SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
DẠY VÀ HỌC TỪ VỰNG MÔN ANH
VĂN Ở TRƯỜNG THCS NHƯ TH
NÀO ĐỂ ĐẠT HIỆU QUẢ CAO
I. Đặt vấn đề:
Năm học 2007 2008 năm th6 thực hiện đi mới chương trình giáo dục
ph thông theo Chỉ thị s 14/2001/CT-TTG ngày 16/6/2001 của Thủ tướng
chính phvà Nghquyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội về việc đi mới giáo
dục phổ thông(ĐMGDPT ) trên các mặt : Nội dung SGK; phương pháp dạy
hc; phương tiện dạy học tổ chức đánh giá chất lượng học sinh .
Trong đó đổi mới phương pháp dạy học là mt yếu t quan trọng quyết định
thành công đổi mới giáo dục. Đổi mới phương pp dạy học được hiểu là:
“Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ đng, sáng tạo của học sinh phù hợp với
đặc điểm của từng lớp học, n hc; bồi ỡng phương pháp thọc; rèn luyện
knăng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm
vui, hứng thú học tập cho học sinh”. (Điều 24 Luật giáo dục).
Mun vậy, giáo viên phải đổi mới cách dạy theo ớng phát huy tính tích
cực, chủ động của học sinh. người tổ chức, ớng dẫn chỉ đạo để học sinh tự
tìm i, phát hin và chiếm lĩnh tri thức.
Hc sinh phải đổi mới cách học, biết cách tự học, tự phát hiện, tự giải quyết
vấn đề, tự chiếm lĩnh tri thức, rèn luyn khả năng tư duy độc lập sáng tạo.
Ngoài việc vận dụng phối hợp linh hoạt các phương pháp dạy học truyền
thống và phương pháp dy học hiện đại, người giáo viên cần phải biết lựa chọn
các hình thc dạy học thích hợp cá nhân, nhóm, cả lớp hay học hiện trường
hoặc t chức trò chơi học tập…
Hơn nữa, ngoại ngữ là môn hc yêu cu học sinh nắm được các kiến thức
bản, tối thiểu ơng đối hệ thống về tiếng Anh thực hành hiện đại, phù hợp
lứa tuổi. Có kĩ năng sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp.
Hc và thc hành ngoi ngữ được đánh giá hiệu quả cao, khi người học thể
hiện giao tiếp tốt. Việc giao tiếp đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong qtrình
hc ngoại ngữ đó là thc hành các knăng nghe, i, đọc, viết một cách hoàn
thiện. Để hoàn thiện c kỹ năng, người học nhất thiết phải nắm chắc ngữ pháp
của ngoại ngữ đó. Hơn thế nữa, vốn từ vựng tiềm tàng cần thiết đđgiao tiếp
với những người biết nói ngoại ngữ đó, nhất là giao tiếp với người bản xứ. N
vậy giáo viên hc sinh phải xác định được rằng việc hiểu và s dụng ngôn
ngtrong ngoi ngữ được đặt ra hết sức quan trọng, nhưng vốn từ vựng còn
quan trng hơn nhiều. Giao tiếp hiệu quả nếu ngôn từ, chất giọng, âm tiết
của từ vựng chính xác, thu hút được người nghe, hiểu được nội dung câu
chuyện, hoặc chủ đề được i tới. Liên quan chặt chẽ đến việc phát âm từ chính
xác đó dấu nhấn của từ, âm tận cùng của từ, nhiều phụ âm đi liền nhau trong
mt âm tiết. Còn nữa, từ được dùng trong u phải hợp với ngữ cảnh, do đó
đòi hi học sinh những hiểu biết về văn hoá, tập tục, truyền thống của đất
nước đó. Người giao tiếp sẽ nhiều bất lợi khi dùng tsai ngữ nghĩa, ngữ
cảnh có thể dẫn đến những hiểu lầm đáng tiếc, hoặc đổ vỡ trong kinh doanh,
chính tr..v..v..Nợc lại, người giao tiếp sẽ thành ng nếu họ dùng t chính
xác, thậm ctừ được dùng mang tính chất hoa mỹ, được trau chuốt đúng ngữ
cảnh và làm hài ng người nghe sẽ có tác đông mạnh mẻ đến ởng tình
cảm với đối ợng mà mình giao tiếp. Do vậy câu hỏi lớn đt ra là bng cách
nào để người học học tốt từ vựng, phát âm chuẩn, sử dụng từ vựng chính xác về
ngcảnh và ngnghĩa. Đây là câu hỏi ởng chừng như dtrả lời nhưng
hoàn toàn mt câu hỏi khó được đặt ra cho tất cả những ai đang dạy và học
ngoại ngữ nói chung, môn Tiếng Anh nói riêng.
