BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

KIỀU ĐỨC MẠNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG CỦA BẢO TÀNG VĂN HỌC VIỆT NAM

ĐỀ ÁN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

Hà Nội, năm 2025

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

KIỀU ĐỨC MẠNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG CỦA BẢO TÀNG VĂN HỌC VIỆT NAM

ĐỀ ÁN THẠC SĨ Ngành: Quản lý văn hóa Mã số: 8229042 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Anh Quyên

Hà Nội, năm 2025

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề án “Tổ chức hoạt động giáo dục cho học sinh phổ thông của Bảo tàng Văn học Việt Nam” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi. Các trích dẫn sử dụng trong đề án có nguồn gốc, được chú thích rõ ràng. Các kết quả nghiên cứu trong đề án do học viên tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và chưa công bố trong nghiên cứu nào khác.

Hà Nội, ngày 11 tháng 08 năm 2025 Tác giả đề án

Kiều Đức Mạnh

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc xây dựng đề án 2. Kết quả khảo sát lịch sử nghiên cứu đề tài 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4. Đối tượng và phạm vi của đề án 5. Phương pháp nghiên cứu đề án 6. Điểm mới, các đóng góp của đề án PHẦN NỘI DUNG 1. Cơ sở thực tiễn và lý luận của việc xây dựng đề án

2. Nội dung đề án

3. Điều kiện thực hiện đề án

4. Kế hoạch thực hiện đề án

1 1 1 6 6 7 8 9 9 1.1 Cơ sở thực tiễn................................................................................................ 9 1.2. Cơ sở lý luận.................................................................................................22 27 2.1. Mục đích, yêu cầu........................................................................................ 27 2.2. Thời gian, địa điểm, thành phần................................................................ 29 2.3. Nội dung, chương trình............................................................................... 29 2.4. Tổ chức thực hiện........................................................................................ 34 37 3.1.Điều kiện pháp lý.......................................................................................... 37 3.2. Điều kiện về nguồn nhân lực...................................................................... 37 3.3. Điều kiện về cơ sở vật chất và tài chính.....................................................38 39 4.1. Kế hoạch triển khai và định hướng phát triển đề án đến năm 2030...... 39 4.2. Tổ chức thực hiện........................................................................................ 41 4.3. Kinh phí và hiệu quả thực hiện đề án........................................................44 5. Một số giải pháp nhằm thúc đẩy tiến độ và bảo đảm chất lượng thực hiện đề 51 án 5.1. Đổi mới phương pháp hoạt động, đa dạng hóa các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục..............................................................................................51 5.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường chính sách, chế độ đãi ngộ với cán bộ phụ trách hoạt động giáo dục.................................................. 51

6. Kiến nghị

5.3. Đẩy mạnh công tác truyền thông, quảng bá hoạt động Bảo tàng........... 51 5.4. Tăng cường công tác phối hợp giữa Bảo tàng và các bên liên quan....... 52 5.5. Đảm bảo các nguồn lực thực hiện đề án.................................................... 53 53 6.1. Đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.................................................. 53 6.2. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo các địa phương.......................................53 6.3. Đối với Bảo tàng Văn học Việt Nam.......................................................... 54 6.4. Đối với các cơ sở giáo dục phổ thông......................................................... 54 6.5. Đối với các tổ chức, doanh nghiệp và đối tác xã hội.................................54 55 58 61

KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT Từ viết tắt Viết đầy đủ

1 THPT Trung học phổ thông

2 TTNT Trí tuệ nhân tạo

3 Giáo dục và Đào tạo GD&ĐT

4 Văn hóa, Thể thao và Du lịch VHTT&DL

5 TLPV Tư liệu phỏng vấn

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Danh mục sơ đồ Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của Bảo tàng Văn học Việt Nam........................................... Sơ đồ 2. Sơ đồ phối hợp tổ chức thực hiện đề án giáo dục văn học tại Bảo tàng Văn học Việt Nam................................................................................................................ Sơ đồ 3. Sơ đồ tổ chức thực hiện đề án tại Bảo tàng Văn học Việt Nam.....................

Danh mục biểu đồ Biểu đồ 1. Mức độ đánh giá sự gắn kết giữa nội dung giáo dục tại bảo tàng và chương trình phổ thông (Đơn vị: %)............................................................................. Biểu đồ 2. Đánh giá của học sinh về hình thức tổ chức hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Văn học Việt Nam................................................................................................. Biểu đồ 3. Đánh giá của học sinh về đội ngũ cán bộ giáo dục tại Bảo tàng Văn học Việt Nam Biểu đồ 4. Đánh giá của giáo viên về mức độ phối hợp giữa Bảo tàng Văn học Việt Nam và nhà trường (Đơn vị: %)...................................................................................

Danh mục bảng Bảng 1. Chi phí triển khai hai mô hình giáo dục tại Bảo tàng Văn học Việt Nam giai đoạn 2025–2030............................................................................................................ Bảng 2. Chi phí các hạng mục bổ trợ trong quá trình triển khai hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Văn học Việt Nam giai đoạn 2025–2030..................................................

1

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc xây dựng đề án Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số đang tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống, ngành giáo dục nói chung, bậc học phổ thông nói riêng đang đặt ra yêu cầu đổi mới toàn diện – không chỉ trong sách giáo khoa, mà còn trong cách học, cách dạy và cả không gian học tập. Một trong những hướng đi hiệu quả là tăng cường tổ chức các hoạt động học tập ngoài lớp học, giúp học sinh học bằng trải nghiệm thực tế, từ đó chủ động hơn trong việc tiếp thu kiến thức và phát triển kỹ năng.

Bảo tàng là một trong những môi trường học tập ngoài nhà trường rất giàu tiềm năng. Đặc biệt, Bảo tàng Văn học Việt Nam không chỉ lưu giữ nhiều hiện vật quý báu mà còn là nơi kết nối sinh động giữa văn học và cuộc sống. Với hệ thống trưng bày theo dòng lịch sử, bảo tàng giúp học sinh nhìn thấy cụ thể những tác giả, tác phẩm mà các em đang học trong môn Ngữ văn, giúp các em học sinh có thêm kiến thức, tư liệu và góc nhìn về môn Ngữ văn.

Tuy nhiên, hoạt động giáo dục tại bảo tàng hiện vẫn còn nhiều hạn chế: thiếu chương trình riêng cho học sinh, còn đơn điệu trong phương pháp thuyết minh, chưa áp dụng công nghệ hay trò chơi tương tác. Sự phối hợp giữa nhà trường và bảo tàng cũng còn lỏng lẻo, thiếu định hướng lâu dài.

Từ những thực tế đó, tôi lựa chọn đề án “Tổ chức hoạt động giáo dục cho học sinh phổ thông của Bảo tàng Văn học Việt Nam” là đề án thạc sĩ, nhằm nghiên cứu và thiết kế các mô hình tổ chức hoạt động giáo dục gần gũi, sinh động, mang tính trải nghiệm và ứng dụng công nghệ hiện đại. Thông qua đó, đề án góp phần đưa văn học đến gần hơn với thế hệ trẻ và tạo thêm những hình thức học tập ngoài nhà trường phù hợp với chương trình Ngữ văn hiện nay.

2. Kết quả khảo sát lịch sử nghiên cứu đề án 2.1. Nghiên cứu về vai trò giáo dục của bảo tàng Một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài: Trong các nghiên cứu quốc tế, vai trò giáo dục của bảo tàng được nhìn nhận như một chức năng trung tâm, phản ánh xu hướng chuyển biến của bảo tàng từ nơi lưu giữ hiện vật sang một thiết chế văn hóa phục vụ học tập suốt đời. Bảo tàng được nhìn nhận như môi trường học tập kiến tạo – nơi người học tiếp thu kiến thức thông qua tương tác và trải nghiệm với hiện vật. Quan điểm này nhấn mạnh rằng việc học không chỉ diễn ra trong lớp học, mà còn mở rộng ra các không gian văn hóa như

2

bảo tàng, nơi học sinh có thể phát triển tư duy phản biện và khám phá thế giới bằng nhiều giác quan1.

