bố FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 1988 - 2001 97
Bảng 3.11 Phân bố FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 2002 - 2007 99
vi
Bảng 3.12 Phân bố FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 2008 - 2015 100
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Hình 2.1 Mô hình về lợi ích của FDI Trang 26
Hình 2.2 Đường Chi phí cận biên điển hình 34
Hình 2.3 FDI trong tổng các dòng vốn ĐTNN vào các nước đang phát triển 38
Hình 3.1 Xu hướng FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 1988-2001 78
Hình 3.2 Xu hướng FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 2002-2007 80
Hình 3.3 Xu hướng FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 2008-2015 82
Hình 3.4 CAGR trung bình theo loại hình doanh nghiệp của Bảng xếp 102
hạng FAST 500
vii
Hình 4.1 Mức độ hài lòng của các nhà đầu tư tại Việt Nam 132
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong các con đường
phát triển kinh tế của các quốc gia đang phát triển thiếu hụt vốn, đồng thời
đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cũng là con đường phát triển có hiệu quả của
các nước “dư thừa” vốn, nhất là đối với các quốc gia phát triển. Mỹ là nước
có tiềm lực kinh tế mạnh với hàng trăm công ty đa quốc gia quy mô hàng đầu
thế giới, hoạt động trên nhiều lĩnh vực và tại nhiều quốc gia. Các công ty Mỹ
đầu tư nhiều nhất vào các nước phát triển có cơ sở hạ tầng phát triển, đội ngũ
lao động chuyên môn cao, môi trường pháp luật minh bạch. Dòng vốn đầu tư
ra nước ngoài của Mỹ luôn đứng đầu thế giới, chủ yếu chảy vào Châu Âu,
Mỹ La tinh, Châu Á - Thái Bình Dương, Canada, Châu Phi - Trung Đông.
Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó nổi lên là khu vực Hiệp hội các quốc
gia Đông Nam Á (ASEAN), đang ngày càng trở thành điểm đến hấp dẫn của
giới đầu tư Mỹ. Với vị trí địa lý thuận lợi, chính sách hội nhập sâu rộng, môi
trường kinh tế vĩ mô được cải thiện, chi phí nhân công rẻ, hệ thống pháp luật từng
bước được hoàn thiện, Việt Nam được giới đầu tư Mỹ đánh giá là điểm đến đầu tư
hấp dẫn hàng đầu trong ASEAN.
Sau 30 năm đổi mới, kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành công
lớn. Những thành công này có phần đóng góp quan trọng của khu vực có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam [65], trong đó có đóng góp rất quan
trọng của FDI Mỹ [62].
Tuy nhiên, tổng lượng vốn FDI của Mỹ vào Việt Nam là tương đối thấp
và không tương xứng với điều kiện sẵn có của hai nước cũng như lợi thế so
sánh của mỗi nước. Lượng vốn FDI của Mỹ vào Việt Nam thấp là do nhiều
nguyên nhân cả khách quan và chủ quan, cả từ phía Mỹ và phía Việt Nam.
Trước khi bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ là do chính sách cấm vận của
Mỹ, sau khi bình thường hóa quan hệ, nhất là sau Hiệp định thương mại song
phương Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA), tình hình tuy có được cải thiện song
1
chưa đạt mức kỳ vọng. Cuộc Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn
cầu xuất phát từ Mỹ năm 2008 đã tác động trực tiếp đến việc chu chuyển
dòng FDI của Mỹ. Các công ty xuyên quốc gia sản xuất và dịch vụ - đối
tượng chi phối phần lớn dòng FDI trên thế giới - đã và đang tái cơ cấu hoạt
động, điều chỉnh chiến lược đầu tư hậu khủng hoảng, điều này làm thay đổi
sự lưu chuyển dòng FDI của Mỹ ra nước ngoài. Ngoài ra, các nền kinh tế
mới nổi, nhất là các nước thuộc nhóm Các nền kinh tế mới nổi Brazil, Nga,
Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi (BRICS) đang là những điểm đến của dòng
FDI của Mỹ ra nước ngoài. Trong khi đó, môi trường đầu tư, kinh doanh của
Việt Nam chưa thật sự hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có các
nhà đầu tư Mỹ, đặc biệt trong thời kỳ trước khi ký BTA.
Trong thời gian gần đây, chính sách đối ngoại của Mỹ có những điều
chỉnh mới hướng về Châu Á, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á vì lợi ích
quốc gia của Mỹ và đáp ứng mong muốn của nhiều quốc gia trong khu vực.
Trong bối cảnh đó, các nhà đầu tư Mỹ mong muốn đẩy mạnh đầu tư ra, vào
khu vực này nhằm tìm kiếm lợi nhuận cũng như chiếm lĩnh thị phần. Động
thái này là cơ hội mới mà Việt Nam có thể tận dụng để phát triển, nhất là khi
các thoả thuận Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) có hiệu lực.
Đầu tư trực tiếp của Mỹ ra nước ngoài hàm chứa công nghệ cao, trình
độ quản lý tốt, minh bạch, có hiệu quả cho nên hầu hết các quốc gia trên thế
giới đều mong muốn được tiếp nhận dòng vốn này. Tuy nhiên, FDI của Mỹ
vào đâu còn tùy thuộc vào môi trường đầu tư kinh doanh, độ rủi ro mà các
nước tiếp nhận đầu tư tạo ra. Điều đó cũng có nghĩa là, việc tiếp nhận được
FDI của Mỹ gắn liền với việc các nước tiếp nhận đầu tư phải xây dựng môi
trường đầu tư kinh doanh thích hợp. Cũng như nhiều nước đang phát triển
khác, Việt Nam cũng mong muốn tiếp nhận nguồn vốn đó để góp phần công
nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Đó là bối cảnh và lý do mà tác giả chọn
luận án nghiên cứu này.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là phân tích đánh giá thực trạng, vấn đề và triển
2
vọng đầu tư trực tiếp của Mỹ tại Việt Nam, nêu lên một số đặc điểm cơ bản
của FDI Mỹ ra nước ngoài, trên cơ sở đó, đề xuất những gợi ý chính sách cho
Việt Nam trong việc thu hút FDI của Mỹ vào Việt Nam trong những năm tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đầu tư trực tiếp của Mỹ tại Việt Nam.
Thời gian nghiên cứu: Từ khi thực hiện Luật đầu tư nước ngoài đến năm
2010. Tuy nhiên, từ năm 2010 đến nay, bối cảnh quốc tế cũng như quan hệ
Việt - Mỹ đã có nhiều thay đổi có liên quan chặt chẽ đến đầu tư trực tiếp của
Mỹ vào Việt Nam. Vì vậy, giới hạn thời gian nghiên cứu sẽ được kéo dài đến
năm 2015 vừa để thẩm định lại các động thái đầu tư của Mỹ vào Việt Nam
thời gian từ năm 2010 trở về trước, đồng thời có thêm cơ sở để gợi ý các
chính sách cho Việt Nam trong việc tiếp nhận FDI của Mỹ trong bối cảnh
quốc tế mới.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Luận án đã sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh,
thống kê để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, tìm ra nguyên nhân thành
công/chưa thành côngcủa FDI Mỹ vào Việt Nam.
- Ngoài ra, luận án cũng kế thừa các kết quả nghiên cứu, khảo sát đã có
và bổ sung, phát triển những luận cứ khoa học và thực tiễn mới trong việc
thực hiện những mục tiêu nghiên cứu của luận án.
5. Những đóng góp mới của luận án
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về đầu tư trực tiếp
nước ngoài liên quan chặt chẽ đến đầu tư của Mỹ vào Việt Nam;
- Phân tích đánh giá thực trạng, vấn đề và triển vọng đầu tư trực tiếp của
Mỹ vào Việt Nam kể từ năm 1988 đến nay;
- Một số gợi ý chính sách cho Việt Nam trong việc thúc đẩy thu hút FDI
Mỹ vào Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Mỹ là quốc gia đứng đầu thế giới về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài với
mục đích tối đa hóa lợi nhuận. Đầu tư trực tiếp của Mỹ hàm chứa công nghệ
3
và trình độ quản lý hiện đại, hạn chế gây ô nhiễm môi trường nơi đầu tư, vì
vậy nhiều nước mong muốn có được nguồn vốn này. Việt Nam là quốc gia
đang phát triển đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước,
nhất là trong bối cảnh đang chuyển đổi mô hình phát triển thì việc được tiếp
nhận nguồn vốn này hết sức có ý nghĩa đối với sự phát triển nền kinh tế Việt
Nam trong những năm tới. Để có thể tiếp nhận nguồn vốn này, ngoài việc
đáp ứng tốt các điều kiện do FDI Mỹ đặt ra, cần phải chủ động tạo lập môi
trường đầu tư kinh doanh thuận lợi để mời gọi các nhà đầu tư Mỹ.
7. Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận án
gồm 4 chương:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đầu tư trực
tiếp nước ngoài của Mỹ vào Việt Nam
Chương 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về đầu tư trực tiếp nước ngoài của
Mỹ vào Việt Nam
Chương 3. Thực trạng đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam
Chương 4. Triển vọng đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam và một số
4
gợi ý chính sách cho Việt Nam
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA MỸ
VÀO VIỆT NAM
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong các con đường phát triển kinh
tế của các quốc gia đang phát triển thiếu hụt vốn, đồng thời cũng là con
đường phát triển có hiệu quả của các nước “dư thừa” vốn, nhất là đối với các
quốc gia phát triển. Đối với các quốc gia đang phát triển, FDI từ các nước
phát triển không những là nguồn lực cho thúc đẩy tăng trưởng mà còn có
những tác động lan tỏa tới các khu vực khác trong nền kinh tế. Đối với các
nước phát triển, lợi ích thu được từ đầu tư ra nước ngoài lớn hơn so với trong
nước nhờ tận dụng được nguyên liệu, nhân công rẻ, chế độ ưu đãi của nước
nhận đầu tư. Vì vậy, FDI là lĩnh vực rất được quan tâm nghiên cứu. Những
bài viết, những nghiên cứu có liên quan tới FDI chiếm một số lượng khá lớn
cả ở trong và ngoài nước. Những công trình nghiên cứu này thường phản ánh
về mức độ tăng giảm lượng vốn hoặc số lượng dự án, về môi trường thu hút
FDI, về hiệu quả FDI mang lại, về những tác động lan toả của FDI đối với
kinh tế - xã hội,…
1.1. Nghiên cứu ngoài nước
Ở nước ngoài, vấn đề đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Mỹ đã được
nhiều nhà nghiên cứu kinh tế, các viện/trường quốc gia, các tổ chức kinh tế
quốc tế… quan tâm nghiên cứu. Các nghiên cứu này là khá phong phú phản
ánh nhiều mặt về hoạt động FDI Mỹ, từ lý do Mỹ đầu tư ra nước ngoài, các
nhân tố quyết định dòng FDI Mỹ, đến hiệu quả của FDI Mỹ, vai trò của FDI
Mỹ ra nước ngoài đối với nền kinh tế Mỹ… Tuy nhiên, chưa có những
nghiên cứu sâu và cụ thể nào về dòng vốn đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt
Nam hoặc các nghiên cứu về dòng vốn đầu tư của Mỹ vào Việt Nam chỉ là
một phần rất nhỏ trong những nghiên cứu về FDI của Mỹ ra nước ngoài. Vì
5
thế, phần này chỉ nêu một số nghiên cứu nước ngoài và nhóm lại thành các
vấn đề nghiên cứu về FDI của Mỹ ra nước ngoài, từ đó có thể có sự liên hệ
đến dòng FDI Mỹ vào Việt Nam.
(i) Nguyên nhân Mỹ đầu tư ra nước ngoài
Hiện tượng các nhà đầu tư Mỹ tìm kiếm các cơ hội đầu tư ở bên ngoài
đã được khá nhiều học giả nghiên cứu và đề cập như Joosung Jun (1990)
trong nghiên cứu “U.S. Tax Policy and Direct Investment Abroad” [121,
tr.55], bằng phương pháp thực nghiệm tác giả đã chứng minh rằng chính sách
thuế của Mỹ trong giai đoạn đó là một trong những nguyên nhân thúc đẩy
các nhà đầu tư Mỹ đầu tư ra nước ngoài bởi vì họ so sánh hiệu quả sử dụng
vốn giữa đầu tư tại Mỹ với đầu tư ở nước ngoài, đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài thu được lợi nhuận lớn hơn rất nhiều lần so với đầu tư trong nước.
Trong cuốn sách tựa đề “Why does U.S. Investment Abroad Earn Higher
Returns Than Foreign Investment in the United States?” của Douglas Hotlz
Eakin (2005) [99, tr.1] cũng có nhận định tương tự bằng phương pháp chứng
minh thực nghiệm khi sử dụng số liệu từ năm 1982 đến năm 2004 cho ra kết
quả FDI của Mỹ ra nước ngoài kiếm được lợi nhuận trung bình là 7,6%/năm
trong khi đầu tư tại Mỹ chỉ kiếm được lợi nhuận là 2,2%/năm.
Richard W.Brown (2001) trong nghiên cứu “Examination of U.S.
inbound and outbound Direct Investment” [134, tr.3] đã chỉ ra các nguyên
nhân khác khiến các nhà đầu tư Mỹ phải đầu tư ra nước ngoài để tìm kiếm
lợi nhuận và tránh những rủi ro do phải cạnh tranh ngay tại Mỹ. Có cùng
quan điểm trên là các tác giả khác: Douglas Hotlz Eaki và cộng sự (2005)
trong nghiên cứu “Why Does U.S. Investment Abroad Earn Higher Returns
Than Foreign Investment in the United States?” [99, tr.1]; Marcela Meirelles
Aurelio (2006) “Going Global: The Changing Pattern of U.S. Investment
Abroad” [126] các tác giả này chỉ ra rằng để tối đa hoá lợi nhuận, các công
ty xuyên quốc gia (TNC) sẽ tìm cách tăng giảm báo cáo lợi nhuận của công
ty con tại những nước có mức thuế cao nhằm tối đa hoá lợi nhuận.
Ngoài ra, trong các nghiên cứu của James K.Jackson (2008, 2011,
6
2012) [119], [120] còn cho rằng FDI của Mỹ ra nước ngoài một phần là tận
dụng lợi thế chi phí lao động thấp hơn, còn phần lớn là hướng tới phục vụ thị
trường mà họ đặt chi nhánh và đẩy mạnh xuất khẩu của công ty họ ra nước
ngoài.
(ii) Nhân tố tác động tới FDI của Mỹ ra nước ngoài
Vấn đề này đã được một nhóm tác giả của Office of Industries của
United Stades International Trade Commission mà người đứng đầu dự án là
Richard W.Brown (2001) [134] với phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
khi khảo sát cả đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào Mỹ giai đoạn 1990 - 1998. Công trình nghiên cứu đã cho thấy một cách
khái quát những nhân tố quyết định đến luồng vốn đầu tư của các nhà đầu tư
của Mỹ đầu tư trong nước và đầu tư ra thế giới tuỳ thuộc vào tính hấp dẫn
của mỗi ngành, mỗi nước. (1) Tiềm lực kinh tế của nước nhận đầu tư, tiềm
lực của nền kinh tế được thể hiện qua tổng sản phẩn quốc nội (GDP) và dự
trữ quốc gia của nước đó, gồm các nhân tố như GDP bình quân đầu người,
trình độ của người lao động, tiền lương, chính sách thuế, quyền sở hữu trí
tuệ, hàng rào thương mại và chi phí vận tải, chính sách tỷ giá hối đoái,... (2)
Các công ty và các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao thu được
nhiều vốn đầu tư của Mỹ hơn, trong ngành sản xuất hàng tiêu dùng thì chi
phí quảng cáo có tính chất quyết định mức độ thu hút FDI Mỹ các công ty
lớn có khả năng thu hút được vốn FDI Mỹ nhiều hơn các doanh nghiệp nhỏ,
các công ty là đối thủ cạnh tranh của nhau thì dễ thu hút vốn đầu tư của nhau.
Đồng quan điểm với tác giả này, Marcela Meirelles Aurelio (2006) [126],
trong nghiên cứu “Going Global: The Changing Pattern of U.S. Investment
Abroad” đã phân tích khá chi tiết dưới góc độ cả lý luận và thực tiễn về
những yếu tố quyết đầu tư của Mỹ. Các nhà đầu tư Mỹ thích đầu tư vào lĩnh
vực tài chính như cổ phiếu hoặc trái phiếu ở các nước phát triển có sự tương
đồng về mặt thể chế, cơ sở hạ tầng, thu nhập... để tối đa hóa lợi nhuận và
phân tán rủi ro.
U.S. Chamber of Commerce (2015) trong “Secure U.S. Investment
7
Overseas” [141] cho rằng các TNC khi tiến hành FDI ra nước ngoài cũng
gián tiếp tạo thêm việc làm cho lao động Mỹ. Đa số các công việc này là do
các TNC đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển, là công việc
dành cho các chuyên gia Mỹ có kỹ năng cao với mức lương tương ứng.
Ngoài ra, U.S. Chamber of Commerce còn cho biết thêm rằng Chính phủ Mỹ
khá chú trọng tới đàm phán các hiệp định đầu tư song phương (BIT) nhằm
bảo đảm lợi ích và bảo vệ nhà đầu tư Mỹ khi đầu tư ra nước ngoài. BIT được
Chính phủ Mỹ thực hiện không chỉ với mục đích bảo vệ tài sản của các nhà
đầu tư Mỹ ở nước ngoài mà còn nhằm tạo ra sân chơi bình đẳng cho các nhà
đầu tư Mỹ bằng cách nghiêm cấm hoặc hạn chế tối đa phân biệt đối xử với
các công ty Mỹ. Ngoài ra, BIT còn đảm bảo tính minh bạch đối với luật và
các quy định liên quan đến đầu tư, BIT đưa ra các giải pháp trong tranh chấp
đầu tư trong trường hợp bị tước quyền sở hữu. Có thể nói, Chính phủ Mỹ sử
dụng BIT như một công cụ để khuyến khích các nhà đầu tư Mỹ đầu tư ra
nước ngoài phù hợp với định hướng của Chính phủ.
(iii) Vai trò và hiệu quả của FDI Mỹ ra nước ngoài đối với nền kinh tế Mỹ
Nghiên cứu của nhóm tác giả thuộc Office of Industries của United
Stades International Trade Commission (2001) [132] cho rằng có sự liên kết
chặt chẽ giữa các dòng vốn FDI ra nước ngoài của Mỹ và thương mại của
Mỹ qua biên giới, trong đó nhấn mạnh vai trò của cả dòng FDI ra và vào Mỹ
trong việc xuất nhập khẩu hàng hóa, nghiên cứu và phát triển, thu nhập và
việc làm,... của Mỹ. FDI ra nước ngoài của Mỹ ngày càng có đóng góp quan
trọng vào GDP của Mỹ, nó biểu hiện qua tài sản thuộc quyền sở hữu của Mỹ
ở nước ngoài ngày càng tăng, nghiên cứu của Marcela Meirelles Aurelio
(2006) [126] kết luận rằng tài sản của Mỹ ở nước ngoài chiếm 40% GDP của
Mỹ năm 1990, nhưng đến năm 2005 con số này là 89%. Laura Alfaro và
Andrew Charlton (2007) có quan điểm tương tự khi nghiên cứu về vai trò
của FDI đã đề cập và phân tích vấn đề chất lượng của FDI đối với tăng
trưởng kinh tế. Bằng các phương pháp định lượng, các nghiên cứu đã chỉ ra
rằng tác động của FDI đến chất lượng tăng trưởng kinh tế của các nước tiếp
8
nhận đầu tư còn do chất lượng nguồn vốn FDI.
Trái ngược với quan điểm của các tác giả trên về đánh giá hiệu quả của
FDI ra nước ngoài của Mỹ những năm gần đây, Fabienne Fortanier (2007)
[106] đưa ra bằng chứng thực tế về quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế
là chưa thật rõ ràng. Nghiên cứu này sử dụng số liệu từ 1989 - 2002 phân tích
sự khác nhau về hiệu quả của FDI ở các nước. Kết quả phân tích cho thấy kết
quả của FDI là khác nhau với mỗi nước tùy thuộc vào đặc điểm của từng
nước nhận đầu tư và tăng trưởng FDI khác nhau với các nước đầu tư khác
nhau.
Còn trong nghiên cứu của James K.Jackson (2008) về “U.S Direct
Investment Abroad: Trends and Current Issues” [119, tr.2] đã cho rằng giai
đoạn từ năm 2002 đến năm 2007 tổng số tiền đầu tư ra nước ngoài của Mỹ
trung bình nhiều gấp 2 lần đầu tư cho nền kinh tế Mỹ, nó phản ánh giai đoạn
nền kinh tế Mỹ tăng trưởng chậm và việc làm trong nước của họ giảm sút do
các công ty xuyên quốc gia của Mỹ bị mất dần thị phần trong nước khi tăng
đầu tư mở rộng chi nhánh ở nước ngoài. Nhưng ở một nghiên cứu khác của
James K.Jackson (2011) [119], hầu hết các nhà kinh tế Mỹ đều kết luận rằng
xét một cách tổng thể đầu tư trực tiếp ra nước ngoài không dẫn đến việc làm
ít hơn hoặc thu nhập thấp hơn cho người dân Mỹ và phần lớn việc làm bị mất
giữa các công ty sản xuất của Mỹ trong thập kỷ qua là phản ánh việc tái cơ
cấu ngành công nghiệp chế tạo Mỹ một cách rất sâu rộng. Một nghiên cứu
khác của nhóm tác giả Harvard College như Mihir A. Desai, C. Fritz Foley,
and James R. Hines Jr. (2011) [128] nghiên cứu về “Tax Policy and the
Efficiency of US Direct Investment Abroad” cũng kết luận rằng hoạt động
của FDI ra nước ngoài của Mỹ trong thời gian trước 2011 không hiệu quả khi
họ so sánh giữa khoản đầu tư ra nước ngoài với khoản lợi nhuận thu về nước
trong năm 2010, do vậy, chính sách thuế hiện hành của Mỹ đang ưu đãi đối với
các doanh nghiệp FDI tại Mỹ [128].
Các nghiên cứu trên đều khẳng định FDI ra nước ngoài của Mỹ trong
thời gian gần đây là không hiệu quả. Do vậy, xu hướng FDI ra nước ngoài
9
của Mỹ đã có sự thay đổi, vấn đề này được các nhà nghiên cứu phân tích rất
rõ tình hình và xu hướng đầu tư của Mỹ ra nước ngoài từ năm 1990 đến năm
2011 ở các các công trình nghiên cứu của nhóm tác giả thuộc Office of
Industries của United Stades International Trade (2001) [132], Marcela
Meirelles Aurelio (2006), James K. Jackson (2008, 2011) đã đề cập ở trên.
Do vậy, ở Mỹ hiện nay người ta lại quan tâm nhiều hơn đến hiệu quả
FDI Mỹ đầu tư trong nước. Một nghiên cứu khác của The National
Association of Realtors (2010) về “Xu hướng hiện nay và bối cảnh lịch sử
của FDI tại Mỹ vào lĩnh vực bất động sản” cho thấy FDI Mỹ vào lĩnh vực
thương mại và bất động sản ở Mỹ có xu hướng trái ngược nhau trong năm
2009 và 2010. Nếu đầu tư vào lĩnh vực thương mại giảm 90% thì đầu tư vào
lĩnh vực bất động sản tăng gấp đôi xét trong cùng khung thời gian. Mặc dù
vậy, đầu tư vào lĩnh vực thương mại sẽ được cải thiện theo nguyên tắc của thị
trường khi giá cả hấp dẫn, cộng với sự suy yếu của đồng USD so với các
ngoại tệ khác là lực hút đối với các nhà đầu tư nước ngoài quay lại Hoa Kỳ
đầu tư vào lĩnh vực này [136]. Một nghiên cứu khác của James K. Jackson
(2012) “Foreign Direct Investment in the United States: An Economic
Analysis” kết luận rằng FDI vào Mỹ không chỉ góp phần thúc đẩy tăng việc
làm, mà còn thúc đẩy mức tăng trưởng GDP của Mỹ tăng gần gấp đôi [120].
Các nghiên cứu trên đều cho thấy trong những năm gần đây vốn đầu tư
của Mỹ chảy vào các nước phát triển chiếm khoảng 70%, vào các nước
ASEAN (bao gồm cả Việt Nam) không đáng kể. Sau cuộc khủng hoảng tài
chính và suy thoái kinh tế toàn cầu bắt nguồn từ Mỹ và lan rộng trên phạm vi
toàn cầu, những bất ổn kinh tế của các nước phát triển đang bộc lộ ngày càng
rõ nét. Bên cạnh đó, nền kinh tế của các nước mới nổi phát triển mạnh và ổn
định hơn, triển vọng chia sẻ rủi ro tốt hơn, câu hỏi đặt ra là đầu tư của Mỹ có
thay đổi xu hướng đầu tư truyền thống của mình không?
1.2. Nghiên cứu trong nước
Ở trong nước, thu hút FDI, nhất là từ các nước phát triển là chủ trương
lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Luật Đầu tư nước ngoài đầu tiên ra đời
10
năm 1987 là một minh chứng. Chủ trương này đòi hỏi các nhà nghiên cứu lý
luận và thực tiễn phải giải đáp thấu đáo vấn đề FDI. Cho đến nay các nghiên
cứu về FDI tại Việt Nam là khá phong phú, đa dạng và được cập nhập
thường xuyên. Các công trình nghiên cứu này đã được đăng tải dưới dạng
sách, tạp chí, báo giấy, các báo mạng, trong đó có rất nhiều công trình nghiên
cứu có tính chất chuyên sâu. Các nghiên cứu chủ yếu quan tâm đến tác động
lan tỏa của FDI tới tăng trưởng kinh tế hay phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Nguyễn Mại (2003) [36], Freeman (2002) [107] trong công trình
nghiên cứu chung “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng
kinh tế ở Việt Nam” đã nghiên cứu tổng quát hoạt động FDI ở Việt Nam cho
tới năm 2002 và đều đi đến kết luận rằng FDI có tác động tích cực tới tăng
trưởng kinh tế thông qua kênh đầu tư và cải thiện nguồn nhân lực. Tác động
tràn của FDI cũng xuất hiện ở ngành công nghiệp chế biến nhờ di chuyển lao
động và áp lực cạnh tranh. Nguyễn Thị Hường và Bùi Huy Nhượng (2003)
[26] rút ra một số bài học cho Việt Nam thông qua việc so sánh chính sách
thu hút FDI ở Trung Quốc và Việt Nam trong thời kỳ 1979 - 2002. Đoàn
Ngọc Phúc (2004) [47] phân tích thực trạng của FDI trong thời kỳ 1988 -
2003 và kết luận tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam phụ thuộc nhiều vào khu
vực có vốn FDI. Một nghiên cứu khác của Nguyễn Phi Lân (2006) [31] cho
rằng FDI và tăng trưởng kinh tế là những yếu tố quyết định quan trọng của
nhau, quan hệ giữa FDI và đầu tư trong nước ở Việt Nam là bổ sung nhau.
Đồng quan điểm với các nghiên cứu trên, Lê Việt Anh (2007), Hossein
Varamini và Anh Vu (2007) cho rằng trong khi có rất nhiều nghiên cứu về
mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế, nhưng lại có rất ít nghiên cứu
mang tính thực nghiệm.
Đề xuất điều chỉnh tạo dựng môi trường đầu tư hấp dẫn theo hướng
nâng cao chất lượng nguồn vốn đầu tư nước ngoài đã được thể hiện trong
nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuấn (2005) “Tự do hoá đầu tư và yêu cầu đặt
ra đối với việc hoàn thiện môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt
Nam” [72]; có cùng quan điểm nhưng muốn cụ thể hơn trong việc tạo dựng
11
môi trường đầu tư hấp dẫn và mong muốn xây dựng kênh xúc tiến đầu tư
phát triển là của Nguyễn Hồng Sơn (2006): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI): Triển vọng thế giới và thực tiễn Việt Nam” [52]; Nguyễn Xuân Thắng
(2006): “Nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng FDI của Việt Nam trong tiến
trình hội nhập” [63]; Trần Thị Ngọc Quyên (2007): “Xúc tiến đầu tư - một
trong những yếu tố nhằm tăng cường hiệu quả thu hút FDI” [50]; Nguyễn
Thị Kim Anh (2012): “Môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam” [1].
Phạm Xuân Kiên (2008) [30] khẳng định tác động lan tỏa của FDI đối
với năng suất lao động ở Việt Nam là tích cực và rất rõ ràng, nó có vai trò
quan trọng đối với phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển như Việt
Nam. Phân tích định lượng của Nguyễn Thị Cành và Trần Hùng Sơn (2009)
[11] cho kết quả trong giai đoạn 1990 - 2008 ở Việt Nam, khi các yếu tố khác
không đổi, tỷ trọng FDI giải ngân/GDP tăng lên 1% thì GDP tăng thêm
0,194%. Hoàng Thị Thu (2009) [64] đã dùng phương pháp định lượng chỉ ra
các nhân tố: thu nhập đầu người cao, tốc độ tăng trưởng GDP cao, cơ sở hạ
tầng tốt, và độ mở đối với thương mại là rất quan trọng để thu hút FDI vào
Việt Nam giai đoạn 1995-2006. Ngoài ra theo tác giả, chi phí lao động thấp
cũng là một nhân tố thu hút FDI của Việt Nam thời gian trên. Tuy nhiên,
cũng trong giai đoạn này, nghiên cứu cho thấy chất lượng lao động cao và sự
phát triển cơ sở hạ tầng chưa phải là nhân tố thu hút FDI vào Việt Nam. Vì
vậy, tác giả có khuyến nghị Chính phủ cần chú ý nhiều hơn đến 2 nhân tố này.
Nếu như Hoàng Thị Thu (2009) nghiên cứu về các nhân tố thuộc môi
trường bên trong tác động đến dòng FDI vào Việt Nam thì Đỗ Hoàng Long
(2008) [33] lại nghiên cứu các nhân tố bên ngoài. Đây là công trình nghiên
cứu chủ yếu về tác động của toàn cầu hóa đến lượng vốn và cơ cấu dòng FDI
vào Việt Nam trong quá trình hội nhập của Việt Nam. Tiến trình toàn cầu
hoá kinh tế có một số đặc trưng cơ bản liên quan tới xu hướng vận động của
dòng FDI trên thế giới. Từ các đặc trưng của toàn cầu hoá kinh tế, tác giả
phân tích các kênh tác động của toàn cầu hoá kinh tế đối với sự vận động của
dòng FDI và trên cơ sở đó xây dựng mô hình cơ chế tác động của toàn cầu
12
hoá đối với dòng FDI. Tác giả cũng phân tích tác động của toàn cầu hoá kinh
tế đối với việc cải thiện môi trường FDI của Việt Nam, đối với giá trị và cơ
cấu FDI vào Việt Nam qua các kênh môi trường đầu tư, thị trường và các yếu
tố nguồn lực sản xuất.
Một công trình nghiên cứu vừa tổng quát và vừa chuyên sâu của
Nguyễn Xuân Trung (2011) về “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 2011-2020” [69] đã cho
thấy một cách nhìn toàn diện, cách đánh giá mới về chất lượng FDI hiện nay
mà các tác giả trước đây chưa đề cập đầy đủ. Tác giả đã phân tích rất chi tiết
về chất lượng FDI gắn với phát triển bền vững tại Việt Nam như hiệu quả
đầu tư; FDI và các cân đối vĩ mô; FDI với các vấn đề bảo vệ môi trường,
chuyển giao công nghệ; sự liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh
nghiệp nước ngoài và khả năng tham gia mạng sản xuất khu vực và thế giới
của Việt Nam. Bên cạnh đó tác giả còn phân tích bối cảnh quốc tế mới tác
động đến dòng FDI trên thế giới và nhận định dòng FDI vào Việt Nam trong
bối cảnh mới ở trong nước và trên thế giới gắn chặt với Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội của Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2020. Đặc biệt là, tác
giả đã chỉ ra những mặt tích cực, tiêu cực và hạn chế hoặc chưa phù hợp của
FDI tại Việt Nam, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
FDI tại Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2020.
Các nghiên cứu về FDI của Mỹ vào Việt Nam chủ yếu xuất hiện trong
báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư về tổng kết
đánh giá tình hình FDI của Việt Nam hàng năm; hoặc xuất hiện trong các báo
điện tử, v.v… Nhưng hầu hết các nghiên cứu này chỉ dừng lại ở mức thông
tin như tăng giảm số lượng vốn đầu tư và vốn giải ngân, chỉ có một số ít
nghiên cứu có tính chất chuyên sâu. Nghiên cứu về FDI của Mỹ vào Việt
Nam cũng có thể thấy dưới dạng chương sách trong một số công trình nghiên
cứu với một số điểm có thể được tóm tắt theo chủ đề như sau:
(i) FDI vì mục tiêu lợi nhuận và tạo tụ điểm lợi ích kinh tế
Cùng quan điểm với các nhà nghiên cứu nước ngoài kể trên, trong bài
13
nghiên cứu “Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Mỹ - Một số vấn đề và ý
kiến” của Nguyễn Thiết Sơn (1993) [57] cho rằng đầu tư trực tiếp của Mỹ ra
nước ngoài không chỉ để kiếm lời mà còn nhằm biến nơi có đầu tư của Mỹ
thành tụ điểm của những lợi ích kinh tế, vì thế cần tận dụng cơ hội thu hút
đầu tư trực tiếp của Mỹ để Việt Nam dần trở thành tụ điểm của những lợi ích
kinh tế trong khu vực.
(ii) Phản ánh những động thái về mức độ tăng giảm lượng vốn hoặc số
lượng dự án
Trong nghiên cứu của Lê Kim Sa (2002) về “Đầu tư nước ngoài của
Mỹ ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trong những năm cuối thế kỷ XX”
[51, tr.16-24], tác giả mới chỉ cho thấy tình hình đầu tư của Mỹ vào khu vực
này từ 1990 đến năm 2000, mà chưa phân tích FDI của Mỹ vào Việt Nam
giai đoạn này như thế nào? Nhưng kết quả nghiên cứu đã cho thấy những sự
điều chỉnh rõ rệt trong chính sách đầu tư của Mỹ vào khu vực này: (1)
Chuyển hướng đầu tư từ Bắc Mỹ sang Đông Á để phục vụ chính sách mở
rộng thương mại, (2) Tăng nhanh lượng vốn vào các thị trường mới nổi ở
Châu Á, (3) Tăng cường hoạt động đầu tư ở tầm vi mô để kiểm soát hoạt
động của các công ty này…
Công trình tiêu biểu về chủ đề này là của MPI - STAR - Việt Nam,
2007: “Đánh giá hoạt động của 5 năm triển khai Hiệp định Thương mại song
phương Việt Nam - Hoa Kỳ đối với thương mại, đầu tư và cơ cấu kinh tế của
Việt Nam” [40]; MPI - STAR - Việt Nam, 2005: “MPI - Star - Việt Nam
(2005): “Tác động của Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa
Kỳ đến đầu tư trực tiếp của Mỹ tại Việt Nam” [41]. Các đánh giá này đã chỉ
ra những thay đổi khá tích cực sau khi Việt Nam và Mỹ ký BTA năm 2001,
đồng thời cũng cho biết lượng vốn cũng như số dự án được thống kê bao
gồm cả nguồn vốn và dự án đến từ các công ty con của Mỹ đặt tại nước thứ
ba.
Nguyễn Xuân Trung (2006) [67, tr.3-17], tác giả không chỉ cho thấy
những đặc điểm cơ bản, chiến lược đầu tư của các TNC Mỹ mà còn phân tích
14
đánh giá tình hình đầu tư của TNC Mỹ vào Việt Nam từ năm 2000 đến năm
2005. Bên cạnh đó, tác giả đã đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư của các
TNC Mỹ tại Việt Nam trong giai đoạn này và đặt ra những vấn đề đối với
Việt Nam trong việc thu hút các TNC của Mỹ, trong đó nhấn mạnh Việt Nam
cần có chiến lược thu hút các TNC Mỹ, cải thiện môi trường kinh doanh, đào
tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao,… để thu hút được các TNC Mỹ vào
Việt Nam.
Có cùng quan điểm trên còn có các tác giả Lại Lâm Anh và Vũ Xuân
Trường (2007): “Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam: Thực trạng và
triển vọng” [3]; Nguyễn Đồng Anh Xuân (2011): “Giải pháp tăng cường thu
hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Hoa Kỳ vào Việt Nam” [73]; Phạm Thị
Hiếu (2012): “Đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam sau khủng hoảng tài
chính” [22]; Trần Minh Nguyệt (2009): “Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ ở Việt
Nam” [43]; Nguyễn Minh Tuấn (2007): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài của
Mỹ tại Việt Nam: Thực trạng và triển vọng” [71]; …
(iii) Đánh giá chất lượng FDI của Mỹ tại Việt Nam
Bên cạnh việc phản ánh những động thái tăng giảm lượng vốn và số
lượng dự án, các nghiên cứu cũng đưa ra các đánh giá về chất lượng FDI của
Mỹ tại Việt Nam như:
Về bổ sung vốn cho tăng trưởng kinh tế và đẩy mạnh phát triển thị
trường tài chính, Nguyễn Mại (2008) [38] cho rằng sau khi ký kết BTA, FDI
của Mỹ vào Việt Nam chưa đạt được mức tăng trưởng cần thiết, so với các
nước trong khu vực, vốn FDI của Mỹ vào Việt Nam còn quá khiêm tốn, tuy
nhiên với việc cải thiện môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh, các nhà
đầu tư hàng đầu quốc tế ngày càng quan tâm đến thị trường vốn của Việt
Nam. Khoảng 1/3 đến 1/2 vốn luân chuyển qua các quỹ đầu tư nước ngoài là
của người Mỹ vào thời điểm năm 2006 [38]. Có cùng quan điểm trên còn có
các nghiên cứu của Phạm Thị Hiếu (2012) [22]; Lại Lâm Anh và Vũ Xuân
Trường (2007) [3]; Nguyễn Đồng Anh Xuân (2011) [73]; Phùng Xuân Nhạ
(2009) [44]: “Nhìn lại vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong bối cảnh
15
phát triển mới của Việt Nam”.
Về góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam, có các nghiên cứu
của Phạm Thị Hiếu (2012) [22]; Lại Lâm Anh và Vũ Xuân Trường (2007)
[3]; Nguyễn Đồng Anh Xuân (2011) [73]… Các tác giả đều đánh giá FDI nói
chung và FDI của Mỹ nói riêng đã có tác động nhất định tới dịch chuyển cơ cấu
kinh tế Việt Nam theo hướng nâng cao tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ.
Về góp phần chuyển giao công nghệ và trình độ quản lý tiên tiến, có
các nghiên cứu của Phạm Thị Hiếu (2012) [22]; Lại Lâm Anh và Vũ Xuân
Trường (2007) [3]; Nguyễn Đồng Anh Xuân (2011) [73]; Phùng Xuân Nhạ
(2009) [44]… đều có đánh giá Việt Nam đang có những thay đổi tích cực nhờ
tiếp nhận công nghệ hiện đại và trình độ quản lý tiên tiến thông qua việc tiếp
nhận FDI nói chung và FDI của Mỹ nói riêng.
Góp phần giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, đào tạo nghề cho
lao động Việt Nam là nhận định của hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về
FDI như Phạm Thị Hiếu (2012) [22]; Lại Lâm Anh và Vũ Xuân Trường
(2007) [3]; Nguyễn Đồng Anh Xuân (2011) [73]; Phùng Xuân Nhạ (2009) [44].
Trong nghiên cứu tác động lan toả tích cực của FDI đến phát triển các
ngành kinh tế Phạm Thị Hiếu (2012) [22] cũng nhận định những tác động lan
toả này chưa tạo được những tác động tốt cho ngành công nghiệp phụ trợ ở
Việt Nam.
(iv) Nhiều nghiên cứu cũng phân tích các vấn đề do đầu tư trực tiếp
của Mỹ vào Việt Nam đặt ra:
Vấn đề mất cân đối về đầu tư vùng miền và ngành nghề là nhận xét đã được
nhiều nghiên cứu chỉ ra như các nghiên cứu của Phạm Thị Hiếu (2012) [22];
Lại Lâm Anh và Vũ Xuân Trường [3]; Nguyễn Đồng Anh Xuân (2011) [73]….
Các nghiên cứu này đã phân tích sự mất cân đối vùng miền, ngành nghề
nhưng chưa đưa ra được những biện pháp hoặc những gợi ý phù hợp để cải
thiện tình hình.
Dòng FDI của Mỹ vào Việt Nam được đánh giá là không ổn định qua
16
các năm và ở mức rất thấp so với tiềm năng, điều đó được thể hiện trong các
nghiên cứu của Phạm Thị Hiếu (2012) [22]; Lại Lâm Anh và Vũ Xuân
Trường (2007) [3], Nguyễn Minh Tuấn (2007) [71]…
Dòng FDI của Mỹ vào Việt Nam trong thời gian gần đây được đánh
giá là không tập trung vào các ngành công nghiệp sản xuất mà vào khu vực
dịch vụ (chủ yếu là vào kinh doanh khách sạn và bất động sản). Vấn đề này
đã được phân tích trong nghiên cứu của Phạm Thị Hiếu (2012) [22].
Cũng chỉ ra những vấn đề đối với Việt Nam khi nhận FDI Mỹ nhưng
theo góc nhìn khác là tập thể tác giả Đỗ Vũ Hưng, Nguyễn Xuân Trung và
Nguyễn Đức Hùng (2012) [25] trong“Rào cản môi trường kinh doanh: Đánh
giá từ góc nhìn của các doanh nghiệp Mỹ”. Nhóm tác giả cho ra rằng, Việt
Nam có tiềm lực để thu hút dòng vốn FDI của Mỹ nhưng lại đang tự làm khó
mình khi bản thân môi trường FDI của Việt Nam vẫn còn những rào cản lớn
đối với các nhà đầu tư Mỹ, trong khi các quốc gia trong khu vực như Thái
Lan, Malaysia, Indonesia… đã nỗ lực cải thiện môi trường FDI theo hướng
thông thoáng. Trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài nói chung và Mỹ nói
riêng, Việt Nam tuy có thay đổi về môi trường đầu tư nhưng chưa thực hiện
một cách mạnh mẽ và triệt để các cam kết cải thiện môi trường đầu tư và thứ
hạng về môi trường đầu tư của Việt Nam vẫn đang ở vị trí thấp so với các
nước trong khu vực và trên thế giới; các chỉ tiêu về bảo vệ nhà đầu tư của
Việt Nam còn kém; các doanh nghiệp thuộc khối nước ngoài gần như không
được tham gia vào quá trình xây dựng chính sách cải thiện môi trường đầu
tư; chất lượng cơ sở hạ tầng của Việt Nam là thấp, lao động giá rẻ nhưng
trình độ đào tạo nghề và chất lượng lao động thấp, tình hình chính trị ổn định
nhưng tham nhũng cao, khung khổ pháp lý có cải thiện nhưng còn chồng
chéo, thủ tục hành chính còn rườm rà… Tương tự như nhóm tác giả trên,
Nguyễn Bùi Anh Tuấn (2010) [70] cho rằng các ngành và khu vực kinh tế tư
nhân xứng đáng nhận được trợ giúp từ nguồn lực hạn hẹp của nhà nước để có
thể đóng góp tốt nhất cho sự tăng trưởng và phát triển tổng thể đất nước.
Những chính sách bảo hộ không nên kéo dài quá lâu, bởi vì kéo dài quá lâu,
17
các ngành được bảo hộ có thể sẽ trở nên kém sức cạnh tranh và năng suất
thấp. Nhà nước nên có một lộ trình rõ ràng và thực hiện đúng lộ trình đã đề
ra trong việc mở cửa để các ngành được bảo hộ đối mặt với cạnh tranh, nên
đánh giá sự cân bằng giữa các chi phí và lợi ích tiềm tàng khi áp dụng các
rào cản hạn chế cạnh tranh để bảo vệ các ngành trong nước.
Một số nghiên cứu về môi trường kinh doanh ở Việt Nam đã chỉ ra
rằng cơ sở hạ tầng vẫn là cản trở lớn nhất đối với sự phát triển của doanh
nghiệp. Vấn đề thiếu điện và không ổn định, cảng biển tắc nghẽn, giao thông
đường bộ yếu kém, tất cả đều ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Điều này làm tăng chí phí kinh doanh, do đó làm giảm
tính cạnh tranh của các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế Việt Nam.
Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (IPR) vẫn là lĩnh vực tiếp tục bị các doanh
nghiệp đánh giá thấp, đặc biệt là đánh giá từ khối doanh nghiệp nước ngoài,
mặc dù Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) từ đầu
2007, và Luật Sở hữu trí tuệ đã có hiệu lực từ đầu năm 2006. Hệ thống tòa án
và thực thi pháp luật đang trở thành một vấn đề nóng, cần phải xem xét, điều
chỉnh. Hiệu quả của dịch vụ hành chính thấp tiếp tục là vấn đề tồn tại mà
chính phủ phải nỗ lực giải quyết. Ngoài ra có nhiều quan ngại về việc luật lệ
chi phối các hoạt động kinh doanh được xây dựng không rõ ràng, thiếu nhất
quán dẫn đến việc diễn giải pháp luật tùy tiện và tạo điều kiện cho trục lợi,
tham nhũng phát sinh. Thêm vào đó, các doanh nghiệp hoạt động tại Việt
Nam vẫn đang phải đối mặt với những khó khăn trong việc tìm và thuê lao
động có tay nghề. Nguyễn Xuân Thành (2010) [59] cho rằng thách thức cơ
sở hạ tầng quan trọng nhất đối với Việt Nam là sự thiếu hiệu quả trong đầu tư
cơ sở hạ tầng chứ không phải mức đầu tư không thỏa đáng. Kinh nghiệm
phát triển cho thấy đầu tư khoảng 7% GDP vào cơ sở hạ tầng là qui mô vừa
đủ để duy trì tăng trưởng cao và bền vững. Trong khoảng thời gian 12 năm
vừa qua, Chính phủ Việt Nam đã duy trì mức đầu tư cơ sở hạ tầng đạt mức
10% GDP. Mức đầu tư rất cao này đã mang lại kết quả phát triển nhanh
chóng khối lượng cơ sở hạ tầng và mức độ tiếp cận sử dụng. Mặc dù cơ sở hạ
18
tầng Việt Nam đã được cải thiện, nhưng chưa đạt được mức mong đợi. Việt
Nam vẫn đang phải đối mặt với những yếu kém về cơ sở hạ tầng và điều này
đã tác động tiêu cực đến thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng như duy trì tăng
trưởng kinh tế cao trong dài hạn của Việt Nam. Giao thông vận tải và điện,
hai hoạt động hạ tầng thiết yếu nhất, lại tỏ ra là hai lĩnh vực cơ sở hạ tầng
yếu kém nhất ở Việt Nam. Tô Trung Thành và cộng sự (2009) [58] trong
“Báo cáo Môi trường Kinh doanh ở Việt Nam” đã tổng hợp, đánh giá, phân
tích các nghiên cứu, báo cáo liên quan tới môi trường kinh doanh Việt Nam
và đi tới kết luận rằng phần lớn các báo cáo và nghiên cứu đều có chung
nhận định là môi trường ở Việt Nam chưa được đánh giá cao, xếp hạng rất
thấp trên thế giới và so với các nước trong khu vực. Trong nhiều trường hợp
đã tác động một cách tiêu cực đến năng lực cạnh tranh và hoạt động sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế nói chung, các doanh
nghiệp tư nhân vừa và nhỏ nói riêng.
Phùng Xuân Nhạ (2009) [44] còn chỉ rõ rằng chất lượng thu hút FDI
còn thấp, thiếu tính bền vững, chưa hình thành được các ngành công nghiệp
phụ trợ liên kết sản xuất theo chuỗi cung ứng hàng hoá.
Nguyễn Trung (2006):“20 năm đổi mới, vẫn “chưa thân thiện” với
FDI” [66] cũng chỉ ra rằng chính sách thu hút FDI của Việt Nam không
mang tính lâu dài, còn bị chi phối bởi những tư duy cũ và chưa tạo được chữ
tín đối với các nhà đầu tư.
Các nghiên cứu đã phân tích và đưa ra những đánh giá tích cực và hạn
chế của FDI là khá xác đáng. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu chưa nêu ra được
nguyên nhân của những hạn chế trên để từ đó đánh giá đúng đắn hơn về
những mặt hạn chế cũng như đưa ra các giải pháp phù hợp.
(v) Đề xuất cải thiện môi trường đầu tư tại Việt Nam và đánh giá triển vọng
Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Trung và Lê Hải Hà (2009) [68] đã cho
thấy những nhân tố, hay sự “Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu
đối với đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam”. Ngoài ra, các tác giả còn phân
19
tích những phản ứng chính sách của Việt Nam và đề xuất ý kiến Việt Nam
nên ưu tiên vào những dự án để thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ
và những dự án có tốc độ lan tỏa lớn đối với nền kinh tế.
Các đề xuất của nhiều tác giả thường nhấn mạnh đến vấn đề cải thiện
môi trường đầu tư nói chung tại Việt Nam và chưa đưa ra được những định
hướng cụ thể về cải thiện môi trường đầu tư hấp dẫn những dự án đầu tư của
Mỹ. Đó là các tác giả Lại Lâm Anh và Vũ Xuân Trường (2007) [3], Nguyễn
Đồng Anh Xuân (2011) [73], Phạm Thị Hiếu (2012) [22], Dự án Star - Việt
Nam (2002, 2005 và 2007) [42], [41], [40], Trần Minh Nguyệt (2009) [43],
Nguyễn Minh Tuấn (2007) [71].
Nghiên cứu của Nguyễn Thiết Sơn (2010) [54] đã phân tích và đánh
giá một cách tổng thể thực trạng FDI của Mỹ vào Việt Nam, từ việc phân
tích số lượng tăng giảm vốn FDI Mỹ, cơ cấu FDI của Mỹ đầu tư vào Việt
Nam, những đóng góp của nguồn vốn này đối với kinh tế xã hội của Việt
Nam, đến việc phân tích những mặt tích cực và tiêu cực của FDI Mỹ từ năm
2001 đến 2008. Ngoài ra, tác giả cũng đánh giá triển vọng của FDI Mỹ và
một số giải pháp nhằm thu hút FDI của Mỹ.
Các công trình nghiên cứu này đều đưa ra các đề xuất cải thiện môi
trường đầu tư tại Việt Nam và đều là những chính sách chung cho tất cả các
nhà đầu tư mà chưa có những chính sách riêng và cụ thể dành cho việc thu
20
hút nguồn vốn này từ các nhà đầu tư Mỹ.
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA MỸ VÀO VIỆT NAM
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Khái niệm của các tổ chức quốc tế và Việt Nam về đầu tư trực
tiếp nước ngoài
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), thực hiện FDI là nhằm đạt được những
lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền
kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành
quyền quản lý thực sự doanh nghiệp [118, tr.86].