Đthực hiện được những vấn đnêu trên, trong phạm vi của đtài i xin
được trình bày vic dạy - hc tvựng môn Anh văn trường THCS như thế
nào để đạt kết quả cao ?
II. cơ sở lí luận và thực trạng của vấn đề:
1. Cơ sở lý luận:
Nghquyết TW IV khoá VII (1993) đã đ ra nhiệm vụ “Đi mi phương pháp
dạy học tất cả các cấp học, bậc họcvà đã xác định Khuyến khích tự học” ,
phải “áp dụng những pơng pp giáo dục hiện đại để bồi ỡng cho học
sinh năng lực duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”.
Nghị quyết TW II khoá VIII (12-1996) tiếp tục khẳng định “Phải đổi mới
phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ mt chiều, rèn luyện
thành nếp duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng c phương pháp
tiên tiến pơng tiện hiện đại vào q trình dạy học, đảm bảo điều kiện và
thời gian tự học, tự nghiên cu cho học sinh”.
Điều 28 luật GD (2005) viết : Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát
huy tính tích cc, tự giác, chủ đng, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc
điểm từng lớp học, n hc. Bồi dữơng phương pháp tự học ,..., rèn luyện kỉ
năng vận dụng vào thực tiển".
Mục tiêu hc n học tiếng Anh cấp THCS nhằm hình thành phát triển
hc sinh những kiến thức ; năng cơ bản về tiếng Anh và nhng phẩm chất trí
tuệ cần thiết để tiếp tục học lên và đi vào cuộc sống lao động .
2- Thực trạng của vấn đề:
* Tình hình học sinh học ngoại ngữ ( Anh văn) ở Lệ thuỷ nói chung:
Qua qtrình giảng dạy , qua các đợt sinh hoạt chuyên n liên trường và
qua trao đổi với đng nghiệp bản thân thấy tình hình học tập Anh n còn bc
lộ một số nhược điểm sau:
- Về phía học sinh:
Nhìn chung hc sinh rất " sợ " và " ngại " học từ mới , việc sử dụng từ còn
nhiều hạn chế như: viết sai chính tả , pt âm từ sai, sử dụng từ không chính
xác, không phợp với ngcảnh . Đa s các em chỉ thói quen học thuộc từ
đơn giản hoặc nghĩa của từ . Một số em chỉ học vẹt, đối phó để xung phong lên
bảng viết từ mới
sau đó khi cần ng đến thì qn mt hoặc không biết sử dụng từ như thế
nào . nhiu em thì chọc thuc hết từ mới mà các em gặp nên thy bài nào
tmới cũng nhiều dẫn đến tâm sợ và ngi học từ . Vì thế học sinh tờng có
ý thức không học nữa, hoặc học không có hiệu quả Tất cả những điều trên do
các em chưa biết cách học vựng , chưa tìm ra cho mình mt phương pháp
hc từ vựng thích hợp.
- Về phía giáo viên:
Thực tế của việc dạy và học từ vựng Lệ Thuỷ đang là vấn đđáng quan
tâm của giáo viên dạy môn Tiếng Anh. Những năm trước,c giáo viên thực sự
lúng túng khi muốn dạy từ vựng cho 1 tiết hc. Hthể dạy chàng chục từ
nếu trên mt đơn vị bài học mà không cần quan tâm đến sự liên quan của từ
với chủ đbài học, không quan tâm đến tâm trạng của học sinh hoc thậm chí
hc sinh thể dùng được từ vựng trong giao tiếp hay không. Những năm trở
lại đây, phong trào đổi mới phương pháp dạy học môn ngoại ngữ đã được thực
hiện các kỹ thuật dy từ vựng đã được tập huấn cho các giáo viên, việc sử dụng
các kthuật đó song vẫn còn lúng túng khi mun gợi ý một từ thông qua đồ
ng, cho dụ, giải thích từ mình cần dạy như thế nào đthật ngắn gọn, dễ
hiểu, nhất là nhng từ trừu ợng. Trong việc chọn từ đdy cho một tiết học,
ôn tập hoặc củng cố lại từ đã học trở thành mt gánh nặng cho giáo viên, do
vậy họ có thể tảng lờ việc ôn từ đã hc nhng tiết học cơ hội ôn từ ..vv..
Mt thực trạng hết sức buồn là việc pt âm từ không chính xác làm cho hc
sinh gặp không ít khó khăn trong giao tiếp, kể ckhi phải thay đổi giáo viên b
n các năm học. đây thể nói đến tính mất chính xác trong phát âm ban
đầu của một sít giáo viên và phần đông học sinh
tham gia học ngoại ngữ. Từ những vấn đtrên i thc sự phải đầu thời
gian cho việc soạn và dy từ vựng như thế nào đhọc sinh thích học từ vựng
i riêng và thích hc bộ môn tiếng Anhi chung.