Một số học giả quốc tế cũng cho rằng các chương trình giáo dục tại bảo tàng cần được thiết kế phù hợp với nhu cầu của từng nhóm đối tượng, đặc biệt là học sinh phổ thông. Thay vì chỉ cung cấp thông tin một chiều, bảo tàng nên trở thành không gian học tập đa chiều, lấy người học làm trung tâm và thúc đẩy quá trình kiến tạo ý nghĩa thông qua trải nghiệm cá nhân2.

Ngoài ra, trải nghiệm học tập tại bảo tàng còn chịu ảnh hưởng của bối cảnh vật lý, tâm lý cá nhân và yếu tố xã hội – những thành tố tạo nên một môi trường học tập toàn diện3.

Một số công trình nghiên cứu trong nước: Tại Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định vai trò quan trọng của bảo tàng trong công tác giáo dục, đặc biệt là giáo dục ngoài nhà trường. Trong số đó, PGS.TS. Nguyễn Văn Huy có nhiều đóng góp đáng kể thông qua các công trình và bài viết chuyên sâu như “Một số vấn đề đặt ra trong hoạt động trưng bày và giáo dục ở bảo tàng”, trong đó ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thay đổi cách tiếp cận giáo dục tại bảo tàng, lấy người học làm trung tâm, gắn kết chặt chẽ giữa trưng bày và trải nghiệm thực tiễn4.

Bài viết “Vai trò giáo dục của bảo tàng tỉnh, thành phố ở Việt Nam hiện nay” cũng khẳng định rằng, các bảo tàng địa phương ngày càng chú trọng vai trò giáo dục, đặc biệt với đối tượng học sinh phổ thông – những người tiếp nhận tri thức lịch sử - văn hóa một cách sinh động qua hình thức trải nghiệm và tương tác trực tiếp5.

1 Hein G. (1998). Learning in the Museum (Học tập trong bảo tàng). Routledge, tr. 29–45. 2 Hooper-Greenhill E. (2007). Museums and Education: Purpose, Pedagogy, Performance (Bảo tàng và giáo dục: Mục đích, phương pháp, hiệu quả). Routledge, tr. 63–77. 3 Falk J. H., Dierking L. D. (2000), Learning from Museums: Visitor Experiences and the Making of Meaning (Học tập từ bảo tàng: Trải nghiệm của khách tham quan và quá trình tạo lập ý nghĩa), AltaMira Press, tr. 55–70. 4 Nguyễn Văn Huy (2020), “Một số vấn đề đặt ra trong hoạt động trưng bày và giáo dục ở bảo tàng”, Tạp chí Dân tộc học, số 3, tr. 15–22. 5 Tạ Thị Thảo (2022). “Vai trò giáo dục của bảo tàng tỉnh, thành phố ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 438, tr. 37–40. 6 Lê Minh Tuấn (2022), “Phát huy vai trò của bảo tàng trong đời sống hiện đại”, Báo Văn hóa, số ra ngày 18/8/2022, tr. 8.

Đồng quan điểm, tác giả Lê Minh Tuấn trong bài viết “Phát huy vai trò của bảo tàng trong đời sống hiện đại” đã nhấn mạnh bảo tàng không chỉ là nơi lưu giữ ký ức văn hóa mà còn là môi trường giáo dục mở, góp phần định hình nhân cách và bồi dưỡng lòng yêu nước cho thế hệ trẻ6.

3

Đặc biệt, tài liệu chuyên khảo Hoạt động giáo dục của bảo tàng do Cục Di sản Văn hóa biên soạn là một tài liệu quan trọng mang tính định hướng, trong đó trình bày rõ ràng vai trò, mục tiêu, nguyên tắc và các mô hình thực tiễn trong hoạt động giáo dục tại bảo tàng. Tài liệu cũng đề xuất một số phương pháp phù hợp với từng nhóm đối tượng công chúng, trong đó có học sinh phổ thông7.

Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu chuyên sâu như luận văn thạc sĩ

Nghiên cứu hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam của

Nguyễn Thị Thu Trang đã chỉ ra vai trò và hiệu quả của hoạt động ngoại khóa bảo tàng trong việc nâng cao nhận thức lịch sử cho học sinh phổ thông8. Đây là tư liệu

quan trọng giúp hình dung cách tổ chức hoạt động giáo dục trong các bảo tàng

chuyên ngành, từ đó có thể vận dụng và điều chỉnh phù hợp cho Bảo tàng Văn học

Việt Nam.

Các nghiên cứu trong và ngoài nước đã khẳng định vai trò quan trọng của bảo

tàng như một thiết chế văn hóa giáo dục ngoài nhà trường, góp phần nâng cao tri

thức và phát triển tư duy cho công chúng, đặc biệt là học sinh phổ thông. Tuy nhiên,

vẫn còn thiếu các nghiên cứu chuyên sâu về chức năng giáo dục của các bảo tàng

chuyên ngành như Bảo tàng Văn học Việt Nam, từ đó cho thấy khoảng trống cần

thiết để đề án này bổ sung và phát triển.

2.2. Nghiên cứu về hoạt động giáo dục tại các bảo tàng văn hóa – lịch sử

Một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài:

Các nghiên cứu quốc tế đã đề cập đến hoạt động giáo dục tại các bảo tàng văn

hóa – lịch sử dưới góc nhìn giáo dục trải nghiệm và học tập qua hiện vật. McLeod

và Anderson cho rằng yếu tố hiện vật đóng vai trò trung tâm trong việc kích thích tư

duy phản biện và sáng tạo của học sinh, đặc biệt khi được khai thác trong các chương trình học tập được thiết kế chuyên biệt9.

Ngoài ra, nhiều học giả khác cũng đồng thuận rằng bảo tàng có thể trở thành

không gian học tập tích cực nếu hoạt động giáo dục được tổ chức theo hướng cá thể

hóa, tương tác, và lấy người học làm trung tâm.

7 Cục Di sản Văn hóa (2015), Hoạt động giáo dục của bảo tàng, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, tr. 10–27. 8 Nguyễn Thị Thu Trang (2018). Nghiên cứu hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, tr. 35–47. 9 McLeod, S. K. & Anderson, G. M. (2012). Learning Through Objects: What Makes Museums Work for Schools? (Học qua hiện vật: Điều gì khiến bảo tàng hiệu quả với học đường?), Cultural Heritage & Preservation, Vol. 13, No. 3, tr. 175–184.

Một số công trình nghiên cứu trong nước:

4

Tại Việt Nam, một số nghiên cứu đã đề cập đến hoạt động giáo dục tại các bảo

tàng văn hóa – lịch sử, tập trung vào việc tổ chức trải nghiệm, tương tác và phát huy

giá trị di sản.

Nguyễn Thị Minh Tâm, trong bài viết “Hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Dân

tộc học Việt Nam” đã trình bày rõ vai trò của bảo tàng trong việc thiết kế các

chương trình giáo dục sinh động, hướng tới đối tượng học sinh phổ thông, góp phần đưa bảo tàng trở thành môi trường học tập mở10.

Phạm Thị Hằng, trong nghiên cứu “Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo tại

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia”, khẳng định tầm quan trọng của việc đổi mới phương

pháp giáo dục thông qua các chương trình gắn kết học sinh với di sản vật thể và phi vật thể11.

Bên cạnh đó, Lê Minh Nguyệt, trong nghiên cứu “Phát huy giá trị giáo dục của bảo tàng địa phương qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo”, đã đề xuất một số mô hình phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục di sản tại các địa phương12.