Khái niệm về FDI của IMF nhấn mạnh đến 2 yếu tố quan trọng của FDI
gồm: (1) Lợi ích lâu dài, khi tiến hành đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, các nhà
đầu tư thường đặt ra mục tiêu lợi ích dài hạn. Mục tiêu lợi ích dài hạn đòi hỏi
phải có một quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp nhận
đầu tư trực tiếp, đồng thời nhà đầu tư có một mức độ ảnh hưởng đáng kể đối
với việc quản lý doanh nghiệp; (2) Quyền quản lý doanh nghiệp: Quyền
kiểm soát doanh nghiệp là quyền tham gia vào các quyết định quan trọng ảnh
hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp như thông qua chiến
lược hoạt động của công ty, thông qua phê chuẩn kế hoạch hành động do
người quản lý hàng ngày của doanh nghiệp đưa ra, quyết định việc phân chia
lợi nhuận doanh nghiệp, quyết định phần vốn góp giữa các bên, tức là những
quyền ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của doanh nghiệp.
Theo Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD), FDI được thực
hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp
nhận đầu tư, đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh
hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: (1) Thành lập
hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản
lý của chủ đầu tư; (2) Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; (3) Tham gia vào
một doanh nghiệp mới; (4) Cấp tín dụng dài hạn (trên 5 năm) [131, tr.48-49].
21
Như vậy, IMF và OECD đều nhấn mạnh đến mục tiêu thực hiện các lợi
ích dài hạn của chủ đầu tư cư trú tại một nước, được gọi là nhà đầu tư trực
tiếp thông qua chủ thể cư trú khác, gọi là doanh nghiêp nhận đầu tư trực tiếp.
Mục tiêu lợi ích dài hạn đòi hỏi phải có quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư trực
tiếp và doanh nghiệp nhận đầu tư trực tiếp, đồng thời nhà đầu tư có mức độ
ảnh hưởng đáng kể đối với việc quản lý doanh nghiệp.
Theo Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc (UNCTAD),
luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp (trực tiếp hoặc thông qua các
công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cho các doanh
nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được từ
doanh nghiệp FDI. FDI gồm có ba bộ phận: vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tư
và các khoản vay trong nội bộ công ty.
Theo WTO, “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ
một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước tiếp
nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là tiêu
chuẩn để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn các
trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là
các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường được gọi là
"công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".
Tại Việt Nam, Luật Đầu tư năm 2005 được Quốc hội khóa XI thông qua
cũng đưa ra các khái niệm về “đầu tư”, “đầu tư trực tiếp”, “đầu tư nước
ngoài”, “đầu tư ra nước ngoài” nhưng không có khái niệm “đầu tư trực tiếp
nước ngoài”. Tuy nhiên, qua sự diễn giải các khái niệm trên có thể hiểu:
“FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn hoặc tài sản khác
hợp pháp để tiến hành đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam”.
Như vậy, về bản chất, Việt Nam cũng thống nhất cách hiểu về FDI như
cách hiểu thông dụng trên thế giới.
Như vậy, FDI được hiểu là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm
đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh
thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ
22
đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp.
2.1.2. Quan điểm của Mỹ về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Quan điểm của các nhà quản lý Mỹ luôn cho rằng tiếng nói hiệu quả
trong quản lý phải đi kèm với một mức sở hữu cổ phần nhất định thì mới
được coi là FDI. Định nghĩa về FDI của Chính phủ Mỹ cũng bao gồm những
nội dung tương tự khái niệm FDI của IMF, OECD và các tổ chức quốc tế
khác, nhưng thêm vào đó, FDI còn gắn với quyền sở hữu hoặc kiểm soát
10% hoặc hơn thế các chứng khoán kèm quyền biểu quyết của một doanh
nghiệp, hoặc lợi ích tương đương trong các đơn vị kinh doanh không có tư
cách pháp nhân.
Có thể phân chia các quan điểm của Mỹ về FDI thành 2 trường phái
gồm các quan điểm truyền thống và các quan điểm mới.
Quan điểm truyền thống cũng có sự khác nhau như:
Quan điểm của nhà sử học kinh doanh nổi tiếng Mira Wilkins [129,
tr.144] chỉ ra rằng trong khoảng thời gian 1875 - 1914, Mỹ đã là “con nợ lớn
nhất trong lịch sử của các nước”. Trong khi nhiều người Mỹ chấp nhận sự
cần thiết của FDI và tìm kiếm cơ hội đầu tư ra nước ngoài và chấp nhận sự
thống trị của nước ngoài đối với nền kinh tế Mỹ.
Theo quan điểm của Andrew Jackson (Tổng thống thứ 7 của nước Mỹ,
1829 - 1937) thì Ngân hàng Trung ương Mỹ không thể có cổ phần nằm trong
tay các đối tượng của nước ngoài, bởi như vậy nếu Mỹ tham gia vào một cuộc
chiến tranh với nước đó thì Mỹ sẽ dễ rơi vào tình trạng bị kiểm soát tiền tệ, lợi
nhuận do người Mỹ làm ra sẽ nằm trong tay người nước ngoài, thị trường lao
động sẽ bị phụ thuộc và như vậy sức mạnh về quân sự của Mỹ sẽ bị kiềm chế.
Vì vậy, ông kêu gọi một ngân hàng hoàn toàn của người Mỹ [129, tr. 89].
Tóm lại, nước Mỹ trong quá khứ đã đưa ra các chính sách và luật pháp
để đảm bảo rằng người nước ngoài đầu tư vào Mỹ nhưng không thể kiểm
soát nền kinh tế Mỹ. Ở cấp tiểu bang, mức độ hạn chế còn cao hơn. Ngoài
hạn chế về quyền sở hữu đất đai, nhiều tiểu bang đánh thuế các công ty nước
ngoài nhiều hơn, thậm chí một số bang còn từ chối quyền được pháp luật bảo
23
vệ. Pháp luật của Mỹ trong lĩnh vực tài chính thậm chí còn phân biệt đối xử
với đầu tư nước ngoài. Một số tiểu bang áp đặt các yêu cầu cơ sở vốn chặt
chẽ hơn đối với các tổ chức tài chính nước ngoài, một số tiểu bang thậm chí
hoàn toàn cấm các công ty nước ngoài thâm nhập vào các ngành tài chính.
Đây là thời kỳ nước Mỹ tìm cách bảo hộ doanh nghiệp trong nước cũng như
chưa thực hiện các hoạt động đầu tư ra nước ngoài khi các doanh nghiệp và
cả nền kinh tế Mỹ chưa thực sự vững mạnh và cũng như chưa thật hiểu rõ về
lợi ích mà FDI mang lại.
Sau này khi nền kinh tế Mỹ đã lớn mạnh, khả năng cạnh tranh cao, xu
hướng toàn cầu hóa trở nên mạnh mẽ, những quan điểm mới của các nhà đầu
tư Mỹ về FDI đã có sự thay đổi. Các nhà đầu tư đã có những cái nhìn cụ thể
và sâu hơn về các vấn đề đầu tư:
Chuỗi giá trị đầu tư. Trong điều kiện tài chính và kinh tế với lãi suất
thấp, tăng trưởng kinh tế toàn cầu trồi sụt, các nhà đầu tư Mỹ tập trung nhiều
vào các lĩnh vực ít chịu tác động của nền kinh tế thế giới, đặc biệt là các mặt
hàng tiêu dùng. Ngoài ra, chuỗi giá trị đầu tư sẽ còn tăng lên khi mà việc
mua bán và sáp nhập (M&A) đang có xu hướng tăng lên [133, tr.1].
Đầu tư vào thị trường mới nổi. Những cải cách tại các thị trường mới
nổi có những tác động tích cực tới xu thế phát triển kinh tế và lợi ích của các
doanh nghiệp. Việc giảm giá cổ phiếu không đủ để đánh giá chính xác tiềm
năng của các thị trường mới nổi. Các thị trường mới nổi thuộc nhóm BRICS,
Indonesia, Mexico, Hàn Quốc đang có nhiều cải cách mới với mục tiêu
chung là loại bỏ các rào cản để tăng trưởng kinh tế, khuyến khích tinh thần
kinh doanh và minh bạch hóa. Trong khi, ASEAN đang cố gắng tiến tới một
cộng đồng kinh tế thống nhất (điều này đã trở thành hiện thực từ ngày
31/12/2015), hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển. Như vậy, các thị trường mới
nổi đang thay đổi là cơ hội đầu tư cho các nhà đầu tư Mỹ.
Tìm kiếm lợi nhuận. Ở tầm vĩ mô, FDI là giải pháp nhằm giải quyết sự
mất cân bằng về dòng vốn. Thương mại Mỹ những năm qua luôn bị thâm hụt
lớn. Bởi nhập khẩu đòi hỏi dòng vốn nhiều hơn là xuất khẩu. Thương mại và
24
đầu tư có quan hệ chặt chẽ với nhau, tuy nhiên nhiều phân tích chỉ chú trọng
tới phân tích dòng chảy của hàng hóa và dịch vụ mà bỏ quên mất dòng vốn
đầu tư. Để giải quyết vấn đề thâm hụt vốn, Mỹ đã tăng FDI nhằm thu lại
nhiều lợi nhuận hơn so với các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Mỹ.
Các khoản đầu tư của doanh nghiệp Mỹ ra nước ngoài đồng thời cũng là
điểm đến hứa hẹn lợi nhuận cao và gây chú ý cho các nhà đầu tư ở khu vực
khác, mà sự hấp dẫn của FDI Mỹ chính là công nghệ và trình độ quản lý. Vì
vậy, các nước đều mong muốn được tiếp nhận đầu tư từ Mỹ.
Mỹ dùng FDI như một sự khẳng định về tính an toàn và phát triển bền
vững của nền kinh tế Mỹ. Thông thường, các nước có thâm hụt tài khoản
vãng lai cao thì nợ công lớn và dễ dẫn tới mất cân bằng và rơi vào khủng
hoảng. Nhưng trong trường hợp của Mỹ thì không như vậy, thâm hụt tài
khoản vãng lai của Mỹ cao, nợ công của Mỹ cũng cao nhưng lại không xảy
ra thiếu vốn đột ngột do sự tháo chạy vốn của các nhà đầu tư nước ngoài nên
nền kinh tế Mỹ ít nguy cơ xảy ra khủng hoảng hơn các nền kinh tế khác.
2.1.3. Các lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Có nhiều lý thuyết giải thích hiện tượng FDI dựa vào sự tiếp cận khác
nhau đối với FDI. Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu một số lý thuyết liên quan
chặt chẽ đến chủ đề nghiên cứu, là cơ sở cho đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
của Mỹ; là cơ sở cho nhận thức và đường lối chính sách của Việt Nam trong
việc tiếp nhận FDI của Mỹ.
(i) Lý thuyết về Lợi nhuận cận biên: Mac Dougall (1960) [125] giải
thích nguyên nhân của FDI là lợi nhuận cận biên ở nước ngoài cao hơn ở
trong nước. Mac Dougall đưa ra giả thiết:
Có 2 quốc gia, 1 nước phát triển và 1 nước đang phát triển
Chỉ có hoạt động đầu tư của hai quốc gia trên, không có sự tham gia của
nước thứ 3
Sản lượng cận biên1 của hoạt động đầu tư giảm dần khi vốn đầu tư tăng
1Trong môn học Vĩ mô đã đề cập đến quy luật về “lợi ích cận biên” là lợi ích tăng thêm của việc sử dụng thêm một đơn vị sản phẩm thấp hơn lợi ích tăng thêm của việc sử dụng một sản phẩm trước đó.
25
GDP = GNP.
Hình 2.1. Mô hình về lợi ích của FDI
Một nước phát triển có sản lượng cận biên thấp (thừa vốn) sẽ đầu tư
sang một nước đang phát triển có sản lượng cận biên cao (thiếu vốn)
Nước phát triển Nước đang phát triển
Trước FDI
GDP=GNP=MO1QN GDP=GNP=mO2Qn
Sau FDI
Vốn giảm, năng suất cận biên tăng Vốn tăng, năng suất cận biên giảm
GDP=MO1PE GDP=mO2PE
GDP=ENn do năng suất cận biên cao hơn, giảm tình trạng thâm dụng đất
GNP=MO1PE + PQEF GNP=mO2EP-PQEF
FDI mang lại lợi ích cho cả 2 quốc gia do sử dụng vốn có hiệu quả
GNP=EFN GNP=EFn
hơn khi nó được huy động từ nước này sang nước khác.
Lý thuyết của Mac Dougall mới chỉ trả lời được câu hỏi tại sao (Why):
để tăng năng suất cận biên của vốn.
Trên phạm vi quốc tế, FDI tác động đến việc tăng sản lượng sản phẩm.
Quan điểm của Mac Dougall và trường phái Tân cổ điển về các lý thuyết
26
như: Lý thuyết về năng suất giới hạn của các yếu tố sản xuất, Lý thuyết về sự
giảm sút của lợi nhuận cận biên giải thích các TNC tìm kiếm nơi đầu tư có
lợi ở các nước kém phát triển hơn vì ở đó có lợi nhuận cận biên cao hơn so
với ở các nước phát triển. Tuy nhiên, hiện tượng dòng vốn FDI di chuyển giữa
các nước phát triển tăng nhanh lại phải tìm kiếm sự lý giải ở các lý thuyết khác.
(ii) Lý thuyết về Lợi thế độc quyền. Có thể coi lý thuyết về lợi thế độc
quyền của Stephen Hymer (1976) [116] là lý thuyết tiêu biểu về lợi thế độc
quyền tổ chức công nghiệp. Khi đầu tư ra nước ngoài, chủ đầu tư có một số
bất lợi như: khoảng cách địa lý làm tăng chi phí vận chuyển các nguồn lực
(chuyển giao công nghệ), thiếu hiểu biết về môi trường xa lạ làm tăng chi phí
thông tin, thiết lập mối quan hệ khách hàng mới và hệ thống cung cấp mới
cũng mất nhiều chi phí so với các công ty bản địa. Tuy vậy, họ vẫn tiến hành
FDI khi họ có những lợi thế độc quyền (monogoly rights), vì họ có thể giảm
được chi phí kinh doanh và tăng doanh thu so với các công ty bản địa. Các
lợi thế độc quyền đó có thể là công nghệ tiên tiến (tech innovation) hay nhãn
hiệu. Ví dụ nói đến Cocacola là người ta nghĩ ngay đến “nước uống ga có
mùi quế” hay nhãn hiệu Heineken nổi tiếng với những mẩu quảng cáo rất hấp dẫn.
(iii) Lý thuyết về Chu kỳ của sản phẩm (R. Vernon, 1966) [137, tr.190-
207] cho rằng các sản phẩm mới phải phát triển qua 3 giai đoạn: (1) Giai
đoạn phát minh và giới thiệu; (2) Giai đoạn phát triển; (3) Giai đoạn chín
muồi (sản phẩm được tiêu chuẩn hóa).
Ở giai đoạn đầu, sản phẩm mới xuất hiện ở các các nước phát triển có
ưu thế tuyệt đối vì địa vị độc quyền của sản phẩm mới. Vì vậy, sản phẩm mới
thường xuất hiện ở thị trường nội địa của nước phát triển và sau đó được
chuyển sang thị trường nước ngoài thông qua xuất khẩu. Trong giai đoạn
này, vì đặc tính độc đáo của sản phẩm mới, nên người sở hữu công nghệ và
sản xuất loại sản phẩm mới giữ vị trí độc quyền trên thị trường. Vì thế người
sản xuất ra sản phẩm mới đó không quan tâm đến cạnh tranh về giá cả trên
thị trường. Khi nhu cầu thị trường đã được thỏa mãn và xuất hiện nhu cầu
tăng nhanh về sản phẩm mới ở thị trường nước ngoài, người nắm giữ độc
27
quyền sản phẩm mới sẽ phát triển sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mới đó ra
nước ngoài. Trong giai đoạn này, nhà sản xuất vẫn nhận được lợi nhuận độc
quyền trên thị trường nước ngoài. Tuy nhiên, lúc này nhà sản xuất bắt đầu
thấy lo ngại về khả năng bị mất độc quyền về công nghệ và kỹ thuật. Hơn
nữa, do sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ khoa học và công nghệ nên có
thể các đối thủ cạnh tranh sẽ tìm được cách phỏng theo sản phẩm mới hoặc
nghiên cứu phát minh công nghệ kỹ thuật mới hơn. Như vậy, các nhà sản
xuất sẽ có lợi hơn khi quyết định đầu tư sản xuất tại nước ngoài thay vì xuất
khẩu hàng hóa xuất phát từ việc khai thác lợi thế các yếu tố sản xuất rẻ ở
nước nhận đầu tư, nhằm giảm chi phí sản xuất, chiếm lĩnh thị trường sản
phẩm, khai thác triệt để nguồn lợi từ lợi thế công nghệ, quy mô và vốn. Đồng
thời, nhà sản xuất có thể ngăn chặn được nguy cơ bị sao chép bí quyết công
nghệ, phát minh của các đối thủ cạnh tranh ở nước ngoài. Đó chính là giai
đoạn sản phẩm được tiêu chuẩn hóa, các TNC đầu tư sản xuất tại nước ngoài
với mục đích nâng cao thị phần thông qua chiếm lĩnh thị trường nhờ giảm chi
phí sản xuất và đặc biệt là đối phó với rào cản thuế quan, phi thuế quan.
Các giả thuyết mà lý thuyết này đưa ra căn cứ chủ yếu vào tình hình
thực tế của đầu tư trực tiếp của Mỹ ra nước ngoài trong những năm 1950-
1960. Nhưng nó khiến tác giả không thể lý giải được đầu tư của Châu Âu
sang Mỹ. Còn về bản chất của các phát minh, R. Vernon không phân biệt
được các hình thức phát minh khác nhau. Tác giả chỉ xem xét trường hợp
duy nhất đó là những thay đổi về công nghệ diễn ra đồng thời cả đối với đặc
điểm của sản phẩm và qui trình sản xuất. J.M. Finger (1975) phân biệt hai
loại phát minh khác nhau đó là phát minh liên quan đến đặc điểm sản phẩm
và phát minh liên quan đến qui trình sản xuất và chỉ ra rằng xuất khẩu của
Mỹ bị ảnh hưởng nhiều của sự khác biệt về sản phẩm chứ ít chịu ảnh hưởng
của những tiến bộ trong qui trình sản xuất. Về thời gian của vòng đời, không
nhất thiết các giai đoạn khác nhau phải diễn ra tuần tự trong một khoảng thời
gian quá ngắn. Vòng đời sản phẩm phải đủ dài để đảm bảo sự chuyển giao
28
thực sự sản xuất trên phạm vi quốc tế.
Trong các nghiên cứu sau, R. Vernon (1966) [137, tr.190-207] đã khẳng
định rằng thời gian giữa khi bắt đầu sản xuất một sản phẩm mới ở Mỹ đến
khi bắt đầu sản xuất ở nước ngoài liên tục được rút ngắn trong giai đoạn
1945-1975. Ngày nay, khoảng thời gian này của một nửa các sản phẩm tin
học là chưa đến 5 năm; trong ngành hoá chất khoảng thời gian này của một
nửa các sản phẩm là chưa đến 10 năm. Lý thuyết của Vernon gặp nhiều khó
khăn trong việc giải thích sự di chuyển của một số hoạt động sản xuất như
sản xuất các thiết bị theo đó chu kỳ phụ thuộc vào nhu cầu của các ngành sản
xuất hàng tiêu dùng có liên quan chứ không phụ thuộc trực tiếp vào dung
lượng thị trường này (A. Cotta, 1970). Quan sát này chỉ ra sự hạn chế trong
trật tự qui trình của các giai đoạn trong vòng đời sản phẩm.
(iv) Lý thuyết về Quyền lực thị trường (George Akerlof, 1970) [109] cho
rằng FDI tồn tại do những hành vi quốc tế như phản ứng độc quyền
nhóm, hiệu quả kinh tế bên trong do quy mô sản xuất, và sự liên kết đầu tư
nước ngoài theo chiều dọc. Tất cả những hành vi này đều nhằm hạn chế cạnh
tranh, mở rộng thị trường và ngăn cản không cho đối thủ khác thâm nhập vào
ngành công nghiệp và thị trường của chúng.
FDI theo chiều rộng tồn tại khi các công ty xâm nhập vào nước khác và
sản xuất các sản phẩm trung gian, sau đó các sản phẩm này được xuất ngược
trở lại và được sản xuất với tư cách là đầu vào cho sản xuất của nước chủ nhà hay
tiêu thụ bán những sản phẩm đã hoàn thiện cho những người tiêu thụ cuối cùng.
Theo lý thuyết về Quyền lực thị trường của FDI, các công ty thuộc
những ngành này thực hiện FDI vì: (1) Do nguồn cung cấp nguyên liệu ngày
càng khan hiếm, và các công ty địa phương ở nước ngoài không đủ khả năng
thăm dò và khai thác nguyên liệu mới nên các công ty đa quốc gia sử dụng
lợi thế canh tranh của mình để khai thác nguyên liệu tại địa phương. Điều
này góp phần giải thích tại sao FDI theo chiều ngang thường được thực hiện
ở các nước đang phát triển; (2) Thông qua liên kết FDI theo chiều dọc, các
công ty độc quyền nhóm có thể thiết lập các hàng rào ngăn cản không cho
29
các công ty khác tiếp cận nguồn nguyên liệu của chúng; (3) FDI theo chiều
ngang còn có thể tạo ra những lợi thế về chi phí thông qua việc cải tiến kỹ
thuật bằng cách phối hợp sản xuất. Lợi thế này lớn hơn hẳn lợi thế có được
từ việc phối hợp giữa các nhà sản xuất độc lập thông qua hệ thống giá cả.
(v) Lý thuyết Chiết trung (mô hình OLI): Dunning Jonh H. (1977) [101]
đã đưa ra mô hình OLI có khả năng kết hợp các lý thuyết về FDI. Theo ông,
một doanh nghiệp dự định tham gia vào các hoạt động FDI cần có 3 lợi thế:
về sở hữu (Onership advantages); về địa điểm (Locational advantages); và về
nội hóa (Internalisation advantages).
Lợi thế về sở hữu: Doanh nghiệp có lợi thế từ việc sở hữu tài sản vô
hình đã lựa chọn đầu tư trực tiếp nước ngoài để kết hợp giữa lợi thế sở hữu
với sử dụng các yếu tố đầu vào ở các nước nhận FDI nhằm thu lợi nhuận.
Hình thức này bảo đảm an toàn hơn trong việc giữ gìn bí quyết công nghệ so
với việc doanh nghiệp bán quyền sở hữu lợi thế sở hữu cho doanh nghiệp
khác. Các lợi thế về các lĩnh vực sau đây cấu thành lợi thế về sở hữu: lợi thế
về công nghệ, quản lý, kỹ năng tổ chức; Lợi thế về quy mô và đa dạng hóa,
tiếp cận được hay kiểm soát được nguyên vật liệu; Lợi thế về khả năng giành
được sự ủng hộ của chính phủ và khả năng đạt được những điều khoản phù
hợp về tài chính. Như vậy, lợi thế về sở hữu bao gồm: lợi thế về tài sản và lợi
thế về tối thiểu hóa chi phí giao dịch. (a) Lợi thế về tài sản gồm lợi thế tài
sản hữu hình và lợi thế tài sản vô hình. Lợi thế về tài sản hữu hình là lợi thế
về sự thuận lợi tiếp cận tài nguyên thiên nhiên, thông tin, lao động có kỹ
năng và vốn. Lợi thế về tài sản vô hình gồm công nghệ, kinh nghiệm, mối
quan hệ với bạn hàng, kỹ năng quản lý sản xuất, hệ thống phân phối, mạng
lưới nghiên cứu và phát triển, nguồn nhân lực. (b) Lợi thế về tối thiểu hóa chi
phí giao dịch biểu hiện lợi thế của doanh nghiệp trong việc thực hiện FDI so
với các doanh nghiệp trong nước của nước nhận đầu tư. Doanh nghiệp có lợi
thế khi chi phí giới thiệu sản phẩm thấp hơn do đã có uy tín trên thị trường,
có sẵn nguồn vốn lớn, hay có lợi thế về tài sản khác như tiếp cận với thị
30
trường đầu vào, kinh nghiệm kinh doanh sản xuất, đạt được thành tựu trong
việc nghiên cứu phát triển, kỹ năng sản xuất và quản lý, cũng như sự can
thiệp và ủng hộ của chính phủ,...
Lợi thế về địa điểm bao gồm lợi thế về các khía cạnh sau: tài nguyên đất
nước; sức mạnh về vốn; quy mô và sự tăng trưởng của thị trường; trình độ
phát triển của cơ sở hạ tầng; chi phí và năng suất lao động; mức độ mở cửa
của nền kinh tế; chính sách của chính phủ; sự ổn định về chính trị; khả năng
sinh lời; vị trí địa lý.
Lợi thế về nội hoá: Khi thực hiện các giao dịch và quản lý trong nội bộ
doanh nghiệp thông qua sự phát triển các doanh nghiệp thành viên, doanh
nghiệp sẽ có các lợi thế sau đây: (1) Giảm chi phí ký kết, kiểm soát và thực
hiện hợp đồng; (2) Tránh sự thiếu thông tin dẫn đến chi phí cao cho doanh
nghiệp; (3) Tránh được chi phí thực hiện bảo vệ bản quyền phát minh, sáng
chế; (4) Thu được lợi ích nhờ quy mô kinh tế và đa dạng hóa; (5) Tránh sự
can thiệp của chính phủ như hàng rào thuế quan và phi thuế quan; (6) Điều
khiển thị trường đầu vào và đầu ra.
Doanh nghiệp khi có lợi thế về sở hữu và lợi thế về nội hóa sẽ tìm kiếm
quốc gia có lợi thế về địa điểm để thực hiện đầu tư. Mặc dù các TNC thực
hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài xuất phát từ lợi ích của mình nhưng sự
hấp dẫn của môi trường đầu tư trở thành vấn đề được quan tâm hơn những chính
sách ưu đãi của nước nhận đầu tư, chẳng hạn như chính sách ưu đãi thuế quan.
Cho đến nay mô hình OLI của Dunning có thể coi là cách lý giải đầy đủ
và nhiều tham vọng nhất về FDI.
(vi) Lý thuyết Tổ chức công nghiệp: Stephen Hymer và Charles
Kindleberger đã đưa ra những tư tưởng về lý thuyết tổ chức công nghiệp. Lý
thuyết này được áp dụng đối với tổ chức liên kết theo chiều dọc, tức là sản
phẩm sản xuất của một số doanh nghiệp này được dùng làm đầu vào cho sản
phẩm của một số doanh nghiệp khác trong cùng TNC.
Mục tiêu của tổ chức liên kết theo chiều dọc nhằm giảm chi phí sản
xuất, bảo đảm giữ được bí quyết công nghệ và bảo đảm chất lượng sản phẩm
31
trong quá trình khai thác kỹ thuật mới. Tiến bộ trong giao thông và thông tin
liên lạc tạo điều kiện thuận lợi cho hình thức tổ chức này. Cách tiếp cận của
Hymer nhận được sự ủng hộ của Graham và Krugman. Theo Graham và
Krugman, khi nhà đầu tư quyết định đầu tư sản xuất hàng hóa trung gian ở
nước ngoài họ phải tìm kiếm môi trường đầu tư tương thích, trình độ kỹ thuật
phù hợp, chất lượng nguồn nhân lực đảm bảo nhằm khai thác công nghệ sản
xuất sản phẩm đạt hiệu quả kinh tế tối đa. Điều này giải thích tại sao FDI
không chỉ chảy vào các quốc gia kém phát triển mà còn cả vào các quốc gia
phát triển có trình độ phát triển công nghệ cao [111].
(vii) Lý thuyết Nội hoá (Internalisation). Đại diện cho lý thuyết này là
Agral (1980), theo đó, FDI tăng khi giao dịch nội bộ (Internal Transaction,
IT) tốt hơn giao dịch thị trường (Market Transaction, MT), IT tốt hơn MT
khi thị trường không hoàn hảo: không hoàn hảo tự nhiên (khoảng cách giữa
các quốc gia làm tăng chi phí vận tải), không hoàn hảo mang tính cơ cấu (rào
cản thương mại như các tiêu chuẩn về sản phẩm, về môi trường; các yêu cầu
liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (là một sản phẩm vô hình mang tính thông
tin nên dễ bị chia sẻ, khó bảo hộ và dễ bị đánh cắp…), công nghệ (cái không
tồn tại như một thực thể, không có giá, không chứng minh được, quý giá khi
còn mới...). Khi thị trường không hoàn hảo như vậy, người ta phải tạo ra thị
trường bằng cách tạo ra thị trường nội địa (Internal Market), sử dụng tài sản
trong nội bộ công ty mẹ - con, con - con. Ví dụ, nếu có vấn đề liên quan đến
việc mua các sản phẩm dầu lửa trên thị trường thì một doanh nghiệp có thể
quyết định mua một nhà máy lọc dầu. Lợi ích của việc nội bộ hoá là tránh
được độ trễ về thời gian, việc mặc cả khi mua bán và tình trạng thiếu vắng
người mua. Ví dụ, một doanh nghiệp thép có thể phải đối mặt với tình trạng
thiếu nguyên liệu cung cấp và chi phí giao dịch cao khi phải mua quặng sắt
từ nước ngoài, đặc biệt khi doanh nghiệp này phải mua hàng ở một châu lục
khác. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp này mua lại một công ty khai mỏ nước
ngoài, tức là tiến hành việc nội bộ hoá bao gồm cả việc mua luôn quặng sắt
32
và chi phí vận chuyển, nó sẽ loại bỏ được tình trạng thiếu thốn nguyên liệu.
Nội hoá phải có những lợi ích lớn hơn chi phí phát sinh khi thành lập mạng
lưới công ty mẹ - con thì mới được sử dụng.
Trong điều kiện ngày nay, lý thuyết tổ chức công nghiệp và lý thuyết
nội hóa được các quốc gia đang phát triển rất chú trọng vận dụng trong chiến
lược thu hút FDI. Do đặc điểm mới trong hệ thống tổ chức sản xuất quốc tế,
các quốc gia đang phát triển mặc dù trình độ sản xuất và công nghệ kỹ thuật
còn thấp kém vẫn có khả năng tham gia vào mạng lưới phân công lao động
quốc tế thông qua hoạt động của FDI. Lý thuyết đã mở ra cách tiếp cận mới
về chiến lược thu hút FDI, đó là các quốc gia cần chú trọng thu hút FDI
nhằm tạo lập hệ thống ngành phụ trợ sẵn có và đạt tiêu chuẩn quốc tế để trở
thành địa chỉ hấp dẫn hơn dòng vốn FDI. Thông qua sự đầu tư theo chiều dọc
của các TNC, công nghệ tiên tiến được chuyển giao, tạo điều kiện phát triển
doanh nghiệp nội địa cũng như cải thiện các chỉ số kinh tế vĩ mô.
(viii) Lý thuyết Chi phí cận biên: Thuyết cận biên là một lý thuyết kinh
tế học giải thích sự khác biệt về giá trị của hàng hóa, dịch vụ bằng cách tham
chiếu đến lợi ích thứ cấp, hay lợi ích biên của nó.
Chi phí biên (Marginal cost, MC) là mức thay đổi trong tổng chi phí khi
nhà sản xuất tăng sản lượng thêm một đơn vị. Chi phí biên không bị ảnh
hưởng bởi chi phí cố định.
Lợi nhuận biên (Marginal benefit, MB): Lợi nhuận tăng thêm khi bán
được thêm 1 sản phẩm.
Doanh thu biên (Marginal revenue, MR): Doanh thu tăng thêm khi bán
được thêm 1 sản phẩm.
Nhà sản xuất có thể thực hiện được tối đa hóa lợi nhuận khi làm cho chi
phí biên, doanh thu biên và giá thành sản phẩm bằng nhau.
Nếu doanh thu biên lớn hơn chi phí biên thì nó sẽ cho phép tăng sản
lượng vì điều đó sẽ làm tăng thêm tổng lợi nhuận. Tương tự, nếu doanh thu
biên nhỏ hơn chi phí biên thì lợi nhuận có thể tăng lên bằng cách giảm sản lượng.
Giả định sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra là sản phẩm đơn nhất
33
thì MC bằng lượng tăng của tổng chi phí (ΔC) chia cho lượng tăng của sản
lượng (ΔQ). Ở đây, chúng ta giả thiết là trang thiết bị sản xuất của nhà sản
xuất không thay đổi. Chi phí biên chính bằng đạo hàm của tổng chi phí theo
sản lượng. Gọi tổng chi phí là TC, sản lượng là Q, còn chi phí biên là MC,
khi đó: MC = ∆TC/∆Q
Biểu diễn bằng hình vẽ, chi phí biên là đường có dạng hình chữ U.
Hình 2.2. Đường Chi phí cận biên điển hình
Cần lưu ý rằng MC không bị chi phối bởi mức chi phí cố định, nếu như
một đơn vị sản lượng được sản xuất thêm mà chi phí cố định vẫn không thay
đổi, như vậy MC chỉ được xác định bởi các chi phí khả biến. Trong đồ thị
trên, MC tụt giảm trước hết phản ánh sự gia tăng lợi nhuận do chi phí tăng
chậm hơn so với sản lượng; sau đó MC tăng lên khi lợi nhuận giảm do chi
phí tăng nhanh hơn sản lượng. MC cùng với thu nhập biên quyết định mức
sản lượng, theo đó doanh nghiệp đạt được mức tối đa hoá lợi nhuận. Như
vậy, xác định MC là việc quan trọng khi cần quyết định nên hay không nên
thay đổi mức sản xuất. Ở doanh nghiệp, các MC giảm khi khối lượng đầu ra
tăng do khai thác được những lợi thế về quy mô sản xuất như được chiết giá
nhiều về nguyên vật liệu, tận dụng được sức lao động và sử dụng tốt công
suất thiết bị máy móc; và ngược lại khi quy mô sản xuất gây ra những mặt
bất lợi làm cho đầu vào kém hiệu quả hơn như phải có những khoản chi lớn
hơn cho bộ máy quản lý cồng kềnh, về nguyên vật liệu, vv… Một doanh
nghiệp có mức đầu ra tối ưu khi MC trùng hợp với tổng chi phí trung bình
34
cho một đơn vị đầu ra.
Trong lý luận doanh nghiệp của kinh tế học vi mô, khái niệm MC và
khái niệm thu nhập biên cũng được sử dụng để quyết định mức tối đa hoá lợi
nhuận. Trong kinh tế học phúc lợi, khái niệm MC được sử dụng để phán
đoán tình hình phân bố nguồn vốn ở các loại kết cấu thị trường khác nhau.
Trong lý luận sản xuất của doanh nghiệp, nếu giai đoạn tăng lên của MC ở
điểm thúc đẩy MC bằng với thu nhập biên thì doanh nghiệp đạt được lợi
nhuận tối đa. Nếu MC lớn hơn thu nhập biên, doanh nghiệp giảm sản lượng
sẽ có lợi. Nếu MC nhỏ hơn thu nhập biên, doanh nghiệp tăng sản lượng sẽ có
lợi. Ở điểm MC bằng với thu nhập biên là điểm cân bằng để tối đa hoá lợi
nhuận doanh nghiệp.
MC cũng được sử dụng để phán đoán sự phân bố nguồn vốn có tối ưu
hay không. Trong sản xuất hàng hoá, ở hoàn cảnh không có ảnh hưởng ngoại
lai, MC của một loại hàng hoá nào đó bằng với giá cả của loại hàng hoá đó
thì nguồn vốn được phân bố tối ưu. Sản lượng sản phẩm sản xuất ra lúc đó là
sản lượng tối ưu xã hội.
(ix) Lý thuyết về Các bước phát triển của đầu tư (Investment
Development Path – IDP): Lý thuyết IDP [104] đã kế thừa lý thuyết OLI và
đề cập đến sự biến động của 3 lợi thế về sở hữu, địa điểm và nội hóa của các
quốc gia. Lý thuyết IDP cho rằng mọi quốc gia đều có khuynh hướng trải
qua 5 giai đoạn phát triển chính và các giai đoạn đó được phân biệt, đánh dấu
thông qua xu hướng FDI vào hoặc ra của nước đó:
Giai đoạn 1: Lợi thế địa điểm của một quốc gia cụ thể ít hấp dẫn do vậy
dòng FDI vào và ra nước khác rất thấp, đồng thời dòng vào của FDI lớn hơn
nhiều dòng FDI ra nước ngoài. Lượng vốn FDI vào đất nước thấp do hạn chế
về các lĩnh vực sau: thu nhập thấp, cơ sở hạ tầng lạc hậu, giáo dục yếu kém,
kỹ năng của lao động thấp. Vì vậy, các doanh nghiệp trong nước hầu như
không có khả năng thực hiện đầu tư ra nước khác.
Giai đoạn 2: Luồng vào của FDI bắt đầu tăng do lợi thế địa điểm đã
từng bước hấp dẫn các nhà đầu tư. Tác động của dòng vốn FDI đã cải thiện
35
bước đầu môi trường đầu tư và khả năng cạnh tranh kinh tế của quốc gia: thu
nhập của dân cư tăng làm tăng sức mua trong nước, cơ sở hạ tầng đã được
cải thiện, chất lượng nguồn nhân lực nâng lên. Các nhà đầu tư và lãnh đạo
đất nước chú trọng chiến lược thu hút FDI vào sản xuất nhằm thay thế nhập
khẩu. Chính sách thu hút FDI chủ yếu tập trung tạo ra những ưu đãi về thuế,
giảm bảo hộ của chính phủ. Trong thời gian này, FDI đầu tư vào ngành
hướng vào xuất khẩu thường là ngành khai thác tài nguyên thiên nhiên hoặc
sản xuất nguyên vật liệu, sản phẩm sơ chế. Năng lực của doanh nghiệp nội
địa yếu kém nên lượng FDI đầu tư ra nước ngoài khác không đáng kể.
Giai đoạn 3: Tác động của FDI đối với năng lực cạnh tranh quốc gia thể
hiện rõ rệt. Nước nhận đầu tư đã đạt được trình độ công nghệ - kỹ thuật sản
xuất khá cao, sản xuất được sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế. Lợi thế về lao
động giảm do tiền lương trong nước tăng lên, kết quả là khả năng cạnh tranh
của những ngành sử dụng nhiều lao động giảm. Lợi thế về sở hữu của các
doanh nghiệp trong nước tăng lên có thể cạnh tranh được với doanh nghiệp
nước ngoài. Do đó luồng vào của FDI giảm, luồng ra FDI tăng. Các nhà đầu
tư nước ngoài chú trọng đầu tư vào những ngành thay thế nhập khẩu có hiệu quả.
Giai đoạn 4: Luồng ra của FDI lớn hơn nguồn vào của FDI. Công nghệ
sử dụng nhiều lao động dần dần được thay thế bởi công nghệ sử dụng nhiều
vốn, chi phí vốn rẻ hơn chi phí lao động. Năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp trên thị trường quốc tế tăng nhanh. Do đó, luồng ra và vào của FDI
đều tăng nhưng luồng ra tăng nhanh hơn.
Giai đoạn 5: Luồng ra và vào của FDI tiếp tục tăng. Quốc gia tham gia
vào hệ thống tổ chức sản xuất trên phạm vi quốc tế. Một sản phẩm nhất định
được tạo ra từ rất nhiều hàng hóa trung gian của các doanh nghiệp ở nhiều
quốc gia và tương tự, doanh nghiệp trong nước cũng tham gia sản xuất những
hàng hóa trung gian cho hàng hóa của các quốc gia khác trên thế giới [104].
Như vậy, Lý thuyết OLI giải thích hiện tượng FDI với giả định không
có sự thay đổi của 3 lợi thế trong một khoảng thời gian nhất định. Còn Lý
thuyết về Các bước phát triển của đầu tư (IDP) kế thừa và xem xét hiện
36
tượng FDI trong trạng thái 3 lợi thế có sự biến động tương ứng với từng bước
phát triển. Cả hai lý thuyết này cho thấy sự đúng đắn của Việt Nam trong
việc đã chủ động hội nhập quốc tế để tiếp nhận các đầu tư quốc tế, đặc biệt là
đầu tư từ Mỹ, mở ra cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh đầu tư
ra nước ngoài.
Đánh giá tổng quát qua nghiên cứu các lý thuyết về đầu tư trực tiếp
nước ngoài: Các lý thuyết trên đây đều lý giải sự tất yếu xuất hiện dòng FDI.
Các TNC sở hữu và có lợi thế về các yếu tố sản xuất. Khả năng xuất hiện
dòng FDI từ các lợi ích của các TNC: tối đa hóa tỷ suất lợi nhuận, đa dạng
hóa danh mục đầu tư, giảm tối đa rủi ro... Đồng thời, các lý thuyết trên đây
cũng lý giải, dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển đã góp phần thúc
đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh.
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới
Cho đến nay tổng lượng vốn FDI thế giới chủ yếu được thực hiện tại các
quốc gia phát triển. Trong khoảng thời gian từ 1990 đến 2013, khoảng 65 -
90% tổng vốn FDI thế giới tập trung tại các quốc gia phát triển, mặc dù trong
các năm gần đây, tỷ lệ này đã thay đổi theo hướng giảm đi ở các quốc gia
phát triển và tăng lên ở các quốc gia đang và kém phát triển [138]. Các nước
đang và kém phát triển, nơi có nguồn tài nguyên phong phú, nguồn lao động
dồi dào và rẻ là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài. FDI chiếm
một tỷ trọng đáng kể trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội của các nước đang và
kém phát triển. Trong giai đoạn 1998 - 2003, FDI thường xuyên chiếm
khoảng 10% tổng vốn đầu tư cho tài sản cố định ở các nước đang và kém
phát triển. Ở nhiều nước đang phát triển, FDI vào chiếm trên 30% thậm chí
50% tổng vốn đầu tư cho tài sản cố định hàng năm như ở Sudan, Angola,
Gambia, Nigeria, Bolivia, Arrmenia, Kazakhstan, Tajikistan, Singapore,... Ở
Việt Nam trong giai đoạn 1992 - 1997, FDI vào trung bình chiếm 34,5% tổng
vốn đầu tư cho tài sản cố định hàng năm, trong những năm gần đây tỷ lệ này
37
đã giảm nhưng vẫn trên 10%.
Từ năm 1993 đến nay, FDI luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu
tư nước ngoài (ĐTNN) vào các nước đang phát triển. Đặc biệt trong giai
đoạn 1998 - 2003, FDI chiếm trên 50% tổng vốn ĐTNN vào các nước đang
phát triển (xem Hình 2.3).
Đơn vị: triệu USD
Hình 2.3. FDI trong tổng các dòng vốn ĐTNN vào các nước đang phát triển Nguồn: UNCTAD, based on its FDI/TNC database (www.unctad.org/fdistatistics) and UNCTAD estimat
Hầu hết vốn FDI được các TNC thực hiện. Vì vậy, số lượng doanh
nghiệp thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tăng lên nhanh chóng. Cụ thể,
số lượng các công ty kiểm soát tài sản ở nước ngoài có trụ sở tại 15 thành viên
của OECD đã tăng từ 7.300 vào cuối năm 1960 (với 27.000 chi nhánh nước
ngoài) [140, tr.135,147], lên 65.000 vào năm 2000 (với khoảng 850.000 chi
nhánh nước ngoài) [138. tr.12], cuối năm 2010 con số này là 100.000 kiểm
soát một số lượng tối thiểu là 900.000 chi nhánh nước ngoài [138].
Phần lớn các TNC lớn nhất có trụ sở chính ở các nước phát triển (trong
số 100 doanh nghiệp lớn nhất thì có đến 92 doanh nghiệp có trụ sở chính tại
các nước phát triển trong năm 2013). Điều này phản ánh một thực tế là các
công ty từ các nước này đã đầu tư ra nước ngoài trong nhiều thập kỷ, có một
số trường hợp đã thực hiện đầu tư ra nước ngoài hơn một trăm năm.
Trong tổng đầu tư trực tiếp nước ngoài có tới 1.300 tỷ USD được thực
hiện bởi các TNC trong năm 2014. Dòng FDI thế giới đạt đỉnh điểm năm
2007 là 2.272 tỷ USD, thấp nhất là năm 2009 đạt 1.149 tỷ USD. Các con số
38
cho thấy sự gián đoạn của dòng FDI thế giới do cuộc khủng hoảng tài chính
và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008 gây nên và sự phục hồi mới chỉ bắt
đầu trong vài năm trở lại đây [138].
Việc mua bán và sáp nhập xuyên biên giới (M&A) ảnh hưởng mạnh đến
dòng chảy FDI, vì đằng sau M&A là sự thổi phồng giá trị thực của các doanh
nghiệp. Do đó nếu chỉ phân chia giữa các nước phát triển và các nước đang
phát triển thì năm 2013 có tới 61% hình thức M&A nằm ở các nước phát
triển. Tuy nhiên, lưu chuyển dòng vốn từ thị trường mới nổi tiếp tục có sự
tăng trưởng, khoảng 39% trên tổng FDI toàn cầu trong năm 2013 [138].
Lượng FDI là khác nhau ở các khu vực khác nhau của thế giới. Sự suy
giảm lượng FDI vào các nước phát triển là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự
sụt giảm dòng vốn FDI trên thế giới trong năm 2014, khi mà FDI vào Mỹ chỉ
còn 86 tỷ USD, đồng thời Mỹ đánh mất vị trí số 1 vào tay Trung Quốc.
Năm 2014, thị trường mới nổi thu hút 745 tỷ USD, chiếm 59% dòng
FDI toàn cầu (tăng nhẹ so với năm 2013), trong đó các nước đang phát triển
thu hút được 700 tỷ USD, chiếm 56% tổng FDI toàn cầu, còn các nền kinh tế
chuyển đổi đã thu hút được 45 tỷ USD (khoảng 4% tổng FDI toàn cầu và
giảm ½ so với năm 2013. Nhìn chung, đây là năm thứ 3 liên tiếp các thị
trường mới nổi chiếm hơn ½ tổng FDI toàn cầu.
Trong số các nước đang phát triển, dòng chảy FDI vào các nước Châu Á,
Mỹ Latinh và vùng Caribe, và Châu Phi là không đồng đều trong năm 2014.
Khu vực Châu Á đang là đầu tàu thu hút dòng FDI toàn cầu (39% tổng
FDI toàn cầu) trong đó Trung Quốc tiếp tục là quốc gia nhận được nhiều FDI
nhất khi tiếp nhận 128 tỷ USD, tiếp theo là Hongkong nhận được 111 tỷ
USD, sau đó là Singapre với 81 tỷ USD. Singapore không phải là quốc gia
đông dân nhưng đang là điểm thu hút FDI tại khu vực Châu Á. Một điểm đến
khác cho dòng FDI toàn cầu đang được các chuyên gia đánh giá cao, đó là
Ấn Độ (35 tỷ USD), khi mà Chính phủ Ấn Độ có nhiều quyết tâm trong việc
thu hút FDI. Điểm đáng chú ý là những gia tăng về chi phí sản xuất ở các
tỉnh ven biển Trung Quốc (nơi có hầu hết các ngành công nghiệp của Trung
39
Quốc), thiếu hụt lao động đã khiến cho dòng FDI đang chuyển dần tới vùng
khác của Trung Quốc như các tỉnh miền Trung và Tây, và một số dự án FDI
đã chuyển sang các nước khác như Bangladesh, Campuchia, Indonesia, Việt Nam…
Tại khu vực Đông và Đông Nam Á, ASEAN đã nỗ lực hội nhập kinh tế,
đặc biệt là việc ký kết các hiệp định thương mại tự do, hiệp định đầu tư với
các nước khác trong khu vực. Trong thời gian 2010 - 2012, các nước
ASEAN hay Đông Á đã đàm phán về việc cung cấp trung bình trên 40%
lượng vốn FDI nội bộ khu vực. Một phần của các dòng vốn đầu tư liên quan
đến cơ sở hạ tầng và sản xuất.
Tại Nam Á, hành lang kinh tế Bangladesh - Trung Quốc - Ấn Độ -
Myanmar và hành lang kinh tế Trung Quốc - Pakistan đang hình thành, có
khả năng tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng trong khu vực.
Trung Quốc, có thể trở thành nguồn FDI ra chính của sản xuất và cơ sở
hạ tầng ở Nam Á. Hầu hết các nước nghèo nhất Châu Á nhận được một phần
đáng kể của dòng vốn FDI từ các nước khác trong khu vực. Dòng chảy FDI
nội bộ Châu Á có thể tăng nhanh trong bối cảnh các nước đang phát triển tại
khu vực này tiếp tục phát triển và khả năng cạnh tranh quốc tế của các nước
này được cải thiện.
Sau Châu Á, khu vực hấp dẫn thứ 2 dòng FDI là các nước Mỹ Latinh và
Caribbe. Khu vực này đã nhận được 153 tỷ USD trong năm 2014. Tuy nhiên,
mức tăng trưởng so với năm 2013 lại giảm tới 19%. Lý do suy giảm là M&A
của khu vực, đặc biệt của Mexico bị giảm mạnh. Ngành bị suy giảm nhiều
nhất ở khu vực này là ngành công nghiệp khai khoáng. Trong 100 TNC lớn
nhất từ các nền kinh tế đang phát triển thì có tới 8 từ Brazil, 6 từ Mexico, 4
từ Chile, 2 từ Argentina và 1 từ Venezuela. Các công ty dầu khí trong khu
vực ít tham gia vào dòng FDI, trong khi đó các công ty thép, xi măng, thực
phẩm và đồ uống, viễn thông lại quan tâm hơn đến đầu tư ra nước ngoài. Các
công ty quy mô trung bình có trụ sở tại các nền kinh tế Chile, Colombia và
Peru đã tập trung đầu tư vào các nước láng giềng. Tuy nhiên, họ đang dần
dần mở rộng sang các nước khác trong khu vực. Dòng FDI vào các nước
40
láng giềng tập trung vào lĩnh vực dịch vụ. Như vậy, một phần đáng kể FDI
vào Colombia, Ecuador, Paraguay, Uruguay, và một số quốc gia ở Trung Mỹ
có nguồn gốc ở nơi khác không ở Châu Mỹ Latinh và vùng Caribe.
Các công ty từ Brazil và Mexico thường có các khoản đầu tư quan trọng
hơn bên ngoài khu vực, chủ yếu là thông qua M&A ở Canada và Mỹ. Các
công ty Brazil và Mexico cũng đã tham gia vào M&A tại Liên minh Châu
Âu, Châu Phi và Australia. Một số công ty kỹ thuật, xây dựng và khai thác
mỏ Brazil có hoạt động ở Châu Phi. Điều này được thúc đẩy một phần bởi
chính sách ngoại giao tích cực nhằm tăng cường quan hệ với các nước Châu
Phi dưới sự điều hành của Tổng thống Lula da Silva. Từ bên ngoài khu vực,
FDI của Trung Quốc ở Châu Mỹ Latinh và vùng Caribe đặc biệt quan trọng,
ước tính khoảng 10 tỷ USD mỗi năm kể từ năm 2010 và đang duy trì khá ổn
định. Nguồn vốn đầu tư này chủ yếu là đầu tư vào khai thác mỏ ở Peru và
khai thác dầu và sản xuất tại Brazil.