Nguyễn Thị Hồng Nhung, trong luận văn Tổ chức hoạt động giáo dục tại Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh dành cho học sinh phổ thông, nhấn mạnh đến việc cá thể hóa trải nghiệm học tập qua bảo tàng, thông qua các công cụ hỗ trợ như trò chơi, phiếu học tập, ứng dụng công nghệ số13.

Đỗ Văn Thắng với bài viết “Giáo dục di sản văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi số tại các bảo tàng Việt Nam” cũng đã đưa ra hướng tiếp cận mới cho các hoạt động giáo dục gắn với công nghệ tương tác14.

Các nghiên cứu trong và ngoài nước đã khẳng định vai trò của bảo tàng văn

hóa – lịch sử trong giáo dục học sinh phổ thông thông qua các hoạt động trải

nghiệm, tương tác và học tập tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu các nghiên cứu

chuyên sâu tập trung vào bảo tàng chuyên ngành như bảo tàng văn học, từ đó đặt ra

10 Nguyễn Thị Minh Tâm (2015). Hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Tạp chí Văn hóa Dân tộc, số 10, tr. 24–28. 11 Phạm Thị Hằng (2018). Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Tạp chí Di sản Văn hóa, số 4, tr. 31–37. 12 Lê Minh Nguyệt (2020), “Phát huy giá trị giáo dục của bảo tàng địa phương qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 425, tr. 40–45. 13 Nguyễn Thị Hồng Nhung (2021), Tổ chức hoạt động giáo dục tại Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh dành cho học sinh phổ thông, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, tr. 37–60. 14 Đỗ Văn Thắng (2022), “Giáo dục di sản văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi số tại các bảo tàng Việt Nam”, Tạp chí Di sản Văn hóa, số 24, tr. 19–25.

yêu cầu cần thiết cho việc tiếp tục nghiên cứu và phát triển lĩnh vực này.

5

2.3. Nghiên cứu liên quan đến Bảo tàng Văn học Việt Nam

Ở Việt Nam, mặc dù còn tương đối ít công trình nghiên cứu chuyên sâu về

hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Văn học Việt Nam, song một số bài viết và báo cáo

đã bước đầu đề cập đến vai trò và tiềm năng của thiết chế văn hóa này trong việc

giáo dục văn học cho học sinh.

Bài viết “Bảo tàng vì giáo dục và nghiên cứu” đăng trên Báo Quân đội Nhân

dân cũng đánh giá cao những nỗ lực của Bảo tàng Văn học Việt Nam trong việc

chuyển đổi hình thức giáo dục từ truyền thống sang trải nghiệm tương tác, phù hợp với đối tượng học sinh phổ thông15.

Ngoài ra, trong Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2022 của Bảo tàng Văn học

Việt Nam, nhiều hoạt động dành cho đối tượng học sinh, đặc biệt là các chương

trình phối hợp cùng nhà trường, đã được ghi nhận với mục tiêu bồi dưỡng tình yêu

văn học thông qua các hình thức tham quan, trò chơi học tập, sân khấu hóa tác phẩm16.

Ngoài các tài liệu đã nêu, có thể kể đến bài viết “Bảo tàng Văn học Việt Nam

với việc giáo dục truyền thống văn học cho thế hệ trẻ” đăng trên Tạp chí Giáo dục

và Xã hội, trong đó tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lồng ghép các yếu tố

lịch sử – văn hóa vào hoạt động trưng bày nhằm hình thành nhân cách thẩm mỹ cho học sinh17.

Đồng thời, Báo cáo khoa học tại Hội thảo Đổi mới hoạt động giáo dục trong

bảo tàng chuyên ngành do Viện Văn học tổ chức năm 2021 cũng đã đề xuất một số

mô hình tích hợp giữa giáo dục văn học và trải nghiệm bảo tàng, trong đó lấy Bảo tàng Văn học Việt Nam làm ví dụ điển hình18.

Tuy số lượng nghiên cứu về giáo dục tại Bảo tàng Văn học Việt Nam chưa

nhiều và chưa đi sâu về tổ chức hoạt động cụ thể cho học sinh phổ thông, nhưng các

tài liệu hiện có đã đặt nền móng lý luận và thực tiễn nhất định. Điều đó càng khẳng

15 “Bảo tàng vì giáo dục và nghiên cứu”, Báo Quân đội Nhân dân số ra ngày 10/08/2023. 16 Bảo tàng Văn học Việt Nam (2022), Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2022. 17 Nguyễn Thị Mai Anh (2022), “Bảo tàng Văn học Việt Nam với việc giáo dục truyền thống văn học cho thế hệ trẻ”, Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 91. 18 Viện Văn học (2021), Báo cáo Hội thảo “Đổi mới hoạt động giáo dục trong bảo tàng chuyên ngành”.

định khoảng trống nghiên cứu mà đề án cần bổ sung và phát triển.

6

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Mục đích của đề án là xây dựng các mô hình hoạt động giáo dục văn học tại

Bảo tàng Văn học Việt Nam theo hướng trải nghiệm, dễ hiểu và phù hợp với tâm lý,

sở thích của học sinh phổ thông. Các hoạt động sẽ được thiết kế sao cho hấp dẫn,

sinh động, có yếu tố tương tác và ứng dụng công nghệ hiện đại, giúp học sinh cảm

thấy gần gũi hơn với văn học.

Đề án cũng hướng đến việc tăng cường vai trò của bảo tàng như một địa chỉ

học tập ngoài nhà trường – nơi học sinh không chỉ mở rộng kiến thức môn Ngữ văn

mà còn nuôi dưỡng tình yêu văn hóa dân tộc. Trên cơ sở thử nghiệm mô hình, đề án

đề xuất khả năng nhân rộng để áp dụng ở các bảo tàng hoặc cơ sở văn hóa khác, góp

phần đổi mới dạy học môn Ngữ văn và tạo ra nhiều cách tiếp cận văn học hiệu quả

hơn cho học sinh.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, đề án tập trung thực hiện các nhiệm vụ chính sau:

- Tổ chức thử nghiệm hai mô hình giáo dục văn học đã được đề xuất:

Mô hình xây dựng không gian văn học ảo 3D để học sinh phổ thông trải

nghiệm.

Mô hình xây dựng hệ thống thuyết minh dành cho học sinh phổ thông

- Đánh giá hiệu quả triển khai mô hình trong thực tế, trên cơ sở đó điều chỉnh,

hoàn thiện nội dung và quy trình tổ chức phù hợp với đối tượng học sinh phổ thông.

- Nhân rộng mô hình tại Bảo tàng Văn học Việt Nam và phối hợp với các

trường phổ thông trên địa bàn Hà Nội trong giai đoạn 2027–2030.

- Tăng cường kết nối giữa bảo tàng, nhà trường, chuyên gia, doanh nghiệp

công nghệ và các tổ chức xã hội nhằm xây dựng cơ chế phối hợp bền vững trong

việc tổ chức hoạt động giáo dục văn học tại không gian di sản.

4. Đối tượng và phạm vi của đề án

4.1. Đối tượng đề án

Đề án tập trung vào việc tổ chức và triển khai các hoạt động giáo dục dành

cho học sinh phổ thông tại Bảo tàng Văn học Việt Nam. Các nội dung bao gồm: thử

nghiệm, điều chỉnh, hoàn thiện và nhân rộng hai mô hình giáo dục văn học đã được

xây dựng, nhằm đánh giá hiệu quả tiếp cận, mức độ tương tác và tác động đến nhận

thức, cảm thụ văn học của học sinh trong môi trường bảo tàng.