Châu Phi cho thấy mức suy giảm nhẹ của dòng FDI khi con số này là 55
tỷ USD trong năm 2014. Dòng chảy FDI vào khu vực này đang trở nên quan
trọng hơn và chủ yếu bị chi phối bởi các TNC có trụ sở tại Nam Phi và dòng
FDI đến từ Trung Quốc. Dòng FDI chủ yếu chảy vào ngành khai thác tài
nguyên, dịch vụ và tiêu dùng hàng hóa. Điều đó cho thấy sự phát triển mạnh
của tầng lớp trung lưu tại khu vực này. Dòng chảy FDI không chỉ từ các khu
vực khác mà còn từ các nước nội khối Châu Phi đang đóng vai trò thúc đẩy
FDI vào các nước ở khu vực này như các doanh nghiệp ở Kenya và ở Nigeria
đang đầu tư vào sản xuất, nông nghiệp, chế biến, vật liệu xây dựng, thiết bị
điện và điện tử, dệt may và dịch vụ (đặc biệt là ngân hàng, viễn thông và hệ
thống bán lẻ).
Các nền kinh tế chuyển đổi không còn là điểm đến của dòng FDI toàn
cầu. Ước tính các nước này tăng trưởng âm 51%, tương đương 45 tỷ USD
trong năm 2014. Nga đang là nước đóng góp phần lớn tỷ trọng của sự suy
giảm này, khi mà Nga đang có xung đột với Ukraine và các biện phát trừng
41
phạt của Mỹ và phương Tây đối với Nga đang được thực hiện.
2.2.2. Tình hình và đặc điểm đầu tư trực tiếp Mỹ ra nước ngoài
2.2.2.1. Tình hình đầu tư trực tiếp nước của Mỹ ra nước ngoài
Dòng vốn FDI Mỹ ra bên ngoài luôn chiếm vị trí số 1 thế giới, tuy có
lúc tăng lúc giảm không đều. Từ năm 1989 - 2001, trung bình mỗi năm Mỹ
đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 113,2 tỷ USD. Tốc độ tăng trung bình của FDI
Mỹ ra thế giới giai đoạn năm 1989 đến năm 2004 đạt khoảng 7%/năm.
Những năm sau đó, mức tăng này giảm đi, nhưng từ năm 2010 lại tăng nhanh
trở lại. Tốc độ tăng FDI trong giai đoạn 2010 - 2012 là 14%/năm. Năm 2014,
FDI ra nước ngoài của Mỹ đến các khối và khu vực chính bao gồm Châu Âu
(54,2%), Mỹ - Latin và các nước Châu Mỹ khác (18,8%), Châu Á - Thái Bình
Dương (17,2%). Các nước nhận được nhiều vốn FDI của Mỹ trong năm 2014 là
Canada (19,85 tỷ USD), Singapore (19,44 tỷ USD), Australia (16,59 tỷ USD),
Trung Quốc (6,33 tỷ USD), Hongkong (5,24 tỷ USD), Ấn Độ (2,62 tỷ USD).
Về thị trường đầu tư, dòng FDI Mỹ chủ yếu chảy vào các nền kinh tế
phát triển. Từ năm 1966 đến năm 2007, 49 - 60% dòng FDI Mỹ ra nước
ngoài chảy vào các quốc gia phát triển Châu Âu. Điều này chứng tỏ tầm quan
trọng của các quan hệ truyền thống, trình độ phát triển kinh tế ngang nhau,
môi trường luật pháp và đầu tư giống nhau giữa Mỹ và Châu Âu là những
yếu tố quyết định điểm đến của FDI Mỹ ra nước ngoài. Sau khu vực Châu
Âu, khu vực Mỹ - Latin là điểm đến thứ hai của dòng FDI Mỹ, năm 2007
khu vực này tiếp nhận 13% tổng dòng FDI của Mỹ ra nước ngoài, thậm chí
vào cuối những năm 1980 đạt gần 30% (vì trong những năm 1980, các
nguyên tắc của thị trường tân tự do được đẩy mạnh ở khu vực này, rỡ bỏ rào
cản thương mại và đầu tư, đẩy mạnh quá trình tư nhân hóa, thực hiện các
chính sách ưu đãi với đầu tư nước ngoài). Sau khủng hoảng tài chính Châu
Á, sự nổi lên của các nước công nghiệp mới (NIC) đã trở thành đối thủ cạnh
tranh FDI Mỹ với khu vực Mỹ - Latin. Đến trước khủng hoảng tài chính toàn
cầu 2008, trong các khu vực đang phát triển thì khu vực Nam và Đông Nam Á
là những đối thủ cạnh tranh gay gắt trong thu hút FDI Mỹ. Kể từ đó, dòng FDI
42
Mỹ đã chuyển dịch từ khu vực Mỹ - Latin sang các nước NIC, Trung Quốc và
Ấn Độ. Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương ngày càng trở thành địa điểm đến
hấp dẫn của giới đầu tư Mỹ. Trong giai đoạn từ 2011 - 2014, giá trị vốn đầu tư
FDI từ Mỹ vào khu vực này đã tăng từ 591.657 triệu USD lên 738.786 triệu
USD, với tỷ trọng tăng từ 14,5% năm 2011 lên 15,1% năm 2014. Việc Mỹ
tuyên bố chuyển hướng chiến lược tái cân bằng Châu Á là một sự khích lệ đối
với các công ty Mỹ đầu tư vào khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
- Quan hệ với Châu Á - Thái Bình Dương là một trong những ưu tiên
hàng đầu của Mỹ
Đối với Mỹ, thị trường Châu Á có ý nghĩa rất quan trọng đối với nền
kinh tế Mỹ. Thị trường gần 4,5 tỷ dân này (năm 2014) góp phần quan trọng
đảm bảo việc làm và xuất khẩu của nền kinh tế Mỹ. Sự mất cân bằng trong
buôn bán với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đã buộc Mỹ phải tìm mọi
cách để thu hẹp thâm hụt buôn bán song phương với từng bạn hàng. Tạo ra
một khu vực thương mại và đầu tư tự do Châu Á - Thái Bình Dương là một
kế hoạch hấp dẫn mang lại lợi ích kinh tế cho Mỹ. Mặc dù Diễn đàn Hợp tác
kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) ra đời năm 1989 và Mỹ là một
trong số 12 nước thành viên sáng lập nhưng sau năm 1993 Mỹ mới bắt đầu
tham gia APEC. Cần lưu ý rằng, ở giai đoạn này phần lớn đầu tư của Mỹ tại
Châu Á (trừ Nhật Bản) là vào sản xuất những mặt hàng xuất khẩu trở lại Mỹ
chứ không nhằm vào tiêu thụ tại thị trường địa phương (bởi vì thu nhập của
người dân ở các quốc gia này rất thấp). Thêm vào đó, những điều kiện áp
dụng với ĐTNN của các quốc gia này thường làm giảm số lượng việc làm
của các công dân Mỹ. Những hàng hoá xuất khẩu sang các nước Châu Á -
Thái Bình Dương thông qua hoạt động FDI thường là bán thành phẩm và
nguyên liệu, được sử dụng tại các công ty có vốn FDI của Mỹ và rồi lại được
xuất khẩu trở lại Mỹ. Những đặc điểm này trái hẳn với đặc điểm chung của
dòng FDI ra nước ngoài của Mỹ. Tuy nhiên, với chiến lược "Can dự và mở
rộng" mà chính quyền B.Clinton đưa ra tháng 2 năm 1995 là phát huy vai trò
siêu cường duy nhất, tạo môi trường quốc tế thuận lợi để phát triển kinh tế,
43
duy trì lợi ích kinh tế và an ninh ở các khu vực, từng bước thiết lập một trật
tự thế giới mới do Mỹ lãnh đạo, Mỹ đã chấp nhận những điểm bất lợi ban đầu
trong đầu tư vào khu vực này. Để đạt mục tiêu đã đề ra, chiến lược của Mỹ là:
(i) Tiến hành chuyển hướng các hoạt động đầu tư từ Bắc Mỹ sang
Đông Á, nhằm tận dụng sự tăng trưởng nhanh và năng động của các nền kinh
tế này để phục vụ chính sách thương mại mở rộng - chính sách của chính
quyền Clinton trước đây, và tiến tới giảm sự mất cân bằng trong buôn bán
giữa Mỹ và Đông Á.
(ii) Tăng nhanh dung lượng và cơ cấu vốn đầu tư sang các thị trường
mới nổi ở Châu Á, đặc biệt là ASEAN và Trung Quốc nhằm tiếp thêm động
lực cho các nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh của Châu Á, từng bước thâm
nhập vào hoạt động kinh tế của khu vực này.
(iii) Là một nền kinh tế tự do theo chủ nghĩa thực dụng, Mỹ tiếp tục
tăng cường hoạt động đầu tư ở Châu Á theo cấp độ vĩ mô, chuyển vốn đầu tư
vào các xí nghiệp, công ty ở Châu Á do Mỹ “đỡ đầu” nhằm duy trì chúng
trong hệ thống các công ty xuyên quốc gia và trong vòng kiềm toả của Mỹ.
Lợi ích của các công ty Mỹ sẽ tập trung chuyển từ các ngành chế biến và dầu
mỏ sang các ngành công nghiệp chế tạo hiện đại khác của Châu Á.
(iv) Tăng cường thực hiện các chính sách đầu tư song phương với các
nước Châu Á nhằm tạo nên kết cấu hợp tác kinh tế “hình dẻ quạt” để làm cơ
sở phát triển các mối quan hệ kinh tế mới ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Trong những năm gần đây, Mỹ ngày càng tỏ ra tích cực hơn trong việc
đẩy mạnh quan hệ đầu tư với các nước Châu Á. Các chuyến viếng thăm Nhật
Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc, Australia… trong thời gian cầm
quyền của các đời Tổng thống Mỹ kể từ Tổng thống B.Clinton đến B. Obama
là nhằm thiết lập các mối quan hệ song phương Mỹ - Trung Quốc, Mỹ - Nhật
Bản, Mỹ - Hàn Quốc và các tam, tứ giác quyền lực Mỹ - Nhật - Hàn Quốc -
Trung Quốc ở Châu Á. Chiến lược tứ giác quyền lực của Mỹ kể từ thời
B.Clinton đã có chút thay đổi dưới thời cựu Tổng thống G.Bush và Tổng
thống Obama hiện nay do sự trỗi dậy đầy thách thức của Trung Quốc. Với
44
các nước ASEAN, Mỹ coi trọng địa bàn hấp dẫn này, tích cực ủng hộ sự
phục hồi kinh tế tài chính năm 1997-1998 và tích cực gây ảnh hưởng của
mình trong các Hội nghị thượng đỉnh gần đây của khối ASEAN. Với Trung
Quốc, Mỹ tăng cường đầu tư với khối lượng lớn vào nước này nhằm tăng tỷ
phần đầu tư của Mỹ so với các nước trong khu vực. Ngoài ra, Mỹ cũng thâm
nhập vào kinh tế các nước Đông Dương và Myanmar, hình thành một chiến
lược khai thác thị trường Châu Á cả bề rộng lẫn bề sâu và trên mọi hướng.
Các chiến lược kinh tế thương mại của Mỹ bao giờ cũng được đặt trong
các chương trình điều chỉnh tổng thể nhằm thích ứng thậm chí làm thay đổi
các xu thế phát triển của thế giới theo hướng có lợi nhất cho Mỹ. Do đó,
trong các tính toán chiến lược nói chung, các chính sách kinh tế thương mại
nói riêng, Mỹ thường lưu ý đến vị thế và ảnh hưởng của các nước lớn, ít chú
đến các nước nhỏ. Chẳng hạn, trong sự điều chỉnh chiến lược kinh tế Châu Á
- Thái Bình Dương, Mỹ rất quan tâm đến vị thế và những chuyển đổi về
chính sách của các nước lớn như Nhật Bản, Trung Quốc, Australia. Ngược
lại, các nền kinh tế này, nhất là Nhật Bản, Australia dường như đều lựa theo
“thái độ” của Mỹ để điều chỉnh chính sách kinh tế đối ngoại của mình (Trung
Quốc độc lập hơn). Minh chứng cho vấn đề này là sau sự bình thường hoá
quan hệ Việt Nam - Mỹ, đầu tư của Nhật Bản và một số quốc gia khác vào
Việt Nam mới bắt đầu khởi sắc, mặc dù Việt Nam thực hiện công cuộc đổi
mới từ năm 1986. Bởi vì mô hình Mỹ được nhiều quốc gia trên thế giới coi
như là hình mẫu của sự phát triển và lợi ích của họ gắn liền với sự phát triển
của nền kinh tế Mỹ. Tuy nhiên, Mỹ cũng có thói quen rất ít bỏ qua các cơ hội
phát triển mang lại từ quốc gia nhỏ nhất, nếu các quốc gia đó thân thiện, hợp
tác với Mỹ và phù hợp với lợi ích quốc gia của Mỹ. Việt Nam có thể tận
dụng vị trí địa lý - chính trị và địa lý - kinh tế của mình, một vấn đề có ý
nghĩa to lớn đối với sự tái hoạch định chiến lược kinh tế Châu Á - Thái Bình
Dương, để phát triển quan hệ kinh tế nói chung và đầu tư nói riêng với Mỹ.
Chính việc Mỹ nối lại quan hệ với Việt Nam là nhằm để tăng cường ảnh
hưởng của Mỹ ở Đông Á, Đông Nam Á trên mọi phương diện. Mỹ muốn tạo
45
dựng lại hình ảnh mới của mình ở khu vực này sau thời kỳ Chiến tranh Lạnh
bằng việc thể hiện vai trò dẫn dắt của Mỹ trong APEC, bằng việc tạo lập các
địa bàn đầu tư mới ở khu vực Đông Nam Á, Đông Á, hiện là những thị
trường đầu tư thương mại hấp dẫn, tỷ suất lợi nhuận cao đến mức mà ngay cả
Nhật Bản cũng đang chuyển dần những khoản đầu tư của mình ra khỏi các
địa bàn đầu tư Châu Âu, Bắc Mỹ để quay trở về Châu Á. Do vậy, trong bối
cảnh quốc tế hiện nay, Việt Nam đã trở thành một nhân tố quan trọng nhất
trong ASEAN để Mỹ phải tính đến trong chiến lược trở lại Châu Á - Thái
Bình Dương của mình. Điều này cũng đặt ra cho phía Việt Nam là, trong
phương hướng phát triển quan hệ đầu tư với Mỹ, quan niệm về lợi ích phải
được đặt trong một cách nhìn dài hạn, tổng thể có tính đến vị thế kinh tế,
chính trị của mình để đôi bên cùng có lợi.
Có thể nói, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam,
ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong chính sách đối ngoại của Mỹ.
Xuất phát từ lợi ích của chính bản thân nước Mỹ đồng thời cũng không làm
phương hại đến lợi ích của đối tác, Mỹ đã chủ động đẩy mạnh quan hệ hợp
tác kinh tế giữa Việt Nam và Mỹ. Chính điều này sẽ càng thúc đẩy hoạt động
đầu tư của Mỹ vào Việt Nam.
Kể từ khi Việt Nam thống nhất đất nước cho đến năm 1995, Chính phủ
Mỹ đã thi hành chính sách bao vây cấm vận kinh tế chống Việt Nam. Lệnh
cấm vận này đã cắt đứt mối quan hệ giữa 2 nước và trở thành vật cản đối với
sự hình thành và mở rộng các quan hệ kinh tế của các nước khác trong khu
vực đối với Việt Nam. Các nước như Nhật Bản, ASEAN, Liên minh Châu
Âu (EU) đều không hưởng ứng mạnh mẽ chính sách đổi mới của Việt Nam, vì các
quốc gia này cũng phải thực hiện chính sách cấm vận của Mỹ đối với Việt Nam.
Mỹ, nền kinh tế lớn nhất thế giới, tuy không phải lệ thuộc nhiều vào bên
ngoài như các nền kinh tế công nghiệp hoá mới ở Đông Á hay Nhật Bản,
nhưng các quan hệ kinh tế quốc tế cũng đóng góp tới trên 30% cho tốc độ
tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội của mình. Do vậy, Mỹ cũng rất cọi trọng
46
các quan hệ kinh tế quốc tế.
Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương luôn chiếm vị trí quan trọng trong
chính sách đối ngoại của Mỹ. Châu Á - Thái Bình Dương chiếm tới 49%
ngoại thương của Mỹ, trong đó có các đối tác quan trọng nhất như Nhật Bản,
Trung Quốc, các nền kinh tế mới công nghiệp hoá và các nước ASEAN. Các
lợi ích kinh tế ở khu vực này cũng ngày càng trở nên thúc bách hơn đối với
Mỹ. Trong khi đó, phần lớn các hoạt động thương mại và đầu tư ở Châu Á là
do các công ty xuyên quốc gia của Nhật Bản và Hoa Kiều nắm giữ hoặc chi
phối. Các nền kinh tế khác như Hàn Quốc, Đài Loan và ASEAN trước đây
từng dựa vào Mỹ thì nay đã và đang trỗi dậy và trở thành những địch thủ
cạnh tranh thay dần các vị trí kinh tế của Mỹ trong khu vực. Trung Quốc với
tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới liên tục trong thời gian kể từ năm 1978
cùng với Hong Kong, Đài Loan, Singapore cũng đang tạo ra “một vành đai
kinh tế Trung Hoa” có phạm vi ảnh hưởng rộng khắp các nước Châu Á. Tất
cả những yếu tố này đã làm cho Mỹ rất lo ngại và buộc Mỹ phải tăng cường
sự có mặt ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương vì những lợi ích kinh tế của
mình ở khu vực này. Đồng thời, Mỹ cũng hy vọng một thị trường năng động
và đầy tiềm năng của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương có khả năng giúp
Mỹ tăng cường địa vị cường quốc kinh tế của mình.
Trong bối cảnh đó, tăng cường thúc đẩy quan hệ với Việt Nam trở thành
một khâu quan trọng trong chiến lược của Mỹ đối với khu vực Châu Á - Thái
Bình Dương. Các công ty đa quốc gia/xuyên quốc gia dù lớn hay nhỏ đều
mong đợi tham gia xây dựng các cơ sở hạ tầng ở Việt Nam được Ngân hàng
thế giới tài trợ. Những công ty nhìn xa hơn đã thấy được Việt Nam là một thị
trường tiềm năng, có thể hỗ trợ cho các thị trường Châu Á khác, một thị
trường có tiềm năng tiêu thụ lớn gấp 2 lần một số nước mà Bộ Thương mại
Mỹ coi là “những thị trường lớn đang xuất hiện” để tiêu thụ các hàng hoá của
Mỹ, và là một cơ hội để di chuyển ít nhất là ngành công nghiệp chế tạo kỹ
thuật tầm trung đến đây nhằm giảm chi phí nhân công đang gia tăng liên tục
47
ở Hong Kong, Hàn Quốc và Singapore.
Đối với các doanh nhân Mỹ gốc Việt, đây cũng là dịp để họ làm ăn
trong một môi trường văn hoá, ngôn ngữ quen thuộc. Một khi Việt Nam đã
thực sự hội nhập vào khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, nếu Mỹ không có
quan hệ với Việt Nam thì Mỹ đã mất đi vai trò của mình ở một thị trường
quan trọng ở Đông Nam Á. Hơn nữa, nếu không đẩy mạnh quan hệ kinh tế -
thương mại với Việt Nam, việc thi hành chiến lược kinh tế được coi là ưu
tiên số một trong điều chỉnh chiến lược toàn cầu của Mỹ trong khu vực Châu
Á - Thái Bình Dương thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh sẽ không đạt kết quả
mong muốn. Vì vậy, Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia Mỹ thế kỷ XXI đã
xác định, lợi ích chiến lược của Mỹ ở Đông Nam Á là phát triển hợp tác khu
vực và song phương cùng các quan hệ kinh tế nhằm ngăn chặn và giải quyết
các xung đột và nâng cao mức độ can dự của Mỹ vào khu vực.
Đối với các nước ASEAN, chính sách kinh tế của Mỹ có 3 định hướng.
Thứ nhất, trong lĩnh vực kinh tế, việc duy trì và tăng cường các quan hệ
kinh tế ngày càng có hiệu quả với ASEAN là một định hướng ưu tiên trong
chính sách của Mỹ trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Mỹ rất quan tâm đến thị
trường ASEAN, các nhà chiến lược Mỹ cho rằng ASEAN có tiềm năng phát
triển thành một thị trường lớn, năng động trong khu vực.
Chính vì vậy, Mỹ đã mở rộng danh sách “các thị trường đang nổi” sang
cả các nước thành viên khối ASEAN. Danh sách này thể hiện sự đánh giá lại
của Mỹ đối với các thị trường bên ngoài, xem đây là điều kiện hết sức quan
trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế Mỹ. Do đó, việc Mỹ chủ trương
cộng tác chặt chẽ với các nước ASEAN không phải là ngẫu nhiên, khi tính đến
tiềm năng của khu vực này, đặc biệt là sau Chiến tranh Lạnh và giai đoạn hiện nay.
Thứ hai, Mỹ đang đẩy mạnh quá trình xúc tiến tự do hoá hơn nữa chế
độ thương mại của các nước này nhằm thúc đẩy những lợi ích kinh tế từ sự
tăng trưởng kinh tế của khu vực này. Dưới tác động của Mỹ và theo xu thế
chung hiện nay, quá trình tự do hoá thương mại và đầu tư trong khối ASEAN
48
đã được đẩy nhanh. Phương hướng hoạt động chính của Mỹ những năm tới
là thực hiện chính sách tự do hoá các luồng vốn trong nội bộ các nước thành
viên của ASEAN.
Cuối cùng, chính sách kinh tế của Mỹ còn trù định việc tiến hành các
sáng kiến song phương cùng với một số nước ASEAN nhằm tạo điều kiện
cho phát triển kinh tế, ổn định chính trị và cải cách thị trường vì lợi ích của
chính bản thân nước Mỹ.
Về cơ bản, chính sách kinh tế của Mỹ đối với Việt Nam cũng bao hàm
3 định hướng chủ yếu nêu trên. Việc tăng cường hợp tác kinh tế đối với Việt
Nam xuất phát từ lợi ích của bản thân nước Mỹ và cũng phù hợp với xu thế
toàn cầu hiện nay là hoà bình, hợp tác cùng phát triển, đồng thời cũng phù
hợp với nguyện vọng của Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam ngày càng chiếm
một vị trí quan trọng trong thu hút dòng vốn FDI của Mỹ với những lợi thế
về nguồn nguyên liệu phong phú, nguồn lao động dồi dào với chi phí lao
động thấp, lại là một nước có nhiều cảng biển nước sâu, trong đó có các cảng
mang tính chiến lược, không chỉ tạo thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá
thông thường mà cả các hàng hóa quân sự. Vì vậy, Việt Nam là một trong
những địa điểm hấp dẫn nhất trong các nước ASEAN thu hút các doanh
nghiệp Mỹ đầu tư vào đây.
- Chính phủ Mỹ thúc đẩy các công ty xuyên quốc gia đầu tư ra nước ngoài
Mục tiêu của Mỹ là phát huy lợi thế, củng cố sức mạnh và tăng cường
vai trò lãnh đạo trong nền kinh tế toàn cầu, sắp đặt hệ thống thương mại, tài
chính tiền tệ thế giới, định ra luật lệ mới chuẩn bị cho những thách thức của
thế kỷ XXI. Để thích nghi với toàn cầu hoá, một mặt, Mỹ cơ cấu lại nền kinh
tế, đi vào các mũi nhọn đáp ứng tốt các yêu cầu của giai đoạn phát triển mới
của nền kinh tế thế giới, chủ động tác động vào việc xếp đặt lại các luật chơi
mới của hệ thống thương mại, đầu tư, tài chính - tiền tệ quốc tế theo hướng
tiếp tục đẩy mạnh tự do hoá thương mại và đầu tư trên bình diện toàn cầu,
xuyên khu vực, khu vực và song phương. Đồng thời, Mỹ cũng định ra chiến
lược toàn cầu hoá kinh tế đối ngoại cho thế kỷ XXI, nhằm điều động và khai
49
thác nguồn tài nguyên của toàn thế giới phục vụ cho lợi ích quốc gia, tiếp tục
duy trì địa vị lãnh đạo và tiên phong. Việc lấy sức mạnh quốc gia để thúc đẩy
kinh tế đối ngoại là một bộ phận cấu thành quan trọng của chiến lược kinh tế
đối ngoại Mỹ. Vì thế Mỹ luôn khuyến khích các công ty xuyên quốc gia của
mình tìm kiếm các cơ hội kinh doanh ở nước ngoài nhằm tìm kiếm lợi nhuận
và mở rộng tầm ảnh hưởng của Mỹ ở các nước tiếp nhận đầu tư.
Chiến lược đầu tư của các công ty xuyên quốc gia Mỹ và EU có những
điểm tương đồng. Họ đều quan tâm đến khả năng tiếp cận thị trường nước
nhận đầu tư và coi đó là nền tảng để xây dựng chiến lược đầu tư của mình.
Trong khi đó, các công ty xuyên quốc gia Nhật Bản lại lấy nguồn lao động rẻ
và các tài nguyên thiên nhiên là mục tiêu quan tâm khi đầu tư ra nước ngoài
nhằm đạt được những chi phí sản xuất thấp hơn. Điều này ảnh hưởng rõ rệt
đến những chính sách khuyến khích các công ty xuyên quốc gia tham gia
hoạt động đầu tư nước ngoài của Mỹ, Nhật Bản và EU. Trong khi lựa chọn
nơi đầu tư mới, các công ty xuyên quốc gia Mỹ và EU quan tâm đến thị
trường và khả năng tiêu thụ, nên chiến lược đầu tư của hầu hết các công ty
xuyên quốc gia Mỹ muốn sản xuất và bán hàng hoá dịch vụ ngay tại nước
nhận đầu tư và xuất khẩu ra bên ngoài. Vì thế nhìn chung, đa số các công ty
xuyên quốc gia Mỹ trong bối cảnh hậu khủng hoảng đều có định hướng vào
việc tiêu thụ hàng hoá tại chỗ là chính, chứ không phải để xuất khẩu là chính.
Đối với các chi nhánh của các công ty xuyên quốc gia Mỹ ở nước ngoài,
67% giá trị hàng hoá bán ra được thực hiện trên thị trường nước sở tại, 23%
chuyển sang các thị trường thứ 3 và chỉ có 10% được chuyển về Mỹ.
Nhằm đảm bảo để mỗi nhà đầu tư Mỹ đều có thể mua bảo hiểm đặc
biệt, và giúp đỡ các công ty xuyên quốc gia phát hiện các rủi do chính trị
nghiêm trọng ở các nước nhận đầu tư, đặc biệt là những nước đã nhận sự
giúp đỡ của Mỹ, nay lại quay lại chiếm bất động sản do Mỹ kiểm soát, mà
không có bồi thường thiệt hại, Mỹ đã đưa ra rất nhiều dịch vụ và các cơ quan
hỗ trợ nhằm thúc đẩy các công ty xuyên quốc gia đầu tư ra nước ngoài.
Để hỗ trợ các công ty Mỹ, Chính phủ Mỹ đã thúc đẩy ký các hiệp định
50
song phương với các đối tác như Hiệp định thương mại, hiệp định bảo hộ đầu
tư,v.v... tham gia ký kết các hiệp định đa phương như Hiệp định chung về
thuế quan và mậu dịch (General Agreement on Tariffs and Trade), WTO, cơ
quan bảo lãnh đầu tư đa phương (Multilateral Investment Guarantee Agency)
và thành lập các khối kinh tế như Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ
(North America Free Trade Agreement - NAFTA), APEC... Như vậy có thể
thấy chính phủ Mỹ luôn có nhiều chính sách, biện pháp để thực hiện một
mục đích quan trọng nhất là nhằm tạo lập một vị trí vững chắc cho mình trên
thị trường quốc tế, đồng thời tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các
công ty xuyên quốc gia Mỹ hoạt động tại nước ngoài, tránh các rủi ro về
chính trị và thương mại.
Tóm lại, với các chính sách khuyến khích, hỗ trợ và thúc đẩy các công
ty xuyên quốc gia Mỹ đầu tư ra nước ngoài, Chính phủ Mỹ đã tạo điều kiện
thuận lợi để các công ty xuyên quốc gia yên tâm đầu tư ra nước ngoài tránh
được rủi ro và được bảo đảm những quyền lợi nhất định. Đó cũng là một
trong những nguyên nhân giải thích tại sao Mỹ lại là nước đầu tư ra nước
ngoài nhiều nhất trên thế giới. Tuy nhiên, tỷ lệ đóng góp của FDI ra nước
ngoài của Mỹ trong tổng lượng FDI thế giới giảm dần kể từ năm 1970 đến
nay, giảm từ 54% năm 1970 xuống 21% năm 2000. Sự giảm đi trong khoảng
thời gian trên không hoàn toàn là do sự suy giảm kinh tế của Mỹ mà chủ yếu
là do sự gia tăng rất lớn của FDI toàn cầu, nghĩa là FDI ra nước ngoài của các
nền kinh tế khác (Nhật Bản, Đức, Pháp) đã có mức tăng năng động hơn so với
Mỹ. Sự xuất hiện của các nền kinh tế đang phát triển trong xuất khẩu tư bản
cũng góp phần làm FDI Mỹ ra nước ngoài giảm [97, tr.490], [98, tr.656].
Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 làm cho tỷ lệ FDI Mỹ ra nước ngoài
thường chiếm 20 - 25% FDI toàn cầu đã giảm xuống còn 18,5% năm 2008,
nhưng sau đó đã tăng nhanh trở lại, đạt 25 - 26% trong 5 năm gần đây [80].
2.2.2.2. Đặc điểm đầu tư trực tiếp của Mỹ ra nước ngoài
FDI của Mỹ thường tiếp cận những lĩnh vực kinh tế chủ chốt của nước
nhận đầu tư. Ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, đầu tư trực tiếp của Mỹ
51
chi phối nhiều ngành kinh tế then chốt như khai thác khoáng sản, năng
lượng, cơ khí, xây dựng cơ sở hạ tầng… Ví dụ, Công ty Caltex kiểm soát
trên 80% dầu mỏ khai thác ở Indonesia, đồng thời chi phối luôn cả xuất khẩu
dầu mỏ của nước này; đại bộ phận công nghiệp lọc hoá dầu ở Singapore cũng
do công ty này chi phối; ở Philippines và Malaysia, đầu tư của Mỹ chiếm tỷ
trọng lớn trong các ngành công nghiệp chủ chốt như cơ khí chế tạo, sản xuất,
lắp ráp hàng điện tử…
- Các công ty Mỹ luôn đặt ra mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận trong các
hoạt động của mình ở nước ngoài, đặc điểm này cũng giống với các công ty
Châu Âu. Trong khi đó, mục tiêu hàng đầu của các công ty Nhật Bản là phát
triển tập đoàn, chú trọng tăng tỷ lệ chiếm lĩnh và khai thác thị trường thế
giới, phát triển sản phẩm mới, kỹ thuật mới, tăng cường vị trí cạnh tranh trên
thị trường trong và ngoài nước.
- Các công ty Mỹ luôn chú trọng đến khả năng tiếp cận thị trường của
nước nhận đầu tư và coi đó là nền tảng để xây dựng chiến lược đầu tư của
mình. Trong khi các công ty Nhật Bản quan tâm nhiều hơn đến nguồn lao
động rẻ và các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhằm đạt được những chi phí
sản xuất thấp hơn. Với quan điểm như vậy, hoạt động đầu tư ra nước ngoài
của các công ty Mỹ mang tính tập trung cao. Điều này cũng lý giải tại sao
trong thời gian qua, các nước Châu Âu và các nước phát triển vẫn là nơi nhận
được nhiều vốn đầu tư nhất của Mỹ, đó là vì khu vực này có qui mô lớn, giàu
có và tính liên kết của các thị trường cao.
- Các TNC Mỹ cũng rất quan tâm đến vị trí chiến lược của nước nhận
đầu tư. Họ muốn phát triển mạng lưới sản xuất và phân phối khép kín trong
châu lục chứ không chỉ ở một nước với sự liên kết cao và phân công chặt chẽ
rõ ràng. Do đó vị trí địa - kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng đối với Mỹ.
Singapore là một ví dụ điển hình ở khu vực Đông Nam Á về vị trí chiến lược
địa - kinh tế đối với FDI Mỹ ra nước ngoài. Việt Nam cần chú ý tới vị trí địa
- kinh tế của mình trong việc thu hút FDI từ Mỹ, nhất là trong bối cảnh quốc
52
tế mới hiện nay.
- Các nhà đầu tư Mỹ có xu hướng tập trung vào những dự án lớn với
trình độ công nghệ cao như công nghệ thông tin, viễn thông… Số vốn đầu tư
có thể nằm trong khoảng 200 triệu tới 1 tỷ USD. Ngoài ra, năng lượng cũng
là lĩnh vực Mỹ đặc biệt quan tâm, nhất là các dự án nhiệt điện với số vốn đầu
tư có thể lên tới 4 đến 5 tỷ USD. Lĩnh vực đầu tư thứ ba mà Mỹ tập trung đầu
tư là dịch vụ và du lịch với số vốn cũng rất lớn, có thể từ 1 tới 10 tỷ USD.
Những dự án ở các lĩnh vực này đều được Mỹ sử dụng máy móc, thiết bị và
công nghệ chất lượng cao hàng đầu thế giới với trình độ quản lý tiên tiến và
khoa học.
Khác với đầu tư của Nhật Bản thường ở quy mô vừa phải, áp dụng quy
trình công nghệ tương đối đơn giản, đầu tư của Mỹ tuy ít hơn Nhật Bản về số
lượng dự án nhưng quy mô khá lớn, sử dụng công nghệ sản xuất hiện đại và
trình độ quản lý tiên tiến. Xu hướng đầu tư của Nhật Bản là tập trung vào
những ngành công nghiệp truyền thống như dệt, vải sợi, chế biến nguyên liệu
thô, lắp ráp hàng điện tử, trong khi đó Mỹ lại chú ý đến các ngành khai
khoáng và dịch vụ; năng lượng và các ngành cơ khí chế tạo.
Nếu phân FDI của Mỹ ra nước ngoài theo ba khu vực [105] (khai
thác/khu vực I, chế tạo/khu vực II và dịch vụ/khu vực III) thì thấy tỷ FDI Mỹ
đầu tư vào khu vực I là rất thấp, chỉ chiếm khoảng 5% tổng FDI Mỹ ra nước
ngoài, hơn 70% là vào khu vực III (năm 2007), trong khi FDI của Mỹ vào
khu vực II giảm mạnh, chủ yếu do FDI Mỹ đầu tư vào khu vực III tăng lên.
Xu hướng này hiện nay vẫn tiếp tục.
- Các nhà đầu tư Mỹ cũng rất coi trọng cơ sở hạ tầng của nước nhận
đầu tư. Đây là điều kiện cần thiết cho hoạt động sản xuất và kinh doanh của
các TNC Mỹ diễn ra một cách trôi chảy. Cơ sở về thông tin liên lạc, điện,
giao thông vận tải... có ảnh hưởng lớn đến chi phí đầu vào quá trình sản xuất
và ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh sản phẩm của các TNC Mỹ, vì vậy,
các nước tiếp nhận FDI Mỹ phải cải thiện các cơ sở hạ tầng nếu muốn thu
53
hút các công ty vào đầu tư.
- Ngoài ra, các TNC Mỹ cũng đặc biệt quan tâm đến chất lượng nguồn
nhân lực. Họ không chú trọng nhiều vào nguồn lao động rẻ, mà là kỹ năng
lao động. Nguồn nhân lực có dồi dào đi chăng nữa, nhưng trình độ kỹ năng
thấp thì cũng không hấp dẫn các TNC Mỹ. Những ngành được các TNC Mỹ
quan tâm là những ngành chế tạo, công nghệ cao và dịch vụ đòi hỏi trình độ
chuyên môn và kỹ năng quản lý lao động cao.
- Các nhà đầu tư Mỹ cũng chú ý đến cơ cấu công nghiệp của các nước
ASEAN, tạo điều kiện để ngành này dịch chuyển theo hướng phù hợp cơ cấu
kinh tế của Mỹ và bổ trợ cho ngành công nghiệp Mỹ. Điều này thể hiện ở
chỗ, các công ty Mỹ chỉ đầu tư vào những ngành sản xuất ra sản phẩm mà
Mỹ không có hoặc sản xuất không có hiệu quả. Các công ty Mỹ cũng đặc
biệt chú ý đến việc đầu tư vào các ngành khai thác khoáng sản và chế biến
nông sản nhằm tạo nguồn nguyên liệu năng lượng chiến lược phục vụ cho
các ngành công nghiệp của Mỹ. Trên thực tế, mặc dù rất giàu có về tài
nguyên và nguyên liệu cho sản xuất nhưng để dự trữ nguồn trong nước, Mỹ
vẫn muốn sử dụng nguồn từ bên ngoài thay vì khai thác ở trong nước.
2.2.3. Thực tiễn thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số
quốc gia Châu Á
Chính sách thu hút FDI của một số quốc gia Châu Á, trong đó có FDI
của Mỹ là một thực tiễn sinh động.
2.2.3.1. Tại Thái Lan
Từ một nước phát triển nông nghiệp là chủ yếu, Thái Lan đã trở thành
một nước công nghiệp mới nhờ chính sách thu hút FDI thích hợp và hiệu quả
trong giai đoạn đầu.
Chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài được thực hiện từ năm
1954, đến năm 1972 ban hành luật đầu tư nước ngoài và sau đó sửa đổi vào
năm 1986, 1989. Luật Đầu tư nước ngoài Thái Lan cho phép người nước
ngoài đầu tư vào tất cả các ngành, trừ các ngành trồng lúa, nghề khai thác
muối (muối mỏ), buôn bán nông sản trong nước, buôn bán bất động sản, xây
54
dựng. Trong các thời kỳ khác nhau, Thái Lan có các chính sách thu hút FDI
khác nhau nhằm thực hiện các mục tiêu nhất định:
Thời kỳ 1961-1971 là thời kỳ nền kinh tế thiếu cả vốn lẫn kỹ thuật, vì
thế trong giai đoạn này, chính sách thu hút đầu tư của Thái Lan tập trung
khuyến khích phát triển các liên doanh với nước ngoài.
Thời kỳ 1972-1986 là thời kỳ Thái Lan thực thi chính sách giảm nhập
khẩu, chỉ cho phép nhập khẩu chủ yếu là máy móc, trang thiết bị và nguyên
vật liệu chưa sản xuất được trong nước. Trong giai đoạn này, chính sách đầu
tư tập trung vào khuyến khích các dự án làm hàng xuất khẩu, các dự án phải
tạo ra 80% sản phẩm phục vụ xuất khẩu.
Thời kỳ 1987-1997 là thời kỳ khuyến khích mạnh mẽ các dự án sản xuất
hàng xuất khẩu. Những công ty có 50% sản phẩm làm ra để xuất khẩu thì các
nhà đầu tư nước ngoài có thể chiếm phần lớn cổ phần, còn các công ty có
100% sản phẩm phục vụ xuất khẩu thì có quyền bỏ 100% vốn để mua cổ
phần công ty đó. Giảm bớt các dự án tập trung ở Bangkok, đồng thời cũng
cho phép các nhà tư bản Thái Lan đầu tư ra nước ngoài.
Thời kỳ từ năm 1998 đến nay, Thái Lan chú trọng FDI đến từ các nước
phát triển, đặc biệt từ các công ty Mỹ. Rất nhiều doanh nghiệp Mỹ đã đến
Thái Lan hoạt động, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến xuất khẩu và du lịch.
Việt Nam có thể học hỏi Thái Lan thu hút FDI Mỹ thông qua các khu chế
xuất và dự án du lịch giải trí, đặc biệt ở các địa điểm như Phú Quốc hay Đà Nẵng.
2.2.3.2. Tại Indonesia
Là nước có các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú nhưng lại thiếu
vốn để khai thác, do đó đường lối phát triển kinh tế của nước này cũng phải
dựa vào nguồn vốn nước ngoài. Luật đầu tư nước ngoài Indonesia ra đời năm
1967, trong đó có các điểm đáng chú ý:
(i) Thời gian hoạt động của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài có thể
lên đến 30 năm;
(ii) Khuyến khích hình thức liên doanh, trong đó phần góp vốn của các
chủ đầu tư trong nước tối thiểu là 20% vốn pháp định vào thời điểm thành
55
lập công ty và trong vòng 15 năm sau khi hoạt động được phép tăng vốn ít
nhất tới 51%;
(iii) Được miễn thuế nhập khẩu và thuế doanh thu đối với hàng nhập
khẩu dùng cho mục đích góp vốn đầu tư.
Việt Nam có thể học hỏi ở Indonesia về sử dụng tất cả các hình thức
đầu tư mà các TNC Mỹ muốn và thực hiện chế độ ưu đãi thuế.
2.2.3.3. Tại Malaysia
Trong các nước đang phát triển, Malaysia được đánh giá là nước thành
công trong thu hút FDI để thực hiện công nghiệp hóa. Từ một nước nông
nghiệp lạc hậu, đa sắc tộc, tích luỹ nội địa thấp (vào những năm 1980,
Malaysia vẫn còn là nước xuất khẩu dầu thô, dầu thực vật, cao su, chì, gỗ và
các nguyên liệu khác, tỷ lệ của hàng công nghiệp chế biến trong tổng kim
ngạch xuất khẩu mới đạt 22% vào những năm 1980), Malaysia đã vươn lên
thành quốc gia thu nhập trung bình cao và đang hướng đến nước có thu nhập
cao vào năm 2020. Để đạt được thành tựu ấy, Malaysia luôn coi trọng nguồn
vốn FDI để phát triển đất nước, vì đối với Malaysia, đây là yếu tố then chốt
để thực thiện thành công công nghiệp hóa. Với quan điểm đó, Malaysia đã
tích cực cải thiện môi trường đầu tư. Nhờ đó, dòng FDI đổ vào Malaysia
ngày càng tăng và đã đóng góp to lớn vào sự tăng trưởng “thần kỳ” của nền
kinh tế này. Năm 1991 mới thu hút được 6,4 tỷ USD vốn và từ năm 1996, tỷ
lệ này đã tăng lên 80 %, nhờ đó hiện nay Malaysia là một trong những trung
tâm sản xuất điện tử cao cấp nổi tiếng trên thế giới. Để thu hút được nguồn
vốn FDI như vậy, Malaysia đã tập trung giải quyết những vấn đề sau đây:
(i) Xây dựng hệ thống chính trị ổn định và giữ vững đoàn kết dân tộc;
(ii) Phát triển mạnh mẽ hệ thống giáo dục, trong đó có giáo dục nghề;
(iii) Xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại;
(iv) Có kế hoạch phát triển kinh tế ngắn hạn và dài hạn với mục tiêu rõ ràng;
(v) Có chương trình khuyến khích đầu tư tích cực cho cả nhà đầu tư
56
trong và ngoài nước.
Với Việt Nam, qua chính sách thu hút FDI của Malaysia có thể học hỏi
kinh nghiệm đào tạo nguồn nhân lực cho FDI và xây dựng chiến lược chung về thu
hút FDI. Đây là một cánh cửa quan trọng để thu hút FDI của Mỹ vào Việt Nam.
2.2.3.4. Tại Trung Quốc
Trong những năm qua, Trung Quốc đã thu hút được một khối lượng lớn
vốn FDI trên thế giới (mặc dù có giảm sút sau khủng hoảng tài chính toàn
cầu). Có thể nói, FDI cùng với các luồng vốn khác đã thực sự đóng vai trò
mở đường cho sự phát triển kinh tế Trung Quốc trong những thập kỷ qua,
góp phần tích cực thúc đẩy quá trình hiện đại hóa Trung Quốc. So sánh với
Việt Nam, Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng cơ bản về điều kiện phát
triển và sự lựa chọn mô hình kinh tế chuyển đổi. Việt Nam đi sau Trung
Quốc gần 10 năm trong việc thu hút FDI. Vì vậy, việc nghiên cứu, học tập
kinh nghiệm thu hút FDI của Trung Quốc sẽ rất bổ ích đối với Việt Nam
trong thu hút FDI nói chung và thu hút FDI Mỹ nói riêng.
(i) Mở rộng địa bàn thu hút vốn FDI nước ngoài từng bước, nhiều tầng,
ra mọi hướng
Các nhà lãnh đạo Trung Quốc chủ trương mở cửa vùng ven biển là nơi
có vị trí thuận lợi trong giao lưu buôn bán quốc tế. Từ mở cửa ven biển sẽ
dần dần mở sâu vào nội địa. Những bước đi như vậy đã dần hình thành kinh
tế mở cửa từ điểm, đến tuyến, đến diện. Với những bước đi thận trọng nhưng
khẩn trương, Trung Quốc đã tiến hành mở cửa từng khu vực, bắt đầu từ việc
thành lập 5 đặc khu kinh tế, sau đó là việc mở cửa 14 thành phố ven biển, 13
thành phố ven biên giới nhằm mở rộng thương mại và đầu tư vùng biên.
Với Việt Nam, Quảng Ninh, Hải Phòng, Quảng Bình, Đà Nẵng, Khánh
Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu và các tỉnh biên giới là những tỉnh có rất nhiều điều
kiện thuận lợi để lập và xây dựng cửa khẩu và cảng biển quốc tế để từ đó xây
dựng các khu công nghiệp, khu kinh tế mở, khu chế xuất, khu kinh tế, khu du
lịch giải trí liên hoàn để thu hút FDI. Mỹ đặc biệt mạnh trong lĩnh vực công
57
nghệ cao, vận tải và du lịch giải trí nên phát triển cửa khẩu và cảng biển quốc
tế ở các tỉnh theo hướng trên nhằm thu hút FDI từ Mỹ là điều hoàn toàn khả
thi và có tiềm năng lớn với Việt Nam.
(ii) Cải thiện môi trường luật pháp
Cho đến nay Trung Quốc đã ban hành trên 500 văn bản gồm các bộ luật
và pháp quy liên quan đến thương mại và FDI. Luật pháp được xây dựng trên
nguyên tắc: bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng tập quán quốc tế, theo cam kết
WTO. Với Việt Nam điều này đáng học tập vì Mỹ rất coi trọng luật quốc tế
về đầu tư và luật đầu tư của Mỹ có nhiều điểm rất phù hợp với các cam kết
của Việt Nam với WTO. Để thu hút FDI từ Mỹ, việc hiểu và làm theo luật
quốc tế trong đó có cam kết WTO là rất quan trọng, quyết định hiệu quả đầu tư.
(iii) Tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho các hoạt động FDI
nước ngoài
Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính sách biện pháp trên
nhiều lĩnh vực để tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn các nhà đầu tư nước
ngoài. Các chủ trương, biện pháp được hướng vào cải tạo và xây dựng cơ sở
hạ tầng, thực hiện các ưu đãi (như ưu đãi thuế đối với khu vực đầu tư, ưu đãi
thuế theo kỳ hạn kinh doanh và ưu đãi thuế trong tái đầu tư), đa dạng hóa các
hình thức đầu tư và chủ đầu tư, đặc biệt là giữa người Hoa trong nước và
Hoa kiều, mở rộng các lĩnh vực đầu tư.
Tháng 6/1995, Trung Quốc công bố quy định chỉ đạo phương hướng
đầu tư nước ngoài, trong đó chỉ rõ 18 ngành được khuyến khích đầu tư (trước
chỉ có 15 ngành), 15 ngành bị hạn chế đầu tư và 13 ngành cấm đầu tư. Để
khuyến khích phát triển các ngành nông nghiệp, thông tin, năng lượng và
phát triển sản xuất trong khu vực miền Trung và miền Tây, Trung Quốc đã
đưa ra nhiều chế độ ưu đãi mới với những quy định cụ thể để khuyến khích
vốn FDI nước ngoài vào những ngành và khu vực này.
Với những biện pháp, chính sách trên, các chuyên gia nước ngoài đánh
giá Trung Quốc là nước hiện có môi trường đầu tư phù hợp tới 75% so với
58
tiêu chuẩn thế giới.
Để ngăn cản sự giảm sút của dòng vốn FDI, Chính phủ Trung Quốc đưa
ra hàng loạt các chính sách, cơ chế nhằm cải thiện môi trường đầu tư. Đó là:
Bắt đầu từ 1/1/1998, Trung Quốc thực hiện miễn thuế nhập khẩu và
thuế giá trị gia tăng cho các thiết bị sản xuất nhập khẩu, đồng thời đưa ra một
danh mục các ngành dành cho FDI. Những nhà đầu tư quốc tế được khuyến
khích lập các công ty buôn bán với nước ngoài ở miền Trung, miền Tây và
các thành phố vùng Duyên hải. Ngoài ra Trung Quốc cũng thông qua danh
mục hạn chế đầu tư. Giảm thuế thu nhập cho các công ty nước ngoài đầu tư ở
những khu vực nội địa kém phát triển từ 33% xuống còn 15%.
Tháng 3/1999, Trung Quốc cho phép mở cửa thêm một số lĩnh vực mà
trước đây người nước ngoài không được đầu tư vào như viễn thông, bảo hiểm.
Chính phủ Trung Quốc đưa ra các biện pháp ngăn ngừa các khoản chi
phí bất hợp lý và bảo đảm khoản thu hợp pháp của doanh nghiệp: cấm hoàn
toàn các hoạt động thanh tra trái phép, thu lệ phí không hợp pháp, áp đặt thuế
và sử phạt vô cớ. Nếu như trước kia muốn có được một dự án đầu tư cần phải
có 70 con dấu mới được thực thi thì nay quá trình này được rút ngắn tối đa và
chỉ cần một con dấu của cơ quan thẩm quyền cao nhất. Ngoài ra, Trung Quốc
còn mở rộng quyền hạn cho từng địa phương, các nhà chức trách tỉnh, thành
phố có quyền phê chuẩn những dự án đầu tư dưới 30 triệu USD.
Nhà nước khuyến khích các TNC đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau, nhất là
lĩnh vực công nghệ cao, mở rộng các dây chuyền sử dụng và nâng cấp kỹ thuật.
Thúc đẩy hợp tác giữa các công ty vừa và nhỏ trong nước sản xuất các
phụ tùng, linh kiện cho các doanh nghiệp có vốn nước ngoài.
Ngày 15/11/1999, Trung Quốc đã ký với Mỹ hiệp định thoả thuận một
số điều kiện nhằm giúp Trung Quốc mau chóng gia nhập WTO với hy vọng
khi đã là thành viên chính thức của tổ chức này thì thị trường Trung Quốc ở
cả hai lĩnh vực thương mại và đầu tư sẽ nhộn nhịp hơn.
Kết quả là sang năm 2000, sau hàng loạt những cố gắng, nỗ lực của
Chính phủ Trung Quốc trong việc cải cách các cơ chế và môi trường đầu tư,
lượng vốn FDI đổ vào Trung Quốc lại bắt đầu phục hồi trở lại và đạt mức
59
trên 42 tỷ USD.
Chương 3
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA MỸ VÀO VIỆT NAM
3.1. Quan điểm chính sách của Mỹ về đầu tư vào Việt Nam
3.1.1. Quan điểm chính sách của các nhà đầu tư Mỹ
Giai đoạn từ năm 1988 - 2001. Trong thời kỳ từ năm 1988 đến năm
1995, bao vây cấm vận vẫn là trọng tâm chính sách của Chính phủ Mỹ đối
với Việt Nam. Do đó, các công ty của Mỹ chưa thể có mặt chính thức tại Việt
Nam. Kể từ sau khi bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ (năm 1995), các nhà
đầu tư Mỹ mới chính thức đầu tư vào Việt Nam. Đầu tư của các công ty Mỹ
vào Việt Nam giai đoạn 1995 - 2001, được gọi là Làn sóng đầu tư thứ nhất
khi các công ty sản xuất hàng tiêu dùng như Procter & Gamble, Coca-Cola,
Pepsi-Cola… thành lập cơ sở ban đầu tại Việt Nam thông qua nước thứ ba
như là những tìm tòi thử nghiệm để chuẩn bị cho các kế hoạch phát triển kế
tiếp với mục tiêu sản xuất và tiêu thụ hàng hóa tại thị trường Việt Nam.
Chính sách đầu tư của các công ty Mỹ trong giai đoạn này chủ yếu là
đầu tư để phục vụ cho các thị trường ở nước ngoài chứ không phải để xuất
khẩu vào Mỹ như những năm 70, 80 thế kỷ XX. Cuối thập kỷ 90 của thế kỷ
XX, trên 63% tổng số hàng hóa và 40% số dịch vụ là do các chi nhánh của
các TNC của Mỹ bán ra ở các thị trường địa phương nước ngoài. Các nước
Châu Á, nơi có mức sống dân cư và sức mua tăng nhanh thúc đẩy các chi
nhánh của các TNC Mỹ cũng tăng nhanh, từ 4,1% năm 1982 lên đến khoảng
70% năm 2000. Trong đó, Trung Quốc đã thu hút một lượng lớn các TNC
của Mỹ. Các nhà đầu tư Mỹ cũng nhìn nhận Việt Nam với chiều hướng tích
cực hơn, bởi lẽ sức mua của thị trường Việt Nam khi đó đang tăng trưởng rất
nhanh, cộng với dân số khoảng 70 - 80 triệu người khi đó, phần lớn là trong
độ tuổi lao động. Đặc điểm này cho thấy Việt Nam có sức hút đối với các
60
TNC của Mỹ.
Thay đổi cơ cấu đầu tư, các nhà đầu tư Mỹ chuyển hướng đầu tư khi tỷ
trọng đầu tư vào các nước phát triển giảm xuống từ 76% năm 1987 còn
khoảng gần 70% vào những năm 2001.
Cơ cấu đầu tư theo ngành của Mỹ cũng có những thay đổi, thay vì đầu
tư vào ngành khai thác nguyên liệu, đặc biệt là khai thác dầu, ngành công
nghiệp chế tạo lại tập trung vào ngành dịch vụ (thông tin, thương mại, ngân
hàng, tài chính, bảo hiểm, ...).
Tại Việt Nam, FDI của Mỹ trong giai đoạn này cũng tương tự như FDI
ra nước ngoài của Mỹ khi tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ và nông-
lâm-ngư nghiệp lần lượt là 59,5%; 28,2% và 12,5%.
Giai đoạn 2002-2007 là làn sóng đầu tư thứ hai diễn ra tiếp theo sau
Hiệp định thương mại Việt - Mỹ cho đến khi bắt đầu khủng hoảng tài chính
toàn cầu. Hiệp định này giảm thuế đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam vào
thị trường Mỹ từ mức trung bình 45% xuống còn 3%. Ở làn sóng đầu tư thứ
hai này, các đối tác không phải là các công ty của Mỹ, Hàn Quốc hay Nhật
Bản, mà là các công ty đối tác chiến lược lâu dài của các công ty bán lẻ của
Mỹ đầu tư vào Việt Nam. Các nhà máy này sản xuất hàng xuất khẩu vào thị
trường Mỹ, như hàng dệt may, da giày hay đồ trang trí nội thất chiếm khoảng
2/3 xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ, tương đương 8 tỷ USD/năm.
Chính sách đầu tư của các nhà đầu tư Mỹ trong giai đoạn này đã có
những sự thay đổi khá rõ, đặc biệt là những thay đổi trong quan hệ giữa công
ty mẹ và các chi nhánh của chúng. Các TNC của Mỹ thực hiện chính sách
phi tập trung hóa, tức là các vấn đề chiến lược không chỉ do các công ty mẹ
quyết định mà nó đã được giao cho các chi nhánh nhiều hơn. Do đó, các chi
nhánh chủ động hơn trong việc tìm kiếm thị trường và đầu tư. Đặc biệt, các
quyết định được đưa ra nhanh hơn. Điều này cũng phần nào lý giải tại sao
các chi nhánh đầu tư vào Việt Nam nhiều hơn các công ty mẹ của chúng.
Chính vì thế trong giai đoạn này, đã có những nghiên cứu đánh giá thực trạng
đầu tư của Mỹ vào Việt Nam bao gồm cả qua các nước thứ ba (quyết định
61
đầu tư từ các công ty con có công ty mẹ tại Mỹ) [40].
Cơ cấu đầu tư của các công ty Mỹ ở giai đoạn này đã thấy khá rõ xu
hướng tập trung vào nhóm các nước có tốc độ phát triển nhanh nhất. Năm
2003, phần của 12 nước trong nhóm nước phát triển nhanh nhất này chiếm
gần 72% đầu tư trực tiếp tích lũy của Mỹ vào các nước đang phát triển với
đảo Bermuda (84,6 tỷ USD), Mexico (61,5 tỷ USD), Singapore (57,6 tỷ
USD), Hongkong (44,3 tỷ USD), Brazil (29,9 tỷ USD). Trong khi đó, 48
nước Châu Phi phía Nam Sahara chỉ chiếm 1% đầu tư của Mỹ vào các nước
đang phát triển [67]. Việt Nam rất thuận lợi khi nằm trong khu vực có tốc độ
tăng trưởng kinh tế năng động nhất thế giới, và bản thân Việt Nam cũng là
nước có tốc độ tăng trưởng thuộc loại khá cao vào giai đoạn này.
Tiếp tục xu hướng đầu tư của giai đoạn trước, quan điểm của các nhà
đầu tư Mỹ ở giai đoạn này không thay đổi, nhưng lĩnh vực dịch vụ được chú
ý hơn và tiếp tục là khu vực có sự tham gia nhiều hơn của các dự án và với
lượng vốn đầu tư khá. Năm 2003, lĩnh vực dịch vụ chiếm 71,2% tổng đầu tư
của Mỹ ra nước ngoài. Trong 14 năm (1990 - 2003) đầu tư trực tiếp của Mỹ
vào dịch vụ đã tăng 6,7 lần và đạt 1.274 tỷ USD; trong đó dịch vụ tài chính
và bảo hiểm là 299,8 tỷ USD, bán buôn 140,6 tỷ USD, ngân hàng 63,7 tỷ
USD, thông tin 47,5 tỷ USD, dịch vụ khoa học kỹ thuật 40,6 tỷ USD. Tuy
nhiên, FDI của Mỹ vào Việt Nam theo ghi nhận của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
lại tương đối khác khi tỷ trọng FDI của Mỹ vào các ngành công nghiệp, dịch
vụ và nông-lâm-ngư nghiệp tại Việt Nam lần lượt là 71,3%; 20,6% và 8,1%.
Giai đoạn từ năm 2008 đến nay được coi là làn sóng đầu tư thư ba của
đầu tư Mỹ vào Việt Nam. Sau khi Việt Nam tham gia WTO thì đó là giai
đoạn các doanh nghiệp Mỹ đầu tư vào Việt Nam chú trong đến thị trường
toàn cầu nhiều hơn. Giai đoạn này các công ty Mỹ chú trọng đến các nhà
máy sản xuất hiện đại. Sản phẩm làm ra ngoài việc tiêu thụ ở Việt Nam còn
chủ yếu xuất khẩu sang thị trường toàn cầu.
Trong giai đoạn này, Mỹ có xu hướng tăng đầu tư vào khu vực Châu Á
- Thái Bình Dương bởi sự hấp dẫn của các thị trường mới nổi và những cơ
62
hội đầu tư mới được tạo nên do làn sóng tự do hóa kinh tế đang diễn ra mạnh
mẽ ở đây. Xét về tổng thể, đây là các nước có thu nhập thấp, do đó đầu tư
vào các nước này Mỹ sẽ có cơ hội tiếp cận với nguồn lao động rẻ. Nhưng các
nhà đầu tư Mỹ cho rằng đầu tư vào khu vực này chủ yếu vẫn là tiếp cận thị
trường, nên đầu tư của Mỹ vào Châu Á - Thái Bình Dương không ồ ạt. Một
trong những nước mà Mỹ quan tâm là Singapore. Sự hấp dẫn của Singapore
đối với Mỹ bắt nguồn từ những biện pháp khuyến khích đầu tư của chính phủ
nước này và vị trí địa lý quan trọng của nó như là chiếc cầu nối cho Mỹ vào
thị trường Châu Á rộng lớn.
Ngay trong thị trường Châu Á, Mỹ cũng có những điều chỉnh nhất
định. Mỹ đã đầu tư nhiều vào các thị trường lớn như Trung Quốc, Singapore,
Thái Lan,... nhưng hiện nay Mỹ cũng muốn phân tán các đầu tư của mình,
không muốn tập trung quá mức vào các thị trường này. Như vậy, nơi mà họ
tìm đến sẽ là Việt Nam và một vài nước đang nổi lên về kinh tế. Ngoài việc
phân tán rủi ro đầu tư ở những nước Mỹ đã đầu tư nhiều, các TNC của Mỹ
còn muốn khám phá “miền đất mới” để tìm kiếm lợi nhuận cho mình. Về cơ
bản Việt Nam là nơi đang đáp ứng được yêu cầu đó của Mỹ.
Các TNC Mỹ đang tích cực tận dụng những ưu đãi trong các chính
sách thu hút đầu tư nước ngoài của các nước đang phát triển. Châu Á- Thái
Bình Dương là khu vực có nhiều ưu đãi đó. Năm 2003, Mỹ đã đầu tư vào
khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tới 463 tỷ USD (28,7% tổng đầu tư ra
nước ngoài của Mỹ so với 24% năm 1990). Đặc biệt, những nước có ưu đãi
thuế, đánh thuế vào lợi nhuận thấp và tự do di chuyển lợi nhuận, càng thu hút
được nhiều vốn đầu tư của các TNC Mỹ. Với những điều chỉnh này, trong
những năm 1999 - 2002, lợi nhuận của các TNC Mỹ tăng 68%, trong khi lợi
nhuận của các chi nhánh TNC Mỹ ở các nước Anh, Đức và hàng loạt các
nước khác giảm mạnh. Theo Bộ Thương mại Mỹ, có 17 cent trong 1 USD lợi
nhuận Mỹ nhận được ở nước ngoài (năm 2003) là từ các nước có mức thuế
63
thấp, con số này năm 1999 chỉ là 10 cent.
Cơ cấu FDI của Mỹ vào Việt Nam ở giai đoạn này đã ghi nhận sự đột
phá của các dự án vào khu vực dịch vụ với tổng lượng vốn chiếm 68,76%,
ngành công nghiệp là 29,62% và nông-lâm-ngư nghiệp là 1,62%.
3.1.2. Quan điểm chính sách của Chính phủ Mỹ
Mối quan hệ giữa Chính phủ và các nhà đầu tư Mỹ là mối quan hệ
tương hỗ. Chính vì thế, mặc dù trong những năm gần đây, Chính phủ Mỹ kêu
gọi các nhà đầu tư Mỹ đầu tư nội địa những vẫn song song thực hiện các
chính sách thúc đẩy và bảo vệ các nhà đầu tư ở nước ngoài. Chính sách xoay
trục của Mỹ, hay đàm phán TPP cũng như việc Chính phủ Mỹ nhìn nhận và
nâng tầm lên đối tác toàn diện trong quan hệ Việt - Mỹ là quan điểm quan
trọng định hướng cho các công ty Mỹ đầu tư vào Việt Nam.
Hoạt động của các TNC Mỹ trên thế giới, bên cạnh những nỗ lực của
bản thân, chúng còn chịu ảnh hưởng của chính sách đầu tư ra nước ngoài của
Chính phủ Mỹ. Chính phủ Mỹ đã thành lập nhiều tổ chức hỗ trợ thương mại
đầu tư như Cơ quan phát triển Quốc tế Mỹ (USAID), EXIMBANK, Công ty
Đầu tư tư nhân hải ngoại (OPIC); Chính phủ Mỹ có những chính sách bảo hộ
quyền sở hữu tài sản cho các công ty Mỹ hoạt động trong nước và nước ngoài.
Chính phủ Mỹ đẩy mạnh ký các hiệp định song phương với các đối tác
như Hiệp định bảo hộ đầu tư, Hiệp định thương mại và các Hiệp định đa
phương khác. Hầu hết các quy định về cơ chế chính sách đầu tư ra nước
ngoài của Mỹ đều thực hiện theo những nguyên tắc của WTO. Như vậy có
thể thấy, Chính phủ Mỹ luôn có nhiều chính sách, biện pháp để thực hiện
mục đích quan trọng nhất là nhằm tạo lập một vị trí vững chắc cho mình trên
trường quốc tế, đồng thời tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh
nghiệp Mỹ hoạt động tại nước ngoài, tránh các rủi ro về chính trị hay thương mại.
Chính phủ Mỹ sử dụng những ưu tiên và chính sách thúc đẩy đầu tư ra
nước ngoài (như đã nêu ở phần 2.2.2.1) để bảo vệ các công ty Mỹ và các nhà
đầu tư Mỹ hoạt động kinh doanh tại thị trường nước ngoài trong đó có Việt
Nam. Như đã nêu, phía Mỹ khá nhạy cảm với các đám phán của Chính phủ
64
Việt Nam với Chính phủ Mỹ và với cộng đồng thế giới. Với việc Việt Nam
mở cửa hội nhập ngày càng sâu rộng thì các nhà đầu tư của Mỹ luôn đánh giá
cao thị trường Việt Nam.
Các thế hệ đại sứ Mỹ tại Việt Nam luôn trở thành cầu nối cung cấp
thông tin về thị trường Việt Nam, chỗ dựa tin cậy cho các nhà đầu tư Mỹ vào
Việt Nam. Đại sứ Michael Marine cho biết các doanh nghiệp Mỹ khá kỳ
vọng vào những cơ hội đầu tư vào Việt Nam đặc biệt là khi Việt Nam đang
có những chuyển biến tốt trong hoàn thiện và cải thiện môi trường đầu tư
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu - rộng như hiện nay.
Đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Mỹ tại Việt Nam cũng có
những đánh giá tương tự, nhất là khi Việt Nam gia nhập vào các tổ chức
quốc tế, tham gia mạnh mẽ hơn trong các quan hệ quốc tế. Bởi vì việc tham
gia này giúp Việt Nam tiếp tục cải cách trong nước theo các cam kết và như
vậy các thể chế kinh tế sẽ tiếp cận được với các thông lệ quốc tế, những cơ
hội kinh doanh sẽ đến với các doanh nghiệp của Mỹ.
Các nhà đầu tư Mỹ quan tâm đến tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ,
tốc độ công nghiệp hóa, nguồn nhân lực dồi dào, sự ổn định chính trị và triển
vọng môi trường đầu tư ngày càng được cải thiện, nhất là khi TPP có hiệu
lực mà Việt Nam là một trong 12 quốc gia thành viên. Những công ty Mỹ đã
hiện diện tại Việt Nam cũng bắt đầu tính đến chuyện tăng mức vốn đầu tư
hay mở thêm dự án…
Nhìn chung, cả các nhà đầu tư và Chính phủ Mỹ đều có những quan tâm
đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam cũng như đến thương mại giữa hai nước.
Đây là cơ hội tốt cho Việt Nam trong việc tăng cường thu hút FDI Mỹ trong
giai đoạn sắp tới.
Theo thông tin chính thức, trong những năm tới, tình hình kinh tế - xã
hội Việt Nam từng bước được ổn định, nền kinh tế có thể phục hồi mạnh mẽ,
thị trường tiếp tục được mở rộng, cơ sở hạ tầng cũng sẽ tiếp tục được nâng
cấp. Nền kinh tế thế giới tiếp tục phục hồi kéo theo sự phục hồi dòng vốn
FDI trên toàn cầu. Theo đánh giá của phía Mỹ, thời điểm để Mỹ trở thành
65
nhà đầu tư số một ở Việt Nam đang đến gần khi lộ trình mở cửa các dịch vụ
viễn thông, tài chính, năng lượng… vốn là thế mạnh của Mỹ đã gần kề.
Nhiều nhà kinh tế Mỹ cho rằng trong vài năm tới đây sẽ có nhiều tỷ USD của
các công ty Mỹ đổ vào Việt Nam. Chỉ cần một số tập đoàn lớn xuất hiện trên
những lĩnh vực công nghệ cao sẽ tạo hiệu ứng thu hút nhiều doanh nghiệp ở
các lĩnh vực khác đến Việt Nam.
3.2. Quan điểm chính sách của Việt Nam đối với đầu tư trực tiếp
nước ngoài
Có thể thấy triển vọng đầu tư nước ngoài, đặc biệt là của Mỹ - một nước
có tiềm lực kinh tế mạnh, với hàng trăm công ty đa quốc gia quy mô lớn
hàng đầu thế giới, hoạt động trên nhiều lĩnh vực, đang có mặt ở khắp nơi trên
thế giới. Hầu như tất cả các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển mong
muốn có được dòng đầu tư từ các công ty Mỹ. Các công ty Mỹ ưa thích đầu
tư vào các quốc gia, vùng lãnh thổ có cơ sở hạ tầng phát triển, trình độ lao
động chuyên môn cao, luật pháp ổn định rõ ràng, mức độ rủi ro thấp. Với
những tiêu chí này thì các nước khu vực Châu Á - Thái Bình Dương là địa
chỉ hấp dẫn có thể thu hút được FDI Mỹ.
Với những nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư trong nước, tăng cường
xúc tiến đầu tư nước ngoài, ký kết và thực hiện các hiệp định song phương
liên quan đến đầu tư đã xuất hiện động thái mới về đầu tư nước ngoài vào
Việt Nam, trong đó có Mỹ, thể hiện qua việc gia tăng số lượng các nhà đầu
tư Mỹ đến Việt Nam khảo sát, tìm kiếm cơ hội đầu tư, kinh doanh. Xu hướng
trên cũng tạo điều kiện để hình thành các dự án đầu tư mới trong tương lai.
Việt Nam cũng mong tiếp tục nhận được sự ủng hộ tích cực và thiết
thực hơn nữa của cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư nước ngoài nói
chung cũng như các nhà đầu tư Mỹ nói riêng đối với công cuộc cải cách và
phát triển kinh tế của đất nước.
Hiện tại, Mỹ và Việt Nam có một cơ chế chung thúc đẩy thương mại
đầu tư là Hội đồng tư vấn Việt - Mỹ, nơi mà bên cạnh chức năng tư vấn
chính sách còn là nơi để các nhà đầu tư Mỹ thảo luận với các đối tác Việt
66
Nam về các kế hoạch sản xuất, kinh doanh một cách căn cơ và có hệ thống
nhất. Thông qua cầu nối này, trong thời gian qua các nhà đầu tư đã đề xuất
hàng chục dự án trong hầu hết các lĩnh vực quan trọng của Việt Nam như dầu
khí, điện lực, hàng không và công nghệ thông tin.
Theo dự báo, một số cảng biển của Việt Nam sẽ không thể đáp ứng
được nhu cầu lưu chuyển hàng hóa trong thời gian tới, do vậy mà các doanh
nghiệp Mỹ đang rất quan tâm đầu tư vào lĩnh vực này.
Chính vì vậy, một loạt các thỏa thuận đã được ký kết giữa hai nước
đang có xu hướng gia tăng, đa số tập trung vào các lĩnh vực cơ sở hạ tầng,
cảng biển, nhà máy điện, khu công nghiệp, khu đô thị… Ngoài ra các nhà
đầu tư Mỹ được mời gọi đầu tư vào các dự án phát triển thị trường tài chính
khác, công nghệ cao, viễn thông, công nghệ thông tin, các hợp đồng xuất
nhập khẩu, giáo dục đào tạo. Đặc biệt, có dự án liên doanh thành lập trường
Đại học kỹ thuật tại Việt Nam. Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, Mỹ là cường
quốc số 1, do vậy mà các doanh nghiệp Việt Nam cũng đang đẩy mạnh việc
tiếp cận với các đối tác Mỹ, đây được cho là một lĩnh vực có rất nhiều triển
vọng hợp tác. Ngoài các dự án được ký kết trực tiếp tại chuyến thăm và làm
việc của hai bên, các doanh nghiệp hai nước cũng đã bàn tới những dự án lớn
về công nghệ cao trong tương lai.
Dự đoán, dưới tác động hội nhập quốc tế, dòng đầu tư trực tiếp của Mỹ
sẽ tiếp tục hướng vào các lĩnh vực sau:
Phát triển hạ tầng và chế tạo: Các nhà đầu tư Mỹ hiện đang rất quan tâm
đến các dự án khách sạn ven biển Vũng Tàu, Đà Nẵng…
Công nghệ thông tin: Microsoft đã có văn phòng đại diện tại Việt Nam,
và họ sẽ mở rộng hoạt động tại đây. Về chế tạo, quyết định đầu tư của Intel
sẽ kéo theo các nhà sản xuất có liên quan đến họ…
Trong những năm gần đây, các nhà đầu tư Mỹ tiếp tục thể hiện sự quan
tâm của mình tới các dự án có lượng vốn đầu tư lớn liên quan tới các ngành
như năng lượng, dầu khí, bất động sản, dịch vụ, tài chính - ngân hàng… Tuy
nhiên, việc hiện thực hoá các dự án mà các nhà đầu tư Mỹ quan tâm còn tùy
67
thuộc điều kiện về cơ sở hạ tầng, môi trường đầu tư thông thoáng, minh
bạch, chất lượng nguồn nhân lực và chính sách mở cửa chào đón các nhà đầu
tư Mỹ của Việt Nam.
Chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài của Việt Nam đã có những
điều chỉnh phù hợp qua các thời kỳ.
Giai đoạn 1988 - 2001, kể từ khi Việt Nam mở cửa nền kinh tế, thừa
nhận vai trò của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, Việt Nam đã có nhiều lần
sửa đổi luật đầu tư và chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam
cũng có nhiều thay đổi.
Từ 1995 trở về trước, luật quy định về trình tự đăng ký, trong đó một dự
án FDI chỉ được nhận giấy phép đầu tư trong khoảng thời gian 45 ngày, sau
khi có giấy phép doanh nghiệp FDI vẫn phải xin đăng ký hoạt động. Luật
cũng quy định về lĩnh vực đầu tư, theo đó luật khuyến khích các dự án liên
doanh với doanh nghiệp trong nước; hạn chế dự án 100% vốn nước ngoài.
Việt Nam cũng thực hiện các ưu đãi về chính sách sử dụng đất như
chính quyền đứng ra chịu trách nhiệm đền bù giải phóng mặt bằng cho các
dự án có vốn FDI; dự án có vốn FDI được thuê đất để hoạt động, nhưng
không được cho các doanh nghiệp khác thuê lại.
Về chính sách tỷ giá, ngoại tệ, các dự án FDI đầu tư hạ tầng và thay thế
nhập khẩu được Nhà nước bảo đảm cân đối ngoại tệ; các doanh nghiệp FDI
thuộc các lĩnh vực khác phải tự lo cân đối ngoại tệ; Nhà nước không chịu
trách nhiệm về cân đối ngoại tệ đối với các dự án này. Nhà nước quy định
các dự án FDI phải đảm bảo tỷ lệ xuất khẩu theo đã ghi trong giấy phép đầu
tư, sản phẩm của doanh nghiệp FDI không được bán ở thị trường Việt Nam
qua đại lý, doanh nghiệp FDI không được làm đại lý xuất nhập khẩu.
Về chính sách thuế, Việt Nam áp dụng thuế ưu đãi cho các dự án đầu tư
vào các lĩnh vực đặc biệt ưu tiên với mức thuế thu nhập 10% trong vòng 15
năm kể từ khi doanh nghiệp đi vào hoạt động, mức thuế thu nhập của doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài không bao gồm phần bù trừ lợi nhuận của năm
68
sau để bù lỗ cho các năm trước, không được tính vào chi phí sản xuất một số
khoản chi nhất định, thuế nhập khẩu được áp với mức giá thấp trong khung
giá do Bộ Tài chính quy định.
Từ năm 1996 đến 2001, Việt Nam chưa tách riêng khu vực vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài thành một “thành phần kinh tế” trong nền kinh tế nhiều
thành phần của Việt Nam, song đã ghi nhận sự hợp tác liên doanh giữa kinh
tế nhà nước và tư bản nước ngoài, khẳng định khu vực đầu tư nước ngoài “có
vai trò to lớn trong động viên về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản
lý…” [18]. Với quan điểm như vậy, chính sách đối với khu vực có vốn FDI
trong thời kỳ này chủ yếu hướng vào việc khuyến khích các nhà đầu tư liên
doanh với các doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam, hoạt động trong nhiều
lĩnh vực kinh tế, trừ những lĩnh vực có tầm quan trọng đặc biệt đối với nền
kinh tế quốc dân và an ninh quốc phòng.
Các nhà đầu tư được lựa chọn loại hình đầu tư, tỷ lệ góp vốn, địa điểm
đầu tư, đối tác đầu tư, ưu tiên nhận giấy phép sớm nếu doanh nghiệp xuất
khẩu sản phẩm trên 80%.
Lĩnh vực đầu tư được khuyến khích trong thời kỳ này là các lĩnh vực
định hướng xuất khẩu và công nghệ cao.
Về đất đai, ủy ban nhân dân địa phương tạo điều kiện mặt bằng kinh
doanh khi dự án được duyệt, doanh nghiệp phải thanh toán tiền giải phóng
mặt bằng cho ủy ban nhân dân, được quyền cho thuê lại đất đã thuê tại các
khu công nghiệp, khu chế xuất.
Nhà nước quy định về tỷ giá và ngoại tệ: dự án phải bảo đảm cân đối
nhu cầu về ngoại tệ cho các hoạt động của mình, áp dụng tỷ lệ kết hối ngoại
tệ do tác động khủng hoảng tài chính khu vực (80%), sau đó nới dần tỷ lệ
này. Doanh nghiệp có thể mua ngoại tệ với sự cho phép của Ngân hàng Nhà nước.
Quy định bãi bỏ hoàn toàn việc duyệt kế hoạch xuất khẩu của doanh
nghiệp FDI, cải tiến thủ tục xuất nhập khẩu hàng hoá đối với xét xuất xứ
hàng hoá xuất nhập khẩu.
Các ưu đãi về thuế: miễn thuế nhập khẩu đối với thiết bị, máy móc, vận
69
tải chuyên dụng, nguyên liệu vật tư…; miễn thuế nhập khẩu đối với doanh
nghiệp đầu tư vào những lĩnh vực ưu tiên, địa bàn ưu tiên trong 5 năm đầu
hoạt động. Doanh nghiệp xuất khẩu được miễn thuế nhập khẩu nguyên vật
liệu để xuất khẩu sản phẩm. Hơn thế nữa, doanh nghiệp cung ứng sản phẩm
đầu vào cho các doanh nghiệp xuất khẩu cũng được miễn thuế nhập khẩu
nguyên vật liệu trung gian với tỷ lệ tương ứng.
Giai đoạn 2002 - 2007, từ năm 2001, lần đầu tiên khu vực kinh tế có
vốn đầu tư nước ngoài được công nhận là một thành phần kinh tế với vai trò
“hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, gắn với thu
hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm…” và “phải tạo chuyển biến
cơ bản trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài” [19]. Theo đó, chính
sách thu hút FDI trong giai đoạn này tập trung vào nâng cao chất lượng FDI
vào Việt Nam thông qua việc thu hút mạnh hơn nữa các tập đoàn xuyên quốc
gia đầu tư vào các ngành, lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế, đặc biệt là các
lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ nguồn. Thay đổi trong nhận thức và quan
điểm của Đảng và Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài là cơ sở quan trọng để Chính phủ sửa đổi và hoàn thiện các văn bản
pháp luật và cơ chế chính sách thu hút vốn FDI.
Luật sửa đổi có những cải tiến hơn so với giai đoạn trước. Trong đó quy
định: Ban hành danh mục doanh nghiệp FDI được đăng ký kinh doanh,
không cần xin giấy phép, bỏ chế độ thu phí đăng ký đầu tư FDI.
Về lĩnh vực đầu tư, ban hành danh mục dự án kêu gọi đầu tư FDI cho
giai đoạn 2001 - 2005, mở rộng lĩnh vực cho phép FDI đầu tư xây dựng nhà
ở. Hơn nữa, các hình thức đầu tư đa dạng hơn, các doanh nghiệp FDI được
mua cổ phần của các doanh nghiệp trong nước.
Các doanh nghiệp FDI được thế chấp tài sản gắn liền với đất và giá trị
quyền sử dụng đất, được mua ngoại tệ tại ngân hàng thương mại để đáp ứng
nhu cầu giao dịch theo luật định. Luật bãi bỏ yêu cầu chuẩn y cho nhượng
vốn, giảm mức phí chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, giảm tỷ lệ kết hối ngoại
70
tệ từ 80% xuống 50%, 30% và 0%, đồng thời bãi bỏ quy định bắt buộc doanh
nghiệp FDI trích quỹ dự phòng. Tiếp tục cải cách hệ thống thuế, từng bước
thu hẹp khoảng cách về thuế giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài.
Năm 2005, Việt Nam ban hành Luật Đầu tư với nhiều chỉnh sửa quan
trọng so với luật cũ. Trong đó, trình tự đăng ký trở nên dễ dàng hơn: các dự
án có vốn đầu tư nước ngoài có vốn dưới 15 tỷ đồng và không thuộc danh
mục đầu tư có điều kiện thì không phải làm thủ tục đăng ký đầu tư. Đối với
các dự án có quy mô từ 15 - 300 tỷ đồng và không thuộc danh mục đầu tư có
điều kiện phải làm thủ tục đăng ký đầu tư theo mẫu. Về lĩnh vực đầu tư, nhà
đầu tư chỉ được phép sáp nhập, mua lại công ty, chi nhánh. Ban hành quy
định mới về đất đai: nhà đầu tư thuê lại đất của người sử dụng đất được Nhà
nước giao đất thì nhà đầu tư có trách nhiệm tự tổ chức thực hiện việc bồi
thường, giải phóng mặt bằng. Luật cũng quy định nhà đầu tư được mua ngoại
tệ để đáp ứng cho giao dịch vốn và giao dịch khác theo luật định. Chính phủ
bảo đảm cân đối hoặc hỗ trợ cân đối ngoại tệ đối với một số dự án quan trọng
trong lĩnh vực năng lượng, kết cấu hạ tầng giao thông, xử lý chất thải.
Các nhà đầu tư không bị bắt buộc phải xuất khẩu hàng hoá hoặc dịch vụ
theo một tỷ lệ nhất định hoặc nhập khẩu với số lượng và giá trị tương ứng
với số lượng và giá trị hàng hoá xuất khẩu hoặc phải tự cân đối ngoại tệ từ
nguồn xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu.
Đồng thời, nhà đầu tư được hưởng ưu đãi về thuế cho phần thu nhập
được chia từ hoạt động góp vốn, mua cổ phần trong các tổ chức kinh tế theo
quy định của pháp luật về thuế sau khi tổ chức kinh tế đó đã nộp đủ thuế thu
nhập doanh nghiệp.
Về thuế xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư nước ngoài được miễn thuế
nhập khẩu đối với hàng hoá bao gồm các thiết bị máy móc, vật tư, phương
tiện vận tải và hàng hoá khác để thực hiện dự án đầu tư ở Việt Nam.
Chính sách đất đai: Các nhà đầu tư được miễn, giảm tiền thuế đất, thuê
mặt nước trong các trường hợp thuê đất, thuê mặt nước sử dụng vào mục
đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, các dự án thuộc
71
lĩnh vực khuyến khích đầu tư…
Chính sách ngoại hối: Các doanh nghiệp FDI được hưởng một số ưu đãi
liên quan tới chính sách ngoại hối như đưa các doanh nghiệp FDI vào đối
tượng được hỗ trợ cân đối ngoại tệ, bãi bỏ việc bắt buộc trả lương cho người
lao động bằng VND và tạo điều kiện để nhà đầu tư trả lương cho lao động
người nước ngoài của mình bằng tiền nước ngoài. Chấm dứt chế độ 2 giá
nhằm tạo sự công bằng trong cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế.
Chính sách chuyển giao công nghệ: Ưu tiên phát triển công nghệ, công
nghệ tiên tiến, phát triển nguồn nhân lực công nghệ đồng bộ với đầu tư đổi
mới công nghệ. Phát triển mạnh thị trường công nghệ, khuyến khích và thúc
đẩy hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ, đẩy
mạnh việc chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh. Việc
giao kết hợp đồng chuyển giao công nghệ được thực hiện thông qua hợp
đồng bằng văn bản hoặc hình thức khác có giá trị tương đương văn bản, bảo
gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy
định của pháp luật. Ngôn ngữ trong hợp đồng chuyển giao công nghệ do các
bên thoả thuận, trường hợp cần giao dịch tại Việt Nam, phải có hợp đồng
bằng tiếng Việt. Hợp đồng bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài có giá trị như nhau.
Giai đoạn từ năm 2008 đến nay. Chính sách về thuế, theo Nghị định
218/2013/NĐ-CP, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 22%, trừ trường
hợp các doanh nghiệp có tổng doanh thu không quá 20 tỷ đồng/năm hoặc các
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí
và tài nguyên quý hiếm của Việt Nam. Nhưng những trường hợp thuộc diện
áp dụng thuế suất 22% theo quy định này được áp dụng thuế suất 20% kể từ
ngày 1/1/2016.
Thuế xuất nhập khẩu: Chính sách thu hút vốn FDI tại Việt Nam dần nới
rộng quyền, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài và thu
hẹp sự khác biệt về chính sách đầu tư giữa đầu tư nước ngoài và đầu tư trong
nước. Những thay đổi này thể hiện nỗ lực của Chính phủ trong cải thiện, tạo
72
môi trường đầu tư chung theo xu hướng hội nhập của Việt Nam.
Luật Đầu tư năm 2014 thay thế cho Luật đầu tư năm 2005, được cho là
có tinh thần mở hơn, phạm vi điều chỉnh rõ ràng hơn, nhưng vẫn có ý kiến
cho rằng Luật Đầu tư mới của Việt Nam vẫn tồn tại sự lưỡng lự giữa mong
muốn thu hút đầu tư nước ngoài và bảo hộ đầu tư trong nước, giữa quyền
quản lý của Nhà nước và quyền tự do đầu tư của các nhà đầu tư [49].
Luật đầu tư 2005 quy định, các nhà đầu tư khi thực hiện dự án đầu tư
tức là gắn với việc thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đầu tư bao gồm
cả đăng ký kinh doanh và đăng ký doanh nghiệp nên các dự án đầu tư sẽ phải
tuân thủ cả luật đầu tư và luật doanh nghiệp. Vấn đề này đã được Luật Đầu
tư năm 2014 giải quyết khi giấy chứng nhận đăng ký đầu tư chỉ ghi thông tin
về dự án đầu tư. Như vậy về cơ bản, luật đầu tư hiện nay chỉ quản lý các dự
án đầu tư. Luật Đầu tư 2014 cũng giúp cho các nhà đầu tư trong nước không
phải thực hiện thủ tục xin cấp giấy chứng nhận đầu tư mà chỉ cần hoạt động
theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Luật đầu tư 2014 chỉ rõ những ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh và
liệt kê rõ ràng 267 ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện (phụ lục 4,
luật đầu tư 2014).
Phạm vi áp dụng giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với doanh nghiệp
FDI cũng được thu hẹp lại. Các dự án có vốn FDI mà trong đó nhà đầu tư
nước ngoài hoặc có nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp FDI nắm giữ từ
51% vốn điều lệ trở lên sẽ phải xin giấy chứng nhận đầu tư còn nếu thấp hơn
sẽ không cần phải xin giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
Thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đã được điều chỉnh rút
ngắn đáng kể so với Luật Đầu tư năm 2005. Luật Đầu tư 2014 thừa nhận cơ
chế quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án lớn và đặc biệt. Ngoài ra,
Luật Đầu tư 2014 phân chia các nhà đầu tư nước ngoài làm ba nhóm: (i) nhà
đầu tư có quốc tịch nước ngoài; (ii) doanh nghiệp Việt Nam có 51% vốn
nước ngoài; (iii) doanh nghiệp Việt Nam có dưới 51% vốn nước ngoài.
Nhóm (i) và (ii) sẽ áp dụng các điều kiện như nhà đầu tư nước ngoài còn
73
nhóm (iii) sẽ áp dụng các thủ tục điều kiện như doanh nghiệp trong nước.
Điều này cho thấy Luật đầu tư năm 2014 vẫn có sự bảo hộ và khác biệt giữa
doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, ngoài ra nếu công ty con của
doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp FDI nắm giữ 51% vốn thì công ty con
này cũng áp dụng như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
3.3. Thực trạng đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam
Hoạt động FDI của Mỹ vào Việt Nam kể từ khi có Luật Đầu tư nước
ngoài năm 1987 đến nay đã trải qua nhiều thăng trầm, nhưng về cơ bản có
thể chia thành 3 giai đoạn gắn với nhưng thay đổi về quan điểm, hệ tư duy
với những cột mốc đáng nhớ. Giai đoạn từ năm 1988 - 2001 là giai đoạn khởi
đầu, Việt Nam chấp nhận các nhà đầu tư Mỹ với tư duy khép lại quá khứ
hướng tới tương lai. Giai đoạn từ năm 2002 - 2007 là giai đoạn tăng tiến
mạnh mẽ về chất lượng đầu tư của Mỹ vào Việt Nam sau khi Hiệp định
thương mại và đầu tư song phương giữa Việt Nam và Mỹ được ký kết và
thực hiện. Giai đoạn từ 2008 đến nay, trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ đang
dần phục hồi sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, cũng
như kinh tế thế giới dần thoát khỏi suy thoái, đầu tư của Mỹ vào Việt Nam
cũng như quan điểm thu hút FDI của Việt Nam đang có những sự thay đổi
phù hợp hơn trong bối cảnh mới. Phân tích thực trạng đầu tư của Mỹ vào
Việt Nam trong từng giai đoạn sẽ cho thấy rõ hơn những thay đổi về cách
đầu tư của Mỹ cũng như những thay đổi trong quan điểm thu hút FDI Mỹ
vào Việt Nam.
3.3.1. Quy mô đầu tư
Giai đoạn từ năm 1988 - 2001, Mỹ là quốc gia đầu tư vào Việt Nam
chậm nhất. Trong khi các công ty của nhiều nước đã đầu tư vào Việt Nam thì
các công ty của Mỹ còn khá xa lạ với thị trường Việt Nam do thực hiện lệnh
cấm vận của Mỹ, phần lớn các dự án ở giai đoạn này được thực hiện với mục
đích thăm dò thị trường là chính. Tuy nhiên, một số tập đoàn lớn của Mỹ đã
để ý tới thị trường Việt Nam từ rất sớm. Ngay từ năm 1988, năm đầu tiên
Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam có hiệu lực, các công ty nổi tiếng của
74
Mỹ như IBM, Ford, General Electric, Boeing, Mobil, Chrysler... đã có đại
diện tại Việt Nam để thăm dò thị trường, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, tạo
dựng cơ sở để có thể triển khai hoạt động được ngay sau khi lệnh cấm vận
được dỡ bỏ. Ngày 14/07/1988, dự án đầu tư đầu tiên của Mỹ vào Việt Nam,
đó là công ty Thaibinh Glass Enamel J-V với số vốn đầu tư còn rất khiêm
tốn, 280.000 USD. Năm 1989 có thêm 2 dự án nữa của các công ty Mỹ vào
Việt Nam với số vốn đầu tư gấp 6 lần dự án đầu tiên. Trong 3 năm 1988 -
1990, Mỹ đã có 7 dự án FDI vào Việt Nam, vốn đăng ký đạt 2,56 triệu USD.
Mặc dù bị cấm vận về kinh tế nhưng trong những năm 1988 - 1993,
quan hệ Việt - Mỹ đã có những chuyển biến tích cực và hoạt động hợp tác
đầu tư đã định hình xu hướng phát triển rõ rệt. Năm 1991, khi Chính phủ Mỹ
nới lỏng hạn chế và cho phép các công ty Mỹ công khai tổ chức các phái
đoàn sang Việt Nam, nhờ đó, hàng trăm đoàn doanh gia Mỹ đã tới Việt Nam
để tìm kiếm cơ hội hợp tác kinh doanh. Cuối năm 1993, Cơ quan kiểm soát
tài sản nước ngoài của Mỹ đã thông qua cơ chế kiểm soát, cấp phép từng
trường hợp, đã cấp phép cho 160 công ty Mỹ được hoạt động tại Việt Nam,
trong đó có 27 công ty đã có hoạt động thực sự thông qua chi nhánh ở nước
ngoài và 18 trong 27 công ty này đã được Bộ Thương mại Việt Nam cấp giấy
phép mở văn phòng đại diện. Cuối năm 1993, có 7 dự án đầu tư của Mỹ vào
Việt Nam, với trị giá vốn 3,3 triệu USD.
Tháng 2/1994, Chính phủ Mỹ bãi bỏ lệnh cấm vận kéo dài gần 20 năm
đối với Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ phía các nhà đầu tư
Mỹ nói riêng, cũng như của giới đầu tư quốc tế nói chung. Họ coi sự kiện
này chính là cơ sở cần thiết cho hoạt động kinh doanh của họ tại Việt Nam
cũng như khu vực Đông Nam Á. Chưa đầy ba tiếng đồng hồ sau khi Tổng
thống Mỹ tuyên bố huỷ bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam, những chai nước
ngọt Pepsi đã được tung ra thị trường Việt Nam từ Nhà máy nước ngọt quốc
tế ở thành phố Hồ Chí Minh; hàng loạt các dự án đầu tư được nghiên cứu,
tìm hiểu và đàm phán với đối tác Việt Nam ngay trong thời kỳ lệnh cấm vận
vẫn còn hiệu lực đã được ký kết thì sau khi lệnh cấm vận bãi bỏ đã bắt đầu
75
triển khai thực hiện. Sự sốt sắng của các công ty Mỹ còn thể hiện rõ khi cùng
một lúc có 30 công ty mở văn phòng đại diện tại Việt Nam ngay sau khi huỷ
bỏ lệnh cấm vận 1 ngày. Hiện nay, các nhãn hiệu sản phẩm của các công ty
Mỹ như Coca Cola, Pepsi, Camay, Pantene ProV, Head &Shoulder, Tide,
Caltex, Ford... ngày càng trở nên quen thuộc với người tiêu dùng Việt Nam.
Đến cuối năm 1994, đã có 60 văn phòng đại diện của các công ty Mỹ tại Việt
Nam và thêm 22 dự án đầu tư được cấp phép với tổng vốn đăng ký là 226,9
triệu USD, gấp 80 lần của cả thời kỳ trước đó cộng lại, đưa tổng số dự án lên
29 với tổng số vốn đăng ký lên đến 239,2 triệu USD, nâng vị trí của Mỹ lên
thứ 14 trong danh sách các nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam.
Bảng 3.1: FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 1988 - 2001
Đơn vị: triệu USD
Năm
1988 - 1998 1.807
Nguồn: Số liệu tổng hợp các năm của Cục đầu tư nước ngoài và Tổng cục thống kê (2002)
FDI của Mỹ Tổng FDI vào Việt Nam 14.714,2 1999 143 2.334,9 2000 115 2.413,5 2001 102,4 2.450,5
FDI của Mỹ vào Việt Nam trong giai đoạn này đã đạt tới đỉnh cao nhất
vào năm 1995 khi tiến trình bình thường hoá được tuyên bố chính thức và
thoả thuận thúc đẩy đàm phán Hiệp định thương mại được ký kết. Chỉ riêng
trong năm 1995, có thêm 25 công ty nữa của Mỹ được cấp giấy phép đầu tư
với tổng số vốn đăng ký lên tới 523,62 triệu USD (gấp 2,5 lần 1994). Kết quả
là Mỹ đã nhanh chóng chuyển từ vị trí thứ 14 lên vị trí thứ 9. Đến năm 1996,
chỉ có thêm 12 công ty Mỹ đăng ký vào Việt Nam với tổng lượng vốn đầu tư
là 92,76 triệu USD; một sự giảm sút đáng kể so với năm 1995, báo hiệu việc
xuất hiện sự không hài lòng của các nhà đầu tư Mỹ về những yếu tố môi
trường đầu tư tại Việt Nam. Nhưng điều đáng chú ý là các công ty lớn của
Mỹ cũng đã chính thức vào cuộc ngay với nhiều dự án có giá trị cao. Hầu hết
các dự án đều nhằm vào các mục tiêu sản xuất, xuất khẩu và dịch vụ với thời
hạn thấp nhất là 10 năm, cao nhất là 40 năm. Trước diễn đàn thương mại tại
Washington, các doanh nghiệp Mỹ đã tuyên bố tăng nhanh tốc độ hoạt động
đầu tư ở Việt Nam và hy vọng Mỹ sẽ là một trong những đối tác có vốn đầu
76
tư lớn nhất ở thị trường này. Cùng với những dự án đầu tư mới, đã xuất hiện
một số tập đoàn lớn của Mỹ ở Việt Nam như tập đoàn Mobil Oil, hãng thang
máy Otis, hãng hàng không America Airline, Ngân hàng City Bank...
Trong thời gian này, Chính phủ Mỹ chưa tạo điều kiện cung cấp cho các
công ty Mỹ tại Việt Nam những định chế bảo hiểm của OPIC, và nguồn đầu
tư từ EXIMBANK của Mỹ, do đó các nhà đầu tư Mỹ chưa yên tâm đầu tư,
các nhà xuất khẩu Mỹ gặp khó khăn trong việc cạnh tranh với các nước khác.
Thực tế, các doanh nghiệp Mỹ muốn Chính phủ Mỹ hủy bỏ việc áp dụng
điều luật bổ sung Jackson - Vanik (J-V), tạo điều kiện cho OPIC và
EXIMBANK được hoạt động thuận lợi ở Việt Nam.
Năm 1997, Việt Nam và Mỹ đã tuyên bố mở Tổng lãnh sự quán tại
thành phố Hồ Chí Minh và San Francisco. FDI của Mỹ đã phục hồi trở lại
với 13 dự án có tổng vốn đăng ký 248,26 triệu USD, giữ vững vị trí trong
danh sách 10 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư lớn nhất vào Việt Nam. Mặc
dù ngày 19/3/1998, ông George Munor, Chủ tịch OPIC đã chính thức ký
Hiệp định về hoạt động đầu tư của OPIC tại Việt Nam và ngày 26/3/1998,
Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư Trần Xuân Giá đã thay mặt Chính phủ
Việt Nam ký hiệp định chính thức này, mở ra nhiều triển vọng mới về đảm
bảo và hỗ trợ đầu tư cho các nhà đầu tư Mỹ. Trong năm 1998, Mỹ chỉ có 16
dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn đăng ký đạt 92,38 triệu USD.
Ngày 10/3 năm đó, Tổng thống Mỹ B.Clinton đã tuyên bố bãi bỏ J-V đối với
Việt Nam, đồng thời phía Mỹ cũng bãi bỏ một số điều luật liên quan đến hoạt
động của USAID, nhằm đưa quan hệ kinh tế Mỹ - Việt Nam lên một tầm cao
mới. Việc bãi bỏ này cũng là điều kiện cần có để Việt Nam được hưởng quy
chế “Tối huệ quốc” của Mỹ. Nhưng để được hưởng ân huệ này, điều kiện tiên
77
quyết là hai nước sẽ phải ký một hiệp định thương mại đã qua các vòng đàm phán.
Đơn vị: triệu USD
Hình 3.1. Xu hướng FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 1988-2001 Nguồn: Số liệu tổng hợp các năm của Cục Đầu tư nước ngoài và Tổng cục thống kê (2002)
Phía Mỹ cho rằng, miễn áp dụng đạo luật Jackson-Vanik đối với Việt
Nam là bước đầu cho việc thực hiện các chương trình bảo hiểm đầu tư, tạo
thế thuận lợi cho cả hai bên Mỹ - Việt, đồng thời làm tăng niềm tin đối với
các công ty Mỹ vốn quan tâm đến việc hợp tác đầu tư vào Việt Nam. Tính
đến tháng 10 năm 1999, số dự án đầu tư của Mỹ ở Việt Nam là 102, với vốn
đăng ký là 1,2 tỷ USD. Ngoài công ty Chrysler đứng đầu về số dự án với
tổng vốn là 109,4 triệu USD còn có công ty IBS đầu tư liên doanh xây dựng
nhà máy gạch men, với vốn đầu tư ban đầu là 16,5 triệu USD và nhiều dự án
khác có số vốn trên 30 triệu USD.
Từ 1/1/2000 đến thời điểm ký kết Hiệp định thương mại 13/7/2000, chỉ
có thêm 6 dự án với 19,27 triệu USD vốn đăng ký, biểu hiện rõ xu hướng
giảm sút trong sự quan tâm của các nhà đầu tư Mỹ vào Việt Nam. Tuy nhiên
do xu hướng giảm sút này là xu hướng chung cả các nhà đầu tư FDI tại Việt
Nam. Do đó, Mỹ vẫn thuộc danh sách 10 nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam,
đứng thứ 9 với 121 dự án và 1.398 triệu USD vốn đầu tư.
Sau khi Hiệp định thương mại song phương Việt - Mỹ được ký kết, mặc
dù đánh giá cao về nội dung của hiệp định, các nhà đầu tư Mỹ vẫn thận trọng
trước khi quyết định đầu tư, đánh giá Hiệp định như một cơ hội mang tính
dài hạn. Chính vì vậy, trong năm 2000, số lượng vốn đăng ký chỉ đạt 116,34
triệu USD, tương đương với năm 1999. Trước khi Hiệp định được phê
78
chuẩn, thái độ dè dặt của các nhà đầu tư Mỹ vẫn chưa thay đổi, các nhà đầu
tư Mỹ vẫn cho rằng thị trường Việt Nam sẽ là điểm đến đầu tư khi Hiệp định
thương mại song phương được thực hiện.