7

4.2. Phạm vi đề án - Về nội dung: Đề án triển khai các hoạt động giáo dục ngoài nhà trường theo định hướng trải nghiệm, gắn với nội dung văn học, phù hợp với đặc điểm tâm lý, nhu cầu và năng lực tiếp nhận của học sinh phổ thông. Trọng tâm là hai mô hình:

Mô hình xây dựng không gian văn học ảo 3D để học sinh phổ thông trải

nghiệm

Mô hình xây dựng hệ thống thuyết minh dành cho học sinh phổ thông - Về không gian: Đề án được thực hiện tại Bảo tàng Văn học Việt Nam (275

Âu Cơ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội)

- Về thời gian: Đề án được triển khai từ tháng 07 năm 2025 đến tháng 12 năm

2030, chia làm hai giai đoạn:

Giai đoạn 1 (2025–2026): Thử nghiệm và hoàn thiện mô hình; Giai đoạn 2 (2027–2030): Nhân rộng và phát triển mô hình theo hướng bền vững. 5. Phương pháp nghiên cứu đề án Đề án được triển khai dựa trên cách tiếp cận liên ngành, kết hợp kiến thức từ các lĩnh vực Quản lý văn hóa, Giáo dục học, Tâm lý học, Bảo tàng học và Xã hội học. Việc tiếp cận mang tính tổng hợp này nhằm đảm bảo tính toàn diện trong quá trình thiết kế, thử nghiệm và nhân rộng mô hình giáo dục văn học phù hợp với đối tượng học sinh phổ thông tại Bảo tàng Văn học Việt Nam.

Trong quá trình xây dựng đề án, các phương pháp khoa học đã được sử dụng

để khảo sát thực tiễn, xác lập cơ sở lý luận và đề xuất mô hình triển khai. Cụ thể:

- Phương pháp nghiên cứu thực địa: Tiến hành khảo sát trực tiếp tại Bảo tàng Văn học Việt Nam nhằm thu thập thông tin về điều kiện tổ chức hoạt động giáo dục, không gian trưng bày, cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ và tình hình tổ chức các chương trình trải nghiệm cho học sinh phổ thông.

- Phương pháp thu thập thông tin xã hội học: Ở giai đoạn xây dựng đề án, các phương pháp như điều tra bằng phiếu khảo sát, phỏng vấn sâu và quan sát tham dự đã được vận dụng nhằm tiếp cận thực tiễn hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Văn học Việt Nam.

Phiếu điều tra học sinh phổ được thiết kế nhằm thu thập dữ liệu về mức độ hứng thú, tính hiệu quả và nhu cầu cải thiện hoạt động trải nghiệm tại bảo tàng. Tổng số phiếu phát ra là 200 phiếu khảo sát, trong đó có 5 phiếu không hợp lệ, do đó 195 phiếu hợp lệ đã được sử dụng cho quá trình phân tích dữ liệu.

8

Phỏng vấn chuyên sâu được tiến hành với 12 giáo viên Ngữ văn, 5 học sinh cấp THPT, 3 cán bộ phụ trách giáo dục tại Bảo tàng Văn học Việt Nam và 2 chuyên gia trong lĩnh vực bảo tàng học, nhằm khai thác sâu các ý kiến đánh giá, góp ý và định hướng xây dựng mô hình hoạt động giáo dục phù hợp với đối tượng học sinh phổ thông.

Quan sát tham dự được thực hiện thông qua việc trực tiếp tham dự các chương trình giáo dục đang được triển khai tại bảo tàng, từ đó ghi nhận sự tương tác, thái độ tham gia và mức độ tiếp nhận của học sinh.

- Phương pháp phân tích – tổng hợp tài liệu: Tiến hành thu thập, phân tích các tài liệu lý luận, công trình nghiên cứu, báo cáo chuyên đề, các bài viết khoa học liên quan đến giáo dục bảo tàng, giáo dục trải nghiệm, từ đó kế thừa có chọn lọc và làm rõ cơ sở lý luận của đề án.

- Phương pháp so sánh: Đối chiếu một số mô hình tổ chức hoạt động giáo dục tại các bảo tàng văn hóa – lịch sử trong và ngoài nước, nhằm rút ra bài học kinh nghiệm và điều chỉnh mô hình cho phù hợp với điều kiện thực tiễn tại Bảo tàng Văn học Việt Nam.

Việc ứng dụng đa phương pháp trong giai đoạn xây dựng đề án đã giúp đảm bảo tính khách quan, khoa học và khả thi của các mô hình giáo dục. Đây là nền tảng quan trọng để triển khai đề án một cách hiệu quả trong giai đoạn 2025–2030.

6. Điểm mới, các đóng góp của đề án - Là một trong những đề án đầu tiên triển khai các mô hình giáo dục văn học dành cho học sinh phổ thông tại bảo tàng chuyên ngành, đề án góp phần khẳng định vai trò của bảo tàng văn học như một thiết chế văn hóa hiện đại trong bối cảnh chuyển đổi số và đổi mới giáo dục.

- Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận cho lĩnh vực giáo dục bảo tàng thông qua việc hệ thống hóa các khái niệm liên quan đến giáo dục trải nghiệm, giáo dục ngoài nhà trường và giáo dục văn học trong môi trường không chính quy.

- Xác lập khung lý thuyết phù hợp để phân tích hoạt động giáo dục tại bảo tàng từ góc nhìn liên ngành (giáo dục học, bảo tàng học, văn học, công nghệ...), làm cơ sở để đánh giá hiệu quả và xây dựng quy trình triển khai phù hợp với đối tượng học sinh phổ thông.

- Thử nghiệm và hoàn thiện hai mô hình giáo dục mới phù hợp với đặc trưng

tâm lý, nhu cầu và khả năng tiếp nhận của học sinh phổ thông.

9

- Gợi mở khả năng nhân rộng các mô hình giáo dục tại bảo tàng sang các bảo tàng văn hóa – lịch sử khác trong cả nước, tạo tiền đề cho việc phát triển hệ sinh thái giáo dục văn học tích hợp công nghệ trong tương lai.

PHẦN NỘI DUNG

1. Cơ sở thực tiễn và lý luận của việc xây dựng đề án 1.1. Cơ sở thực tiễn 1.1.1. Đánh giá thực trạng công tác tổ chức hoạt động giáo dục cho học sinh

phổ thông của Bảo tàng Văn học Việt Nam

1.1.1.1. Tổng quan về Bảo tàng Văn học Việt Nam Bảo tàng Văn học Việt Nam được thành lập theo Quyết định số

1987/QĐ-TTg ngày 08/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ, trực thuộc Hội Nhà văn

Việt Nam, chính thức mở cửa từ ngày 26/6/2015. Đây là một trong số ít bảo tàng

chuyên đề về văn học trên thế giới và đầu tiên tại Việt Nam tập trung giới thiệu di

sản văn học dân tộc. Bảo tàng không chỉ là nơi lưu giữ ký ức văn học mà còn là

không gian học tập giàu trải nghiệm, đặc biệt phù hợp với học sinh phổ thông.

Bảo tàng có chức năng nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản và trưng bày các giá

trị văn học Việt Nam qua các hình thức thể nghiệm văn hóa. Đồng thời, nơi đây

đóng vai trò như một trung tâm giáo dục ngoài nhà trường, góp phần bồi dưỡng tư

duy, cảm xúc và năng lực thẩm mỹ cho thế hệ trẻ.

Tọa lạc tại số 275 đường Âu Cơ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội –

nơi từng đặt Trường Viết văn Quảng Bá (1960–1970) – bảo tàng mang giá trị biểu

tượng sâu sắc đối với lịch sử văn học hiện đại Việt Nam.

Về hệ thống trưng bày, bảo tàng được thiết kế khoa học, gồm hai không gian

chính:

- Không gian ngoài trời: Trưng bày các phù điêu gốm khắc họa văn học dân

gian và 20 bức tượng danh nhân văn học tiêu biểu thời cổ – trung đại, tạo điểm nhấn

thị giác và khơi gợi sự kết nối văn hóa trực quan.