Giai đoạn 2002 - 2007. Trên thực tế sau hơn 4 năm thực thi Hiệp định
thương mại song phương Việt - Mỹ, cho tới thời điểm 30/06/2006 tổng vốn
đầu tư của Mỹ vào Việt Nam (kể cả qua nước thứ 3) mới chỉ là 4,042 tỷ
USD. Khoản đầu tư này còn quá nhỏ, chỉ chiếm gần 0,72% tổng đầu tư của
Mỹ vào khu vực Đông Nam Á. Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này
xuất phát từ quy mô thị trường của Việt Nam còn nhỏ, chưa đáp ứng được
đòi hỏi của các nhà đầu tư Mỹ. Mặc dù, các nhà đầu tư đánh giá cao khi Việt
Nam mở cửa khu vực dịch vụ và một số lĩnh vực khác theo lộ trình gia nhập
WTO, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ và ngân hàng, nhưng môi
trường kinh doanh ở Việt Nam là điều khiến các nhà đầu tư Mỹ quan ngại,
đặc biệt là tính minh bạch và nhất quán trong các chính sách đầu tư của Việt
Nam. Tuy nhiên, thực tế đầu tư thấp của Mỹ ở Việt Nam cũng khiến cho cả
hai nước đều chịu thiệt thòi, bởi Mỹ là nước có công nghệ nguồn, có tiềm lực
tài chính mạnh, có nhiều tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia hàng đầu thế giới
mà Việt Nam rất cần, trong khi Mỹ bỏ lỡ cơ hội tìm kiếm lợi ích tại thị
trường Việt Nam. Các dự án đầu tư của Mỹ thường lớn gấp nhiều lần so với
các đối tác từ nước khác và thường tập trung vào mảng công nghệ cao là lĩnh
vực mà Việt Nam đang có nhu cầu lớn.
Bảng 3.2. FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 2002 - 2007
Năm
2002
2003
2004
2005
Đơn vị: triệu USD 2006
2007
FDI của Mỹ
192,1
73,5
83,8
286,4
2.000
410,4
Tổng FDI vào Việt Nam
2.650
3.308,8
4.100,1
8.030
2.852,5 2.591 Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài và Tổng cục thống kê 2008.
Nhờ thực hiện hiệp định thương mại song phương Việt - Mỹ, vốn FDI
Mỹ vào Việt Nam tăng lên nhanh chóng. Trung bình 3 năm trước Hiệp định
thương mại (1999 - 2001), mỗi năm lượng vốn FDI đăng ký của Mỹ không
kể qua nước thứ 3 là 111 triệu USD/năm. Sau Hiệp định thương mại (2002-
79
6/2006), con số này đã tăng lên 2 lần, lên 218 triệu USD. Nếu tính cả vốn
đầu tư đăng ký của Mỹ thông qua nước thứ 3 thì con số này còn tăng cao
hơn, gấp 3 lần, từ 158 triệu USD/năm trong 3 năm trước Hiệp định thương
mại lên 442,6 triệu USD sau Hiệp định thương mại.
Đơn vị: triệu USD
Hình 3.2. Xu hướng FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 2002-2007
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài và Tổng cục thống kê 2008
Khác với giai đoạn trước, khi mà tổng FDI vào Việt Nam theo xu hướng
tăng dần thì giai đoạn 2002 - 2007 phản ánh khá rõ những diễn biến xu
hướng khác nhau giữa FDI của Mỹ ra nước ngoài và FDI của Mỹ vào Việt
Nam. Tuy nhiên năm 2007, trong khi FDI của Mỹ ra nước ngoài tăng, tổng
FDI của các nước vào Việt Nam cũng tăng nhưng FDI của Mỹ vào Việt Nam
lại giảm mạnh. Mặc dù năm 2007 là năm Việt Nam chính thức gia nhập
WTO, nhưng các nhà đầu tư Mỹ lại nhìn thấy những dấu hiệu bất ổn khi đầu
tư vào Việt Nam khi mà lạm phát của Việt Nam lúc đó được đánh giá là cao
nhất Châu Á, chi phí sản xuất leo thang, chi phí lao động và vấn đề đình công
càng làm các nhà đầu tư quan ngại.
Giai đoạn từ năm 2008 đến nay. Đây là giai đoạn mà những bất ổn của
cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008 bắt đầu
từ Mỹ và lan ra các quốc gia khác. Mặc dù cuộc khủng hoảng tài chính đã
ảnh hưởng đến nền kinh tế Mỹ nhưng dòng FDI của Mỹ vào Việt Nam năm
2009 vẫn tăng mạnh và đạt đỉnh điểm. Như đã nêu ở trên, các nhà đầu tư Mỹ
80
là những người rất nhạy cảm với chính sách nên ngay khi Việt Nam và Mỹ
đang trong quá trình đàm phán BIT thì các nhà đầu tư Mỹ đã nhận thấy các
lợi ích từ Hiệp định này. Điều đó lý giải tại sao dòng FDI của Mỹ vào Việt
Nam năm 2008 và 2009 lại tăng mạnh trong khi nền kinh tế Mỹ vẫn đang vật
lộn trong khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế.
Bảng 3.3. FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 2008 - 2015
Đơn vị: Triệu USD
Năm
FDI của Mỹ
2009 9.803 21.480
2010 253,81 18.595
2011 253,99 13.760
2012 125,24 13.013
2013 130,43 22.352
2014 7/2015 259,83 155,9 20.231 17.157
2008 1.916,1 Tổng FDI vào Việt Nam 11.500
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài và Tổng cục thống kê (2015).
Tuy nhiên, từ năm 2010 đến năm 2012, dòng FDI của Mỹ vào Việt Nam
giảm đặc biệt là năm 2012 và bắt đầu có dấu hiệu khởi sắc trở lại vào năm 2013.
So với giai đoạn 2002 - 2007, lượng vốn FDI của Mỹ vào Việt Nam giai
đoạn 2008 - 2013 đã tăng gần gấp 4 lần trong khi số lượng dự án vào Việt
Nam giai đoạn này giảm, chỉ bằng 1/3 so với giai đoạn 2002 - 2007. Điều
này cho thấy, các nhà đầu tư Mỹ đã có sự thay đổi về đầu tư tại Việt Nam
theo phương thức đầu tư sâu hơn với lượng vốn lớn, có trọng điểm nhằm sử
dụng vốn hiệu quả hơn và tối ưu hóa lợi nhuận.
Hình 3.3 cho thấy dòng FDI của Mỹ vào Việt Nam là khá tương đồng
với tổng FDI thế giới vào Việt Nam. Tuy nhiên, nếu so sánh dòng FDI của
Mỹ vào Việt Nam và dòng FDI của Mỹ ra nước ngoài thì lại có những điểm
khác biệt khá lớn, như trong năm 2009 FDI của Mỹ vào Việt Nam tăng cao
thì dòng FDI của Mỹ ra nước ngoài giảm mạnh và ngược lại, năm 2011 FDI
của Mỹ vào Việt Nam giảm thì FDI của Mỹ ra nước ngoài tăng. Hiện tượng
này cho thấy, các nhà đầu tư của Mỹ rất nhạy cảm đối với môi trường kinh
doanh và những thay đổi trong môi trường đầu tư ở Việt Nam. Do quan ngại
về những thay đổi đó nên họ quyết định thận trọng trong đầu tư của mình. Từ
đó cũng có thể hiểu rằng tốc độ cải thiện môi trường đầu tư của Việt Nam
81
chậm hơn so với thế giới.
Đơn vị: Triệu USD
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài và Tổng cục thống kê. * Theo báo cáo của Cục đầu tư nước ngoài tính đến ngày 7/2015
Hình 3.3. Xu hướng FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 2008 - 2015
Đầu tư của Mỹ vào Việt Nam dường như có tính chu kỳ. Thực tế cho
thấy cứ 2 - 3 năm giảm đầu tư thì 2 - 3 năm tiếp theo lại tăng đầu tư và lại bắt
đầu một chu kỳ mới. Nguyên nhân của các chu kỳ này chủ yếu là do tốc độ
cải thiện môi trường đầu tư của Việt Nam không thường xuyên liên tục.
Đồng thời, người ta cũng có thể thấy có những năm có sự thay đổi và tăng
đột biến. Sự tăng đột biến này gắn với những năm mà Việt Nam có những
bước tiến mới trong đàm phán để hội nhập sâu hơn vào quá trình tự do hóa
toàn cầu. Trước hiện tượng này, nhiều phân tích cho rằng TPP sẽ là một cú
hích mới cho tăng trưởng FDI của Mỹ vào Việt Nam trong thời gian tới.
3.3.2. Cơ cấu đầu tư
Về cơ bản, cơ cấu FDI sẽ phản ánh chiến lược kinh tế của đất nước
cũng như phản ánh được mức độ phù hợp của đầu tư và yêu cầu cân đối
ngành trong nền kinh tế. Cơ cấu đầu tư theo ngành ở mỗi giai đoạn sẽ có sự
khác nhau về định hướng thu hút đầu tư, cũng như xu hướng đầu tư mà các
nhà đầu tư nói chung và các nhà đầu tư Mỹ nói riêng đầu tư vào Việt Nam.
Giai đoạn 1988 - 2001. Trong giai đoạn này, các nhà đầu tư Mỹ có quan
82
tâm đến các lĩnh vực đầu tư của Việt Nam song các dự án còn nhỏ và có tính
chất thăm dò. Khu vực công nghiệp được quan tâm nhiều hơn với 84/129 dự
án với mức vốn đăng ký đạt 617,8 triệu USD, chiếm khoảng gần 60% tổng
vốn đầu tư của Mỹ vào Việt Nam toàn bộ giai đoạn này (xem Bảng 3.4). Các
dự án lớn ở giai đoạn này có thể được kể đến như dự án sản xuất lắp ráp ô tô
Ford với tổng vốn đăng ký là 102 triệu USD; Dự án sản xuất xà phòng, kem
đánh răng Colgate-Palmolive là 40 triệu USD; Dự án Công ty OPV Việt
Nam sản xuất thuốc là 20 triệu USD… Trung bình mỗi dự án trong lĩnh vực
này là 7,35 triệu USD/dự án trong khi mức trung bình mỗi dự án của Mỹ đầu
tư vào Việt Nam là khoảng 8,08 triệu USD/dự án. Tuy nhiên, tại khu vực
này, với số lượng dự án nhiều trong khi có một số dự án chiếm lượng vốn lớn
là rất khiêm tốn nên phần lớn các dự án mà Mỹ đầu tư vào Việt Nam trong
giai đoạn này chỉ mới ở mức thăm dò là chính.
Lĩnh vực dịch vụ được các nhà đầu tư Mỹ đặt sự quan tâm thứ hai với
số dự án là 30 và có tổng vốn đầu tư là 294,1 triệu USD chiếm khoản 30%
tổng đầu tư của Mỹ vào Việt Nam trong giai đoạn này. Đáng chú ý là các dự
án chi nhánh ngân hàng nước ngoài của Mỹ, dự án công ty bảo hiểm 100%
vốn nước ngoài (AIG), dự án Công ty dịch vụ tin học IBM Việt Nam…
Trung bình lượng vốn/dự án của khu vực này là 9,8 triệu USD/dự án, đặc
biệt các dự án đầu tư vào lĩnh vực tài chính - ngân hàng đang thu hút được sự
chú ý của các nhà đầu tư Mỹ khi vốn thực hiện đang là 52,5 triệu USD/5 dự
án. Các dự án dịch vụ do các nhà đầu tư Mỹ thực hiện ở giai đoạn này chưa
được như mong đợi nhưng chính là những thành công bước đầu trong thu hút
sự quan tâm đầu tư của các doanh nghiệp Mỹ trong lĩnh vực dịch vụ sau này.
Bảng 3.4. Cơ cấu FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 1988 - 2001
Đơn vị tính: triệu USD
Khu vực
Số dự án 84 48 6 13 7
Tổng vốn đăng ký Vốn pháp định Đầu tư thực hiện Lượng Tỷ trọng vốn (%) 318,4 59,30 119,5 29,48 139,9 11,88 25,4 7,97 26,6 6,26
Tỷ trọng (%) 64,95 24,39 28,53 5,2 5,42
Tỷ trọng (%) 62,88 29,83 21,43 5,6 3,5
Lượng vốn 617,8 307,1 123,8 83,1 65,2
Lượng vốn 363,2 172,3 123,8 32,4 20,2
Công nghiệp CN nặng CN dầu khí CN nhẹ Xây dựng
83
10 15 11 4 30
3,71 12,47 11,13 1,34 28,23
38,6 129,9 115,9 13,9 294,1
2,52 8,08 6,81 1,27 29,04
14,5 46,7 39,3 7,4 167,7
1,42 9,82 8,86 0,96 25,23
6,9 48,1 43,3 4,7 123,6
9
9,92
103,3
7,03
40,6
3,38
16,5
5
6,45
67,2
11,36
65,7
10,71
52,5
3
5,45
56,8
5,19
30,0
0,77
3,8
7 6 129
40,9 25,9 1.041,8
21,2 10,3 577,6
3,67 1,79
7,14 3,23
35,0 15,8 490,1
CN thực phẩm Nông, lâm thuỷ sản Nông-lâm nghiệp Thuỷ sản Dịch vụ Văn hoá - Y tế - Giáo dục Tài chính - Ngân hàng Xây dựng văn phòng - căn hộ GTVT-Bưu điện Dịch vụ khác Tổng
3,93 2,48 Nguồn: Bộ Kế hoạch và đầu tư (2002) Còn trong khu vực nông, lâm, thuỷ sản thì số lượng dự án chỉ có 15 dự
án và chiếm khoảng hơn 12% lượng dự án mà Mỹ đã đầu tư vào Việt Nam
trong giai đoạn này. Lượng vốn đầu tư/dự án là nhỏ và phía Việt Nam chủ
yếu là thực hiện sơ chế cho các đối tác Mỹ.
Giai đoạn 2002 - 2007. Từ khi Hiệp định thương mại song phương Việt
Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực tới năm 2007, các dự án đầu tư của Mỹ vào Việt
Nam được thực hiện trên nhiều lĩnh vực nhưng với mức độ khác nhau ở mỗi
ngành khác nhau
Bảng 3.5 cho thấy tính đến thời điểm 2007, lĩnh vực công nghiệp và xây
dựng vẫn đang là khu vực chiếm tỷ trọng lớn với 183 số dự án (chiếm
77,8%) và 1.183 triệu USD (chiếm 78,5%) vốn đăng ký, 714 triệu USD
(chiếm 80,54%) vốn thực hiện. Tiếp đến là lĩnh vực dịch vụ và cuối cùng là
nông - lâm - ngư nghiệp.
Bảng 3.5. Cơ cấu FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 2002 - 2007
Kể cả qua nước thứ 3
Không qua nước thứ 3
STT
Lĩnh vực
Công nghiệp và xây dựng Nông - lâm - ngư nghiệp
Số dự án 213 14
VĐK (triệu USD) 2.884 146,5
VTH (triệu USD) 2.897 69,5
Số dự án 184 13
VĐK (triệu USD) 1.191 128,5
VTH (triệu USD) 616 69,5
1 2
Dịch vụ
156
1.211,5
396
128
874,5
178
3
Tổng cộng
383
4.242
3.362,5
325
2.194
863,5
Nguồn: Bộ Kế hoạch và đầu tư (2008) và tính toán của tác giả
84
Tuy nhiên, theo thống kê khác, nếu tính cả các nước thứ ba thì vốn đăng
ký và vốn thực hiện của các dự án FDI của Mỹ tại Việt Nam gấp 2,7 và 5 lần
so với giai đoạn trước. Như vậy, đầu tư của Mỹ phần lớn được thực hiện bởi
các công ty con của Mỹ ở nước ngoài vào Việt Nam.
Về cơ bản, các công ty con của Mỹ ở nước ngoài cũng tập trung chủ yếu
vào ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất cả về số lượng dự án lẫn tổng
vốn đầu tư. Các dự án của Mỹ đầu tư vào công nghiệp và xây dựng (gồm xây
dựng, sản xuất và khai khoáng bao gồm cả dầu khí) chiếm 86,2% tổng vốn
đầu tư thực hiện của Mỹ kể cả qua nước thứ 3 và 71,3% vốn đầu tư thực hiện
không bao gồm đầu tư qua nước thứ 3. Đầu tư vào dịch vụ chiếm 11,8% vốn
đầu tư thực hiện của Mỹ kể cả qua nước thứ 3 và 20,6% vốn đầu tư thực hiện
không bao gồm qua nước thứ 3. Đầu tư vào nông lâm nghiệp chỉ chiếm 2%
vốn thực hiện của Mỹ kể cả qua nước thứ 3 và 8,1% vốn đầu tư thực hiện
không kể qua nước thứ 3.
Các nhà đầu tư Mỹ rất quan tâm tới ngành công nghiệp dầu khí tại
Việt Nam. Tuy không có nhiều dự án nhưng các dự án đều có lượng vốn đầu
tư lớn trên 100 triệu USD/dự án. Điều này là khá dễ hiểu khi Mỹ là nước có
nhu cầu lớn về năng lượng và khí đốt, trung bình mỗi năm Mỹ phải nhập
khẩu từ bên ngoài trên 50% lượng dầu tiêu thụ. Mặc dù dầu khí vẫn đang là
một trong những thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn này
nhưng phần lớn là khai thác và bán dầu thô.
Các dự án đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ (tài chính, ngân hàng, văn
phòng cho thuê, dịch vụ phần mềm, y tế, giáo dục,…) với tổng vốn đầu tư
đạt 410 triệu USD. Trong đó, lĩnh vực tài chính và bất động sản đang được
các nhà đầu tư Mỹ chú ý với tổng vốn đăng ký vào khoảng 480 triệu USD.
Lĩnh vực ít được quan tâm nhất vẫn là nông - lâm - ngư nghiệp với 14
dự án có tổng vốn đầu tư là 146,5 triệu USD.
Nếu phân theo giá trị dự án thì đầu tư lớn nhất của Mỹ vào Việt Nam
là các ngành như xe hơi, hóa mỹ phẩm, nước giải khát, khai thác dầu khí, chế
85
biến nông sản,… Còn nếu phân theo số dự án thì Mỹ đầu tư nhiều nhất vào
các ngành như sản phẩm điện tử, cơ khí ô tô, chế biến thực phẩm, vật liệu
xây dựng, dầu khí, hóa chất, dược phẩm,…
Ở giai đoạn này, khác với các nhà đầu tư khác như Nhật Bản, Hàn
Quốc, Đài Loan,… các nhà đầu tư Mỹ đã quan tâm hơn tới việc đầu tư trong
các ngành công nghệ kỹ thuật cao như điện tử, tin học, dịch vụ máy bay, chế
tạo ô tô, dầu khí, xây dựng cơ sở hạ tầng. Các ngành dịch vụ đòi hỏi chi phí
cao như mỹ phẩm, nước giải khát và các ngành sử dụng nhiều vốn như hóa
chất, giao thông vận tải tuy số dự án không nhiều nhưng quy mô một dự án
thường khá lớn.
Các nhà đầu tư Mỹ tiếp tục thể hiện mức độ quan tâm tới 2 lĩnh vực
công nghiệp và dịch vụ. Đặc biệt là lĩnh vực dịch vụ khi số dự án và lượng
vốn đầu tư tăng cao hơn so với lĩnh vực công nghiệp trong năm 2007. Trong
lĩnh vực công nghiệp, các nhà đầu tư Mỹ đã có 11 dự án với tổng vốn đầu tư
là 120 triệu USD (chiếm 60% vốn đăng ký của Mỹ tại Việt Nam, ngành công
nghiệp nặng được các nhà đầu tư Mỹ quan tâm lớn). Trong khi đó, lĩnh vực
dịch vụ có tới 24 dự án với tổng vốn đầu tư là 73,5 triệu USD (chiếm 36,8%
tổng vốn đăng ký). Như vậy, số lượng dự án vào ngành công nghiệp là không
quá nhiều (30,6% số dự án) nhưng lượng vốn đăng ký cho mỗi dự án (10,9
triệu USD/dự án) là khá lớn có thể kể đến tập đoàn Intel đầu tư 300 triệu
USD vào nhà máy sản xuất xây dựng nhà máy lắp ráp và kiểm tra chip bán
dẫn (tháng 2/2006). Đối với ngành dịch vụ, mặc dù các nhà đầu tư Mỹ có
nhiều dự án hơn nhưng đa số là các dự án có lượng vốn không lớn (khoảng 3
triệu USD/dự án). Lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp chỉ có 1 dự án trong năm
2007 vào thuỷ sản với lượng vốn 6,5 triệu USD. Điều này phản ánh đặc điểm
FDI Mỹ là ít đầu tư vào khu vực nông nghiệp.
Có thể kể tên một vài dự án tiêu biểu trong lĩnh vực công nghiệp và
dịch vụ trong giai đoạn này như:
- Dự án nhà máy nhiệt điện Mông Dương 2 (Quảng Ninh), công suất
1200 MW do Tập đoàn AES liên doanh với Tập đoàn than khoáng sản Việt
86
Nam với vốn đầu tư cam kết lên tới 1,5 tỷ USD.
- Đầu tháng 5/2007, Công ty TNHH Jabil Việt Nam - đơn vị thành viên
trong mạng lưới sản xuất toàn cầu của Tập đoàn Jabil Circuit đã nhận được
giấy phép đầu tư thuộc lĩnh vực vi điện tử, công nghệ thông tin - viễn thông
vào Khu công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh với tổng vốn 100 triệu USD.
- Tập đoàn máy tính IBM với dự án xây dựng trung tâm dịch vụ toàn
cầu trong khuôn viên của Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
- Dự án khu phức hợp giải trí cao cấp, nghỉ dưỡng và casino tại Bãi
Vòng (Kiên Giang) rộng 1.800 ha của Tập đoàn Limited Investment Zone,
với tổng vốn đầu tư khoảng 2 tỷ USD.
- Dự án phát triển du lịch và khách sạn cao cấp của Tập đoàn KOR diện
tích 39 ha tại Hòa Hải, Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng với vốn đầu tư khoảng 200
triệu USD (8/2007).
- Dự án đầu tư khu du lịch kết hợp vui chơi giải trí 550 triệu USD của
Tập đoàn Platinum Dragon Empire (PDE) tại Vũng Tàu.
- Tháng 10/2007, Tập đoàn Winvest Investment cho biết đã quyết định
tăng vốn đầu tư xây dựng dự án Khu du lịch - giải trí đa năng tại Cửa Lấp
(Vũng Tàu) từ 300 triệu USD ban đầu (năm 2006) lên 4 tỷ USD.
Về cơ bản, các nhà đầu tư Mỹ đang có những thay đổi hướng tới các
lĩnh vực dịch vụ (thế mạnh của Mỹ). Mặc dù vậy, lĩnh vực công nghiệp cũng
được sự quan tâm nhưng theo một xu hướng khác hơn so với giai đoạn trước,
chú ý đến các dự án lớn trong các lĩnh vực công nghiệp năng lượng, chế tạo
công nghệ cao…
Giai đoạn từ năm 2008 đến nay. Cơ cấu FDI của Mỹ vào Việt Nam theo
ngành kinh tế có sự chênh lệch khá lớn, 3 nhóm ngành bao gồm dịch vụ lưu
trú và ăn uống, kinh doanh bất động sản và công nghiệp chế biến, chế tạo
đang chiếm tỷ trọng lớn. Tổng vốn đầu tư vào 3 nhóm này chiếm trên 80%
tổng vốn FDI của Mỹ vào Việt Nam, trong khi nhóm ngành hàng nông - lâm
nghiệp và thủy sản (nhóm ngành hàng cần đẩy mạnh thu hút nhằm tranh thủ
87
đổi mới công nghệ) đứng ở vị trí 12/17 và chỉ chiếm 1,62%.
Trong 3 nhóm ngành đứng đầu về thu hút FDI của Mỹ vào Việt Nam thì
nhóm ngành công nghiệp chế biến - chế tạo chủ yếu được các nhà đầu tư Mỹ
đầu tư vào giai đoạn 2001- 2005 (sau đó Việt Nam ít thu hút được các dự án
đầu tư vào nhóm ngành này) và tính về số lượng dự án thì nhóm ngành này
thu hút được nhiều nhất với 329 dự án nhưng chỉ chiếm khoảng 2,39% tổng
FDI của Mỹ vào Việt Nam. Như vậy có thể thấy, lượng vốn đầu tư/dự án cho
nhóm ngành này là rất thấp so với 2 ngành còn lại và nếu tính bình quân
lượng vốn đầu tư/dự án thì nhóm ngành này chỉ đứng ở vị trí thứ 9/17 với
lượng vốn đầu tư/dự án vào khoảng 6,9 triệu USD (trung bình vốn đầu tư/dự
án vào khoảng 14,8 triệu USD).
Trong 17 nhóm ngành mà Mỹ đang đầu tư vào Việt Nam thì nhóm
ngành công nghiệp chế biến - chế tạo và nông - lâm nghiệp và thủy sản là
hai nhóm ngành mà chúng ta cần thu hút FDI của Mỹ nhằm đổi mới công
nghệ, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, phát triển sản xuất công nghiệp và
công nghiệp phụ trợ, thì hiện nay chưa được các nhà đầu tư của Mỹ đánh
giá cao và đầu tư với số lượng lớn.
(Chỉ tính các dự án còn hiệu lực đến ngày 20/07/2015)
Bảng 3.6. Cơ cấu FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 2008 - 2015
TT
Chuyên Ngành
Số dự án
Vốn điều lệ (triệu USD)
Tổng vốn đầu tư (triệu USD)
Tỷ trọng (%)
I Công nghiệp
3.381
357
29,62
1.039
1 CN chế biến, chế tạo
2.259
329
20,39
894
2
SX, PP điện, khí, nước, điều hòa
876
9
7,91
26
3 Khai khoáng
79
5
0,71
79
4 Xây dựng
67
14
0,60
40
II Dịch vụ
7.618
376
68,76
1.620
1 Dịch vụ lưu trú và ăn uống
4.678
17
42,22
877
2 Kinh doanh BĐS
2.100
14
18,95
353
3 Vận tải kho bãi
193
15
1,74
67
4 Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm
168
9
1,52
184
5 Giáo dục và đào tạo
164
12
1,48
9
6 HĐ chuyên môn, KHCN
97
90
0,88
26
88
7 Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa
78
54
32
0,70
8 Thông tin và truyền thông
61
134
35
0,55
9 Hành chính và dịch vụ hỗ trợ
44
9
23
0,40
10 Y tế và trợ giúp XH
19
11
7
0,17
11 Nghệ thuật và giải trí
11
5
5
0,10
12 Dịch vụ khác
5
6
2
0,05
15
44
1,62
III Nông, lâm nghiệp; thủy sản
180
748
100
Tổng cộng
11.079
2.703
Nguồn: Bộ Kế hoạch và đầu tư (2015) và tính toán của tác giả.
Bảng 3.6 cho thấy, dịch vụ lưu trú - ăn uống và kinh doanh bất động sản
đang là hai nhóm ngành có lượng vốn FDI của Mỹ vào nhiều nhất, đặc biệt
trong những năm gần đây. Với tỷ trọng 61,17% tổng vốn FDI của Mỹ vào
Việt Nam, 2 nhóm ngành này đang thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu
tư Mỹ với vốn đầu tư trung bình/dự án lần lượt là 275,2 triệu USD và 150
triệu USD. Điều này cho thấy các nhà đầu tư Mỹ đang định hướng đầu tư
nhiều hơn vào ngành dịch vụ. Về phía Việt Nam, chúng ta chỉ được lợi về
lượng vốn đầu tư khi các nhà đầu tư Mỹ đầu tư vào 2 nhóm ngành hàng này mà
không có nhiều lợi ích từ chuyển giao công nghệ - điều mà Việt Nam mong muốn.
Nhiều doanh nghiệp Mỹ đang có những kế hoạch lớn đầu tư vào Việt Nam
trong các lĩnh vực: cơ sở hạ tầng, kỹ thuật cao, năng lượng, du lịch, vận tải,
tài chính và ngân hàng. Triển vọng phát triển năng động và bền vững của nền
kinh tế Việt Nam có thể mở ra những cơ hội mới cho đầu tư của Mỹ, không
chỉ trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, công nghệ cao, mà cả trong lĩnh
vực dịch vụ như dịch vụ tài chính, ngân hàng, viễn thông, vận tải, y tế, giáo
dục - đào tạo, ...
Việt Nam hiện có nhu cầu vốn lớn để đầu tư đường cao tốc, cảng biển,
sân bay, điện, lĩnh vực công nghệ cao, tài chính, ngân hàng, và đây cũng là
những lĩnh vực các nhà đầu tư Mỹ rất quan tâm.
Nhu cầu về các dịch vụ tài chính của Việt Nam là rất lớn và đây là cơ
hội tốt cho các nhà đầu tư nước ngoài nói chung và các nhà đầu tư Mỹ nói
89
riêng. Một ví dụ cụ thể là hiện nay mới chỉ có 30% người dân sử dụng tài
khoản cá nhân; hay như doanh nghiệp tư nhân ra đời ngày càng nhiều, nhất là
kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, kéo theo đó là nhu cầu về vốn là rất lớn...
Đây là hai trong nhiều yếu tố đang rất hấp dẫn các tập đoàn tài chính ngân
hàng lớn của Mỹ. Việt Nam mong muốn Mỹ tăng cường đầu tư hơn nữa các dự
án thủy điện, cấp phát điện, các dự án xây dựng cảng biển và khai thác khoáng sản.
- Dầu khí và năng lượng là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư Mỹ
Doanh nghiệp Mỹ mong muốn Việt Nam thành lập cơ quan quản lý,
điều hành độc lập và đơn giản hoá các thủ tục pháp lý trong lĩnh vực dầu khí,
năng lượng. Doanh nghiệp Mỹ mong muốn Chính phủ Việt Nam mở cửa
rộng hơn nữa đối với các lĩnh vực này. Một khi những vấn đề này được giải
quyết, các tập đoàn lớn của Mỹ trong lĩnh vực dầu khí, năng lượng sẵn sàng
đầu tư vào Việt Nam.
Trong những năm gần đây, tập đoàn General Electric (GE) của Mỹ đã
luôn bày tỏ sự quan tâm tới những dự án đầu tư trong ngành điện lực trên
khắp Việt Nam khi biết rằng Chính phủ Việt Nam đang hướng tới một thị
trường năng lượng có tính cạnh tranh. Hiện tại tập đoàn này đã có 1 nhà máy
sản xuất máy phát điện tuốc bin gió tại Hải Phòng với tổng vốn đầu tư 61
triệu USD và đang cung cấp sản phẩm và dịch vụ tuốc bin gió cho 1 dự án
điện gió ở Bạc Liêu. Ngoài ra, tập đoàn năng lượng General Electric còn
mong muốn sớm nhận được hồ sơ mời thầu cho những dự án trong ngành
điện ở Việt Nam trong thời gian tới và sẵn sàng giúp đỡ Việt Nam trong việc
đào tạo nguồn nhân lực… Những khách hàng chính của GE tại Việt Nam
hiện nay là Vietnam Airlines, Tổng công ty Điện lực Việt Nam, Tổng công
ty Đường sắt Việt Nam, Petro Việt Nam, các bệnh viện công và tư...
Tập đoàn Alcoa Inc của Mỹ - tập đoàn hàng đầu thế giới về năng lượng
và khai khoáng - mong muốn phát triển quan hệ hợp tác với Tập đoàn Than -
Khoáng sản Việt Nam và tỉnh Đăk Nông trong việc xây dựng một nhà máy
tinh luyện nhôm công suất 1,5 triệu m3/năm.
Tập đoàn Cummins Power Generation của Mỹ - tập đoàn sản xuất động
90
cơ Diezel và máy phát điện - muốn phát triển các hệ thống phân phối sản
phẩm ngành điện lực, điện tử tại Việt Nam cũng như mong muốn mở rộng
mạng lưới kênh phân phối để mang thương hiệu cũng như các sản phẩm của
mình tới gần hơn với khách hàng tại Việt Nam.
Trong khi đó, Hãng Gannon - một nhà đầu tư quốc tế đa ngành - đây là
một trong những công ty đầu tiên của Mỹ tại Việt Nam, ngoài các lĩnh vực
kinh doanh hiện tại tại Việt Nam, Gannon còn mong muốn đẩy nhanh việc cấp
phép xây dựng một khu công nghiệp và xây dựng một nhà máy điện ở Việt Nam.
Tập đoàn AES có trụ sở tại Mỹ, chuyên đầu tư phát triển các nguồn điện
và phân phối điện. Tập đoàn này cùng với Tập đoàn Than và Khoáng sản
Việt Nam đang là chủ đầu tư nhà máy nhiệt điện Mông Dương 2 với tổng
vốn đầu tư là gần 2 tỷ USD, trong đó vốn đầu tư của tập đoàn này chiếm
51% (dự án đã được cấp phép đầu tư năm 2007). Ngoài ra, tập đoàn này cũng
quan tâm tới việc đầu tư các nhà máy nhiệt điện khác tại Việt Nam, đồng thời
mong muốn hợp tác với các Tập đoàn lớn của Việt Nam như Petro Việt Nam,
Tổng Công ty Sông Đà để phát triển các dự án năng lượng.
- Mỹ coi Việt Nam là điểm đến cho công nghệ thông tin
Việt Nam đang trở thành một điểm đến hấp dẫn cho đầu tư công nghệ
thông tin từ giới doanh nghiệp Mỹ. Hiện tại, lượng vốn đầu tư có quy mô lớn
trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông từ Mỹ, và từ các chi
nhánh của công ty Mỹ tại Châu Á vào Việt Nam đang tăng nhanh.
Bước ngoặt thể hiện mối quan tâm của Mỹ trong lĩnh vực công nghệ thông
tin chính là sự hiện diện của Tập đoàn Intel tại Khu công nghệ cao Thành phố
Hồ Chí Minh thông qua dự án đầu tư trị giá 1 tỷ USD (được cấp phép năm 2006
và được khánh thành vào cuối năm 2009). Sau Intel hàng loạt các công ty khác
của Mỹ trong lĩnh vực công nghệ thông tin đã chọn Việt Nam là điểm dừng
chân... Những nhà đầu tư lớn như Microsoft, Unisys, Qualcom và Motorola
cũng mong muốn thúc đẩy các dự án hợp tác với các doanh nghiệp Việt Nam.
Theo báo cáo của Ủy ban Thương mại Quốc tế Mỹ đã được công bố,
91
mức thuế quan thấp, môi trường đầu tư thay đổi theo hướng tích cực, và các
tiêu chuẩn được cải thiện của Việt Nam trong thời gian gần đây đang hấp dẫn
các doanh nghiệp sản xuất thiết bị công nghệ thông tin và truyền thông Mỹ.
Về thuế quan, theo cam kết thuế trong Hiệp định Công nghệ Thông tin
(Information Technology Agreement- ITA) khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ
loại bỏ thuế quan đối với các sản phẩm công nghệ thông tin và truyền thông,
như máy tính, thiết bị điện tử, thiết bị viễn thông và phần mềm máy tính.
Theo ITA, Việt Nam cam kết xóa bỏ 330 dòng thuế đối với sản phẩm công
nghệ thông tin (IT) trong vòng từ 3 - 5 năm. Theo đó, các sản phẩm điện tử
như máy tính, điện thoại di động, máy quay cầm tay, máy ảnh số… sẽ có
thuế suất 0% trong vòng 3 - 5 năm, tối đa là 7 năm.
Nhiều doanh nghiệp Mỹ cho rằng, việc tăng cường bảo hộ các nhà đầu
tư nước ngoài sẽ làm tăng thêm lượng vốn đầu tư vào Việt Nam. Trong một
số phân ngành công nghệ thông tin và truyền thông, các nhà đầu tư Mỹ cũng
được thụ hưởng các điều khoản ưu đãi tối huệ quốc và đối xử quốc gia theo
BTA Việt Nam - Mỹ. Tập đoàn dữ liệu quốc tế IDG cho rằng Việt Nam là
một thị trường đầy tiềm năng để hợp tác, đầu tư phát triển về công nghệ
thông tin. Sinh viên Việt Nam được đánh giá là rất thông minh, năng động.
IDG muốn tăng cường hợp tác với Việt Nam trong việc đào tạo nguồn nhân
lực, ứng dụng công nghệ thông tin. Ngoài ra IDG cũng có mong muốn đầu tư
vào lĩnh vực sản phẩm tiêu dùng trong thời gian tới.
3.3.3. Hình thức đầu tư
Giai đoạn từ 1988 - 2001. Xu hướng lựa chọn hình thức đầu tư của các
nhà đầu tư Mỹ thường là 100% vốn nước ngoài. Đây là hình thức tất yếu đối
với các nhà đầu tư khi quan điểm trong đầu tư của họ là khá rõ ràng với mục
đích tối đa hoá lợi nhuận, nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp. Hình thức
100% vốn nước ngoài được các nhà đầu tư Mỹ lựa chọn chiếm 64% với số
dự án là 83 dự án trong khi vốn đầu tư là 548 triệu USD và chiếm 52,6%
92
tổng vốn đầu tư (Bảng 3.7).
Bảng 3.7. Hình thức FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 1988 - 2001
Đơn vị tính: triệu USD
Hình thức đầu tư
Số dự án
Hợp đồng hợp tác kinh doanh Liên doanh 100% vốn nước ngoài Tổng
13 33 83 129
Tổng vốn đăng ký 134,1 359,6 548,1 1.041,8
Vốn pháp định 133,1 196,6 247,9 577,6
Đầu tư thực hiện 142,8 136,8 210,5 490,1
Nguồn: Vụ quản lý dự án - Bộ Kế hoạch và đầu tư (2002)
Trong giai đoạn này, các Công ty xuyên quốc gia của Mỹ chiếm tỷ
trọng rất nhỏ trong tổng số các dự án đầu tư tại Việt Nam nhưng lại hoạt
động khá hiệu quả và các dự án hầu như không bị đình trệ hay rút giấy phép
đầu tư. Đến cuối năm 2001, đã có hơn 10 TNC của Mỹ đã có mặt tại Việt
Nam như CityBank, Mobil, IBM, OTIS, Chrysler… trong nhóm 100 TNC
đang hoạt động tại Việt Nam thông qua việc mở văn phòng đại diện và các
cơ sở sản xuất 100% vốn nước ngoài hoặc liên doanh. So với các TNC khác
có mặt tại Việt Nam thì tỷ lệ vốn góp của các TNC Mỹ thường có mức vốn
thực hiện từ 38 - 70% trong khi các TNC khác chỉ đạt bình quân khoảng
20%.
Ngoài ra, các TNC Mỹ có mặt ở nhiều lĩnh vực đầu tư trọng điểm của Việt
Nam và tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp sản xuất, bất động sản và
khai thác dầu khí như dự án khu nghỉ mát Non Nước - Đà Nẵng, dự án liên
doanh sản xuất và lắp ráp xe ô tô Ford - Hải Dương và Chrysler - Đồng Nai.
Đối với hình thức 100% vốn nước ngoài có 2 dự án trong lĩnh vực tài chính -
ngân hàng, 8 dự án công nghiệp, 1 dự án xây dựng, 4 dự án trong lĩnh vực dịch
vụ. Dự án dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh có thể kể đến như 3 hợp
đồng thăm dò khai thác dầu khí, dự án sửa chữa ô tô tại Phú Yên, dự án đào tạo,
nghiên cứu và phát triển công nghệ tin học ở TP. Hồ Chí Minh… [35, tr.23].
Giai đoạn từ 2002 - 2007. Đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam trong
giai đoạn này có 4 hình thức: 100% vốn nước ngoài; Liên doanh; Hợp đồng
hợp tác kinh doanh và Công ty cổ phần. Thực tế trong giai đoạn trước, khi
93
tham gia liên doanh, phía Việt Nam tỏ ra yếu cả về vốn đóng góp lẫn năng
lực quản lý của cán bộ. Trong khi đó các doanh nghiệp nước ngoài muốn độc
lập hơn khi họ ngày hiểu biết nhiều hơn về pháp luật, chính sách, cách thức
hoạt động kinh doanh ở môi trường kinh doanh Việt Nam. Do vậy, trong giai
đoạn này, hình thức 100% vốn nước ngoài đã thu hút sự chú ý đặc biệt của các
nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, trong đó đặc biệt là các nhà đầu tư Mỹ.
Bảng 3.8. Hình thức FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 2002 - 2007
Số dự án
Số dự án
STT
Hình thức
Kể cả qua nước thứ 3 VĐK (triệu USD)
VTH (triệu USD)
Không kể qua nước thứ 3 VTH VĐK (triệu (triệu USD) USD)
291
3.006,5
1.038
253
1.512,5
338
1
66
849
644,5
419
229,5
49
2
21
301,5
1.639
177,5
250
18
3
ty
5
85
46
85
46
5
4
383
4.242
3.367,5
325
2.194
863,5
100% vốn nước ngoài Liên doanh Hợp đồng hợp tác kinh doanh Công cổ phần Tổng số (Nguồn: Bộ Kế hoạch và đầu tư, 2008)
Bảng 3.8 cho thấy, nếu tính cả đầu tư qua nước thứ 3 thì hình thức
100% vốn đầu tư nước ngoài được nhiều nhà đầu tư Mỹ thực hiện với 291 dự
án với tổng vốn đăng ký trên 3 tỷ USD (chiếm 70,9% tổng vốn đầu tư của
Mỹ vào Việt Nam). Hình thức liên doanh đứng thứ 2 với 66 dự án và 849
triệu USD (chiếm 20%). Hình thực hợp đồng hợp tác kinh doanh được các
nhà đầu tư Mỹ thực hiện 21 dự án với tổng vốn đầu tư là 301,5 triệu USD
(chiếm 7,1%), còn lại là hình thức công ty cổ phần.
Nếu tính dựa trên mức tính trung bình mỗi dự án là 11,1 triệu USD/dự
án thì hình thức 100% vốn nước ngoài đứng thấp nhất với mức vốn đầu tư
trung bình cho một dự án trung bình đạt 10,3 triệu USD/dự án, trong khi hình
thức công ty cổ phần sẽ đứng đầu (17 triệu USD/dự án).
Với cách xếp hạng dựa trên số dự án và tổng vốn đầu tư, chúng ta dễ
dàng nhận ra được đây sẽ là xu hướng chủ yếu mà các nhà đầu tư Mỹ lựa
chọn bởi như phân tích ở phần trước hình thức này mang đến việc tối đa hoá
94
lợi nhuận, tối ưu hoá các quyết định kinh doanh, hạn chế được nguy cơ bị
đánh cắp công nghệ… Cách xếp hạng này cũng cho thấy sự tin tưởng của các
nhà đầu tư Mỹ đối với môi trường đầu tư của Việt Nam. Ngoài ra, một điểm
nữa có thể nhận thấy là sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam trong khu
vực FDI của Mỹ còn nhiều hạn chế bởi doanh nghiệp Việt Nam thường yếu
thế hơn, đặc biệt là trong các liên doanh thể hiện ở lượng vốn đóng góp, trình
độ công nghệ, khả năng quan lý, chất lượng lao động được cung cấp.
Cách xếp hạng dựa trên hiệu quả trung bình mỗi dự án cho thấy, phần
lớn các dự án vào Việt Nam theo hình thức 100% vốn nước ngoài có mức
vốn đầu tư không lớn (trong khi tiềm lực của các doanh nghiệp Mỹ là rất lớn).
Về cơ bản, cả hai cách tính FDI của Mỹ vào Việt Nam không qua
nước thứ 3 hay kể cả qua nước thứ 3 thì thứ hạng gần như không có sự thay
đổi theo các hình thức đầu tư.
Ngoài ra, Mỹ đã có thêm 5 dự án hoạt động theo hình thức công ty cổ
phần. Có thể thấy, so với giai đoạn trước, các nhà đầu tư Hoa Kỹ có những
thay đổi và định hình mới trong quyết định đầu tư vào Việt Nam theo hình
thức này.
Giai đoạn từ 2008 đến nay. Bảng 3.9 cho thấy các nhà đầu tư Mỹ vẫn
có xu hướng lựa chọn hình thức 100% vốn nước ngoài hơn là các hình thức
khác. Hình thức này đang chiếm 74,75% về lượng vốn đầu tư và chiếm
81,55% về số dự án mà Mỹ đầu tư vào Việt Nam.
Ở những năm đầu giai đoạn 1988 - 2001, các nhà đầu tư Mỹ thường lựa
chọn hình thức liên doanh với những mục đích thăm dò thị trường, tranh thủ lợi
ích và tiếp cận đất đai, đồng thời cũng do luật đầu tư của Việt Nam lúc đó
khuyến khích hình thức liên doanh. Sau đó, các doanh nghiệp này tìm cách mua
lại phần vốn góp của phía Việt Nam và chuyển sang hình thức 100% vốn nước
ngoài. Điều này cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam còn yếu về nhiều mặt, đặc
biệt là tiềm lực tài chính, trình độ lao động,... và do đó dễ chịu thua thiệt trong liên
doanh với các doanh nghiệp nước ngoài nói chung và doanh nghiệp Mỹ nói riêng.
Đến nay, khi môi trường đầu tư của Việt Nam đã trở nên thông thoáng
95
hơn, khả năng tiếp cận đất đai đã được cởi mở hơn và tránh những rủi ro về
khác biệt văn hóa… các nhà đầu tư Mỹ thường lựa chọn hình thức 100% vốn
nước ngoài nhằm tránh rò rỉ công nghệ và tối ưu hóa lợi nhuận.
Bảng 3.9. Hình thức FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 2008 - 2015 (Chỉ tính các dự án còn hiệulực đến ngày 20/07/2015)
TT
Hình thức đầu tư
Số dự án
Vốn điều lệ (triệu USD)
Tỷ trọng (%)
1
100% vốn nước ngoài
Tổng vốn đầu tư (triệu USD) 8.282
610
1,801
74,75
2
Liên doanh
2.600
113
791
23,47
3
Công ty cổ phần
119
13
35
1,07
4
Hợp đồng hợp tác kinh doanh
78
12
76
0,70
Tổng cộng
100
748
11.079
2.703
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (7/2015)
Với Việt Nam, hình thức 100% vốn nước ngoài sẽ hạn chế rất nhiều tác
dụng có tính lan tỏa của dòng vốn FDI của Mỹ vào Việt Nam cũng như quá
trình chuyển giao công nghệ, đào tạo lao động trình độ cao, học tập kinh
nghiệp quản lý hiện đại,… từ các doanh nghiệp Mỹ mang lại.
Việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước một cách triệt để có thể
xem là một phương hướng tốt cho phía doanh nghiệp Việt Nam khi mà các
doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa thường là doanh nghiệp có tiềm
lực tài chính nhưng thường tụt hậu về công nghệ, trình độ quản lý cũng như
tay nghề lao động. Cùng với việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước,
các doanh nghiệp cổ phần Việt Nam cần phải đẩy mạnh liên doanh liên kết
với các doanh nghiệp Mỹ để nhằm giúp cho phía Việt Nam đứng vững trong
liên doanh cũng như thúc đẩy được quá trình chuyển giao công nghệ, nâng cao
trình độ quản lý và hợp tác đào tạo nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động.
Một ghi nhận nữa của giai đoạn này là hình thức công ty cổ phần đã được
các nhà đầu tư Mỹ chú ý và lựa chọn nhiều hơn khi tiến hành đầu tư tại Việt Nam.
3.3.4. Phân bố đầu tư
Mỹ là một trong những nước có nguồn vốn FDI lớn đổ vào Việt Nam.
Do vậy phân bố đầu tư của Mỹ vào các địa phương cũng sẽ ảnh hưởng lớn
96
đến cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư theo địa phương của Việt Nam. Đầu tư của
Mỹ vào Việt Nam cũng dàn trải trên nhiều tỉnh, có cả các tỉnh mà từ trước
đến nay nguồn vốn FDI không cao như Hưng Yên, Thái Bình, Đắc Lắc,…
Tuy nhiên, điều thấy rõ nhất là vốn đầu tư của Mỹ thường tập trung chủ yếu
ở một số địa bàn thuận lợi nhất. Đây cũng là tình hình chung thực tế của đầu
tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
Giai đoạn năm 1988 - 2001. Về cơ bản, các nhà đầu tư nói chung và các
nhà đầu tư Mỹ nói riêng thường đầu tư vào các tỉnh/thành có cơ sở hạ tầng
tốt hơn như TP.Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Hà Nội, Bình Dương, Bà Rịa -
Vũng Tàu. Trong giai đoạn này, 6 tỉnh/thành trên đã có tới 93 dự án (chiếm
68% số dự án) với 778,2 triệu USD (chiếm 75% số vốn đăng ký). Bảng 3.10
cũng cho thấy, 2/3 tổng số đầu tư trực tiếp của Mỹ tại Việt Nam tập trung
vào các tỉnh phía Nam và 1/3 ở phía Bắc. Điều này phản ánh tính hấp dẫn
cũng như mối quan tâm của người Mỹ đối với vùng đất lịch sử Nam Việt
Nam mà nhiều người Mỹ từng gắn bó trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Các
doanh nghiệp Mỹ cũng chú ý nhiều đến các tỉnh phía Bắc, nhưng về cơ bản
vẫn nghiêng về các tỉnh phía Nam.
Bảng 3.10. Phân bố FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 1988 - 2001
Đơn vị tính: triệu USD
STT
Địa phương
Số dự án
Tổng vốn đăng ký 189,3 174,3 158,1 123,8 102,7 89,4 64,4 26,2 20,0 12,1
Vốn pháp định 98,0 74,2 87,0 123,8 72,0 41,5 21,4 8,6 10,0 3,6
Đầu tư thực hiện 60,0 40,6 74,1 139,9 75,5 38,4 13,8 2,8 20,0 4,6
39 14 22 6 1 12 5 3 1 2
1 TP. Hồ Chí Minh 2 Đồng Nai 3 Hà Nội Dầu khí * 4 5 Hải Dương 6 Bình Dương 7 Bà Rịa - Vũng Tàu 8 Cần Thơ Hà Tây 9 10 Đắc Lắc …
577,6
490,1
129
1041,8
Cả nước Nguồn: Bộ Kế hoạch và đầu tư (2002) * Dầu khí để riêng và không nằm ở bất kỳ tỉnh thành nào.
97
Bảng 3.10 cho thấy ở giai đoạn này, TP. Hồ Chí Minh là thành phố thu
hút được nhiều dự án với 39 dự án và tổng vốn đầu tư là 189,3 triệu USD
nhưng số liệu này cũng phản ánh lượng vốn/dự án trung bình tại TP. Hồ Chí
Minh chỉ đạt khoảng 4,85 triệu USD/dự án. Trong khi đó dự án nhà máy lắp
ráp ô tô Ford tại Hải Dương (đứng ở vị trí thứ 5) nhưng lại đang là dự án lớn
với 102,7 triệu USD.
Giai đoạn 2002 - 2007. Mặc dù lượng vốn đầu tư của Mỹ vào các
tỉnh/thành đã có sự thay đổi nhưng về cơ bản các tỉnh/thành phía Nam vẫn
chiếm ưu thế. Riêng TP. Hồ Chí Minh chiếm 32,2% tổng vốn đầu tư với 150
dự án (chiếm 39,2% tổng số dự án) mà Mỹ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam (kể
cả qua các nước thứ ba). Nếu không kể qua các nước thứ ba thì tỷ trọng
lượng vốn đầu tư và số dự án lần lượt là 21,2% và 40,6%. Ở vị trí tiếp sau
TP. Hồ Chí Minh là 3 tỉnh phía Nam gồm Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai và
Bình Dương đã được các nhà đầu tư Mỹ quan tâm với số dự án lần lượt là 12
(3,1%), 31 (8,1%) và 49 (12,8%) với lượng vốn đầu tư là 579 triệu USD
(13,6%), 380 triệu USD (9%) và 341 triệu USD (8%). Chỉ tính riêng nhóm 4
tỉnh này đã chiếm trên 65% tổng vốn đầu tư của Mỹ vào Việt Nam.
Ở khu vực phía Bắc, Hà Nội là thành phố được các nhà đầu tư Mỹ quan
tâm nhiều khi được đầu tư 41 dự án với lượng vốn đầu tư là 251,1 triệu USD.
Tuy nhiên, các dự án mà các nhà đầu tư Mỹ đầu tư vào Hà Nội phần lớn là
những dự án có quy mô nhỏ. Tiếp sau Hà Nội là Hải Dương với 2 dự án có
lượng vốn đầu tư là 103 triệu USD (nhưng 1 dự án của Công ty Ford là 102
triệu USD vẫn đang còn hiệu lực từ giai đoạn trước, nên cơ bản ở giai đoạn
này Hải Dương chỉ có 1 dự án nhỏ).
Hải Phòng với số dự án là 10 với khoảng 40,6 triệu USD nhưng lại là
nơi có sức hấp dẫn các nhà đầu tư Mỹ. Các yếu tố giúp Hải Phòng có được
môi trường thuận lợi để thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư Mỹ đó
là Hải Phòng là cảng biển đầu mối giao thông quan trọng giao lưu trong và
98
ngoài nước, cơ sở hạ tầng của Hải Phòng đang được cải thiện theo thời gian,
sự hỗ trợ từ phía nhà nước… là những điểm quan trọng để các nhà đầu tư Mỹ
đưa ra những quyết định đầu tư của mình tại đây.
Bảng 3.11. Phân bố FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 2002 - 2007
STT
Tỉnh, thành
Số dự án
Số dự án
TP. Hồ Chí Minh Bà Rịa - Vũng Tàu
Bình Dương
1 Dầu khí* 2 3 4 Đồng Nai 5 6 Hà Nội 7 Hải Dương 8 Hà Tây 9 Lâm Đồng 10 Hải Phòng …
Kể cả qua nước thứ 3 VĐK (triệu USD) 285 1.637,6 579 380 341 251,1 103 75 44 40,6 4.242
VTH (triệu USD) 1.636 677 138 198 228 131 148 73 53 28 3.367,5
Cả nước
Không kể qua nước thứ 3 VTH VĐK (triệu (triệu USD) USD) 247 168 85 465,6 81 497 110 265 68 176 63 149,1 148 103 22 26 1 4 2 10,6 863,5 2.194
8 132 9 26 44 34 2 4 2 6 325
11 150 12 31 49 41 2 5 3 10 383 Nguồn: Bộ Kế hoạch và đầu tư (2008) và theo tính toán của tác giả * Dầu khí để riêng và không nằm ở bất kỳ tỉnh thành nào
Trong năm 2007, các nhà đầu tư Mỹ tiếp tục tập trung đầu tư vào các
địa phương có điều kiện cơ sở hạ tầng thuận lợi, những địa phương thu hút
nhiều dự án nhất (TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Hà Nội, Bình
Dương, Quảng Ninh). Bà Rịa - Vũng Tàu chiếm lượng vốn đầu tư lớn nhất
với 82%; Hà Nội đứng thứ 2 với 7%, TP. Hồ Chí Minh đứng đầu về số dự án
(19 dự án, chiếm 52,8% số dự án) nhưng chỉ đứng thứ 3 về vốn đầu tư,
chiếm 5,8%, còn lại là các địa phương khác.
Như vậy trong giai đoạn này, cơ cấu FDI của Mỹ theo địa phương vẫn
chưa có nhiều thay đổi. Có thể thấy khu vực phía Nam vẫn là cực thu hút đầu
tư vô cùng lớn. Đó là nơi có cơ sở hạ tầng phát triển và cơ chế thu hút đầu tư
cởi mở, thông thoáng hơn. Tại khu vực phía Bắc, Hải Phòng nổi lên, hấp dẫn
các nhà đầu tư Mỹ. Với lợi thế riêng của mình, Hải Phòng hứa hẹn là điểm
đến của các nhà đầu tư Mỹ tại khu vực phía Bắc.
Giai đoạn năm 2008 đến nay. Trong giai đoạn này, các nhà đầu tư của
99
Mỹ đã đầu tư vào 42 tỉnh/thành của Việt Nam và chủ yếu là phân bố ở các
thành phố lớn, vùng kinh tế trọng điểm hoặc những địa phương có tiềm năng
và đa phần là phân bố ở khu vực phía Nam.
Bảng 3.12 cho thấy các tỉnh/thành ở khu vực phía Nam chiếm khoảng
75% tổng FDI của Mỹ vào Việt Nam. Trong đó, Bà Rịa - Vũng Tàu vẫn là
điểm đến của FDI Mỹ với hơn 5.301 triệu USD/18 dự án, chất lượng các
dự án ở đây là khá cao khi đạt 294,5 triệu USD/dự án. Cà Mau mặc dù chỉ
chiếm 6,98% tổng vốn FDI của Mỹ vào Việt Nam nhưng lại là địa phương
nhận được những dự án lớn, trung bình mỗi dự án vào Cà Mau là 386,76
triệu USD. Tương tự, Bình Định đứng vị trí thứ 8 và chỉ chiếm 2,37% tổng
vốn FDI của Mỹ vào Việt Nam nhưng các dự án ở đây đều khá với mức
trung bình đạt khoảng 87,55 triệu USD/dự án.
Các tỉnh và thành phố lớn như Hải Phòng, Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh,
Đồng Nai, Đà Nẵng, Hà Nội, Hải Dương lần lượt chiếm tỷ trọng là 11,05%;
7,06%; 6,93%; 3,45%; 3,19%; 2,0% và 1,31%. Quy mô vốn đầu tư/dự án của
các tỉnh/thành phố này lần lượt đạt là 94,2 triệu USD; 7,98 triệu USD; 2,46 triệu
USD; 9,1 triệu USD; 11,79 triệu USD; 2,51 triệu USD và 24,13 triệu USD. Như
vậy, quy mô dự án mà các nhà đầu tư Mỹ đầu tư tại các tỉnh/thành phố này là
khá nhỏ và không tương xứng với tiềm năng của các địa phương trên.
Bảng 3.12. Phân bố FDI của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 2008 - 2015 (Chỉ tính các dự án còn hiệu lực đến ngày 20/07/2015)
TT
Địa Phương
Số dự án
Vốn điều lệ (triệu USD)
Tỷ trọng (%)
1
Bà Rịa-Vũng Tàu
Tổng vốn đầu tư (triệuUSD) 5.301
18
548
47,85
2
Hải Phòng
1.225
13
150
11,05
3
Bình Dương
782
98
345
7,06
4
Cà Mau
774
2
125
6,98
5
TP Hồ Chí Minh
312
768
399
6,93
6
Đồng Nai
382
42
142
3,45
7
Đà Nẵng
354
30
480
3,19
8
Bình Định
263
3
68
2,37
9
Hà Nội
221
88
110
2,00
10
Hải Dương
145
6
78
1,31
100
…
Tổng cộng
748
11.079
2.703
100
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư 2015 (chi tiết xem phụ lục)
Bảng 3.12 một lần nữa khẳng định, các nhà đầu tư Mỹ vẫn lựa chọn đầu
tư tại các tỉnh phía Nam, những nơi thuận lợi về vị trí, giao thông cũng như
luôn có những cải cách mạnh mẽ trong việc tạo môi trường kinh doanh thuận
lợi và thông thoáng cho các nhà đầu tư của Mỹ hơn là các tỉnh phía Bắc.
Ngoài ra, Bảng 3.12 cũng cho thấy với lợi thế riêng có, Hải Phòng đã khẳng
định vị thế của mình khi nhận được sự quan tâm tốt từ các nhà đầu tư Mỹ.
Phân bố đầu tư của Mỹ tại các tỉnh là không đồng đều, 10 tỉnh đứng
đầu về thu hút FDI của Mỹ chiếm 92,19% tổng lượng vốn và chiếm 81,82%
số dự án mà các nhà đầu tư Mỹ đã đầu tư vào Việt Nam. Xu hướng này sẽ
còn tăng lên nữa trong thời gian tới do phần lớn các tỉnh này đều là các
tỉnh/thành phố lớn nhất của Việt Nam, đồng thời cơ sở hạ tầng, môi trường
đầu tư kinh doanh tốt hơn. Sự phân bố không đồng đều dẫn đến một thực
trạng là tình trạng di dân ra các tỉnh/thành phố lớn sẽ ngày càng gia tăng. Từ
đó sẽ nảy sinh tình trạng quá tải cho các đô thị và các vấn đề về xã hội làm
ảnh hưởng tới tính bền vững trong phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam trong
thời gian tới.
3.4. Đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài Mỹ tại Việt Nam
FDI là nguồn vốn quan trọng cho phát triển kinh tế của Việt Nam.
Những đóng góp của FDI Mỹ vào Việt Nam không chỉ tương tự như FDI của
các nước khác mà nó còn có những khía cạnh riêng.
- Góp phần cho tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy quá trình hội nhập
quốc tế của Việt Nam
Việc hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng giao lưu mối quan hệ thương
mại với các nước, các tổ chức là một cơ hội để đưa Việt Nam trở thành quốc
gia có nền kinh tế phát triển và đây cũng là xu hướng tất yếu. Rõ ràng rằng,
101
việc hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới trong thời gian qua đã
thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, góp
phần không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế.
Theo thống kê của Vietnam Report về Top 500 doanh nghiệp tăng
trưởng nhanh nhất Việt Nam trong 3 năm công bố, tương ứng với các giai
đoạn 2008-2011, 2009-2012, 2010-2013, khối doanh nghiệp FDI có Tốc độ
tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) khá cao, chỉ đứng sau khối doanh nghiệp
tư nhân trong nước.
Hình 3.4. CAGR trung bình theo loại hình doanh nghiệp, Bảng xếp hạng FAST 500 Nguồn: Vietnam Report các năm 2013, 2014, 2015 (tương ứng với các giai đoạn 2000 - 2011, 2009 - 2012, 2010 - 2013.
Một điều quan trọng nữa cũng cần phải đề cập đến của quá trình hội
nhập trong thời gian qua là việc Việt Nam nhập khẩu chủ yếu các hàng hóa
trung gian hay còn gọi là hàng hóa đầu vào, phục vụ sản xuất. Tỷ lệ nhập
khẩu hàng hóa trung gian chiếm khoảng 90% tổng số hàng hóa nhập khẩu,
tạo ra lợi thế rất lớn trong việc thúc đẩy sản xuất, cũng như xuất khẩu hàng
hóa vì: thứ nhất, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sẽ cho phép các doanh
nghiệp trong nước lựa chọn được các hàng hóa đầu vào với giá rẻ do đó sẽ
giảm chi phí sản xuất, tăng tính cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường quốc
102
tế; thứ hai, việc tự do hóa thương mại cũng giúp các doanh nghiệp lựa chọn
được các yếu tố đầu vào có chất lượng tốt hơn, từ đó thúc đẩy việc sản xuất
sản phẩm có chất lượng cao, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và
xuất khẩu hàng hóa. Trước đây, việc nhập siêu đã làm cho nhiều nhà hoạch
định chính sách cũng như các chuyên gia kinh tế lo ngại, nhưng trong bối
cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng thì việc nhập siêu các hàng
hóa đầu vào thiết yếu, có chất lượng để sản xuất hàng hóa xuất khẩu thì
không đáng ngại, nhất là trong điều kiện ngành công nghiệp phụ trợ của ta
còn yếu kém. Vấn đề là ở chỗ, chất lượng và giá cả hàng hóa đầu vào thế
nào; hàng hóa sản xuất ra có được thị trường chấp nhận không, đặc biệt là thị
trường xuất khẩu.
FDI của Mỹ cũng mang lại những lợi ích chung vốn có của dòng FDI
nhưng với sự góp mặt của các doanh nghiệp Mỹ, các doanh nghiệp trong
nước không chỉ phải thay đổi để thích ứng với hoàn cảnh mới mà các TNC
lớn của Mỹ còn giúp hàng hóa sản xuất tại Việt Nam thâm nhập dễ dàng hơn
vào thị trường Mỹ và các thị trường khác trên thế giới. Đến nay, kim ngạch
ngoại thương hai chiều Việt - Mỹ đã đạt 37 tỷ USD, trong đó Việt Nam đạt
mức xuất siêu lớn, 14,5 tỷ USD [86].
Như vậy, FDI nói chung và FDI của Mỹ nói riêng góp phần tăng trưởng
kinh tế cho Việt Nam cũng như thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế của Việt
Nam khi các TNC của Mỹ không chỉ là đơn vị đặt hàng mà còn là đơn vị
phân phối các mặt hàng do Việt Nam sản xuất.
- Góp phần thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào mạng lưới
sản xuất toàn cầu
Có thể nói, Việt Nam là một trong những quốc gia tham gia sau cùng
vào mạng lưới sản xuất toàn cầu nhưng nhờ tham gia mạng lưới sản xuất
toàn cầu mà trong 15 năm gần đây kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng khá,
ngành công nghiệp Việt Nam cũng có những bước tiến bộ nhất định. Với sự
xuất hiện của các dự án đầu tư lớn từ các nhà đầu tư Mỹ, việc tham gia mạng
lưới sản xuất toàn cầu đã trở nên dễ ràng hơn. Tuy nhiên, tham gia đến đâu
103
và như thế nào đang là vấn đề khó cho doanh nghiệp Việt Nam. Theo số liệu
của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thì chỉ có 36% doanh
nghiệp Việt Nam tham gia vào mạng lưới sản xuất gồm cả xuất khẩu trực
tiếp và gián tiếp. Đây là con số khá khiêm tốn khi tỷ lệ này ở Malaysia và
Thái Lan là khoảng 60%. Nguyên nhân chính của thực trạng này là do năng
lực cạnh tranh cũng như số lượng doanh nghiệp lớn và vừa ở Việt Nam chỉ
chiếm 4% tổng số doanh nghiệp. Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam chỉ
tham gia ở khâu thấp nhất trong mạng lưới sản xuất toàn cầu là lắp ráp và gia
công mà chưa tham gia vào sản xuất sản phẩm chính.
Sự xuất hiện của các TNC đặc biệt là các TNC Mỹ là cơ hội lớn mở ra
cho các doanh nghiệp Việt Nam. Tất nhiên để tận dụng được cơ hội này, các
doanh nghiệp Việt Nam cần phải xác định lựa chọn sản phẩm nào trong
chuỗi giá trị đó và tham gia vào đâu trong mạng lưới sản xuất toàn cầu. Bởi
mạng lưới sản xuất toàn cầu có nhiều doanh nghiệp của nhiều nước tham gia,
vấn đề là sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam sẽ đứng ở đầu hay ở cuối
trong mạng lưới sản xuất toàn cầu; và sản phẩm đó có phải là then chốt, lợi
thế không? Đồng thời, muốn tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu, doanh
nghiệp cần hướng tới các sản phẩm công nghệ cao, hàm lượng chất xám lớn,
tạo nên giá trị gia tăng cao, đứng ở vị trí cao trong mạng lưới sản xuất toàn cầu.
Ngoài ra, doanh nghiệp Việt Nam còn cần tới sự hỗ trợ từ phía nhà
nước, nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh trong khu vực, nâng cao cơ sở hạ
tầng và công nghiệp logistics để có thể tận dụng được hết những cơ hội tham
gia vào mạng lưới sản xuất toàn cầu.
- Góp phần bổ sung vốn và chuyển giao công nghệ cho quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Thời gian qua FDI đã góp phần thúc đẩy đổi mới và chuyển giao công
nghệ, từng bước nâng cao năng lực sản xuất của một số ngành trong nước.
Nếu chỉ đánh giá ở góc độ của FDI Mỹ vào Việt Nam thì việc góp phần bổ
sung vốn mới chỉ ở mức trung bình và chưa tương xứng với tiềm năng của
hai bên, còn về chuyển giao công nghệ thì chưa được như mong đợi. Đơn cử
104
như trường hợp mong muốn thúc đẩy ngành công nghiệp phụ trợ cho ô tô,
khi Ford đầu tư dự án lớn về lắp đặt ô tô tại Hải Dương, phía Việt Nam đã kỳ
vọng vào bước phát triển nhanh chóng cho ngành sản xuất ô tô trong nước và
ngành công nghiệp phụ trợ nhưng đến nay kết quả đạt được là ngành sản xuất
ô tô không có nhiều đổi mới hoặc tốc độ tăng trưởng của sản xuất ô tô trong
nước còn chậm, các ngành công nghiệp phụ trợ phát triển rời rạc, manh mún.
Tất nhiên, đánh giá chung nhờ FDI, trình độ công nghệ sản xuất trong
nước đã được nâng cao một cách rõ rệt so với thời kỳ trước đây. Một số
ngành đã tiếp thu được công nghệ tiên tiến với trình độ hiện đại của thế giới
như: bưu chính - viễn thông, dầu khí, xây dựng, cầu đường… Đồng thời,
nhiều doanh nghiệp trong nước đã đổi mới hoặc nâng cấp các trang thiết bị
đáp ứng yêu cầu cạnh tranh ngày càng cao của nền kinh tế. Cũng từ việc thu
hút được nhiều công nghệ mới, tiên tiến mà Việt Nam đã sản xuất ra được
nhiều sản phẩm mới mà trước đây trong nước chưa có. Việc chuyển giao
công nghệ từ nước ngoài thông qua FDI đã hạn chế đến mức thấp nhất việc
nhập khẩu nhiều loại hàng hóa thuộc các lĩnh vực dầu khí, sản xuất vật liệu
xây dựng mới, hàng điện tử gia dụng, phương tiện giao thông… Các doanh
nghiệp FDI đã tạo ra được nhiều sản phẩm có chất lượng cao, với hình thức,
mẫu mã đẹp, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu
sản phẩm ra nước ngoài như các sản phẩm điện tử, cơ khí, chế tạo… Nhiều
doanh nghiệp FDI đã tổ chức sản xuất các sản phẩm thuộc lĩnh vực công
nghệ cao, xuất khẩu gần 100% sản phẩm ra thị trường nước ngoài thuộc các
lĩnh vực điện tử, quang cơ - điện tử, như Công ty TNHH Nidec Tosok, Muto,
Nissei… Có doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu - phát triển như
Công ty TNHH Renesas Việt Nam, dự án đầu tư của Intel với mục tiêu
nghiên cứu, phát triển và thiết kế các phần cứng (vi mạch) và các phần mềm
chức năng cho IC bán dẫn (mạch tích hợp)… Mặt khác, nhiều doanh nghiệp
trong nước, do sức ép của thị trường cạnh tranh ngày càng cao được tạo ra
bởi các sản phẩm của các doanh nghiệp FDI nên đã cố gắng đổi mới công
nghệ bằng việc nhập các thiết bị và công nghệ mới. Qua đó, cũng đã sản xuất
105
được các sản phẩm có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, không thua kém hàng
nhập khẩu với một giá cả hợp lý, được người tiêu dùng chấp nhận như các
sản phẩm may mặc, giầy da, thực phẩm... thay vì phải nhập khẩu từ Trung Quốc.
Mỹ là một trong số ít quốc gia có nền công nghệ và kỹ thuật hiện đại
đứng đầu thế giới và đó cũng chính là thế mạnh của các nhà đầu tư Mỹ. Việc
các nhà đầu tư Mỹ quyết định đầu tư vào Việt Nam chính là cơ hội để Việt
Nam xúc tiến quá trình chuyển giao công nghệ. Các nhà đầu tư Mỹ cũng phải tận
dụng lợi thế về công nghệ của mình để chiếm ưu thế so với các nhà đầu tư khác.
Trong những năm gần đây, dòng FDI của Mỹ vào Việt Nam phần lớn là
vào ngành năng lượng, dầu khí và công nghệ thông tin nhưng không thể phủ
nhận những đóng góp của dòng FDI của Mỹ vào các ngành công nghiệp tại
Việt Nam. Nhờ sự xuất hiện của các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Mỹ,
Việt Nam đã tiếp thu được cung cách quản lý tiên tiến, phương thức kinh
doanh hiện đại và thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước đổi mới công nghệ, nâng
cao chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.
Không chỉ có vậy, FDI của Mỹ còn có tác dụng lôi kéo các nhà đầu tư
của các nước khác tới tìm hiểu và đầu tư vào Việt Nam, đẩy mạnh lượng vốn
FDI vào Việt Nam cũng như làm gia tăng nhanh hơn quá trình chuyển giao
công nghệ hiện đại và công nghệ mới cho Việt Nam.
- Góp phần tạo công ăn việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Năm 2012, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với Tổ chức Phát triển
công nghiệp Liên hiệp quốc (United Nations Industrial Development
Organisation - UNIDO) tổ chức khảo sát 1.495 doanh nghiệp (gồm những
doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong
lĩnh vực chế biến chế tạo, xây dựng và dịch vụ công ích) tại 9 tỉnh thành phố
của Việt Nam. Báo cáo kết quả khảo sát khẳng định, đa số doanh nghiệp chế
biến chế tạo ở Việt Nam sử dụng nhiều lao động và FDI có tác động tích cực
đến tạo công ăn việc làm. Đa số cơ hội việc làm trong khu vực FDI thu hút
lao động tham gia sản xuất trực tiếp, đặc biệt là lao động nữ trong ngành dệt may.
Báo cáo cũng cho thấy, phần lớn doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
106
ngoài phụ thuộc nhiều vào vốn và đầu vào nhập khẩu đồng thời cũng tham
gia sản xuất sản phẩm có giá trị gia tăng thấp chủ yếu thích hợp với các thị
trường xuất khẩu. Các xu hướng này khẳng định năng suất lao động tương
đối thấp nếu đo lường bằng giá trị gia tăng trung vị tính trên một lao động.
Trên thực tế, thiếu lao động có tay nghề cũng như giá lao động gia tăng là hai
hạn chế chủ yếu đối với các doanh nghiệp tham gia khảo sát, đặc biệt là
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp xuất khẩu ra thị
trường toàn cầu. Vì tỷ lệ lao động có tay nghề trong các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài là thấp nhất nên các doanh nghiệp này dường như có xu
hướng rút ngắn khoảng cách về tay nghề bằng cách tăng chi phí đào tạo nội
bộ và bên ngoài. Báo cáo chỉ ra rằng chi phí đào tạo của các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài cao hơn nhiều so với doanh nghiệp trong nước. Đây là
dấu hiệu cho thấy, nâng cao tay nghề là ưu tiên của các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài.
Dễ dàng nhận thấy, FDI góp phần tích cực vào việc giải quyết công ăn
việc làm cho Việt Nam khi mà lực lượng lao động của Việt Nam đang rất dồi
dào. Lao động Việt Nam sẽ được các doanh nghiệp nước ngoài đào tạo nâng
cao tay nghề hoặc trình độ khi được tuyển vào làm việc tại các doanh nghiệp
có vốn đầu nước ngoài. Một số lao động Việt Nam đã nắm những vị trí quản
lý trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Ngoài ra, cùng với sự phát triển của các doanh nghiệp có vốn FDI, các
doanh nghiệp sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ cho các doanh nghiệp
có vốn FDI cũng sẽ phát triển và đòi hỏi lượng lao động tương ứng với quy
mô phát triển của nó. Tác động gián tiếp tạo công ăn việc làm do FDI mang
lại là có nhưng chưa được rõ ràng ở Việt Nam khi các ngành công nghiệp
phụ trợ phát triển chậm.
Các doanh nghiệp có vốn FDI Mỹ cũng góp một phần tạo công ăn việc
làm và nâng cao tay nghề lao động. Phần lớn các lao động Việt Nam đã được
đào tạo nâng cao tay nghề khi các dự án đầu tư vào ngành chế tạo, sản xuất.
Tuy nhiên, trong khía cạnh góp phần nâng cao tay nghề lao động thì doanh
107
nghiệp có vốn FDI Mỹ vẫn chưa dành nhiều cơ hội cho lao động Việt Nam
khi mà lĩnh vực đầu tư chủ yếu là vào ngành năng lượng, dầu khí và công
nghệ thông tin.
- Góp phần thúc đẩy các ngành công nghiệp phụ trợ phát triển
Công nghiệp phụ trợ có chức năng cung ứng linh kiện, phụ tùng và công
cụ cho một ngành công nghiệp. Ngành công nghiệp phụ trợ là ngành nền
tảng cho các ngành công nghiệp chính yếu, cung cấp những sản phẩm công
nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất các thành phẩm chính (bao gồm
linh kiện, phụ liệu, phụ tùng, sản phẩm bao bì,…) và bao gồm cả những sản
phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế cho ngành công nghiệp sản xuất
và tiêu dùng. Ngành công nghiệp phụ trợ có tác dụng làm giảm chi phí và giá
thành sản phẩm. Nếu không phát triển công nghiệp phụ trợ trong nước, chắc
chắn mức độ phụ thuộc lớn vào bên ngoài là không thể tránh khỏi, tương ứng
với đó là sự suy yếu về sức cạnh tranh và sẽ rất khó để phát triển kinh tế bền
vững và lâu dài (việc Việt Nam nhập siêu lớn từ Trung Quốc trong nhiều
năm qua cũng là do ngành công nghiệp phụ trợ của ta quá yếu kém).
Tùy thuộc vào đặc thù của sản phẩm cuối cùng, từng ngành công
nghiệp có hệ thống xí nghiệp công nghiệp hỗ trợ riêng. Công nghiệp hỗ trợ
cho ngành sản xuất ô tô cung ứng sắt thép làm vỏ xe, phụ tùng, linh kiện,
săm lốp và dịch vụ đầu vào, đầu ra cho quá trình sản xuất và tiêu thụ ô tô.
Công nghiệp phụ trợ ngành may mặc là sản phẩm của ngành dệt vải, nhuộm,
phụ kiện để sản xuất quần áo cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Do đó,
ngành này có khả năng phát triển nhanh khi các dự án của Mỹ vào Việt Nam
là các dự án nằm trong ngành chế biến và chế tạo. Chính vì vậy, Việt Nam
cần khuyến khích doanh nghiệp Mỹ đầu tư vào ngành chế biến - chế tạo.
3.5. Những nhân tố hạn chế đầu tư Mỹ vào Việt Nam
Bên cạnh những nhân tố thúc đẩy đầu tư Mỹ vào Việt Nam cũng có
nhiều nhân tố kìm hãm. Điều đó được thể hiện qua cá thời kỳ khác nhau và
biểu hiện khác nhau.
Giai đoạn từ 1988 - 2001. Các dự án của Mỹ vào Việt Nam trong giai
108
đoạn này là không nhiều và lượng vốn đầu tư là không lớn (8,08 triệu
USD/dự án) thậm chí thấp hơn mức bình quân chung của các đối tác đầu tư
tại Việt Nam (16,23 triệu USD/dự án) [35, tr.23].
Từ năm 1997 đến năm 2001, có dấu hiệu một số công ty của Mỹ rút
vốn, không tăng đầu tư, một số dự án có quy mô khá lớn đã phải giải thể
trước thời hạn như Bệnh viện Quốc tế liên doanh giữa Công ty dịch vụ y tế
SVRN với Bệnh viện nhân dân Gia định đặt trụ sở tại Long Bình, Thủ Đức
với số vốn là 22,79 triệu USD; Công ty liên doanh sản xuất, lắp ráp thiết bị
đầu tư và sản xuất băng mạch, băng in viễn thông Sài Gòn, liên doanh giữa
Harison Industries Inc với Công ty điện tử tin học Phương Nam với số vốn là
25 triệu USD… Một số nguyên nhân khách quan có thể lý giải hiện tượng
này là do sau khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á, các nước đã có những
động thái tốt hơn trong việc thay đổi chính sách thu hút luồng vốn đầu tư như
Thái Lan, Hàn Quốc… nên đã thu hút được sự quan tâm lớn hơn của các nhà
đầu tư, trong đó có luồng vốn đầu tư từ Mỹ. Do đó, quyết định chuyển hướng
đầu tư của một số nhà đầu tư Mỹ vào các nước này thay vì đầu tư vào Việt
Nam. Một nguyên nhân khác bắt nguồn từ nội tại nền kinh tế Mỹ có dấu hiệu
suy thoái, các nhà đầu tư Mỹ cần tái cơ cấu nên quyết định rút các dự án đầu
tư được cho là không mang lại hiệu quả cao. Ngoài ra, vấn đề về môi trường
và chính sách thu hút đầu tư của Việt Nam chưa ổn định, còn phức tạp và
chưa minh bạch, chính sách đối xử chưa thật sự công bằng với các nhà đầu tư
nước ngoài nói chung và các nhà đầu tư Mỹ nói riêng.
Giai đoạn 2002 - 2007. Vấn đề cạnh tranh không lành mạnh đã xuất
hiện, chẳng hạn, tập đoàn nước giải khát Coca Cola với 3 dự án tại Việt Nam.
Cả 3 dự án khi cấp phép đều là liên doanh nhưng sau đó đã chuyển thành 100%
vốn nước ngoài. Coca Cola đã tìm cách thôn tính thị trường Việt Nam bằng cái
được coi là thủ đoạn tự gây cho mình những thiệt hại lớn (do chi phí quảng cáo
và các chi phí tiếp thị khá cao). Ngoài ra, Coca Cola còn sử dụng biện pháp bán
phá giá, bán sản phẩm thấp hơn so với chi phí sản xuất để đánh bật các đối thủ
cạnh tranh khác ra khỏi thị trường. Có thời điểm Coca Cola bán ra một két sản
109
phẩm nước ngọt của mình với giá 21.000 đồng, nhưng khi đã chiếm được một
thị phần đáng kể, Coca Cola lại tự động tăng giá lên gấp 1,7 lần ở mức 36.000
đồng. Việc cạnh tranh không lành mạnh và có những thủ đoạn làm ăn không
minh bạch đã gây tác động xấu tới sản xuất trong nước, gây rối loạn thị
trường và gây thiệt hại cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ các
công ty Mỹ thường thích hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài, trong khi
Việt Nam thì lại không thực sự khuyến khích. Ngoài ra, các doanh nghiệp
Việt Nam thường yếu kém về vốn, kinh nghiệm quản lý nên khi gặp những
thua thiệt trong trong thời gian dài, các doanh nghiệp Việt Nam thường buộc
phải tự rút lui khỏi liên doanh.
Giai đoạn 2008 đến nay. Giai đoạn này được bắt đầu bằng cuộc khủng
hoảng tài chính tại Mỹ và sau đó là suy thoái kinh tế toàn cầu. Trong bối
cảnh đó, năm 2011 dòng FDI của Mỹ vào Việt Nam bắt đầu giảm, sau 4 năm
duy trì ở mức khá để đón bắt cơ hội sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Mặc
dù vậy vào tháng 6 năm 2015, Mỹ vẫn nằm trong danh sách những nhà đầu
tư lớn nhất tại Việt Nam. Sự suy giảm đầu tư Mỹ vào Việt Nam thời kỳ này
bên cạnh lý do khó khăn của kinh tế Mỹ sau khủng hoảng, còn có những vấn
đề khác quan trọng hơn, liên quan đến môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt
Nam. Các nhà đầu tư Mỹ không hài lòng về thủ tục hành chính, tình trạng
tham nhũng, chưa thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết khi hội nhập quốc tế,
hệ thống văn bản pháp luật, kết cấu hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực...
Dưới đây xem xét cụ thể hơn những vấn đề này.
(i) Sự yếu kém về thể chế, kết cấu hạ tầng và chất lượng nguồn nhân lực
Đây là những yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới quyết định
đầu tư của các nhà đầu tư Mỹ. Mặc dù, những yếu kém trên đây là có thể giải
thích được, bởi vì Việt Nam là nước đang phát triển và đang chuyển đổi,
nhưng dưới nhãn quan của nhà đầu tư thì đây là những điều kiện cần thiết để
đầu tư của họ có hiệu quả.
Việt Nam yếu kém về thể chế kinh tế, thể chế hiện nay về cơ bản chưa
đáp ứng tốt các yêu cầu của kinh tế thị trường, vẫn mang nhiều dáng dấp
110
hành chính. Chúng ta đã chuyển sang kinh tế thị trường, nhưng chưa phải là
kinh tế thị trường đích thực, vẫn còn có sự bảo hộ của nhà nước dẫn tới độc
quyền trong một số ngành nghề.
Việt Nam được đánh giá là có sự ổn định về chính trị, đây là nhân tố đặc
biệt quan trọng đối với quyết định tư của các công ty Mỹ. Nhưng vấn đề “tự
do - dân chủ - nhân quyền” của Việt Nam vẫn bị Mỹ đánh giá là yếu kém,
thậm chí là vi phạm. Vấn đề này đã có ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư
của các nhà đầu tư Mỹ.
Về cơ chế chính sách và luật pháp của Việt Nam, mặc dù đã có những
tiến bộ đáng kể nhưng dưới góc nhìn của các nhà đầu tư Mỹ thì chưa minh
bạch, khó tiếp cận và chưa thực sự bảo vệ các nhà đầu tư. Các nhà đầu tư Mỹ
cho rằng các chi phí không chính thức ở Việt Nam còn rất nhiều và tình trạng
tham nhũng, “bôi trơn” là khá phố biến, điều mà các nhà đầu tư Mỹ thấy xa
lạ và khó chấp nhận. Việc giải quyết tranh chấp và bảo vệ quyền sở hữu trí
tuệ của Việt Nam dưới con mắt các nhà đầu tư Mỹ còn yếu kém, khiến cho
các doanh nghiệp Mỹ chưa đầu tư vào các tài sản trí tuệ, phát minh công
nghệ mới… do sợ bị vi phạm bản quyền.
Về luật pháp, các nhà đầu tư Mỹ cũng như đa số các nhà đầu tư nước
ngoài khác cũng cho rằng thủ tục hành chính của Việt Nam còn rườm rà, gây
khó khăn và cản trở các nhà đầu tư và dẫn tới ảnh hưởng đến các quyết định
đầu tư của họ.
Kết cấu hạ tầng tuy đã được hoàn thiện hơn so với trước, song chưa đáp
ứng được yêu cầu của sự phát triển, đặc biệt yêu cầu của các nhà đầu tư Mỹ.
Cơ sở hạ tầng đối với các nhà đầu tư không chỉ là công trình đường bộ, cấp
thoát nước, đường điện… mà còn bao gồm cả việc cung cấp thuận lợi cho các
nhà đầu tư như nguồn nguyên vật liệu, năng lượng, truyền thông…
Một số nghiên cứu đã chỉ ra cơ sở hạ tầng tốt tạo điều kiện thuận lợi cho
sự hội nhập quốc tế và là nhân tố quan trọng nhất trong việc giải thích hành
vi của các công ty và các nhà đầu tư.
Theo số liệu điều tra của Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam
111
(VCCI) [46], các doanh nghiệp từng bị cắt điện gần 5h/tháng mà không được
báo trước, thời gian thông quan cho nguyên vật liệu vào Việt Nam mất
khoảng 4 ngày, và mất khoảng 3 ngày để thông quan cho hàng xuất khẩu.
Không chỉ bị ảnh hưởng về thời gian mà các doanh nghiệp còn phải chịu các
chi phí không chính thức để thực hiện các dịch vụ trên. Cũng trong cuộc điều
tra này, các doanh nghiệp Mỹ đã đánh giá và cho rằng cơ sở hạ tầng của Việt
Nam kém lợi thế so với các quốc gia trong khu vực và ASEAN khi mà sự sẵn
có của cơ sở hạ tầng khu công nghiệp còn rất thấp và hạn chế.
Đối với các nhà đầu tư Mỹ, chất lượng nguồn nhân lực là rất quan
trọng, trong khi nguồn lao động Việt Nam ít được đào tạo, hoặc có được đào
tạo nhưng không đáp ứng được yêu cầu sử dụng của các nhà đầu tư Mỹ. Ở
các quốc gia khác như Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan, các nhà đầu tư Mỹ
thường có sẵn nguồn lao động có thể sử dụng ngay mà không cần phải đào
tạo lại, trong khi ở Việt Nam để thích hợp với công việc, các công ty Mỹ
buộc phải đào tạo mới, hoặc đào tạo lại, điều mà các công ty Mỹ ít làm khi
đầu tư ở các nước khác.
Có một thực trạng đang tồn tại ở Việt Nam hiện nay là lực lượng lao
động có trình độ đại học là rất hùng hậu nhưng lượng lao động nghề của Việt
Nam thì chiếm tỷ trọng nhỏ trong khi lượng lao động có trình độ kỹ thuật cao
gần như không có. Vì thế, không ít lao động tốt nghiệp đại học nhưng đang
được sử dụng cho lao động phổ thông. Các cơ sở đào tạo nghề hiện nay ở
Việt Nam chưa được Chính phủ quan tâm và chú trọng, máy móc thiết bị
phục vụ cho công tác giảng dạy đều cũ và lạc hậu, khó bắt kịp với trình độ
lao động trong khu vực và quốc tế.
Một số chuyên gia nước ngoài đánh giá chi phí lao động thấp không còn
là một lợi thế so sánh lớn của Việt Nam để các doanh nghiệp nước ngoài có
thể tìm kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên, chi phí nhân công giá rẻ vẫn còn là một
lợi thế đối với các ngành công nghiệp, dịch dụ có hàm lượng công nghệ thấp.
Trong cuộc điều tra các doanh nghiệp Mỹ đang hoạt động tại Việt Nam cũng
đã đưa ra kết quả tương tự khi chỉ có 1/3 doanh nghiệp cho rằng Việt Nam
112
vẫn có lợi thế về chi phí nhân công giá rẻ.
Ngoài ra, các nhà đầu tư Mỹ khi được hỏi đều có những đánh giá chưa
tốt về lao động Việt Nam: không tôn trọng hợp đồng đã ký kết, ý thức tổ
chức, kỷ luật sản xuất kém, thường xuyên đi làm không đúng giờ nếu không
bị kiểm soát hoặc không toàn tâm toàn ý vào công việc, tỷ lệ nhảy việc cao,
không cam kết đóng góp đủ dài cho doanh nghiệp… Những nhận định và
đánh giá này cho thấy lao động Việt Nam không được đánh giá cao trước các
nhà đầu tư nước ngoài, kể cả các nhà đầu tư Mỹ.
Thêm vào đó, các nhà đầu tư Mỹ thường đòi hỏi lực lượng lao động có
trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, nhất là ở các dự án lớn. Tuy nhiên, lao
động Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu này, hầu hết lao động cần phải
đào tạo thêm trước khi thực hiện được các nhiệm vụ được giao và các doanh
nghiệp Mỹ phải bỏ ra khoản kinh phí trên 15% trong tổng chi phí kinh doanh
của doanh nghiệp cho các công tác đào tạo này. Tuy nhiên, chỉ có khoảng
67% số lượng lao động được đào tạo này tiếp tục làm việc cho doanh nghiệp
trong vòng 1 năm.
Tuy nhiên, đây là yếu tố bên trong và dễ thay đổi theo hướng tích cực
dưới con mắt của các nhà đầu tư Mỹ nếu Việt Nam quyết tâm, chủ động cải
thiện trong thời gian tới.
(ii) Thuế thu nhập doanh nghiệp, thị trường vốn và khả năng tiếp cận đất đai
Thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay còn cao hơn nhiều so với
bình quân trong khu vực. Tuy nhiên, đối với các nhà đầu tư Mỹ thì thuế không
phải là yếu tố ảnh hưởng quá lớn đến quyết định của họ mà đây chỉ là yếu tố
khuyến khích và kích thích đầu tư đối với các nhà đầu tư Mỹ.
Tương tự, thị trường vốn được các nhà đầu tư Mỹ coi là yếu tố hạ tầng cần
được cải thiện. Khi các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam thì thị trường
vốn cần phải được mở cửa phát triển nhằm hỗ trợ các ngành công nghiệp phụ trợ
phục vụ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng với Việt Nam lại
là vấn đề nhạy cảm.
Vấn đề tiếp cận đất đai được các nhà đầu tư Mỹ coi trọng hơn khi quyết
113
định đầu tư vào Việt Nam. Có khoảng 20% số doanh nghiệp Mỹ đang hoạt động
tại Việt Nam được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gần 50% số doanh
nghiệp Mỹ hoạt động tại các khu công nghiệp, còn lại là sử dụng đất thuê và bên
ngoài khu công nghiệp. Như vậy, các doanh nghiệp này đang phải đương đầu với
rủi ro vì có thể có nguy cơ mất mặt bằng sản xuất kinh doanh bất cứ lúc nào. Như
vậy, các nhà đầu tư Mỹ không đánh giá cao yếu tố tiếp cận đất đai ở Việt Nam và
yếu tố này có ảnh hưởng không nhỏ tới các quyết định đầu tư của các công ty Mỹ.
(iii) Bất ổn kinh tế vĩ mô
Như đã phân tích ở các phần trước, các nhà đầu tư Mỹ khá nhạy cảm
đối với những bất ổn của nền kinh tế nhất là khi các chỉ số như lạm phát cao,
tăng trưởng sụt giảm… Nền kinh tế Việt Nam đã từng có bước tăng trưởng
ngoạn mục, các chỉ số kinh tế vĩ mô tốt trước khủng hoảng tài chính toàn cầu
2008 khiến các tổ chức kinh tế quốc tế, nhiều nhà nghiên cứu dự báo Việt
Nam có thể sẽ sớm trở thành “con hổ” Châu Á. Nhưng sau khủng hoảng tài
chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, kinh tế Việt Nam rơi vào khó khăn, các
chỉ số kinh tế vĩ mô trở nên xấu đi: tăng trưởng thấp, nợ xấu tăng nhanh, thất
nghiệp cao, tiêu dùng trong nước thấp... Đây là yếu tố ảnh hưởng khá nhiều
tới các quyết định đầu tư của các nhà đầu tư Mỹ vào Việt Nam hiện nay.
(iv) Công nghiệp phụ trợ thiếu hụt và phát triển chậm
Mặc dù FDI của Mỹ có tác dụng thúc đẩy ngành công nghiệp phụ trợ ở
Việt Nam phát triển nhưng tốc độ phát triển của ngành này ở Việt Nam còn
quá chậm và yếu kém. Các ngành công nghiệp phụ trợ chỉ sản xuất và cung
cấp được những sản phẩm có hàm lượng công nghệ thấp và chỉ chiếm
khoảng 20% giá trị sản phẩm. Ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam chưa
tạo được sự kết nối và phát triển theo chuỗi giá trị để tạo ra sản phẩm có giá
trị gia tăng cao hơn.
(v) Quy mô dự án chỉ ở tầm vừa và nhỏ chưa tương xứng với tiềm năng
của hai nước
Một thực trạng đang tồn tại là các dự án của Mỹ đầu tư vào Việt Nam
thường là những dự án vừa và nhỏ, chưa có nhiều dự án quy mô lớn (trừ
114
Intel). Thông thường với tư cách là nền kinh tế lớn với các công ty có quy
mô hàng đầu thế giới, lẽ ra các nhà đầu tư Mỹ phải đầu tư vào các dự án lớn
như công nghiệp năng lượng, công nghiệp hóa chất, công nghiệp chế tạo và
chế biến, trung tâm tài chính… Tuy nhiên, phía Việt Nam vẫn đang thực hiện
bảo hộ những ngành trọng điểm và những ngành lớn do các tổng công ty nhà
nước nắm giữ. Ngoài ra, Việt Nam chưa có những chính sách tốt để thu hút
115
những dự án lớn trong các ngành mà các nhà đầu tư Mỹ quan tâm.
Chương 4
TRIỂN VỌNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA MỸ VÀO VIỆT NAM
VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
4.1. Triển vọng đầu tư trực tiếp nước ngoài của Mỹ vào Việt Nam
Như luận án đã chỉ rõ, đặc điểm của FDI Mỹ ra nước ngoài chịu ảnh
hưởng của các sự kiện quốc tế, trong nước và nước nhận đầu tư. Vì vậy, việc
nghiên cứu xu hướng bối cảnh quốc tế khu vực, bối cảnh Mỹ và Việt Nam là
cần thiết để có thể đánh giá triển vọng FDI của Mỹ vào Việt Nam.
4.1.1. Bối cảnh quốc tế, Mỹ và Việt Nam
4.1.1.1. Bối cảnh quốc tế
Cục diện thế giới đang có thay đổi lớn về kinh tế cũng như về chính trị.
Những thay đổi này tác động sâu sắc đến mọi quốc gia. Cuộc khủng hoảng
tài chính toàn cầu năm 2008 và những hệ lụy của nó đã tác động sâu rộng
đến các quốc gia, đến quan hệ giữa các quốc gia. Để khắc phục hậu quả của
cuộc khủng hoảng này, các nền kinh tế lớn đã phải bỏ ra tổng cộng ước
khoảng trên 10 nghìn tỷ USD, đồng thời phải tiến hành nhiều liệu pháp đau
đớn mang tính điều chỉnh vĩ mô và hệ thống. Khủng hoảng tài chính và suy
thoái kinh tế toàn cầu ít nhiều đã làm thay đổi tương quan sức mạnh kinh tế,
chính trị, quân sự giữa các nước lớn, đặt các nước này trước các toan tính
chiến lược mới: Mỹ cùng các đồng minh tìm mọi cách để duy trì địa vị bá
chủ, vai trò lãnh đạo thế giới với các luật chơi hiện có, trong khi Trung Quốc
(tận dụng hoàn cảnh khó khăn của Nga) tìm cách để dần thay thế Mỹ trong
vai trò lãnh đạo thế giới và vẽ lại luật chơi; Sau một thời gian dài, do phải tập
trung giải quyết những vấn đề nội bộ nước Mỹ, giải quyết những vấn đề
nóng bỏng ở Trung Đông và Bắc Phi, Mỹ đã để ngỏ khu vực Châu Á. Trong
bối cảnh đó với sự trỗi dậy mạnh mẽ, Trung Quốc đã toan tính để trở thành
quốc gia dẫn dắt khu vực và xa hơn là lãnh đạo thế giới; Trước sự trỗi dậy
mạnh mẽ của Trung Quốc, nhất là khi Trung Quốc vượt Nhật Bản trở thành
nền kinh tế lớn thứ 2 sau Mỹ, lấn lướt các nước nhỏ trong khu vực, tranh
116
chấp lãnh thổ với Nhật Bản ở biển Hoa Đông, tranh chấp lãnh thổ với các
nước Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam) ở biển Đông, Mỹ đã tuyên bố
chính sách trở lại Châu Á (năm 2011) vì lợi ích quốc gia của Mỹ. Thực tế
tương quan sức mạnh của các nước chủ chốt như thế nào, đã có nhiều nghiên
cứu phân tích sâu. Dưới đây xin được khái quát.
Về Mỹ, có một số phân tích cho rằng sau khủng hoảng tài chính và suy
thoái kinh tế toàn cầu 2008, Mỹ rơi vào thời kỳ suy thoái và trì trệ trong khi
Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ và vượt Mỹ về GDP tính theo sức mua tương
đương và việc Trung Quốc thay thế Mỹ lãnh đạo thế giới chỉ còn vấn đề thời
gian. Trong khi đó, nhiều phân tích khác cho rằng chưa đến lúc diễn ra sự
chuyển giao quyền lực đó. Ngược lại, sức mạnh kinh tế và quyền lực quốc
gia nói chung của Mỹ vẫn tiếp tục được duy trì và tiến triển mạnh mẽ. Cụ
thể, sự vượt trội về thể chế, ưu thế về sự năng động – khả năng sáng tạo,
trình độ công nghệ, sự áp đảo của các công ty đa quốc gia, sự vượt trội về
GDP tính theo đầu người… về cơ bản vẫn giúp cho Mỹ duy trì được khoảng
cách rất xa về kinh tế, khoa học công nghệ và quốc phòng so với Trung Quốc [20].
Đó là chưa kể đến khả năng Trung Quốc lao dốc. Hầu hết các phân tích
gần đây cho rằng trong khi kinh tế Trung Quốc bắt đầu có dấu hiệu chững
lại, suy giảm thì kinh tế Mỹ vẫn tăng trưởng 2,3% năm 2012, 2,2% năm
2013, và 2,5% năm 2014, trong khi tỷ lệ thất nghiệp tháng 10/2014 đã giảm
xuống chỉ còn 5,8%, mức thấp nhất kể từ sau khủng hoảng tài chính và suy
thoái kinh tế toàn cầu năm 2008 và thấp hơn đáng kể so với hầu hết các nước
công nghiệp phát triển và rất có thể trở thành đầu tầu dẫn dắt nền kinh tế thế
giới trong những năm 2015 - 2020 [29].
Một đặc điểm nổi bật của kinh tế Mỹ được nhiều người đánh giá cao, đó
là việc ngành sản xuất dầu mỏ của nước này đã phát triển mạnh nhờ vào
công nghệ khai thác dầu đá phiến (shale). Trong vòng 5 năm (2008 - 2014),
công nghệ này đã đưa sản lượng dầu của Mỹ tăng gần gấp đôi từ mức 5 triệu
thùng/ngày. Nếu xu hướng này tiếp tục thì đến khoảng năm 2020, Mỹ có thể
vượt Arab Saudi trở thành nước sản xuất dầu lớn nhất thế giới. Việc ngành
117
sản xuất dầu phát triển mạnh không chỉ mang lại sự thịnh vượng và tạo công
ăn việc làm cho người Mỹ mà còn mang lại cho Mỹ một vũ khí địa chính trị
lợi hại, đặc biệt là giúp Mỹ có thể giảm bớt sự chú ý vào khu vực rốn dầu
Trung Đông để tập trung vào các khu vực khác, đặc biệt là khu vực Châu Á -
Thái Bình Dương, khu vực mà Trung Quốc mong muốn trở thành nước dẫn dắt.
Về đối ngoại và quân sự, Mỹ mong muốn giảm dần sự can dự vào khu
vực Trung Đông, một phần do sự mệt mỏi vì những can dự kéo dài nhưng
kém hiệu quả ở khu vực này kể từ sau sự kiện 11/9/2001, một phần do tầm
quan trọng chiến lược của khu vực này không còn quan trọng như trước đây
dưới nhãn quan của các chiến lược gia Mỹ, nhất là khi lợi ích dầu mỏ đã
không còn quá quan trọng đối với Mỹ.