- Không gian trong nhà: Có diện tích hơn 2.000 m², trưng bày hàng vạn hiện

vật theo tiến trình lịch sử văn học Việt Nam từ thời Lý đến hiện đại. Các hiện vật, tư

liệu về các nhà văn lớn như Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Nam

Cao, Nguyễn Đình Thi, Xuân Diệu, Tố Hữu... không chỉ giúp học sinh củng cố kiến

thức đã học, mà còn tăng cường cảm thụ văn học và kết nối thực tiễn với chương

trình Ngữ văn THPT.

10

Ba tầng chức năng trưng bày được bố trí theo trục thời gian, giúp học sinh dễ

theo dõi:

- Tầng 1: Khu khánh tiết và không gian giới thiệu văn học cổ – trung đại

cùng hệ thống thi cử nho học thế kỷ XIX.

- Tầng 2: Trưng bày các nhà văn đoạt Giải thưởng Hồ Chí Minh; tái dựng

“Không gian văn hóa Xóm Chòi” – nơi từng là trụ sở Hội Văn nghệ Việt Nam thời

kháng chiến chống Pháp.

- Tầng 3: Tôn vinh các nhà văn nhận Giải thưởng Nhà nước và giới thiệu lịch

sử Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam.

Ngoài ra, bảo tàng còn tổ chức các chuyên đề thời vụ và vận hành không gian

trải nghiệm “Sinh hoạt văn hóa nông thôn Việt Nam”, hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động

giáo dục văn học theo hướng tích hợp – trải nghiệm.

Về cơ cấu tổ chức, bảo tàng hoạt động dưới sự điều hành của một Giám đốc

và hai Phó Giám đốc, trong đó:

- Phó Giám đốc phụ trách nghiệp vụ chuyên môn: Chỉ đạo công tác nghiên

cứu, sưu tầm, trưng bày, truyền thông và giáo dục công chúng.

- Phó Giám đốc phụ trách hành chính – tài chính: Đảm bảo tổ chức, vận

hành, nhân sự, hậu cần và tài chính.

Bộ máy tổ chức của bảo tàng gồm hai khối chính: - Khối nghiệp vụ: Phòng Nghiên cứu – Sưu tầm: Khảo cứu, thu thập, xây dựng nội dung trưng

bày chuyên đề.

Phòng Kiểm kê – Bảo quản: Thống kê, phân loại, lưu trữ và bảo quản hiện vật

theo chuẩn bảo tàng học.

Phòng Trưng bày – Truyền thông: Tổ chức các triển lãm chuyên đề, hoạt động

truyền thông và giáo dục trải nghiệm.

- Khối hành chính: Phòng Hành chính – Tổng hợp: Thực hiện công tác tổ chức nhân sự, văn thư,

hậu cần và điều phối chương trình.

Phòng Tài vụ: Quản lý tài chính, xây dựng kế hoạch chi tiêu và đảm bảo ngân

sách cho hoạt động chuyên môn.

Mô hình tổ chức này thể hiện tính chuyên môn hóa cao và sự phối hợp hiệu quả giữa các bộ phận, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện nhiệm vụ kép:

11

bảo tồn di sản văn học dân tộc và tổ chức hoạt động giáo dục cho công chúng, đặc biệt là học sinh phổ thông – nhóm đối tượng trọng tâm trong định hướng phát triển hiện nay.

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của Bảo tàng Văn học Việt Nam

(Nguồn: baotangvanhoc.vn) Như vậy có thể khẳng định, Bảo tàng Văn học Việt Nam không chỉ là nơi lưu

giữ tư liệu quý mà còn là một thiết chế văn hóa giáo dục giàu tiềm năng, đặc biệt

phù hợp với đối tượng học sinh phổ thông. Với hệ thống trưng bày khoa học, không

gian trải nghiệm đặc thù, đội ngũ cán bộ chuyên môn vững và mô hình tổ chức

chuyên biệt, bảo tàng đã và đang từng bước khẳng định vai trò là điểm đến học tập

– trải nghiệm – sáng tạo trong bối cảnh chuyển đổi số và đổi mới giáo dục hiện nay.

Với những tiềm năng đó, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động

giáo dục tại Bảo tàng Văn học Việt Nam là cần thiết, nhằm phát huy các điểm mạnh

sẵn có, đồng thời từng bước khắc phục những tồn tại để nâng cao chất lượng giáo

dục ngoài nhà trường, đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện cho học sinh trong thời

kỳ mới.

1.1.1.2. Những ưu điểm trong công tác tổ chức hoạt động giáo dục cho học

sinh phổ thông của Bảo tàng Văn học Việt Nam

a. Sự gắn kết giữa nội dung giáo dục và chương trình phổ thông

Một điểm mạnh nổi bật của hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Văn học Việt

Nam là khả năng kết nối với nội dung chương trình Ngữ văn phổ thông. Các chuyên

đề, hiện vật và hoạt động trải nghiệm được lựa chọn dựa trên các tác phẩm, tác giả

có mặt trong sách giáo khoa hoặc quen thuộc với học sinh, từ đó giúp củng cố kiến

12

thức học thuật và mở rộng cảm thụ văn học thông qua tiếp cận hiện vật gốc, bản

thảo, không gian văn hóa.

Kết quả khảo sát cho thấy, hơn 70% học sinh đánh giá nội dung tại bảo tàng là “gắn kết” hoặc “rất gắn kết” với chương trình học; chỉ khoảng 7.7% cho rằng chưa thực sự gắn kết. Những số liệu này phản ánh hiệu quả của việc đưa văn học vào trải nghiệm thực tiễn.

Biểu đồ 1. Mức độ đánh giá sự gắn kết giữa nội dung giáo dục tại bảo tàng và chương trình phổ thông (Đơn vị: %)

(Nguồn: Khảo sát từ tác giả) Phỏng vấn học sinh cho thấy, yếu tố trực quan và cảm xúc đóng vai trò quyết định trong hiệu quả giáo dục. Một học sinh lớp 10 chia sẻ: “Khi đứng trước bản chép tay Truyện Kiều, em cảm nhận được sự hiện diện thực sự của Nguyễn Du, không còn là cái tên xa vời trong bài học nữa” (TLPV, 2025). Điều này cho thấy bảo tàng đã làm tốt vai trò “giải mã” văn học bằng hình ảnh và cảm xúc – điều lớp học truyền thống khó có được.

Từ góc độ sư phạm, giáo viên cũng đánh giá cao vai trò hỗ trợ của bảo tàng trong đổi mới phương pháp giảng dạy. Một giáo viên THPT nhận định: “Các hoạt động tại bảo tàng giúp học sinh tiếp cận văn học một cách sống động, trực quan, từ đó việc dạy học trên lớp cũng hiệu quả hơn” (TLPV, 2025). Nhiều học sinh sau trải nghiệm đã chủ động phát biểu, đặt câu hỏi sâu hơn trong giờ học.

Tóm lại, sự gắn kết giữa nội dung giáo dục tại bảo tàng với chương trình phổ thông là nền tảng quan trọng để phát triển các mô hình học tập trải nghiệm, thúc đẩy quan hệ hợp tác nhà trường – bảo tàng theo hướng bền vững, liên ngành và lấy người học làm trung tâm.

13

b. Hình thức tổ chức linh hoạt, phù hợp với tâm lý lứa tuổi Hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Văn học Việt Nam được tổ chức linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với đặc điểm tâm lý và nhận thức của học sinh phổ thông – lứa tuổi cần trải nghiệm trực quan, sinh động để tiếp thu hiệu quả. Thay vì chỉ thuyết minh đơn tuyến, bảo tàng triển khai nhiều hình thức như nhập vai nhân vật văn học, trò chơi tương tác, sân khấu hóa trích đoạn, vẽ tranh, viết cảm nhận… giúp học sinh chủ động học tập.