Trong khi vẫn phối hợp với EU và các đồng minh trong các vấn đề như
Ukraine hay không kích Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS), Mỹ sẽ tập trung
chú ý nhiều hơn vào khu vực Châu Á -Thái Bình Dương, nhất là sự trỗi dậy
của Trung Quốc, bởi chính Trung Quốc sẽ là vấn đề “sống còn”, là đối thủ
duy nhất đủ tầm để có thể lật đổ vị thế bá chủ thế giới của Mỹ cũng như trật
tự thế giới mà Mỹ đang dẫn dắt. Trong bối cảnh đó, Mỹ sẽ tiếp tục duy trì
chính sách “tái cân bằng” sang khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, đồng
thời thúc đẩy việc gắn kết, tăng cường sức mạnh của các nước đồng minh và
đối tác, biến họ trở thành các quốc gia giàu mạnh và thực sự độc lập để có
thể giúp hạn chế bớt ảnh hưởng của Trung Quốc, đồng thời giúp Mỹ có được
vị thế tốt hơn nhằm đối phó với sự trỗi dậy ngày càng mạnh mẽ của Bắc
Kinh. Nếu chính sách xoay trục này được thực hiện trên thực tế (chứ không
phải chỉ trên lời nói) thì chắc chắn các nhà đầu tư Mỹ sẽ đẩy mạnh đầu tư
vào khu vực đầy năng động này, trong đó có Việt Nam [10, tr.27].
Về Trung Quốc, sau hơn 3 thập niên tăng trưởng kinh tế liên tục với tốc
độ 2 con số, năm 2015 tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đang chững lại ở mức
khoảng 7%/năm (theo đánh giá của Trung Quốc, còn theo IMF là 6,8% [61])
với nhiều khó khăn chồng chất như mô hình tăng trưởng cũ hết động lực, cơ
cấu và xu hướng dân số bất lợi, các rủi ro tiềm ẩn trong hệ thống tài chính –
118
ngân hàng và thị trường nhà đất, nợ của các chính quyền địa phương, tham
nhũng tràn lan… Điều này đặt ra những thách thức to lớn cho ban lãnh đạo
hiện nay của Trung Quốc. Một mặt, thực tế này đòi hỏi Trung Quốc phải tiến
hành cải cách cơ cấu nền kinh tế theo hướng từ bỏ mô hình tăng trưởng dựa
vào đầu tư và xuất khẩu sang dựa vào tiêu dùng trong nước và sức sáng tạo
của các doanh nghiệp, thể hiện qua các biện pháp đề ra tại Hội nghị Trung
ương 3 năm 2013. Mặt khác, Trung Quốc cũng phải tiến hành cuộc chiến
chống tham nhũng mạnh mẽ, vừa giúp củng cố quyền lực của Chủ tịch Tập
Cận Bình, vừa giúp loại bỏ các rào cản, các nhóm lợi ích gây cản trở cải cách
kinh tế, đồng thời giúp nâng cao uy tín của Đảng trong bối cảnh có nguy cơ
phải đối mặt với thành tích phát triển kinh tế không mấy sáng sủa.
Về đối ngoại, Trung Quốc đã từ bỏ chính sách đối ngoại “giấu mình chờ
thời”, bắt đầu công khai và cạnh tranh quyết liệt vị thế và ảnh hưởng của Mỹ
trong khu vực và trên thế giới, thể hiện qua các sáng kiến như “con đường tơ
lụa thế kỷ XXI”, “con đường tơ lụa trên biển”, ý tưởng “Châu Á là của người
Châu Á”, hay việc thành lập Ngân hàng Phát triển mới với nhóm BRICS…
Trong quan hệ với Mỹ, Trung Quốc đề xướng mô hình “quan hệ cường
quốc kiểu mới” nhằm thuyết phục Mỹ không “ngăn chặn” Trung Quốc vươn
lên, vừa nhằm đạt được vị thế ngang hàng với Mỹ, qua đó phân chia khu vực
ảnh hưởng với Washington. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng tỏ ra mạnh mẽ
và cứng rắn hơn trong các tranh chấp biển và lãnh thổ với láng giềng, ví dụ,
tuyên bố nhận diện phòng không khu vực biển Hoa Đông, vụ giàn khoan
981, bồi đắp đảo và xây dựng đường băng tại các đảo đá thuộc chủ quyền của
Việt Nam. Điều này vừa phù hợp với xu thế chung trong chính sách đối
ngoại của chính quyền Tập Cận Bình, vừa có tác dụng giương cao ngọn cờ
chủ nghĩa dân tộc để củng cố sự ủng hộ của người dân trong bối cảnh khó
khăn trong nước.
Trong ngắn hạn, rất có thể sau khi thực hiện được ý đồ thôn tính biển
đảo, Trung Quốc sẽ thực hiện chính sách “ngoại giao hòa hoãn” do e ngại
trước phản ứng của cộng đồng quốc tế sau vụ giàn khoan 981 và bồi đắp đảo
119
đá ở biển Đông và lo sợ các nước trong khu vực sẽ nghiêng về phía Mỹ, đi
ngược lại mục tiêu lớn của Trung Quốc thực hiện giấc mộng Trung Hoa. Tuy
nhiên, trong dài hạn, với việc Trung Quốc từ bỏ chính sách “giấu mình chờ
thời” để theo đuổi tham vọng siêu cường, kết hợp với khó khăn trong nước
ngày càng nghiêm trọng, xu thế mạnh mẽ, lấn lướt của Bắc Kinh trong chính
sách đối ngoại, đặc biệt là trong vấn đề biển Đông, nhiều khả năng sẽ còn
tiếp diễn, có tác động xấu đến phát triển của Việt Nam và các nước trong khu
vực. Mức độ mạnh mẽ, cứng rắn của Trung Quốc trong tranh chấp biển Đông
tùy thuộc rất nhiều vào hành động của Mỹ trong thực thi chính sách cân bằng
tại khu vực, vào phản ứng của cộng đồng quốc tế về cách hành xử của Trung
Quốc với các quốc gia láng giềng trong vấn đề tranh chấp biển, đặc biệt là
đối với vấn đề bồi đắp và xây dựng các căn cứ quân sự trên các đảo tôn tạo
trái phép, vi phạm luật pháp quốc tế này.
Về quan hệ Mỹ - Trung trong khu vực. Một xu hướng địa chính trị khu
vực đang ngày càng trở nên nổi trội, đó chính là việc Mỹ cùng các đồng
minh ngày càng bất an trước sự trỗi dậy của Trung Quốc và việc nước này
công khai thách thức trật tự khu vực, nhất là vị thế siêu cường bá chủ thế giới
và khu vực của Mỹ. Xu hướng này khiến cho khu vực có nguy cơ rơi vào
một cuộc Chiến tranh Lạnh mới.
Trên lý thuyết, nếu Trung Quốc tiếp tục trỗi dậy và thách thức Mỹ thì
mâu thuẫn và xung đột giữa hai cường quốc là khó tránh khỏi. Về mặt thực
tế, hiện nay cục diện địa chính trị khu vực đang đi theo xu hướng: Trung
Quốc tìm cách mở rộng ảnh hưởng, tranh giành quyền dẫn dắt khu vực với
Mỹ và xa hơn là dẫn dắt thế giới, còn Mỹ đang âm thầm cố gắng tìm cách
kiềm chế Trung Quốc, thông qua các chiến lược tiêu biểu như “tái cân bằng”
quân sự sang Tây Thái Bình Dương, ký kết Hiệp định TPP với các nước
trong khu vực mà không có sự tham gia của Trung Quốc; cải thiện và thắt
chặt quan hệ với các nước đồng minh và đối tác, nhất là các nước láng giềng
Trung Quốc; sử dụng các công cụ như luật pháp quốc tế và các thể chế quốc
120
tế để kiềm chế và điều chỉnh hành vi của Trung Quốc,…
Hiện nay, giới chức Mỹ vẫn đang cố gắng thận trọng, tránh “tư duy
Chiến tranh Lạnh”, trong khi cố gắng can dự với Trung Quốc để xây dựng
lòng tin, giảm căng thẳng. Trước mắt, Mỹ chưa sẵn lòng mạnh tay kiềm chế
Trung Quốc như từng kiềm chế Liên Xô trước đây bởi quan hệ tốt với Trung
Quốc vẫn đang mang lại cho Mỹ nhiều lợi ích, đồng thời Mỹ cần thêm thời
gian để đánh giá xu hướng hành vi của Trung Quốc khi hiện nay Trung Quốc
dù có biểu hiện mạnh mẽ và thách thức lợi ích của Mỹ nhưng sự thách thức đó
chưa đủ lớn để đe dọa các lợi ích sống còn, nhất là vị thế bá chủ thế giới của Mỹ.
Vì vậy trong tương lai, mức độ kiềm chế của Mỹ và đồng minh đối với
Trung Quốc sẽ biến chuyển tùy theo mức độ mạnh mẽ và thách thức mà
Trung Quốc theo đuổi trong chính sách đối ngoại của mình. Ngoài ra, về phía
Mỹ, nếu trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2016 dù ứng cử viên Cộng hòa
hay Dân chủ đắc cử, Mỹ vấn có một chính sách đối ngoại cứng rắn hơn trong
quan hệ với Trung Quốc.
Do các vấn đề trong nước, những thành công về kinh tế bị chững lại,
thậm chí khủng hoảng, khiến Trung Quốc không đủ sức để đe dọa vị thế của
Mỹ, nhưng với sức mạnh của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, với chính sách
đối ngoại đầy thách thức, Trung Quốc vẫn tiếp tục là đối thủ khiến cho Mỹ
và đồng minh cảm thấy bất an, lo ngại. Mâu thuẫn Mỹ - Trung có thể được
kiềm chế do sự tương thuộc kinh tế giữa Mỹ và Trung Quốc, điều đó giúp hai
bên dễ đối thoại với nhau để giải quyết bất đồng. Tuy nhiên, do lợi ích địa
chính trị được coi trọng hơn lợi ích kinh tế nên sự tương thuộc kinh tế có thể
không đủ ngăn cản sự gia tăng mâu thuẫn này. Trong bối cảnh đó, quan hệ
Mỹ - Trung sẽ rất có thể là “kinh tế nóng, chính trị lạnh”.
Về Nhật Bản, năm 2012, ông Shinzo Abe trên cương vị Thủ tướng mới
đã tiến hành chính sách Abenomics, với ba trụ cột gồm kích thích tài khóa,
nới lỏng tiền tệ và cải cách cơ cấu. Tuy nhiên sau khi phát huy hiệu quả vào
năm 2013 với việc kinh tế Nhật Bản tăng trưởng 1,5%, thì sang năm 2014
chính sách này đã bị “hụt hơi” khi nền kinh tế bị giảm sút 2%, trong đó một
121
nguyên nhân chủ yếu được đánh giá là việc chính quyền Abe tăng thuế tiêu
dùng quá sớm (vào tháng 4/2014) từ mức 5% lên 8%, khiến lòng tin của
người tiêu dùng sụt giảm, tác động tiêu cực tới phục hồi kinh tế.
Trong bối cảnh đó, ông Abe đã tuyên bố giải tán quốc hội và tổ chức
bầu cử sớm vào ngày 14/12/2014. Kết quả Đảng Dân chủ Tự do (Liberal
Democractic Party) đã tiếp tục giành thắng lợi áp đảo, qua đó giúp củng cố
và kéo dài thời gian tại vị của ông Abe, giúp ông có nhiều thời gian hơn để tiếp
tục thực hiện chính sách Abenomics cũng như các thay đổi về chính sách đối ngoại.
Chính phủ của ông Abe đã có động thái trong chính sách đối ngoại.
Tiêu biểu là việc diễn dịch lại hiến pháp cho phép quân đội Nhật Bản tham
gia phòng thủ tập thể ở những nơi lợi ích của nước này bị đe dọa, đồng thời
mở đường cho quân đội Nhật Bản đóng vai trò quốc tế lớn hơn (nhất là trong
sứ mệnh hỗ trợ nhân đạo). Luật An ninh vừa mới được Quốc hội thông qua
(9/2015) đã chính thức cho phép quân đội Nhật Bản đưa quân đi bảo vệ đồng
minh, các thân hữu của mình ngoài lãnh thổ Nhật Bản.
Dưới thời Abe, Nhật Bản cũng thể hiện xu hướng cứng rắn hơn với
Trung Quốc, như quốc hữu hóa quần đảo Senkaku, phản đối và tảng lờ Khu
vực nhận diện phòng không (Air Defense Identification Zone) do Trung
Quốc thiết lập trên biển Hoa Đông… Nhật Bản cũng tích cực hỗ trợ
Philippines và Việt Nam về ngoại giao và an ninh, trong đó tiêu biểu là viện
trợ các tàu tuần tra cho Hà Nội và Manila. Mới đây, trong chuyến thăm Nhật
Bản của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe
cam kết bổ sung cho Việt Nam khoản vay 100 tỷ yên (835 triệu USD) nhằm
hỗ trợ Việt Nam phát triển các dự án hạ tầng và cung cấp thêm cho Việt Nam
các tàu tuần tra trên biển để tăng cường hoạt động chấp pháp trên biển Đông.
Dù quy mô viện trợ còn hạn chế do bản thân Nhật Bản cũng đang cần các
nguồn lực để đối phó với Trung Quốc trên biển Hoa Đông, nhưng nó cho
thấy xu thế ngày càng cứng rắn của Nhật Bản đối với Trung Quốc và hỗ trợ mạnh
mẽ các quốc gia yếu hơn trong khu vực trước sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc.
Với việc Abe tiếp tục một nhiệm kỳ mới, các chính sách đối ngoại và an
122
ninh mạnh mẽ của ông sẽ hầu như chắc chắn được duy trì và thúc đẩy, đưa
Nhật Bản tái trỗi dậy thành một cường quốc “bình thường” với sức ảnh
hưởng đồng thời cả về kinh tế lẫn quân sự trong khu vực và trên thế giới.
4.1.1.2. Bối cảnh tại Mỹ
Dưới áp lực của khủng hoảng, Mỹ buộc phải có những thay đổi nhằm
tái cấu trúc nền kinh tế và để phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế, Chính
quyền Obama đã thực hiện chiến lược gọi là “Chiến lược xoay trục” hay
“Chiến lược tái cân bằng”, về cơ bản đây là việc gia tăng mức độ quan tâm
của Chính quyền Obama về khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và đặc biệt
là khu vực Đông Nam Á nhằm khống chế ảnh hưởng của Trung Quốc. Chính
chiến lược này là cơ sở để hình thành TPP như hiện nay. Đàm phán TPP
được khởi động từ khi chính quyền George W. Bush gia nhập P-4 (gồm
Singapore, Brunei, Chile, New Zealand) năm 2008. Đầu năm 2010, chính
quyền Obama chấp nhận các sáng kiến và mở rộng số thành viên lên 12
nước. Cuộc đàm phán kéo dài 5 năm đã hoàn tất ngày 5 tháng 10 năm 2015
và theo dự kiến sẽ được các nước thành viên ký kết vào tháng 2 năm 2016 [87].
Với chiến lược xoay trục, Mỹ sử dụng TPP như là chìa khoá cho việc
mở rộng thương mại với 11 nền kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (gồm
Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New
Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam). Về cơ bản, TPP sẽ mang lại 3 lợi ích
lớn cho Mỹ gồm các quy tắc hiện đại hóa thương mại, cải thiện cơ hội tiếp
cận thị trường cho các nhà xuất khẩu Mỹ, và tạo ra hành lang thương mại
mới bền vững cho Mỹ.
Nếu TPP được thực hiện đầy đủ thì ước tính sẽ có khoảng 40% hàng
hoá của Mỹ tham gia với tiềm năng mở rộng đến các nền kinh tế khác trong
khu vực. Ngoài ra, TPP sẽ tạo nên quy tắc thương mại hiện đại cho khu vực
Châu Á - Thái Bình Dương, nơi mà các công ty Mỹ có thị phần lớn và ngày
càng tăng. Hơn nữa, TPP còn củng cố sự hiện diện của Mỹ trong khu vực, và
Mỹ hoàn toàn có thể tham gia các vấn đề tại khu vực Châu Á - Thái Bình
123
Dương một cách chính đáng.
Hiện tại, Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực phát triển nhanh, các
nền kinh tế tương đối ổn định. IMF từng dự đoán rằng thị trường mới nổi và
đang phát triển Châu Á đạt tăng trưởng 6,4% trong năm 2015 [143]. Đến
năm 2030, khu vực này sẽ là nhà của hơn 3 tỷ tầng lớp trung lưu [142].
Năm 2014 có khoảng 10 tỷ hàng hoá và dịch vụ, chiếm khoảng 44%
tổng thương mại toàn cầu chảy quanh APEC và có 6 trong 10 đối tác lớn của
Mỹ nằm trong nhóm các nước thuộc APEC, xuất khẩu của Mỹ vào các nước
thành viên APEC đã tăng gấp đôi trong thập kỷ qua. Tăng trưởng ổn định của
khu vực này không chỉ làm tăng nhu cầu về hàng hoá chất lượng cao của Mỹ
mà còn tăng thu hút đầu tư vào Mỹ cũng như từ Mỹ vào khu vực này và giải
quyết vấn đề việc làm cho lao động Mỹ [127].
4.1.1.3. Bối cảnh tại Việt Nam
Trở thành nước thu nhập trung bình thấp. Kể từ khi thực hiện đường lối
Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế -
xã hội. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hơn 7%, Việt Nam đã thoát
khỏi tình trạng kém phát triển, vươn lên trở thành nước có thu nhập trung
bình thấp (GDP bình quân đầu người đạt 1.375 USD năm 2011 và 2.028
USD năm 2014). Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp
hóa - hiện đại hóa, các ngành công nghiệp và dịch vụ đã chiếm 80% (trong
đó dịch vụ là 42,83%) GDP vào năm 2010. Các lĩnh vực kinh tế đối ngoại
như xuất khẩu, thu hút FDI, xuất khẩu lao động, du lịch… được chú trọng
phát triển và có đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GDP.
Hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới và khu vực. Từ đầu những năm
1990, Việt Nam đã chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế: bình
thường hóa quan hệ với Mỹ; gia nhập ASEAN; ký kết Hiệp định khung Việt
Nam - EU (tháng 7/1995); ký Hiệp định Thương mại Song phương Việt Nam
- Hoa Kỳ năm 2000, chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm
2006 và các thoả thuận TPP năm 2015. Đường lối chủ động, tích cực hội
nhập kinh tế quốc tế và làm bạn với tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ cũng
124
cho phép Việt Nam giữ vững ổn định chính trị và năng động kinh tế tránh
được ảnh hưởng tiêu cực từ cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu trong nhiều
năm qua. Hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới cho phép Việt Nam thu
hút FDI có chất lượng, tiếp thu khoa học công nghệ mới, phương pháp quản
trị mới, mở rộng thị trường đầu ra cho các sản phẩm và dịch vụ.
Tuy nhiên, rủi ro từ quá trình hội nhập có chiều hướng gia tăng. Độ mở
của nền kinh tế ở mức cao hàng đầu khu vực, trên 150%, khiến tăng trưởng
kinh tế dễ bị tổn thương do phụ thuộc lớn vào thị trường bên ngoài. An ninh
năng lượng không đảm bảo do phụ thuộc lớn vào nguồn cung xăng dầu bên
ngoài. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development
Assistance - ODA) giảm sút do hệ lụy của khủng hoảng tài chính và suy
thoái kinh tế toàn cầu và khủng hoảng nợ công thế giới và nguồn vốn quốc tế
được ưu tiên cho tái cấu trúc kinh tế của các quốc gia.
Toàn cầu hóa vừa mang lại sự phát triển nhưng cũng tạo nên sự phụ
thuộc chặt chẽ giữa các quốc gia do tác động lan truyền của biến động kinh
tế. Trong quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới thì
bản thân cấu trúc nền kinh tế Việt Nam cũng ngày càng trở nên phức tạp, và
trong thời gian vừa qua cũng đã đứng trước thách thức chịu tác động mạnh
mẽ bởi bất kỳ sự biến động và bất ổn nào dù nhỏ của kinh tế thế giới. Đặc
biệt, các nước thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có
ASEAN, đều đang tăng trưởng với tốc độ cao, nên càng tiềm ẩn nhiều rủi ro
và biến động gây ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế Việt Nam. Một khi độ
mở của thương mại càng cao thì nguy cơ dễ bị tổn thương càng lớn trước
những cú sốc giá, những rào cản thương mại và sự thay đổi chính sách của
các nước nhập khẩu hàng hóa Việt Nam.
Chuyển đổi mô hình phát triển. Từ những đòi hỏi cấp thiết của nền kinh
tế và phù hợp với xu hướng tái cấu trúc của nền kinh tế thế giới, Việt Nam đã
xác định tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo
hướng bền vững là một trong những trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội.
Chủ trương này được cụ thể hóa bởi Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với
125
chuyển đổi mô hình tăng trưởng được thông qua vào tháng 2/2013 cùng với
các Đề án chuyên biệt tái cơ cấu một số lĩnh vực chủ chốt của nền kinh tế: tái
cơ cấu đầu tư công; tái cơ cấu cấu trúc hệ thống tài chính - ngân hàng, trọng
tâm là các ngân hàng thương mại và tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng
tâm là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước [74].
Nâng cao chất lượng nguồn vốn FDI. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài đã gia tăng nhanh chóng trong hầu hết các năm của thập niên 2000 và
tăng mạnh vào năm 2008 khi bùng nổ bất động sản và sau đó giảm mạnh do
Chính phủ Việt Nam đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế đầu cơ bất động
sản. FDI là một bộ phận rất quan trọng trong quá trình phát triển của Việt
Nam, khu vực này đóng góp tỷ trọng trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp,
60 - 70% tổng kim ngạch xuất khẩu, trên 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và
đóng góp khoảng 20% ngân sách và thu hút khoảng 3,2 triêu lao động [65].
Rõ ràng khu vực FDI đã đóng góp đáng kể vào sự thay đổi cả về lượng và
chất của nền kinh tế Việt Nam hàng chục năm qua.
Tuy nhiên, hiện đang có nhiều quan ngại về chất lượng của dòng vốn
FDI vào Việt Nam nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà Việt Nam đang
thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng hiện đại hóa và phát triển bền
vững. Các khoản đầu tư vào ngành dệt may với giá trị gia tăng thấp và các
hoạt động lắp rắp giản đơn vẫn chiếm phần chi phối. Nhiều công ty nước
ngoài nhập các linh kiện của họ từ nước ngoài vào và sau đó xuất khẩu sản
phẩm của họ đi, từ đó đưa lại những lợi ích lan tỏa nhỏ nhoi dưới dạng hiệu
quả theo quy mô hoặc theo phương thức chuyển giao công nghệ cho các
doanh nghiệp bản địa. Khảo sát các nhà đầu tư, cho thấy họ đánh giá Việt
Nam là một trong những điểm đầu tư hấp dẫn nhất Châu Á. Hiện nay, đang
có một số xu thế tích cực về đầu tư mới trong lĩnh vực điện thoại di động và
các ngành chế tác công nghệ cao khác. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều rào cản đối
với việc thu hút FDI chất lượng cao, bao gồm cơ sở hạ tầng kém, thiếu thị
trường đầu vào nội địa và các vấn đề liên quan đến khung pháp lý và thể chế.
Hơn nữa, còn có một rủi ro là khi mức lương tăng lên thì các nhà đầu tư sẽ chuyển
126
hướng sang các nước có mức lương thấp khác trong khu vực như Myanmar.
Để tránh được “bẫy thu nhập trung bình”, Việt Nam cần phải thu hút
các nguồn vốn đầu tư nước ngoài và trong nước có chất lượng cao hơn vào
các ngành có năng suất cao hơn, từ đó cho phép xây dựng các chuỗi giá trị
trong nước. Hiện đã có một số dấu hiệu đáng khích lệ cho thấy điều này đang
xảy ra ở các phân ngành như điện thoại di động khi mà một số nhà đầu tư
nước ngoài lớn đã bắt đầu chuyển cơ sở sản xuất vào Việt Nam. Tuy nhiên,
các nhà phân tích nói chung đang quan ngại về tình trạng tắc nghẽn cơ sở hạ
tầng, thiếu kỹ năng và các hạn chế của môi trường kinh doanh vẫn đang là
rào cản trên con đường tăng trưởng mạnh mẽ hơn của các ngành công nghệ
cao.
Để giải quyết những vấn đề trên, tháng 8/2013, Chính phủ đã ban hành
Nghị quyết 108/NQ-CP đưa ra cách tiếp cận tổng thể trong xúc tiến FDI.
Chúng ta cần lượng FDI lớn nhưng quan trọng hơn là chất lượng dòng FDI
vào Việt Nam cũng như đóng góp của nó trong phát triển bền vững nền kinh
tế. Chính vì vậy, thu hút FDI của các nước phương Tây đặc biệt là các TNC
đến từ Mỹ và các nền kinh tế phát triển chính là giải pháp phù hợp nhất cho
Việt Nam trong thời gian tới.
Kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại, môi trường kinh doanh của
Trung Quốc không còn hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài như trước (giá
nhân công cao, mức ưu đãi thấp, tăng trưởng chậm lại, vấn đề an ninh, căng
thẳng trong quan hệ với Mỹ và Nhật Bản, gây tranh chấp với các quốc gia
láng giềng) khiến nhiều nhà đầu tư nước ngoài muốn thoái lui khỏi Trung
Quốc. Trên thực tế, hàng loạt các Hiệp định thương mại tự do (Free Trade
Agreements) mà Việt Nam đã hoặc sắp ký kết được nhìn nhận là “chất xúc
tác” kéo dòng vốn FDI tiếp tục đổ vào Việt Nam [83]. Một Báo cáo đặc biệt
gần đây của Ngân hàng Standard Chartered ghi nhận, có tới 36% đại diện các
công ty đa quốc gia đang muốn chuyển cơ sở ra khỏi Trung Quốc (khu vực
đồng bằng Châu Giang, tỉnh Quảng Đông) đã chọn Việt Nam là điểm đến.
Mức lương thấp, lực lượng lao động trẻ và vị trí địa lý gần Trung Quốc giúp
127
Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn, đặc biệt đối với những ngành sản xuất
thâm dụng lao động. Đây là cơ hội tốt để Việt Nam lựa chọn và nâng cấp
chất lượng nguồn FDI trong những năm tới.
Tích cực hoàn thiện các thủ tục để ký kết Hiệp định TPP. Một khi TPP
được ký kết và có hiệu lực, thì theo đánh giá của các nhà phân tích, Việt Nam
sẽ tiếp cận sâu rộng hơn vào hai nền kinh tế lớn thứ nhất và thứ ba thế giới -
Mỹ và Nhật Bản. Với mức lương tương đối vẫn còn thấp so với một số nước
thành viên khác trong TPP, Việt Nam có nhiều tiềm năng chuyển mình thành
một trung tâm xuất khẩu đầy hứa hẹn, đồng thời là điểm đến hấp dẫn đối với
các nhà đầu tư Mỹ, Nhật Bản và Châu Âu.
4.1.2. Triển vọng đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam
Từ những phân tích về bối cảnh quốc tế, Mỹ và Việt Nam ở trên có thể
xuất hiện mấy khả năng sau đây. Thứ nhất, nếu như trật tự thế giới được duy
trì, trong đó Mỹ vẫn là siêu cường bá chủ thế giới, Trung Quốc trỗi dậy chấp
nhận trật tự đó, tình hình biển Đông được kiểm soát không xảy ra chiến tranh
thì trong những năm tới, tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam sẽ tiếp tục ổn
định, kinh tế tiếp tục tăng trưởng nhanh, thị trường sẽ tiếp tục được mở rộng,
cơ sở hạ tầng cũng sẽ tiếp tục được nâng cấp. Nền kinh tế thế giới tiếp tục
phục hồi kéo theo sự phục hồi dòng vốn FDI trên toàn cầu. Thời điểm để Mỹ
trở thành nhà đầu tư số một ở Việt Nam cận kề khi lộ trình mở cửa các dịch
vụ viễn thông, tài chính, năng lượng… vốn là những thế mạnh của Mỹ.
Nhiều nhà phân tích trong và ngoài nước [77] cho rằng trong vài năm tới đây
sẽ có nhiều công ty Mỹ đổ bộ vào Việt Nam. Chỉ cần một số tập đoàn lớn
xuất hiện trong những lĩnh vực công nghệ cao sẽ tạo hiệu ứng thu hút nhiều
doanh nghiệp ở các lĩnh vực khác đến Việt Nam. Thứ hai, nếu trong trường
hợp Trung Quốc trỗi dậy không hòa bình, Trung - Mỹ đối đầu, quan hệ Việt -
Trung trở nên xấu, quan hệ Việt - Mỹ được nâng cấp (kịch bản này khó
nhưng không phải không thể xảy ra) thì tình hình kinh tế xã hội Việt Nam có
thể gặp khó khăn tạm thời, nhưng rất có khả năng đầu tư của Mỹ vào Việt
Nam, vì thế vẫn sẽ tăng lên mạnh mẽ. Điều này tùy thuộc vào năng lực về thể
128
chế, cơ sở hạ tầng cứng và mềm, mức độ cải cách sâu rộng của Việt Nam.
Như vậy, trong cả hai trường hợp, FDI của Mỹ vào Việt Nam có thể đều tăng
và Mỹ sẽ sớm trở thành nhà đầu tư số 1 tại Việt Nam. Thứ ba, trong trường
hợp quan hệ Việt - Trung tiếp tục được duy trì theo hướng như nhiều năm
qua, quan hệ Việt - Mỹ ở mức vừa phải như hiện nay, nghĩa là không được
nâng cấp, thì FDI Mỹ vào Việt Nam sẽ ở mức vừa phải, thậm chí là trồi sụt.
Tuy nhiên, chúng ta có các cơ sở để tin rằng đầu tư của Mỹ vào Việt
Nam tiếp tục được duy trì và tăng trưởng theo kịch bản thứ nhất, vì các lý do
sau đây: thứ nhất, Việt Nam nằm ở vị trí địa chính trị kinh tế có sức thu hút
các nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt là Mỹ. Môi trường đầu tư đã có sự cải
thiện đáng kể về nhiều mặt nhằm khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho
các nhà đầu tư nước ngoài. Thứ hai, nền kinh tế Việt Nam từ các năm 2014 -
2015 đã có khởi sắc và có thể đạt tốc độ tăng trưởng khá cao trong những
năm tới đây. Lạm phát được kiềm chế; tốc độ tăng trưởng dần được khôi
phục; nền kinh tế đã được nâng bậc trong bảng xếp hạng tín nhiệm quốc
tế,… Điều này làm tăng lợi thế so sánh của Việt Nam với các nước khác
trong khu vực. Thứ ba, Việt Nam đã và đang tiếp tục ký kết những hiệp định
thương mại lớn nhằm làm sâu sắc hơn tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Mới đây, Việt Nam đã hoàn tất hai hiệp định thương mại tự do với các đối
tác kinh tế lớn là Hàn Quốc và Liên minh kinh tế Á - Âu (Eurasian Economic
Union). Bên cạnh đó, Hiệp định thương mại lớn như Cộng đồng kinh tế
ASEAN (ASEAN Economic Community) được hiện thực hóa vào cuối năm
2015 và TPP đã hoàn tất quá trình đàm phán và chờ được ký kết và có hiệu
lực vào năm 2018 là những cơ hội rất tốt cho kinh tế Việt Nam bứt phá. Mỹ
hiểu rõ nếu đầu tư mạnh mẽ vào Việt Nam trong những năm tới, Mỹ không
chỉ nhắm đến thị trường gần 100 triệu dân Việt Nam mà còn nhắm đến thị
trường 600 triệu dân trong ASEAN. Thứ tư, như ở phần trước đã phân tích,
môi trường đầu tư của Trung Quốc đang có nhiều bất lợi cho nhà đầu tư
nước ngoài. Vì vậy, tương lai không chỉ có Mỹ mà sẽ có nhiều nhà đầu tư
khác muốn thoái vốn khỏi nước này để tìm tới một môi trường đầu tư mới có
129
lợi hơn, và Việt Nam là một trong những điểm đến được các nhà đầu tư nước
ngoài ưu tiên lựa chọn. Thứ năm, các yếu tố chính trị khu vực sẽ tác động
đến khả năng gia tăng FDI của Mỹ vào Việt Nam như bên trên đã đề cập. Sự
trỗi dậy của Trung Quốc trong nhiều lĩnh vực, cả chính trị, quốc phòng lẫn
kinh tế khiến Mỹ lo ngại về địa vị bá chủ thế giới của mình, mặc dù để đuổi
kịp được Mỹ trên tất cả các mặt, Trung Quốc phải cần tới một khoảng thời
gian rất dài nữa, nhưng với tư duy của một siêu cường, Mỹ phải dè chừng để
Trung Quốc không thể vượt Mỹ trên bất kỳ phương diện nào.
Vì vậy, chiến lược xoay trục khuyến khích đầu tư mạnh về kinh tế vào
khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam, cũng là xu thế dễ
hiểu và không thể không gắn chặt với chiến lược xoay trục về chính trị và
quốc phòng gần đây của Mỹ. Trong tương lai, chắc chắn Mỹ còn đầu tư
mạnh hơn vào khu vực này nhằm củng cố vai trò và vị thế của mình. Hơn
nữa, để kiềm chế sự trỗi dậy và tham vọng bá quyền của Trung Quốc cũng
như củng cố ngôi vị số 1 của mình, Mỹ phải hợp tác và hỗ trợ các nước trong
khu vực cùng lớn mạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh để cùng đối phó với
Trung Quốc. Đó chính là một lý do quan trọng cho xu hướng gia tăng gần
đây của FDI từ Mỹ vào khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Trước đây, Mỹ chủ yếu tập trung đầu tư vào các lĩnh vực nhà hàng,
khu nghỉ dưỡng, nhưng trong những năm tới đây, các nhà đầu tư Mỹ sẽ tập
trung đầu tư vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp chế tạo, hàng tiêu dùng,…
Với việc chuyển dần sang mô hình phát triển mới dựa trên công nghệ
hiện đại, Việt Nam hiểu rõ Mỹ là nơi hội tụ của nhiều tập đoàn xuyên quốc
gia, có thế mạnh về tài chính và công nghệ hiện đại, mạng lưới thị trường
quốc tế rộng lớn và kỹ năng quản trị kinh doanh hàng đầu thế giới. Các lợi
thế đó một khi được kết hợp với các lợi thế của Việt Nam sẽ mang lại lợi ích
to lớn và thiết thực cho cả hai bên. Việt Nam chủ trương hướng mạnh vào
việc tiếp cận và thu hút đầu tư từ các TNC của Mỹ theo chiều hướng: thực
hiện những dự án lớn, công nghệ cao hướng vào xuất khẩu, tạo điều kiện để
một số TNC xây dựng các trung tâm nghiên cứu, phát triển vườn ươm công
130
nghệ gắn với đào tạo nguồn nhân lực.
Hiện rất nhiều nhà đầu tư Mỹ đã chính thức đưa ra những đề xuất cho
các dự án lớn. Vào dịp Hội nghị thượng đỉnh APEC năm 2009, các nhà đầu
tư Mỹ đã đạt được thỏa thuận xây dựng dự án nhiệt điện Mông Dương và dự
án mở rộng cảng Cái Lân. Hai hãng bảo hiểm ACE và Liberty Mutual cũng
đã đạt được hai giấy phép kinh doanh bảo hiểm sớm hơn dự kiến. Các dự án
trên đã lần lượt được triển khai, năm 2015 nhiệt điện Mông Dương đã đi vào
hoạt động. Đây là một tín hiệu cho thấy sự sẵn sàng của cả hai phía và mở ra
một thời kỳ mới, một động lực để các nhà đầu tư Mỹ đẩy nhanh các dự án lớn.
Với xu thế đầu tư mạnh mẽ đó, một số cảng biển của Việt Nam sẽ
không thể đáp ứng được nhu cầu lưu chuyển hàng hóa trong thời gian tới, do
vậy, các doanh nghiệp Mỹ đang hướng đầu tư vào lĩnh vực này. Hiện nay,
một loạt các thỏa thuận đã được ký kết giữa hai nước lên trên 11 tỷ USD, đa
số tập trung vào các lĩnh vực: Cơ sở hạ tầng, cảng biển, nhà máy điện, khu
công nghiệp, khu đô thị… Ngoài ra còn đầu tư vào các dự án phát triển thị
trường tài chính, công nghệ cao, viễn thông, công nghệ thông tin, các hợp
đồng xuất nhập khẩu, giáo dục đào tạo. Đặc biệt có dự án liên doanh thành
lập trường Đại học kỹ thuật tại Việt Nam.
Trong đề xuất của các nhà đầu tư Mỹ có rất nhiều tên tuổi lớn. Tập
đoàn Conoco Phillips đã đầu tư khoảng 1 tỷ USD trong lĩnh vực thăm dò và
khai thác dầu khí tại Việt Nam và cho biết họ có thể đầu tư thêm hàng tỷ
USD nữa nếu có tiềm năng và cơ hội. Tập đoàn Gannon quan tâm đến dự án
đầu tư một nhà máy nhiệt điện tại Đồng Nai với công suất 1.000MW theo 3
giai đoạn. Hiện công ty đang khảo sát xây dựng nhà máy điện tại Nhơn Trạch
- Đồng Nai và sẽ đầu tư nếu đạt được những thỏa thuận liên quan phù hợp
với hai bên.
Trong khi đó, các đại gia trong ngành công nghệ thông tin của Mỹ là
Microsoft, Unisys, Qualcom và Motorola cũng muốn thúc đẩy các dự án hợp
tác với Việt Nam. Qualcom muốn cung cấp hạ tầng mạng di động 3G cho các
hãng EVN Telecom và Hanoi Telecom và tham gia dự án Internet không dây
131
cho ngành giáo dục Việt Nam.
Dòng đầu tư trực tiếp của Mỹ trong những năm tới đây sẽ tiếp tục
hướng vào các lĩnh vực như phát triển hạ tầng và công nghiệp sản xuất chế
tạo, bên cạnh những lĩnh vực vốn đã rất được quan tâm như công nghệ thông
tin, khách sạn…
4.2. Một số gợi ý chính sách tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài của Mỹ vào Việt Nam
4.2.1. Những chính sách chung
Thông qua một cuộc khảo sát điều tra về đánh giá của các nhà đầu tư
nước ngoài về môi trường kinh doanh Việt Nam, chúng ta đã nhận được bức
tranh chung (Hình 4.1.).
Hình 4.1. Mức độ hài lòng của các nhà đầu tư tại Việt Nam Nguồn: Kết quả điều tra doanh nghiệp thực hiện cho báo cáo “Tác động của Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ đến đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư trực tiếp của Mỹ tại Việt Nam”
Nhìn vào kết quả điều tra trên có thể thấy các nhà đầu tư Mỹ coi trọng
nhất các yếu tố như thực thi pháp luật công bằng và hiệu quả, vai trò của các
Hiệp định về thuế, thương mại và đầu tư mà Việt Nam ký kết với Mỹ cũng
như các đối tác khác, việc Việt Nam gia nhập WTO, việc đơn giản hóa các
thủ tục hành chính… khi tiến hành đầu tư tại Việt Nam. Từ đó có thể đưa ra
một số giải pháp cơ bản sau đây để hoàn thiện môi trường đầu tư của Việt
132
Nam nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp từ Mỹ.
4.2.1.1. Sớm chuyển sang kinh tế thị trường hiện đại
Trong 30 năm Đổi mới vừa qua, thực chất Việt Nam mới chỉ thực hiện
tự do hóa để chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, tức là tự do hóa ở trong nước và mở cửa hội
nhập với thế giới bên ngoài. Hiện nay đã đến lúc Việt Nam phải chuyển sang
kinh tế thị trường hiện đại, tức là kinh tế thị trường cạnh tranh, thị trường
theo nghĩa đầy đủ, chủ yếu dựa trên sở hữu tư nhân. Để làm được điều đó,
cần phải xem xét quyền sở hữu tài sản. Quyền tài sản phải được thừa nhận,
bảo vệ pháp lý và đặc biệt phải có chủ sở hữu. Với sở hữu công thì cũng phải
xác định rõ ai là chủ sở hữu. Khi có chủ sở hữu thì tài sản mới có thể giao
dịch, và bảo vệ tài sản của mình. Kinh tế thị trường dựa chủ yếu vào sở hữu
tư nhân thì cạnh tranh mới được thực hiện. Tất nhiên, để có cạnh tranh lành
mạnh phải có chính sách để vừa đảm bảo tự do, thiết lập thị trường cạnh
tranh và thiết chế đảm bảo cạnh tranh công bằng và bình đẳng. Khi đó, cạnh
tranh trở thành động lực cho sự phát triển. Vì vậy, cần thiết phải sớm cải
cách chuyển sang kinh tế thị trường hiện đại.
4.2.1.2. Hoàn thiện hành lang pháp lý
Triển khai thực hiện tốt Luật doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm 2014
để tạo ra sân chơi bình đẳng cho các nhà đầu tư bất luận trong hay ngoài
nước, đặc biệt là bảo đảm tính minh bạch và tiên liệu trước được trách nhiệm
giải trình để các nhà đầu tư an tâm đầu tư. Tích cực tuyên truyền, phổ biến
nội dung của các luật mới. Kịp thời hướng dẫn cụ thể về chuyển đổi thủ tục
hành chính. Củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý đầu tư nước ngoài
phù hợp với quy định của các luật mới. Việc thay đổi chính sách cố gắng
không làm ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp FDI, nhất là khi
áp dụng các luật mới.
Ban hành chính sách ưu đãi, khuyến khích mọi thành phần kinh tế,
nhất là kinh tế tư nhân và các dự án đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực
phát triển cơ sở hạ tầng, kinh doanh bất động sản đáp ứng nhu cầu và thực tế
133
hội nhập kinh tế quốc tế.
Bổ sung cơ chế, chính sách xử lý các vấn đề pháp lý liên quan đến việc
thực hiện cam kết của Việt Nam trong lộ trình Khu vực thương mại tự do
ASEAN (ASEAN Free Trade Area) và các cam kết đa phương và song
phương trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là trong lĩnh vực mở
cửa dịch vụ (bưu chính viễn thông, vận chuyển hàng hóa, y tế, giáo dục và
đào tạo…)
Thực hiện nghiêm chỉnh cam kết về minh bạch và công khai theo Hiệp
định thương mại song phương Việt - Mỹ, yêu cầu tất cả các biện pháp áp
dụng chung phải được công bố trước khi có hiệu lực và các công dân, doanh
nghiệp của hai nước phải có cơ hội đóng góp ý kiến xây dựng.
Ngày 22/06/2007, Việt Nam và Mỹ đã chính thức ký Hiệp định khung
về thương mại và đầu tư (Trade and Investment Framework Agreement) tại
thủ đô Mỹ - Washington DC. Trong khuôn khổ Hiệp định khung, hai nước đã
thảo luận các vấn đề liên quan đến tính minh bạch trong chính sách, quản trị
nhà nước và pháp luật. Trong 3 năm tiếp theo từ 2008 - 2010, hai nước đã
tích cực thương thuyết hai thỏa hiệp về BIT, ưu đãi thương mại (Preferential
Trade Arangements) và TPP năm 2015. Điều này rất cần thiết bởi lẽ việc ký
kết các Hiệp định về thương mại - đầu tư là một trong những yếu tố quan
trọng hàng đầu nhằm cải thiện môi trường đầu tư của Việt Nam theo ý kiến
của các nhà đầu tư Mỹ.
Tổng kết việc thực hiện thí điểm cổ phần hóa các doanh nghiệp đầu tư
nước ngoài để nhân rộng. Đồng thời khai thác mạnh hơn các kênh đầu tư mới
như thành lập công ty hợp danh, đầu tư nước ngoài theo hình thức mua lại và
sáp nhập (M&A), công ty quản lý vốn (holding company)…
4.2.1.3. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính
Trong những năm gần đây, việc cải cách thủ tục hành chính nhằm thu
hút đầu tư đã thu được những kết quả bước đầu. Nhận thức của cán bộ, công
chức và một bộ phận nhân dân về cải cách hành chính đã có nhiều chuyển
biến. Hệ thống hành chính tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện, thủ tục
134
hành chính được rà soát đơn giản hơn. Việc thực hiện cải cách thủ tục hành
chính theo cơ chế “một cửa” được tiến hành đồng bộ ở các cấp và có nhiều
chuyển biến tốt hơn so với khi chưa áp dụng cơ chế này.
Tuy nhiên, việc nhiều địa phương gặp khó khăn khi tiếp nhận dòng vốn
FDI cũng là một hiện tượng khá phổ biến. Mặc dù đã có những quy định rất
rõ ràng về việc thẩm tra năng lực nhà đầu tư đối với những dự án đầu tư
thuộc diện phải thẩm tra, song trên thực tế, ở không ít địa phương, việc vận
dụng lại không thực sự rõ ràng, thậm chí là sai luật. Việc phát sinh thêm thủ
tục ngoài quy định thực sự là nỗi lo ngại của các nhà đầu tư, nhất là khi các
địa phương lại đưa ra những yêu cầu khác nhau, thậm chí có trường hợp
không nhất quán với cả quy định của Luật Đầu tư và các nghị định hướng
dẫn thi hành. Đó là chưa kể một số dự án còn phải chờ lấy ý kiến các bộ,
ngành liên quan về sự phù hợp với quy hoạch, xem xét các lĩnh vực đầu tư có
điều kiện, dẫn đến thời gian cấp giấy chứng nhận đầu tư kéo dài, ảnh hưởng
đến quyết định của nhà đầu tư cũng như việc tiếp nhận đầu tư của các địa phương.
Theo một cuộc phỏng vấn với ông Adam Sitkoff, giám đốc điều hành
Phòng thương mại Mỹ tại Hà Nội cho câu hỏi vì sao sau khi ký BTA, Mỹ đã
trở thành đối tác thương mại số một của Việt Nam nhưng đầu tư của Mỹ vẫn
còn khiêm tốn, ông đã trả lời rằng các công ty Mỹ muốn mở rộng hoạt động
kinh doanh ở Việt Nam, nhưng sự thiếu minh bạch, chậm trễ, ách tắc trong
thủ tục hành chính,… khiến nhiều công ty Mỹ ngần ngại khi đầu tư vào Việt
Nam. Chừng nào không có tiến bộ trong việc giải quyết vấn đề này thì khả năng
đầu tư của Mỹ sẽ chảy sang các quốc gia khác là điều hoàn toàn có thể xảy ra.
Vì vậy, cần tiếp tục minh bạch hóa các quy trình, thủ tục hành chính
đối với đầu tư nước ngoài, đặc biệt đối với các nhà đầu tư Mỹ và Tây Âu.
Thực hiện tốt cơ chế liên thông đối với đầu tư. Tăng cường thực hiện quy chế
“một cửa” theo hướng đi vào thực chất và chiều sâu. Rà soát các vướng mắc
về thủ tục hành chính ở tất cả các lĩnh vực, các cấp nhằm đẩy nhanh tiến độ
cấp phép đầu tư mới và điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư; các thủ tục liên
quan tới triển khai dự án đầu tư như thủ tục về đất đai, xuất nhập khẩu, cấp
135
dấu, xử lý tranh chấp… Xử lý dứt điểm các vướng mắc trong quá trình cấp,
điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư và các vấn đề vướng mắc trong quá trình
hoạt động của doanh nghiệp.
4.2.1.4. Xây dựng và cải thiện kết cấu hạ tầng
Kết cấu hạ tầng yếu kém là một trong những vấn đề nổi cộm khiến hầu
hết các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư Mỹ đều tỏ ra lo ngại
khi tiến hành đầu tư vào Việt Nam. Hệ thống hạ tầng cơ sở phát triển chưa
đạt yêu cầu mong đợi của các nhà đầu tư Mỹ và chưa chuẩn bị sẵn sàng về
đất đai (đặc biệt đối với các dự án lớn cần mặt bằng sản xuất rộng) đã hạn
chế việc triển khai dự án sau khi được cấp giấy chứng nhận đầu tư, đặc biệt
là cho các dự án đến từ nhà đầu tư Mỹ.
Thực tế hiện nay là tình trạng thiếu mặt bằng để giao cho nhà đầu tư
đang diễn ra ở hầu hết các địa phương. Mặt khác, công tác giải phóng mặt
bằng, đền bù, di dời và tái định cư còn nhiều bất cập vẫn đang là trở ngại lớn
nhất trong tiến trình triển khai dự án, nhất là những dự án lớn trong lĩnh vực
bất động sản. Đây cũng là nguyên nhân hàng đầu cho tỷ lệ thực hiện vốn đầu
tư nước ngoài của cả nước trong thời gian qua chưa bao giờ đạt đến mức
50% so với tổng vốn đăng ký.
Vì vậy, cần tiếp tục tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, điều
chỉnh và kiểm soát quy chế đấu thầu nói chung và trong lĩnh vực công nghiệp
- xây dựng nói riêng để tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà đầu tư,
từ đó thúc đẩy việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
Nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng hiện có, trước mắt giải quyết tốt nhu
cầu năng lượng cho các nhà đầu tư theo hướng bảo đảm trong mọi trường
hợp không để xảy ra tình trạng thiếu điện đối với cơ sở sản xuất. Có cơ chế
khuyến khích tư nhân trong nước và ngoài nước đầu tư phát triển các công
trình cơ sở hạ tầng, trong đó có các nhà máy điện độc lập, các công trình giao
thông cảng biển bởi đây là nguồn đầu tư có vai trò chủ chốt trong việc giải
136
quyết các vấn đề của cơ sở hạ tầng nhưng vẫn chưa được tận dụng.
Hoàn chỉnh luật pháp đối với các công trình hạ tầng để khuyến khích
các nhà đầu tư nước ngoài. Ban hành danh mục cụ thể để kêu gọi đầu tư hạ
tầng, vận động đối với từng nhà đầu tư cụ thể và từng dự án cụ thể.
4.2.1.5. Tháo gỡ các rào cản trong quy hoạch và triển khai thực hiện dự án
Tiếp tục tháo gỡ những rào cản trong công tác quy hoạch: Khẩn truơng
rà soát, điều chỉnh quy hoạch ngành nhằm dỡ bỏ những hạn chế đối với đầu
tư nước ngoài phù hợp với các cam kết quốc tế song phương và đa phương.
Trong quy hoạch cần quan tâm thỏa đáng đến lợi thế so sánh của từng ngành
và từng địa phương trong thu hút đầu tư nước ngoài. Cần khắc phục ngay
những bất hợp lý trong quy hoạch theo kiểu truyền thống, nặng quy hoạch
theo địa giới hành chính, nhẹ quy hoạch thống nhất mang tính liên vùng.
Tháo gỡ những vướng mắc trong triển khai thực hiện dự án. Thực tế cho
thấy vốn thực hiện còn rất thấp so với vốn đăng ký. Vì vậy trong giai đoạn
tới cần tiếp tục rà soát các dự án đã được cấp phép, trên cơ sở đó tập trung
tháo gỡ các khó khăn và vướng mắc nhằm thúc đẩy triển khai dự án, hỗ trợ
các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Tháo gỡ
những vướng mắc về đất đai cho các nhà đầu tư còn tồn tại. Thực hiện kiên
quyết việc giải thể các dự án không có khả năng triển khai nhằm thu hồi đất
cho các dự án mới. Có các biện pháp mạnh và kiên quyết trong công tác đền
bù và giải phóng mặt bằng. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các
dự án lớn, chuyển giao công nghệ nguồn mở rộng sản xuất kinh doanh.