Kết quả khảo sát 195 học sinh cho thấy 78.5% đánh giá hoạt động tại bảo tàng là “linh hoạt” hoặc “rất linh hoạt”, chỉ 2% nhận xét “không linh hoạt”. Điều này phản ánh mức độ phù hợp cao của cách tổ chức với đối tượng học sinh phổ thông.

Biểu đồ 2. Đánh giá của học sinh về hình thức tổ chức hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Văn học Việt Nam

(Nguồn: Khảo sát từ tác giả) Phản hồi từ học sinh và giáo viên cũng khẳng định các hoạt động gợi cảm xúc, tạo hứng thú học tập. Một học sinh lớp 10 nhận xét: “Em thấy hoạt động ở bảo tàng rất sinh động, được đóng vai, đặt câu hỏi, không bị gò bó như ở lớp học” (TLPV, 2025).

Theo cán bộ phụ trách giáo dục tại bảo tàng: “Chúng tôi thiết kế từng chương trình theo nhóm tuổi, chủ đề học, không rập khuôn mà tùy biến theo từng đoàn” (TLPV, 2025). Điều này thể hiện định hướng lấy người học làm trung tâm – cốt lõi của đổi mới giáo dục hiện nay.

14

Như vậy, cách tổ chức linh hoạt không chỉ giúp học sinh tiếp thu hiệu quả mà còn nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mỹ, tư duy phản biện – những phẩm chất cốt lõi trong chương trình giáo dục phổ thông mới.

c. Không gian trưng bày truyền cảm hứng, hỗ trợ cảm thụ văn học Không gian trưng bày tại Bảo tàng Văn học Việt Nam là một điểm nhấn quan trọng trong công tác giáo dục, được thiết kế theo trục thời gian kết hợp chuyên đề, từ văn học dân gian đến hiện đại. Cách bố trí này giúp học sinh hình dung rõ ràng tiến trình phát triển của văn học dân tộc thông qua các giai đoạn và tác giả tiêu biểu, đồng thời tạo điều kiện tiếp cận tri thức văn học trong một cấu trúc trực quan, dễ nhớ.

Đặc biệt, bảo tàng đã nỗ lực vượt ra khỏi mô hình “trưng bày hiện vật tĩnh” truyền thống bằng việc tái dựng không gian có tính cá nhân hóa cao như bàn làm việc của nhà văn, bản thảo gốc, thư viện cá nhân, vật dụng sinh hoạt và những chi tiết đời thường mang giá trị biểu tượng sâu sắc. Chính sự hiện diện của những yếu tố này đã góp phần "nhân cách hóa" văn học, giúp học sinh cảm nhận được chiều sâu tâm hồn và hoàn cảnh sáng tác của các tác giả, từ đó phát triển khả năng cảm thụ văn học một cách gần gũi và chân thực hơn.

Không gian trưng bày không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin, mà còn trở thành môi trường học tập giàu tính nhập vai – nơi học sinh có thể “sống cùng văn học” thông qua sự kết hợp giữa thị giác, xúc giác và cảm xúc. Một học sinh lớp 12 chia sẻ: “Việc được nhìn thấy bản thảo truyện ngắn Lão Hạc hay chiếc máy đánh chữ của Nguyễn Tuân khiến em cảm thấy nhà văn như đang hiện diện ngay trước mặt mình. Văn học không còn xa vời nữa, mà trở thành một phần của câu chuyện chính em đang trải qua” (TLPV, 2025).

Từ góc nhìn chuyên môn, một giáo viên Ngữ văn tại Hà Nội nhận xét: “Không gian bảo tàng khiến học sinh như bước vào thế giới của tác phẩm – không còn là việc học văn lý thuyết, mà là cảm văn bằng trải nghiệm sống động.” Đồng quan điểm, một chuyên gia bảo tàng học khẳng định: “Điểm khác biệt của Bảo tàng Văn học Việt Nam chính là khả năng chuyển hóa không gian từ nơi trưng bày hiện vật thành một ‘không gian sống’ – nơi gợi cảm xúc, khơi mở tư duy và kích thích sự phản tỉnh cá nhân” (TLPV, 2025).

Theo cán bộ phụ trách giáo dục tại bảo tàng: “Không gian trưng bày được thiết kế không chỉ để truyền tải thông tin, mà còn là nơi để học sinh chiêm nghiệm,

15

tương tác, từ đó tự soi chiếu bản thân trong dòng chảy phát triển của văn học dân tộc” (TLPV, 2025).

Từ thực tiễn trên, có thể khẳng định rằng không gian trưng bày tại Bảo tàng Văn học Việt Nam là lợi thế nổi bật trong giáo dục học sinh phổ thông. Dù còn hạn chế nhất định về công nghệ hỗ trợ tương tác, nhưng chính giá trị biểu cảm, tính cá nhân hóa và chiều sâu văn hóa – lịch sử của không gian đã góp phần quan trọng vào việc khơi gợi hứng thú học tập, nâng cao năng lực cảm thụ văn học và phát triển tư duy phản biện cho học sinh. Trong thời gian tới, nếu kết hợp các yếu tố công nghệ mới như AR/VR hoặc công cụ số hóa, không gian này hoàn toàn có thể trở thành mô hình học tập di sản kiểu mẫu trong bối cảnh giáo dục số hiện đại. d. Đội ngũ cán bộ bảo tàng có chuyên môn và tâm huyết Là một bảo tàng chuyên ngành có tính học thuật cao, Bảo tàng Văn học Việt Nam đòi hỏi đội ngũ cán bộ không chỉ am hiểu tiến trình văn học dân tộc mà còn có năng lực chuyển hóa tri thức hàn lâm thành trải nghiệm gần gũi, hấp dẫn đối với học sinh phổ thông. Họ không chỉ là người thuyết minh, mà còn là “người kể chuyện” đưa học sinh vào thế giới văn học sống động.

Hiện nay, đội ngũ cán bộ giáo dục tại bảo tàng có nền tảng chuyên sâu về văn học, bảo tàng học, giáo dục học. Họ chủ động thiết kế các kịch bản giáo dục gắn với chương trình phổ thông, kết hợp kể chuyện, đặt câu hỏi mở và khuyến khích phản biện. Nhờ vậy, mỗi buổi học tại bảo tàng trở thành một trải nghiệm tương tác thực sự, thay vì tiếp thu thụ động.

Kết quả khảo sát 195 học sinh cho thấy gần 60% đánh giá cán bộ ở mức “rất thân thiện, truyền cảm hứng” hoặc “thân thiện, trình bày dễ hiểu”; chỉ 5,1% không hài lòng – phản ánh mức tín nhiệm cao từ phía người học.

16

Biểu đồ 3. Đánh giá của học sinh về đội ngũ cán bộ giáo dục tại Bảo tàng Văn học Việt Nam

(Nguồn: Khảo sát từ tác giả) Thực tế này được củng cố bởi nhiều phản hồi tích cực. Một giáo viên Ngữ văn tại Hà Nội nhận xét: “Điều làm tôi ấn tượng nhất không phải là số lượng hiện vật, mà là cách cán bộ ở đây truyền cảm hứng cho học sinh – họ kể chuyện bằng chính cảm xúc của mình”. Một chuyên gia bảo tàng học cũng đánh giá: “Sự chuyên nghiệp của đội ngũ thể hiện ở khả năng thiết kế hoạt động gợi mở, dẫn dắt người học bước vào thế giới văn học bằng cả lý trí lẫn cảm xúc” (TLPV, 2025).