Các nhà hoạch định chính sách Việt Nam - Mỹ cần tăng cường trao đổi,
tiếp xúc để tìm ra các giải pháp tối ưu nhằm tăng cường hiệu quả các dự án
đã triển khai và xúc tiến các dự án mới trong các lĩnh vực mà hai bên có
nhiều tiềm năng. Việt Nam nên đề nghị phía Mỹ dành cho Việt Nam dự án
hỗ trợ tăng cường năng lực quản lý đầu tư nước ngoài. Tăng cường hợp tác
nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ
nhằm khai thác tối đa những lợi ích từ Hiệp định này để tăng cường thu hút
đầu tư của Mỹ.
137
Về phía mình, Việt Nam cần nỗ lực hỗ trợ mạnh mẽ các dự án đầu tư
của Mỹ đã được cấp giấy phép đầu tư hoặc đang đàm phán, chuẩn bị đầu tư
bằng cách giải quyết sớm các vướng mắc đối với các dự án đầu tư đã được
cấp giấy phép; thành lập tổ công tác liên ngành để thúc đẩy đàm phán, chuẩn
bị cho các dự án lớn quan trọng.
4.2.1.6. Bảo vệ sở hữu trí tuệ
Đây là một yếu tố quan trọng được nhiều nhà đầu tư Mỹ coi là yếu tố
giúp cải thiện môi trường kinh doanh. Bảo vệ sở hữu trí tuệ là điều kiện tiên
quyết để Việt Nam có thể thu hút được những dự án có hàm lượng trí tuệ và
công nghệ cao, góp phần tiến tới xây dựng nền kinh tế tri thức và cũng là đòi
hỏi bắt buộc trong việc thực hiện Hiệp định thương mại và gia nhập WTO.
Nhận thức được điều này Việt Nam đã xây dựng luật sở hữu trí tuệ mới có
hiệu lực từ 1/7/2006, là hành lang pháp lý hiệu quả cho việc bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ. Thêm vào đó, hoàn thiện công tác thực thi, các thủ tục và xây
dựng năng lực của tòa án cũng như tăng cường sự phối hợp và hiệu quả hoạt
động của các cơ quan chức năng cũng đang được tiến hành để bảo đảm thực
hiện việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên thực tế.
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là khó khăn đối với hầu hết các quốc gia
trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển, do đó chính phủ và các
doanh nghiệp sở hữu quyền sở hữu trí tuệ cần cố gắng nhiều hơn nữa để
giảm tỷ lệ ăn cắp bản quyền và làm hàng giả trên thực tế.
4.2.1.7. Đào tạo nguồn nhân lực
Chính phủ cần quan tâm hơn nữa tới hệ thống đào tạo nguồn nhân lực
cũng như đào tạo nghề. Hiện nay, tình trạng lao động ở trình độ Đại học đã
quá dư thừa trong khi các trung tâm đào tạo nghề thì quá ít và tay nghề cũng
yếu kém do các trung tâm không thể đầu tư các thiết bị phù hợp với hiện tại
để đào tạo tốt.
Do đó, Việt Nam cần đầu tư vào một số trường nghề trọng điểm và tạo
sự liên kết giữa các trường đào tạo nghề với các doanh nghiệp có nhu cầu về
lao động. Phối hợp với các doanh nghiệp để đào tạo lao động ngay tại công
138
ty của họ.
4.2.1.8. Xây dựng hệ thống công nghiệp phụ trợ
Việt Nam cần xây dựng và hợp nhất các doanh nghiệp có quy mô nhỏ lẻ
trong ngành công nghiệp phụ trợ. Biến các doanh nghiệp này thành một vài
nhóm thống nhất nhằm nâng cao khả năng cạnh trạnh và chất lượng sản
phẩm của ngành công nghiệp phụ trợ. Hỗ trợ các doanh nghiệp này đổi mới
công nghệ nhằm nâng cao giá trị sản phẩm.
4.2.2. Những chính sách thu hút đầu tư từ các nhà đầu tư Mỹ
4.2.2.1. Thành lập quỹ và tổ chức tư vấn, xúc tiến và phát triển nghiên
cứu thị trường dành riêng cho các nhà đầu tư Mỹ
Các quỹ và tổ chức này có nhiệm vụ nghiên cứu các TNC của Mỹ,
nghiên cứu các sản phẩm của các TNC này. Từ đó, tìm hiểu những lợi ích
của cả hai phía Việt Nam và các TNC của Mỹ khi các TNC của Mỹ đầu tư
vào Việt Nam.
Ngoài ra, các quỹ và tổ chức này còn là cầu nối giữa các chủ đầu tư Mỹ
đến với Việt Nam khi họ quyết định đầu tư vào Việt Nam như: tư vấn luật
pháp, kết nối chủ đầu tư Mỹ với các cơ quan công quyền Việt Nam, kết nối
với các đơn vị đào tạo nghề để cung cấp lao động có tay nghề phù hợp với
nhu cầu của chủ đầu tư Mỹ, tư vấn doanh nghiệp phụ trợ trong nước cho chủ
đầu tư Mỹ…
4.2.2.2. Xây dựng tiêu chí đánh giá riêng cho việc phê duyệt các dự án
đầu tư của các nhà đầu tư Mỹ vào Việt Nam
Các cơ quan công quyền của Việt Nam cần xây dựng bảng tiêu chí dành
riêng cho chủ đầu tư Mỹ như: dự án như thế nào thì do cấp tỉnh/thành hoặc
gửi trực tiếp lên cấp Bộ phê duyệt và Chính phủ phê duyệt; các tiêu chí hỗ
trợ khuyến khích nhà đầu tư Mỹ một cách cụ thể và rõ ràng, minh bạch như
với nhà đầu tư nào và lượng vốn bao nhiêu thì được cấp bao nhiêu đất tại khu
công nghiệp, được ưu đãi thuế với lộ trình như thế nào…
Như hiện nay, các dự án đầu tư đều được đăng ký và thực hiện tại các
139
tỉnh/thành. Những dự án vượt tầm phê duyệt cấp tỉnh/thành thì gửi lên cấp
Bộ xem xét, nếu vẫn vượt tầm thì sẽ gửi lên Chính phủ phê duyệt. Như vậy
gây nên chồng chéo, mất thời gian và dễ làm nản lòng nhà đầu tư.
Tóm lại, với các dự án đầu tư của Mỹ vào Việt Nam thì việc phê duyệt
cấp giấy phép phải nhanh chóng. Tránh những thủ tục hành chính không cần
thiết, chồng chéo làm chậm tiến độ đầu tư hoặc làm thay đổi ý định đầu tư.
4.2.2.3. Hỗ trợ và hợp tác đào tạo lao động theo nhu cầu của các nhà
đầu tư Mỹ
Ngoài việc phối hợp với các nhà đầu Mỹ để đào tạo lao động tại chính
doanh nghiệp của họ, Việt Nam cần tạo quỹ hỗ trợ đào tạo lao động cho phía
doanh nghiệp Mỹ cũng như nâng cao vai trò của các trung tâm đào tạo nghề
trọng điểm (như đã nêu trong phần những chính sách chung), nhằm khuyến
khích các nhà đầu tư của Mỹ chuyển giao công nghệ và đào tạo lao động
nguồn cho phía Việt Nam.
Để thực hiện tốt công tác này, vai trò của các quỹ và tổ chức tư vấn, xúc
tiến đầu tư là rất quan trọng. Các đơn vị này có trách nhiệm tư vấn cho các
nhà đầu tư Mỹ đến trường dạy nghề trọng điểm nào, từ đó nhà đầu tư Mỹ đặt
hàng số lượng và chất lượng lao động với trường đào tạo nghề. Quá trình này
sẽ giúp cho tay nghề lao động Việt Nam được nâng cao cũng như thúc đẩy
quá trình chuyển giao công nghệ cho phía Việt Nam.
4.2.2.4. Thực hiện chính sách ưu đãi thuế cho các nhà đầu tư Mỹ và hỗ
trợ tài chính đối với các doanh nghiệp Việt Nam có kinh doanh với doanh
nghiệp có vốn đầu tư của Mỹ
Cần thực hiện các chính sách ưu đãi thuế dành riêng cho các nhà đầu tư
của Mỹ như: giảm thuế thu nhập doanh nghiệp tương đương hoặc thấp hơn
so với thuế thu nhập doanh nghiệp bình quân tại khu vực và có lộ trình tăng
thuế cho các doanh nghiệp Mỹ phù hợp với thuế thu nhập doanh nghiệp
trong khu vực, khi các doanh nghiệp này nhập khẩu máy móc công nghệ mới
sẽ được giảm thuế nhập khẩu và được hưởng ưu đãi về thời gian giải quyết
140
thủ tục thông quan nhanh chóng…
Các doanh nghiệp Việt Nam thường là những doanh nghiệp vừa và nhỏ,
tiềm lực tài chính còn hạn chế nên khó trở thành đối tác lâu dài của các
doanh nghiệp có vốn đầu tư của Mỹ tại Việt Nam. Việc mở cửa, hỗ trợ vốn,
cho vay với mức lãi suất ưu đãi, giải quyết thủ tục cho vay nhanh chóng cho
các doanh nghiệp vừa và nhỏ này sẽ là cứu cánh không nhỏ giúp họ vững tin
trong kinh doanh và dần khẳng định được vai trò của mình trong tình hình
mở cửa hội nhập toàn diện như hiện nay.
4.2.2.5. Lựa chọn vị trí và xây dựng khu công nghiệp đồng bộ
Cần xây dựng các khu công nghiệp một cách đồng bộ và đầy đủ như
khu sản xuất, khu nhà ở cho công nhân, khu dịch vụ, cơ sở hạ tầng gồm điện,
nước… cho các dự án đầu tư của Mỹ vào Việt Nam. Tạo dựng cơ sở hạ tầng
tốt cho các khu công nghiệp này tránh tình trạng đầu tư theo từng hạng mục,
tránh những tình trạng thiếu điện, nước hoặc cắt điện, nước đột ngột.
Cùng với việc xây dựng khu công nghiệp đồng bộ là việc lựa chọn vị trí
xây dựng các khu công nghiệp đồng bộ đó tại những tỉnh/thành có những yếu
tố thuận lợi về địa - kinh tế như Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Khánh
Hoà, Bà Rịa - Vũng Tàu… nhằm thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư đặc
biệt là các TNC Mỹ.
4.2.2.6. Tăng cường các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ Việt kiều Mỹ
đầu tư về nước
Hiện nay có khoảng 1,5 triệu Việt kiều đang sinh sống, làm ăn tại Mỹ.
Nhiều người Việt đã trở thành những nhà kinh doanh thành đạt có khả năng
đầu tư về nước, một số khác có trình độ kỹ thuật cao, đặc biệt trong các
ngành khoa học tự nhiên, công nghệ… Với tập quán văn hóa, ngôn ngữ, thói
quen tiêu dùng và những thế mạnh về vốn, chất xám, cộng đồng người Việt
tại Mỹ không chỉ tạo ra một thị trường xuất khẩu cho các sản phẩm truyền
thống của Việt Nam mà còn là nguồn đầu tư tiềm năng mà Chính phủ Việt
Nam khuyến khích. Do vậy cần đẩy mạnh thu hút đầu tư của cộng đồng
người Việt tại Mỹ theo hướng:
141
Tiếp tục tăng cường các ưu đãi khuyến khích Việt kiều đầu tư về nước,
đặc biệt trong các ngành công nghệ thông tin, giáo dục, y tế, nghiên cứu phát
triển, du lịch, kinh doanh bất động sản…
Tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho việc nhập cảnh, cư trú, đi lại và
sinh hoạt của Việt kiều tại Việt Nam như mở rộng hơn nữa diện Việt kiều
142
được phép mua nhà ở tại Việt Nam…
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu Luận án “Đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam từ
khi thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài đến 2010”, xin được rút ra một số kết
luận quan trọng liên quan đến cả lý luận và thực tiễn như sau:
Thứ nhất, các lý thuyết cơ bản về FDI đã nghiên cứu nguồn gốc, bản
chất cũng như tác động của dòng vốn FDI ở các khía cạnh khác nhau. Tuy
vậy, nhìn chung các lý thuyết đều thống nhất ở khía cạnh: FDI là hiện tượng
tất yếu của xu hướng toàn cầu hóa kinh tế và sự phát triển của khoa học công
nghệ. Mặc dù có những tác động tiêu cực đối với những lĩnh vực khác nhau
trong những điều kiện nhất định đối với nước nhận đầu tư và nước đầu tư,
nhưng vai trò FDI đối với phát triển kinh tế của các quốc gia là không thể
phủ nhận.
Thứ hai, FDI Mỹ ra nước ngoài chủ yếu được các TNC thực hiện,
nhưng Chính phủ Mỹ luôn sử dụng các chính sách thúc đẩy, khuyến khích,
hỗ trợ để các công ty Mỹ yên tâm đầu tư ra nước ngoài thông qua việc Chính
phủ Mỹ tăng cường ký kết các hiệp định đa phương, song phương về thương
mại, đầu tư với các khu vực, quốc gia trên thế giới.
Thứ ba, FDI Mỹ ra nước ngoài có những đặc điểm nổi bật: (1) FDI Mỹ
đánh giá cao môi trường pháp lý minh bạch; (2) FDI của Mỹ thường tiếp cận
những lĩnh vực kinh tế chủ chốt của nước nhận đầu tư; (3) Tối đa hoá lợi
nhuận trong các hoạt động ở nước ngoài; (4) Chú trọng tiếp cận thị trường
của nước nhận đầu tư và coi đó là nền tảng để xây dựng chiến lược đầu tư
của công ty; (5) Chú trọng đến vị trí chiến lược của nước nhận đầu tư; (6)
Tập trung vào những dự án lớn với trình độ công nghệ cao như công nghệ
thông tin, viễn thông, dịch vụ tài chính; (7) Các nhà đầu tư Mỹ đánh giá cơ
sở hạ tầng của nước nhận đầu tư như là điều kiện cần thiết tối quan trọng cho
hoạt động sản xuất và kinh doanh của các TNC Mỹ diễn ra một cách trôi
chảy; (8) Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá cao hơn là lao động rẻ;
143
(9) Các công ty Mỹ rất chú ý đến cơ cấu công nghiệp của các nước nhận đầu
tư, tạo điều kiện để các cơ cấu này dịch chuyển theo hướng phù hợp cơ cấu
kinh tế của Mỹ và bổ trợ cho ngành công nghiệp Mỹ.
Các đặc điểm FDI Mỹ ra nước ngoài trên đây cũng đã được thể hiện rõ
trong đầu tư của Mỹ vào Việt Nam kể từ khi thực hiện Luật Đầu tư nước
ngoài cho đến nay.
Thứ tư, động thái đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam gắn liền với các
sự kiện cải thiện quan hệ giữa hai nước, gắn liền với việc Việt Nam hội nhập
sâu rộng vào nền kinh tế thế giới: Việt Nam gia nhập ASEAN (7/1995), bình
thường hóa quan hệ Việt Mỹ (7/1995) và ký kết Hiệp định thương mại song
phương Việt - Mỹ (12/2001), Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế
giới (1/2007). Sau các sự kiện này, quan hệ thương mại, đầu tư Việt - Mỹ
đều ghi dấu sự cải thiện đáng kể. Từ khi Việt Nam thực hiện Luật Đầu tư
nước ngoài đến nay, đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam đã trải qua 3 làn
sóng lớn gắn liền với các sự kiện trên. Làn sóng đầu tư thứ nhất (1988 -
2001) gắn liền với sự kiện Việt Nam gia nhập ASEAN và bình thường hóa
quan hệ Việt - Mỹ. Làn sóng đầu tư thứ hai (2002 - 2007) gắn liền với việc
thực hiện BTA và Việt Nam gia nhập WTO. Làn sóng đầu tư thứ ba (từ năm
2008 đến nay) gắn liền với khủng hoảng tài chính và suy thóa kinh tế toàn
cầu, gắn với việc nâng cấp quan hệ Việt - Mỹ lên quan hệ đối tác toàn diện,
gắn với việc Mỹ xoay trục sang khu vực Châu Á. Sắp tới đây, Hiệp định TPP
được ký kết và có hiệu lực sẽ mở ra thời kỳ mới cho đầu tư Mỹ vào Việt
Nam. Thực chất TPP là hiệp định thương mại tự do xuyên khu vực, vì vậy sẽ
mở ra thời kỳ mới cho quan hệ thương mại Việt - Mỹ. Nhưng như mọi người
đều biết, đối với Mỹ, thương mại và đầu tư luôn gắn liền với nhau, hỗ trợ nhau, ở
đâu thương mại tăng lên thì ở đó đầu tư xuất hiện và hỗ trợ cho thương mại.
Thứ năm, FDI Mỹ vào Việt Nam tác động tích cực đến phát triển kinh tế
Việt Nam, đặc biệt là thúc đẩy xuất khẩu sang Mỹ. Các dự án đầu tư của Mỹ
vào Việt Nam ngày càng tập trung vào sản xuất hàng hóa để xuất khẩu ra thị
trường thế giới, trong đó có thị trường Mỹ, đặc biệt sau khi Việt Nam gia
144
nhập WTO.
Thứ sáu, tuy có những bước nhảy vọt, nhưng đầu tư của Mỹ vào Việt
Nam còn khá khiêm tốn, quy mô dự án chưa thực sự lớn, các dự án FDI
thuộc các lĩnh vực có tiềm năng và thế mạnh của Mỹ vào Việt Nam trong các
lĩnh vực như điện tử, công nghệ thông tin, y tế, giáo dục, ... đã xuất hiện
nhưng số lượng còn hạn chế. Mặc dù Mỹ là đối tác xuất khẩu hàng đầu của
Việt Nam, nhưng đầu tư Mỹ vào Việt Nam mới chỉ xếp thứ 7 trong số các
nhà cung cấp FDI cho Việt Nam. Nguyên nhân xuất phát từ cả hai phía. Về
phía Mỹ, thị trường đầu tư của Mỹ rất rộng lớn nên các nước muốn thu hút
FDI Mỹ phải thực sự hấp dẫn. Về phía Việt Nam, việc năng suất lao động
còn thấp, mức độ ổn định của chính sách chưa cao, môi trường đầu tư kinh
doanh, pháp lý chưa thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư Mỹ.
Thứ bảy, FDI Mỹ vào Việt Nam còn khá nhiều hạn chế. Về lĩnh vực đầu
tư, dòng vốn FDI Mỹ chủ yếu tập trung vào lĩnh vực dịch vụ và công nghiệp
do dịch vụ là lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài lớn nhất của Mỹ. Tuy nhiên điều
đáng chú ý là dòng vốn FDI của Mỹ vào Việt Nam tập trung nhiều vào lĩnh
vực dịch vụ lưu trú, ăn uống, nhà hàng và khách sạn là những lĩnh vực không
trực tiếp thúc đẩy tăng năng lực sản xuất của Việt Nam. Về địa bàn đầu tư,
FDI Mỹ vào Việt Nam chủ yếu tập trung ở phía Nam, đặc biệt là tỉnh Bà Rịa
– Vũng Tàu chiếm gần 50% tổng vốn FDI Mỹ vào Việt Nam, ít đầu tư vào
khu vực miền Trung và miền Bắc, điều đó gây sự bất bình đẳng trong phát
triển kinh tế giữa các vùng miền. Về chuyển giao công nghệ, công nghệ
trong các dự án FDI Mỹ tại Việt Nam thường không phải là những công nghệ
mới mà là những công nghệ đã lỗi thời tại Mỹ.
Thứ tám, FDI của Mỹ vào Việt Nam đặt Việt Nam trước nhiều vấn đề
cần phải giải quyết. Đó là sự yếu kém về thể chế, kết cấu hạ tầng và chất
lượng nguồn nhân lực; thuế thu nhập doanh nghiệp cao, thị trường vốn ít hỗ trợ
cho doanh nghiệp và khả năng tiếp cận đất đai khó khăn thiếu ổn định; công
nghiệp phụ trợ thiếu hụt và phát triển chậm.
Thứ chín, triển vọng đầu tư Mỹ vào Việt Nam trong bối cảnh quốc tế,
145
khu vực là khá sáng sủa, một khi Mỹ thực sự thực hiện chiến lược xoay trục
và Hiệp định TPP được quốc hội các nước thành viên (đặc biệt là Quốc hội
Mỹ) thông qua và có hiệu lực. Đây là hai điểm nhấn có ý nghĩa quyết định để
Mỹ lên ngôi vị số 1 trong danh sách các nhà cung cấp FDI cho Việt Nam
trong giai đoạn 2016 - 2020. Tuy nhiên, còn một nhân tố nữa cũng có ý nghĩa
quyết định FDI Mỹ vào Việt Nam, đó là các biện pháp cải cách của phía Việt
Nam để giải quyết những vấn đề đặt ra cho Việt Nam. Trong các vấn đề đó,
146
nổi bật nhất là cải cách thể chế, trong đó có thể chế kinh tế thị trường.
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
1. Nguyễn Minh Tuấn, Thị trường Hoa Kỳ: Thêm một lý do để Việt Nam đẩy
mạnh gia nhập WTO, Tạp chí Châu Mỹ Ngày nay, số 1/2006, tr 39-44.
2. Nguyễn Minh Tuấn và Vũ Đăng Linh, Khủng hoảng tài chính – tín dụng
ở Mỹ và một số vấn đề với Việt Nam, Tạp chí Châu Mỹ Ngày nay, số
2/2009, tr 29-39;
3. Nguyễn Minh Tuấn, Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ: Thực trạng và cơ
hội phát triển, Tạp chí Châu Mỹ Ngày nay, số 10/2010, tr 12-16;
4. Nguyễn Minh Tuấn và Vũ Đăng Linh, Quan điểm và chính sách của Mỹ
đối với vấn đề hội nhập ở Đông Á, Tạp chí Châu Mỹ Ngày nay, số
3/2010, tr 30-37;
5. Nguyễn Minh Tuấn, Thương mại Mỹ: Khủng hoảng và phục hồi, Tạp chí
Châu Mỹ Ngày nay, số 10/2014, tr 3-12;
6. Nguyễn Thanh Bình và Nguyễn Minh Tuấn, Nợ công và vấn đề nâng trần
nợ công Mỹ: Nguyên nhân và giải pháp, Tạp chí Châu Mỹ Ngày nay,
số 1/2014, tr 16-21;
7. Nguyễn Minh Tuấn, Đầu tư trực tiếp của Mỹ và khả năng thu hút của
Việt Nam, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và Chính trị Thế giới, số
8/2015, tr 44-51;
8. Nguyễn Minh Tuấn, FDI của Mỹ tại Việt Nam: Thực trạng và triển vọng,
147
Tạp chí Châu Mỹ Ngày nay, số 8 (209)/2015, tr 43-51.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Nguyễn Thị Kim Anh (2012), “Môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài ở
Việt Nam”, Kỷ yếu hội thảo Giải pháp thúc đẩy và nâng cao chất lượng
dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam của Bộ Kế hoạch và Đầu tư;
2. Nguyễn Thị Kim Anh - Nguyễn Tuấn Thanh (2011), “Thu hút đầu tư
của Intel vào Costa Rica và bài học cho Việt Nam”, tạp chí Nghiên
cứu Châu Phi và Trung Đông, số 11/2011;
3. Lại Lâm Anh-Vũ Xuân Trường (2007), “Đầu tư trực tiếp của Mỹ vào
Việt Nam: Thực trạng và triển vọng”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế
và Chính trị thế giới, số 6/2007;
4. Vũ Thành Tự Anh (2009), “Sự suy giảm dòng vốn nước ngoài và phản ứng
chính sách”, Báo đầu tư điện tử, www.wir.com.vn, ngày 29/4/2009.
5. Vũ Đình Ánh (2011), “Cơ cấu nguồn vốn tối ưu cho tăng trưởng bền
vững”, Những giải pháp cần thực hiện và đóng góp ý kiến cho Dự
thảo Kế hoạch phát triển KT-XH 2011-2015;
6. Đỗ Đức Bình (2011), “Một số ý kiến về định hướng chính sách nhằm thu
hút FDI thực sự có hiệu quả vào Việt Nam giai đoạn 2011-2020”,
Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 1/2011;
7. Đỗ Đức Bình (2010), “Tái cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
Nam”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển số 1/2010;
8. Đỗ Đức Bình (2009), “FDI tại Việt Nam – những bất cập về chính sách
và giải pháp hoàn thiện”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển số 7/2009;
9. Nguyễn Thanh Bình và Nguyễn Minh Tuấn (2014), “Nợ công và vấn đề
nâng trần nợ công Mỹ: Nguyên nhân và giải pháp”, Tạp chí Châu
148
Mỹ Ngày nay, số 1/2014, tr16-21;
10. Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Trung Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội
quốc gia (2015), “20 năm quan hệ thương mại và đầu tư Việt Nam –
Hoa Kỳ: Một số thành tựu nổi bật và triển vọng”, tr. 27;
11. Nguyễn Thị Cành và Trần Hùng Sơn (2009), “Vai trò của FDI đối với
phát triển và tăng trưởng”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển số 7/2009;
12. CIEM (2010a), “Tác động của hội nhập KTQT đối với nền kinh tế sau 3
năm Việt Nam gia nhập WTO”, tháng 12/2010;
13. CIEM (2010b), “Nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng FDI tại Việt
Nam”, Báo cáo chuyên đề, Hà Nội 2010;
14. Cục Đầu tư nước ngoài, “Kinh nghiệm thu hút FDI vào nông nghiệp của
một số nước Châu Á và khả năng vận dụng vào Việt Nam”.
http://www.mpi.gov.vn/portal/page/portal/bkhdt/tttnn(fdi)/csdt?action=2;
15. Nguyễn Tấn Dũng (2011), “Nội dung chủ yếu của chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và nhiệm vụ trọng tâm của năm 2011”,
Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 1/2011, tr. 2-9.
16. Nguyễn Khánh Duy (2006), “Triển vọng FDI vào Việt Nam trong bối
cảnh hội nhập 2006-2010”, tạp chí Phát triển kinh tế, số 6/2006;
17. Phan Thị Thành Dương (2006), “Chống chuyển giá ở Việt Nam”, tạp chí
Khoa học và pháp luật, số 2 (33)/2006;
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VIII”, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội;
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), “Báo cáo chính trị của Ban chấp hành
Trung ương Đảng khoá VIII”,
http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCN
VietNam/ThongTinTongHop/noidungvankiendaihoidang?categoryId
149
=10000714&articleId=10038377;
20. Lê Hồng Hiệp (2014), “Sóng ngầm địa chính trị khu vực và lựa chọn
của Việt Nam”,http://nghiencuuquocte.org/2014/12/28/song-ngam-
dia-chinh-tri-khu-vuc-va-lua-chon-cua-viet-nam/
21. Nguyễn Hữu Hiếu (2006), “Thu hút vốn FDI vào lĩnh vực giáo dục Việt
Nam: Thiếu tầm nhìn xa”, Tạp chí Tài chính, số 11/2006;
22. Phạm Thị Hiếu (2012), “Đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam sau
khủng hoảng tài chính”, Viện nghiên cứu Châu Mỹ, 2012;
23. Nguyễn Thị Liên Hoa (2002), “Xây dựng một lộ trình đầu tư thu hút vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam”, Tạp chí Phát triển Kinh tế, tháng 9/2002;
24. Nguyễn Thị Việt Hoa (2006), “Xu hướng tự do hóa FDI: Cơ hội và
thách thức đối với thu hút FDI vào Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ;
25. Đỗ Vũ Hưng (2012), “Rào cản môi trường kinh doanh: Đánh giá từ góc
nhìn của các doanh nghiệp Mỹ”, Viện Nghiên cứu Châu Mỹ, 2012;
26. Nguyễn Thị Hường và Bùi Huy Nhượng (2003), “Những bài học rút ra
qua so sánh tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Trung Quốc và
Việt Nam”, tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 68/2003;
27. Phạm Thanh Khiết (2010), “Vấn đề thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế,
số 9/2010, tr.39-46
28. Vũ Khoan (2011), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời kỳ mới”,
Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 20/02/2011;
29. Lương Văn Khôi (2015), “Bối cảnh kinh tế thế giới 2015 -2020”, Trung
tâm thong tin và dự báo kinh tế xã hội quốc gia,
http://www.ncseif.gov.vn/sites/vie/Pages/boicanhkinhtethegioi-nd-16707.html;
30. Phạm Xuân Kiên (2008), “The impact of Foreign direct investment on
the labor productivity in host countries: the case of Vietnam”,
http://citeseerx.ist.psu.edu/viewdoc/download?doi=10.1.1.524.8866&
150
rep=rep1&type=pdf;
31. Nguyễn Phi Lân (2006), “FDI in Vietnam: Impact on Economic growth and
Domestic Investment”, University of South Australia, Australia, 10/2006;
32. Lê Bộ Lĩnh (2002), “Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hà Nội và
Thành phố Hồ Chí Minh”, NXB Khoa học xã hội, 2002;
33. Đỗ Hoàng Long (2008), “Tác động của toàn cầu hoá kinh tế đối với
dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam”, luận án Tiến sĩ;
34. Mai Đức Lộc (1993), “Đặc điểm cơ bản của dòng đầu tư trực tiếp nước
ngoài trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương”, Tạp chí Những vấn
đề Kinh tế thế giới, số 5/1993;
35. Luận văn thạc sĩ, “Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam từ khi hai
nước bình thường hoá quan hệ: Thực trạng và triển vọng”, trang 23,
http://thuvienluanvan.info/luan-van/de-tai-dau-tu-truc-tiep-cua-hoa-
ky-vao-viet-nam-tu-khi-hai-nuoc-binh-thuong-hoa-quan-he-thuc-
trang-va-trien-vong-18785/;
36. Nguyễn Mại (2003), “FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam”, Báo đầu
tư, 24/12/2003;
37. Nguyễn Mại (2004), “Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài FDI của Việt
Nam: Thành quả và việc hoàn thiện chính sách”. Tài liệu Hội thảo quốc
tế về: “Việt Nam gia nhập WTO: Cơ hội và Thách thức”, tháng 3/2004;
38. Nguyễn Mại (2008), “Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đến FDI
tại Việt Nam”, Báo đầu tư điện tử ngày 11/11/2008,
http://www.vir.com.vn/Client/Dautu/dautu.asp?CatID=63&DocID=17710;
39. Nguyễn Ngọc Mạnh và Lưu Ngọc Trịnh (2010), “Quan hệ Việt Nam –
Mỹ hướng tới tầm cao mới”, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và Chính
151
trị thế giới, số 7/2010, tr.58-67.
40. MPI - STAR - Viet Nam (2007), “Đánh giá tác động của 5 năm triển khai
Hiệp định Thương mại Việt Nam - Mỹ đối với thương mại, đầu tư và cơ
cấu kinh tế của Việt Nam”, NXB Chính trị quốc gia, H. 2007;
41. MPI - STAR - Viet Nam (2005), “Tác động của Hiệp định Thương mại
song phương Việt Nam - Mỹ đến đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu
tư trực tiếp của Mỹ tại Việt Nam”, NXB Chính trị quốc gia, H. 2005;
42. MPI - STAR-Viet Nam (2002), “Đánh giá tác động kinh tế của Hiệp
định Thương mại song phương Việt nam - Mỹ”, NXB Chính trị quốc
gia, H. 2003;
43. Trần Minh Nguyệt (2009),“Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ ở Việt Nam”,
Viện nghiên cứu Châu Mỹ, 2009;
44. Phùng Xuân Nhạ (2009), “Nhìn lại vai trò của đầu tư trực tiếp nước
ngoài trong bối cảnh phát triển mới của Việt Nam”, Tạp chí Những
vấn đề Kinh tế và Chính trị Thế giới, số 2/2009;
45. Phùng Xuân Nhạ và cộng sự (2010), “Điều chỉnh chính sách FDI ở Việt
Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”, Nhà xuất bản Đại học
Quốc gia Hà Nội, tr241-242;
46. Phòng Thương Mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) (2011), “Báo cáo
Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI) ở Việt Nam năm 2011”,
http://www.pcivietnam.org/bao-cao-pci-c17.html-trang-2?a=s;
47. Đoàn Ngọc Phúc (2004), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam –
Thực trạng, những vấn đề đặt ra và triển vọng”, Tạp chí Nghiên cứu
Kinh tế, số 315/2004;
48. Phạm Thái Quốc (2008), “Điều chỉnh chính sách thu hút FDI trong quá
trình hội nhập quốc tế ở Trung Quốc từ năm 1979 đến nay”, Tạp chí
152
Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới, số 7/2008;
49. Quốc hội (2014), “Luật đầu tư”, http://thuvienphapluat.vn/van-ban/Dau-
tu/Luat-Dau-tu-2014-259729.aspx;
50. Trần Thị Ngọc Quyên (2007), “Xúc tiến đầu tư – một trong những yếu tố
nhằm tăng cường hiệu quả thu hút FDI”, tạp chí Những vấn đề Kinh
tế và Chính trị thế giới, số 1/2007;
51. Lê Kim Sa (2002), “Đầu tư nước ngoài của Hoa Kỳ ở khu vực Châu Á -
Thái Bình Dương trong những năm cuối thế kỷ XX”,Tạp chí Châu
Mỹ ngày nay, số 4/2002, tr 16- 24;
52. Nguyễn Hồng Sơn (2006), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Triển
vọng thế giới và thực tiễn Việt Nam”, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế
và Chính trị thế giới, số 6/2006;
53. Nguyễn Thanh Sơn (2011), “Việt Nam - Mỹ hướng tới một tương lai
phồn vinh”, Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, tháng
1+2/2011, tr.20-22.
54. Nguyễn Thiết Sơn (2010), “Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Mỹ”,
thuộc Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước
KX.01/06-10 “Những vấn đề cơ bản của phát triển kinh tế Việt Nam
đến năm 2020”;
55. Nguyễn Thiết Sơn (2004), “Mỹ kinh tế và quan hệ quốc tế”, NXB Khoa
học xã hội, 2004.
56. Nguyễn Thiết Sơn (2004), “Việt Nam - Mỹ quan hệ thương mại và đầu
tư”, NXB Khoa học xã hội, 2004.
57. Nguyễn Thiết Sơn (1993), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Mỹ - Một số
vấn đề và ý kiến”, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế Thế giới, số 4/1993;
58. Tô Trung Thành và cộng sự (2009), “Báo cáo tổng quan những nghiên
cứu về môi trường kinh doanh Việt Nam”, Bài nghiên cứu NC-
10/2009, Trung tâm Nghiên cúu Kinh tế và Chính sách, VEPR,
153
Hanoi, 2009;
59. Nguyễn Xuân Thành (2010), “Những trở ngại về cơ sở hạ tầng của Việt
Nam”, Nghiên cứu chuẩn bị Tài liệu Đối thoại Chính sách Hardvard-
UNDP, Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc Việt Nam;
60. Phan Văn Tâm (2011), “Chuyển giá trong các doanh nghiệp có vốn FDI
– thực tiễn ở Trung Quốc và hướng đi cho Việt Nam”, Tạp chí Quản
lý Kinh tế, số 38/2011;
61. Thạch Thảo (2015), “Dự báo tăng trưởng kinh tế 2016 của Mỹ và Trung
Quốc”,http://www.baomoi.com/Du-bao-tang-truong-kinh-te-2016-
cua-My-va-Trung-Quoc/c/17967964.epi;
62. Phan Hữu Thắng (2015): “Đầu tư vào Việt Nam: Mỹ sẽ là số một”,
www.doanhnhansaigon.vn/van-de/dau-tu-vao-viet...se.../1090130/;
63. Nguyễn Xuân Thắng (2006), “Nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng
FDI của Việt Nam trong tiến trình hội nhập”, tạp chí Kinh tế và dự
báo, số 3/2006;
64. Hoàng Thị Thu (2009), “Which factors attact FDI inflow in Vietnam?”,
Vietnam’s social-economic Development, A Quarterly Review,
No.57, March 2009;
65. Thu Thủy (2015):“Bước ngoặt trong thu hút FDI vào Việt Nam”,
www.baodatviet.vn ngày 19/7/2015;
66. Nguyễn Trung (2006), “20 năm đổi mới, vẫn “chưa thân thiện” với
FDI”, tạp chí Phát triển Kinh tế, số 6/2006;
67. Nguyễn Xuân Trung (2006), “Đầu tư của các công ty xuyên quốc gia Mỹ
và các vấn đề đặt ra đối với Việt Nam”, Tạp chí Châu Mỹ này nay, số
11/2006, tr3-17;
68. Nguyễn Xuân Trung và Lê Hải Hà (2009), “Ảnh hưởng của khủng
hoảng kinh tế toàn cầu đối với đầu tư của Mỹ vào Việt Nam”, Tạp chí
154
Châu Mỹ Ngày nay, số 11/2009;
69. Nguyễn Xuân Trung (2011),“Một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 2011-
2020”, luận án Tiến sĩ;
70. Bùi Nguyễn Anh Tuấn (2010), “Chính sách cạnh tranh từ góc độ quốc
gia đang phát triển”, Bài nghiên cứu NC-18, Trung tâm Nghiên cúu
Kinh tế và Chính sách, VEPR, Hà nội, 2010;
71. Nguyễn Minh Tuấn (2007), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Mỹ tại Việt
Nam: Thực trạng và triển vọng”, Viện Nghiên cứu Châu Mỹ, 2007;
72. Nguyễn Văn Tuấn (2005), “Tự do hoá Đầu tư và yêu cầu đặt ra đối với
việc hoàn thiện môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt
Nam”, tạp chí Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới, số 2/2005;
73. Nguyễn Đồng Anh Xuân (2011), “Giải pháp tăng cường thu hút Đầu tư
trực tiếp nước ngoài từ Mỹ vào Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ;
74. Vụ Tổng hợp Kinh tế - Bộ Ngoại giao (2013), “Tái cơ cấu kinh tế gắn với
chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững tại Việt
Nam”,http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/cn_vakv/america/nr1303
25114730/nr130325115520/ns130528173944/view;
75. http://baodientu.chinhphu.vn/home/Xuc-tien-dau-tu-vao-Viet-Nam-tai-
Hoa-ky/20119/98939.vgp;
76. http://baoninhthuan.com.vn/news/15712p25c44/xuc-tien-dau-tu-vao-
viet-nam-tai-hoa-ky.htm;
77. http://baodatviet.vn/kinh-te/doanh-nghiep/my-dau-tu-manh-co-hoi-viet-
nam-tiem-can-singapore-3273697/;
78. http://cafef.vn/20101128031223195CA33/dau-tu-my-vao-viet-nam-tien-
nhanh-den-thu-hang-so-mot.chn;
79. http://dddn.com.vn/20119016021030248cat113/gioi-thieu-chinh-sach-
155
thu-hut-dau-tu-vao-viet-nam-o-my.htm;
80. http://fia.mpi.gov.vn/tinbai/4156/Xu-huong-dau-tu-ra-nuoc-ngoai-cua-My;
81. http://nld.com.vn/2011092012037619p0c1002/khuyen-khich-doanh-
nghiep-my-dau-tu-vao-viet-nam.htm;
82. http://vietstock.vn/ChannelID/761/Tin-tuc/197968-viet-nam-la-tam-
diem-dau-tu-cua-my-tai-chau-a.aspx;
83. http://m.vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/269707/thao-chay-khoi-trung-
quoc-viet-nam-len-so-1-asean.html;
84. http://www.baocongthuong.com.vn/p0c211n4444/my-dan-dau-dau-tu-
fdi-vao-viet-nam.htm;
85. http://www.diendandautu.com.vn/p0c291n587/hoa-ky-se-tang-cuong-
dau-tu-vao-viet-nam.htm;
86. http://vneconomy.vn/thi-truong/viet-nam-xuat-sieu-145-ty-usd-vao-my-
20150901110127210.htm;
87. http://www.vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/265892/hoan-tat-dam-phan-hiep-
dinh-lich-su-tpp.html;
Tiếng Anh
88. ADB (2011), Asia Development Outlook 2011;
89. Andres Lopez (2010), “FDI and Development: After the Washington Consensus”;
90. Anh, Nguyen Thi Tue và cộng sự (2006), “The Impact of FDI on
Economic Growth in Vietnam”, CIEM và Sida;
91. Blomstrom, M., R. Lipsey and M. Zegan (1994),“What explains
developing country growth?” NBER Working Paper No. 4132,
National Bureau for Economic Research, Cambridge, Massachusetts;
92. Borensztein, E., J. De Gregorio, and J.W. Lee (1998),“How Does
Foreign Direct Investment Affect Economic Growth?” in Journal of
156
International Economics 45, p.115–135;
93. Buckley, P.J. and Casson, M.C. (1976),“The Future of the Multinational
Enterprise”, Homes & Meier: London;
94. Caves, R.E. (1996),“Multinational Enterprise and Economic Analysis”,
2nd ed. Cambridge: Cambridge University Press;
95. Chengang Wang, Yingqi Wei và Xiaming Liu (2007),“Does China rival
its neighbouring economies for inward FDI?”, https://www.
http://unctad.org/en/Docs/iteiit20074a2_en.pdf;
96. Cushman, D.O. (1985),“Real Exchange Rate Risk, Expectations and the
Level of Direct Investment” in Review of Economics and Statistics,
67 (2), 297-308;
97. Dicken P. (1998), “Global shift. Transforming the World Economy
Third Edition. Paul Chapman Publishing Ltd. 1998 London”, 490 p.;
98. Dicken P. (2003), “Global shift. Reshaping the global economic map in
the 21st century. Forth Edition SAGE Publications Ltd. 2003
London”, 656 p;
99. Douglas Hotlz Eakin (2005), “Why does U.S. Investment Abroad Earn
Higher Returns Than Foreign Investment in the United States?”;
100. Dunning, J. H. (1973): “The determinants of international production”,
Oxford Economic Papers 25;
101. Dunning Jonh H. (1977): “Trade, location of economic activity and the
MNC: A search for an approach in the international allocation of
economic activity”, Edited by Bertil Ohlin Hesselborn and per
Magues Wijman, Newyork, Holmes and Meier Rublisher;
102. Dunning, J. H. (1980): “Toward an eclectic theory of international
production: Some empirical tests” in Journal of International
157
Business Studies issue 11;
103. Dunning, J. H. (1988): “The Eclectic Paradigm of International
Production: A restatement and some possible extensions”, in Journal
of International Business Studies issue 19 (Spring);
104. Dunning, Jonh H and Narula, R. (1996): “FDI and Government: Catalists
for Economic Restrucuring”, Routledge, London and New York;
105. Energy Information administration – Official Energia Statistic from US
Government – www.eia.doe.gov;
106. Fabienne Fortanier (2007), “Foreign direct investment and host country
economic growth: Does the investor’s country of origin play a role?
Transnational Corporations”, Vol. 16, No. 2 (August 2007);
107. Freeman (2002), “Foreign Direct Investment in Vietnam: An Overview”,
http://jcvietnam.com/ForeignDirectInvestmentVietnamOverview.pdf;
108. Gabriele Tondl, Jorge A.Fornero (2008), “Sectoral productivity and
spillover effects of FDI in Latin America”,
http://www.fiw.ac.at/fileadmin/Documents/Publikationen/Working_P
aper/N_053-Tondl_Fornero.pdf;
109. George Akerlof (1970),“The Market for ‘Lemons’: Quality Uncertainty
and the Market Mechanism”, Quaterly Journal of Economics;
110. Gorg, H., Greenaway D. (2002): “Much Ado About Nothing? Do
Domestic Firms Really Benefit from Foreign Direct Investment?”,
Research Paper 2001/37;
111. Graham, E.M. and Krugman, P.R. (1998): “FDI in the United States”,
Institute for International Economics, Washington, D.C.;
112. Hanson, G. (2001): “Should Countries Promote Foreign Direct
Investment?”, G-24 Discussion Papers 9, United Nations Conference
158
on Trade and Development;
113. Hennart J.F. (1982): “A theory of multinational enterprise”, University
of Michigan Press;
114. Hirschman, A. O. (1958): “The Strategy of Economic Development”,
New Haven: Yale University Press;
115. Hossein Varamini và Anh Vu (2007), FDI in Vietnam and its impact on
Economy growth, International Journal of Business Research, Nov.2007;
116. Hymer, S., 1976 (1960 dissertation): “The International Operations of Nation
Firms: A Study of Foreign Direct Investment”, Cambridge, MLT Press;
117. Hosseini H. (2005): “An economic theory of FDI: A behavioural
economics and historical approach”, The Journal of Socio-
Economics, 34,p 530-531;
118. IMF
(1993), “Balance of Payments Manual”, tr. 86,
https://www.imf.org/external/np/sta/bop/BOPman.pdf;
119. James K.Jackson (2008, 2011), U.S. Direct Investment Abroad: Trends
and Current Issues,
https://file.wikileaks.org/file/crs/RS21118.pdf,http://digital.library.un
t.edu/ark:/67531/metadc84103/m1/1/high_res_d/RS21118_2011Feb0
1.pdf;
120. James K.Jackson (2012), Foreign Direct Investment in the United
States: An Economic Analysis,
ttps://www.researchgate.net/publication/235098559_Foreign_Direct_
Investment_in_the_United_States_An_Economic_Analysis;
121. Joosung Jun (1990), “U.S. Tax Policy and Direct Investment Abroad”,
http://www.nber.org/chapters/c7205.pdf;
122. Kindleberger C.P.
(1969): “American Business Abroad”, The
159
International Executive 11, p.11–12;
123. Kojima, Kiyoshi, Osawa, Terutomo (1984): “Micro and macro-economic
models of foreign direct investment”. Hitosubashi Journal of Economics,
http://hermes-ir.lib.hit-u.ac.jp/rs/bitstream/10086/7907/1/HJeco0250100010.pdf;
124. Lipsey R (2002), “Home and Host Country Effects of FDI”, Lidingö, Sweden;
125. Mac Dougall (1960), “Benefit and costs of Private Investments from
abroad: A theorial Approach”, Economic Record;
126. Marcela Meirelles Aurelio (2006), “Going Global: The Changing
Pattern of U.S. Investment Abroad”,
http://www.rrojasdatabank.info/onfdi/usaglobalfdi.pdf;
127. Matthew P. Goodman (2015), “Estimate based on Asia’s share of
overall U.S. inbound FDI”,
http://csis.org/files/attachments/ts150226_Goodman.pdf;
128. Mihir A. Desai, C. Fritz Foley, and James R. Hines Jr. (2011), “Tax
Policy and the Efficiency of US Direct Investment Abroad”,
http://hbswk.hbs.edu/item/tax-policy-and-the-efficiency-of-us-direct-
investment-abroad;
129. Mira Wilkins (1989): “The History of Foreign Investment in the United
States to 1914”, Harvard Studies in Business History, tr. 89, tr.144;
130. Mundell, R A. (1957): “International Trade and Factor Mobility”,
American Economic Review, Vol. 47;
131. OECD Benchmark Definition of Foreign Direct Investment, forth
edition (2008), tr 48-49;
132. Office of Industries của United Stades International Trade Commission
(2001); “Examination of U.S. Inbound and Outbound Direct
Investment”, http://www.usitc.gov/publications/332/pub3383.pdf;
133. Peter A. Langerman
(2015), “2015 Investment Perspective”,
160
http://www.franklintempleton.hu/downloadsServlet?docid=i4qg3i0w;
134. Richard W.Brown (2001), Examination of U.S. inbound and outbound
Direct Investment, 2001;
135. Smarzynska, B (2002): “Spillovers from Foreign Direct Investment
through Backward Linkages: Does Technology Gap Matter?”
Mimeo, World Bank;
136. The National Association of Realtors (2010), “Foreign investment in US
real estate”,
http://www.realtor.org/sites/default/files/reports/2010/foreign-
investment-in-US-real-estate-2010-06.pdf;
137. Vernon R. (1966), “International investment and international trade in
the product cycle”. QuarterlyJournal of Economics 80, pp. 190-207;
138. UNCTAD (1991, 1995, 2001, 2002, 2003, 2005, 2007, 2011, 2012,
2013), “World Investment Report”;
139. UNCTAD (2013), Division on Investment and Enterprise: Results and
Impact Report 2013, 2013;
140. United Nations
(1973), “Multinational Corporations in World
Development”, New York: United Nations, 1973, trang 135, 147;
141. U.S. Chamber of Commerce (2015), t “Secure U.S. Investment
Overseas”, https://www.uschamber.com/issue-brief/secure-us-
investment-overseas;
142. https://www.imf.org/external/pubs/ft/weo/2015/update/01/;
143. https://www.whitehouse.gov/the-press-office/2014/11/11/fact-sheet-
161
22nd-annual-apec-economic-leaders-meeting;
PHỤ LỤC FDI của Mỹ vào Việt Nam phân theo vùng đầu tư (chỉ tính các dự án còn hiệu lực đến ngày 20/7/2015)
TT
Địa phương
Số dự án
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37
Bà Rịa-Vũng Tàu Hải Phòng Bình Dương Cà Mau TP Hồ Chí Minh Đồng Nai Đà Nẵng Bình Định Hà Nội Hải Dương Phú Yên Quảng Ninh An Giang Dầu khí Hưng Yên Thừa Thiên-Huế Tây Ninh Ninh Thuận Bình Phước Long An Kiên Giang Bến Tre Bình Thuận Bắc Ninh Hà Nam Đồng Tháp Vĩnh Phúc Bạc Liêu Quảng Trị Cần Thơ Nam Định Hậu Giang Vĩnh Long Hòa Bình Khánh Hòa Trà Vinh Sóc Trăng
Tổng vốn đầu tư (USD) 5,301,200,477 1,224,727,752 781,785,707 773,525,000 768,083,474 382,474,237 353,812,688 262,650,000 221,059,980 144,800,000 130,915,000 119,667,500 96,610,012 79,400,000 67,611,800 56,790,690 52,300,000 38,938,000 25,471,000 21,868,936 20,248,901 19,500,000 18,758,000 15,155,500 15,000,000 14,200,000 12,487,836 12,464,816 9,602,000 8,208,857 7,500,000 5,000,000 4,661,500 4,519,235 2,650,000 2,500,000 1,097,000
18 13 98 2 312 42 30 3 88 6 8 5 6 5 4 16 12 3 5 20 3 2 5 5 1 1 2 2 4 7 1 1 4 3 1 1 4
Vốn điều lệ (USD) 548,038,631 150,267,033 344,807,992 125,000 398,748,896 142,286,443 480,122,174 67,680,000 109,629,425 78,400,000 39,445,000 40,172,500 52,543,761 79,400,000 19,300,000 10,412,690 25,000,000 4,659,839 7,836,000 13,626,936 4,584,615 7,380,952 6,530,600 10,240,000 - 14,200,000 5,500,000 5,316,000 6,442,100 7,408,857 2,500,000 5,000,000 2,571,500 3,869,554 795,000 5,500,000 1,097,000
162
38 39 40 41 42
1 1 1 1 1
Tiền Giang Lào Cai Lâm Đồng Thái Bình Quảng Nam Tổng cộng
748
700,000 600,000 300,000 280,000 80,000 11,079,205,898
150,000 600,000 300,000 280,000 80,000 2,702,848,498
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
163