Từ phía đơn vị tổ chức, một cán bộ giáo dục của bảo tàng chia sẻ: “Chúng tôi không coi mỗi buổi hướng dẫn là nhiệm vụ, mà là một lần được kể lại câu chuyện văn học bằng trái tim” (TLPV, 2025). Phát biểu này không chỉ thể hiện tinh thần nghề nghiệp mà còn là minh chứng cho vai trò kiến tạo tri thức mà đội ngũ cán bộ đang thực hiện trong hoạt động giáo dục tại bảo tàng.

Những nhận định trên cho thấy đội ngũ cán bộ tại Bảo tàng Văn học Việt Nam chính là nhân tố cốt lõi tạo nên chất lượng, chiều sâu và sức hấp dẫn của hoạt động giáo dục. Sự kết hợp giữa chuyên môn vững, cảm xúc chân thành và tinh thần nghề nghiệp đã định vị bảo tàng như một thiết chế văn hóa giáo dục hiện đại, nhân văn và sáng tạo. Nhờ đó, đội ngũ cán bộ không chỉ giữ vai trò truyền đạt mà còn là cầu nối sáng tạo giữa bảo tàng và học sinh, góp phần xây dựng môi trường giáo dục văn học gần gũi, sinh động và giàu cảm hứng khám phá.

e. Cơ chế phối hợp bước đầu hiệu quả giữa nhà trường và bảo tàng Một trong những điểm sáng trong hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Văn học Việt Nam là việc thiết lập được cơ chế phối hợp bước đầu hiệu quả với các trường phổ thông. Mặc dù chưa thực sự hình thành một hệ thống liên kết thường xuyên và chiến lược dài hạn, nhưng nhiều hoạt động đã cho thấy dấu hiệu khởi sắc: bảo tàng không chỉ tiếp nhận các đoàn học sinh mà còn chủ động đề xuất nội dung, hỗ trợ giáo viên trong việc chuẩn bị giáo án tích hợp và gửi phản hồi sau mỗi chương trình học tập.

Mô hình phối hợp này phù hợp với định hướng của Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – nhấn mạnh sự kết nối giữa nhà trường và thiết chế văn hóa để mở rộng môi trường học tập, góp phần nâng cao năng lực toàn diện cho học sinh. Theo kết quả phỏng vấn sâu 12 giáo viên, 66,7% cho rằng mức độ phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường là “chặt chẽ” hoặc “rất chặt chẽ”, chỉ 8,3%

17

nhận định là “chưa chặt chẽ”. Những con số này phản ánh một tín hiệu tích cực về mặt nhận thức và hợp tác thực tiễn giữa hai bên.

Biểu đồ 4. Đánh giá của giáo viên về mức độ phối hợp giữa Bảo tàng Văn học Việt Nam và nhà trường (Đơn vị: %)

(Nguồn: Phỏng vấn sâu từ tác giả) Phản hồi từ các giáo viên cho thấy sự chủ động và linh hoạt của bảo tàng trong tổ chức hoạt động giáo dục là yếu tố quan trọng tạo dựng lòng tin hợp tác. Một giáo viên THPT tại Hà Đông cho biết: “Phía bảo tàng rất nhiệt tình hỗ trợ, từ gợi ý nội dung đến xây dựng kế hoạch phù hợp từng lớp học.” Một giáo viên khác đánh giá cao việc “bảo tàng phản hồi sau chương trình và sẵn sàng điều chỉnh nội dung theo từng nhóm học sinh” (TLPV, 2025).

Từ dữ liệu trên, có thể khẳng định tuy cơ chế phối hợp còn đang ở giai đoạn hoàn thiện, nhưng những gì đã đạt được thể hiện rõ tiềm năng và thiện chí từ cả hai phía. Nếu tiếp tục được phát triển theo hướng chuyên nghiệp hóa và thể chế hóa, mô hình liên kết giữa bảo tàng và nhà trường sẽ trở thành điểm tựa vững chắc cho việc đổi mới phương pháp giáo dục Ngữ văn và thúc đẩy học tập trải nghiệm trong nhà trường phổ thông.

1.1.1.3. Những hạn chế trong công tác tổ chức hoạt động giáo dục cho học

sinh phổ thông của Bảo tàng Văn học Việt Nam

a. Nội dung giáo dục còn thiếu chiều sâu tương tác Một hạn chế dễ nhận thấy trong hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Văn học Việt Nam là nội dung vẫn thiên về truyền đạt tuyến tính, thiếu tính tương tác sâu và chủ động từ phía học sinh. Các buổi tham quan phần lớn mang tính thuyết minh một chiều, chưa thường xuyên tích hợp các hoạt động như nhập vai, phản biện, sáng tác tại chỗ hay thực hành sáng tạo – vốn là thế mạnh của mô hình giáo dục bảo tàng.

18

Khảo sát cho thấy nhiều học sinh cảm thấy chưa được tham gia đúng nghĩa. Một học sinh lớp 10 chia sẻ: “Nội dung buổi tham quan nhiều thông tin nhưng không có phần để chúng em làm thử, trao đổi hay sáng tạo nên dễ quên hoặc thấy nhàm” (TLPV, 2025). Điều này phản ánh rõ sự thiếu hụt các kênh tương tác cá nhân và chiều sâu cảm xúc trong trải nghiệm học tập.

Trong bối cảnh giáo dục phổ thông chuyển hướng lấy người học làm trung tâm, việc thiết kế lại nội dung giáo dục tại bảo tàng theo hướng tích hợp – trải nghiệm là hết sức cần thiết. Đây cũng là cơ sở để khẳng định vai trò của bảo tàng như một thiết chế văn hóa giáo dục hiện đại và sáng tạo.

b. Tần suất và quy mô hoạt động chưa ổn định Hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Văn học Việt Nam hiện vẫn thiếu ổn định về tần suất và quy mô. Phần lớn chương trình mang tính thời vụ, phục vụ các đoàn theo lịch hẹn hoặc dịp lễ, chưa có kế hoạch tổ chức định kỳ, phân cấp theo độ tuổi. Điều này khiến hoạt động thiếu tính hệ thống và khó mở rộng quy mô hiệu quả.

Một cán bộ phụ trách giáo dục cho biết: “Chúng tôi luôn sẵn sàng tiếp đón các đoàn học sinh, nhưng để duy trì chương trình thường xuyên, mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng thì vẫn gặp trở ngại về nhân sự và cơ sở tổ chức” (TLPV, 2025). Phản ánh này cho thấy rõ những hạn chế trong vận hành và nhân lực.

Việc chưa có chuỗi chương trình giáo dục nối tiếp cũng ảnh hưởng đến khả năng giữ chân người học và xây dựng thương hiệu dài hạn. Vì vậy, cần sớm đầu tư kế hoạch tổ chức bài bản và tăng cường đội ngũ chuyên trách để phát triển bền vững mô hình giáo dục tại bảo tàng.

c. Hạn chế về cơ sở vật chất và công nghệ hỗ trợ Cơ sở vật chất và công nghệ tại Bảo tàng Văn học Việt Nam hiện chưa đáp ứng yêu cầu của một môi trường giáo dục hiện đại. Phương thức truyền tải vẫn thiên về truyền thống: hiện vật tĩnh, bảng thuyết minh và lời dẫn trực tiếp, chưa phù hợp với thói quen tiếp nhận thông tin của học sinh trong kỷ nguyên số.

Một chuyên gia bảo tàng học nhận định: “Khi bảo tàng không có công cụ tương tác số, không gian trải nghiệm sẽ không đủ sức cạnh tranh với các thiết chế văn hóa mới nổi đang đầu tư mạnh về công nghệ” (TLPV, 2025). Trong khi đó, nhiều bảo tàng hiện đại trong và ngoài nước đã ứng dụng AR, VR, màn hình cảm ứng, QR, kho tư liệu số… để nâng cao trải nghiệm học tập.

Việc thiếu vắng các công cụ công nghệ không chỉ làm giảm hấp dẫn, mà còn hạn chế khả năng lan tỏa giá trị văn học đến học sinh. Để nâng cao hiệu quả giáo

19

dục và bắt kịp xu hướng, bảo tàng cần sớm đầu tư hạ tầng công nghệ, thiết bị tương tác và số hóa trưng bày.

d. Cơ chế phối hợp giữa bảo tàng và nhà trường còn chưa đồng bộ Mặc dù đã có những tín hiệu tích cực trong hợp tác giữa nhà trường và bảo tàng, nhưng thực tế cho thấy cơ chế này vẫn chưa đạt mức đồng bộ và chuyên nghiệp hóa như kỳ vọng. Tuy Bảo tàng Văn học Việt Nam đã có những bước đầu thiết lập quan hệ hợp tác với các trường phổ thông, nhưng nhìn chung cơ chế phối hợp vẫn còn thiếu tính hệ thống và chưa phát triển thành một mô hình liên kết bền vững, lâu dài…

Một giáo viên Ngữ văn tại Hà Nội nhận xét: “Phần lớn hoạt động tại bảo tàng chỉ là chuyến đi trong một buổi, không có liên hệ rõ ràng với bài học cụ thể trong chương trình Ngữ văn, nên rất khó để học sinh hiểu sâu hoặc ghi nhớ lâu” (TLPV, 2025). Nhận định này phản ánh thực tế rằng các hoạt động trải nghiệm tại bảo tàng hiện chưa có sự đồng bộ với nội dung giảng dạy trong nhà trường, làm giảm hiệu quả giáo dục liên ngành.

Bên cạnh đó, thiếu các thỏa thuận hợp tác cụ thể (như biên bản ghi nhớ, chương trình phối hợp định kỳ) và hệ thống đánh giá kết quả học tập sau mỗi buổi tham quan khiến cho việc kết nối giữa hai bên vẫn còn rời rạc, thiếu chiều sâu. Tình trạng này ảnh hưởng đến việc thiết kế chuỗi hoạt động học tập tiếp nối và làm giảm khả năng hình thành các mô hình giáo dục mở mang tính trải nghiệm – tích hợp theo đúng định hướng đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay.

1.1.1.3 Nguyên nhân của những hạn chế * Nguyên nhân chủ quan: Thứ nhất, nhận thức của một bộ phận cán bộ bảo tàng và giáo viên về vai trò giáo dục của bảo tàng còn hạn chế; bảo tàng thường bị xem là nơi lưu giữ hiện vật hơn là không gian học tập tương tác, khiến nội dung và phương pháp giáo dục chưa được đầu tư đúng mức.

Thứ hai, đội ngũ phụ trách giáo dục phần lớn chưa được đào tạo chuyên sâu về sư phạm bảo tàng; tình trạng kiêm nhiệm và thiếu chuyên môn hóa dẫn đến khó khăn trong việc thiết kế chương trình phù hợp với học sinh phổ thông.

Thứ ba, nhiều chương trình vẫn thiên về truyền đạt thông tin, thiếu yếu tố trải nghiệm và chưa gắn kết với tâm lý lứa tuổi hoặc chương trình phổ thông, làm giảm hiệu quả tiếp nhận và cảm thụ của học sinh.

*Nguyên nhân khách quan

20

Thứ nhất, cơ sở vật chất của bảo tàng còn hạn chế, không gian trưng bày vẫn theo mô hình truyền thống, thiếu khu vực linh hoạt và thiết bị hỗ trợ học tập hiện đại như bảng tương tác, màn hình cảm ứng hay công cụ số hóa.

Thứ hai, nguồn tài chính dành cho hoạt động giáo dục chưa ổn định và chưa được ưu tiên, gây khó khăn trong việc đầu tư dài hạn, tuyển dụng nhân sự chuyên môn và triển khai các mô hình học tập mới.

Thứ ba, cơ chế phối hợp với nhà trường còn mang tính tự phát, thiếu định hướng chiến lược và vai trò chỉ đạo từ cơ quan quản lý giáo dục, khiến hoạt động liên kết thiếu bền vững và khó mở rộng.

Thứ tư, công tác truyền thông còn yếu; thông tin về chương trình giáo dục chưa đến được rộng rãi với giáo viên, học sinh và phụ huynh, làm giảm hiệu quả tiếp cận và lan tỏa.

Tóm lại, những nguyên nhân này cho thấy rõ thách thức về hạ tầng, tài chính, cơ chế phối hợp và truyền thông – đòi hỏi cần có chiến lược tổng thể và đầu tư đồng bộ để nâng cao hiệu quả giáo dục của bảo tàng trong thời gian tới.

1.1.2 Những vấn đề thực tế cần giải quyết 1.1.2.1 Hoạt động giáo dục của Bảo tàng Hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Văn học Việt Nam hiện vẫn mang tính truyền thống, chủ yếu là thuyết minh và tham quan, chưa phát huy được yếu tố tương tác, trải nghiệm hay sáng tạo – vốn phù hợp với tâm lý học sinh phổ thông. Phương pháp tổ chức còn một chiều, thiếu kích thích tư duy phản biện, cảm thụ cá nhân và sự chủ động của người học.

Nội dung giáo dục chậm cập nhật theo chương trình phổ thông mới, vẫn lặp lại kiến thức sách giáo khoa thay vì mở rộng chiều sâu tiếp cận văn học. Việc ứng dụng công nghệ còn nhỏ lẻ, thiếu tích hợp, chưa hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động học tập. Các chương trình cũng chưa được phân hóa theo độ tuổi hay mục tiêu học tập cụ thể, khiến học sinh khó hứng thú và dễ cảm thấy thụ động.

Vì vậy, để bảo tàng phát huy vai trò là thiết chế văn hóa hiện đại, cần tổ chức lại hoạt động giáo dục theo hướng tích hợp nội dung chuyên sâu, đổi mới phương pháp, áp dụng công nghệ và tăng cường kết nối với cộng đồng giáo dục.

1.1.2.2 Đội ngũ cán bộ của Bảo tàng Đội ngũ phụ trách giáo dục tại bảo tàng chủ yếu có nền tảng văn học, bảo tàng học, nhưng thiếu đào tạo chuyên sâu về giáo dục học và sư phạm phổ thông. Tình trạng kiêm nhiệm, thiếu biên chế chuyên trách làm giảm hiệu quả tổ chức chương trình.

21

Bên cạnh đó, bảo tàng chưa có chính sách bồi dưỡng dài hạn, thiếu cơ chế khuyến khích đổi mới và chưa thiết lập hợp tác đào tạo với các cơ sở chuyên môn. Điều này khiến cán bộ khó tiếp cận xu hướng giáo dục hiện đại và phát triển mô hình học tập hấp dẫn.

Việc xây dựng một đội ngũ chuyên trách, được đào tạo bài bản và có lộ trình phát triển nghề nghiệp rõ ràng là điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng giáo dục tại bảo tàng.

1.1.2.3. Công tác truyền thông, quảng bá của Bảo tàng Trong bối cảnh chuyển đổi số, truyền thông là cầu nối quan trọng giữa bảo tàng và học sinh, giáo viên, phụ huynh. Tuy nhiên, hoạt động quảng bá tại Bảo tàng Văn học Việt Nam còn thiếu chiến lược dài hạn, nội dung chưa hấp dẫn và chưa phân nhóm đối tượng cụ thể.

Hiện nay, truyền thông chủ yếu mang tính sự vụ, dựa vào kênh truyền thống,

ít ứng dụng công nghệ số như mạng xã hội, video ngắn, nền tảng di động – vốn phù

hợp với học sinh hiện đại. Sự thiếu liên kết giữa truyền thông và chuyên môn cũng

khiến nội dung truyền tải đôi khi thiếu thân thiện với người học.

Để nâng cao hiệu quả giáo dục, bảo tàng cần đầu tư bài bản cho truyền

thông, ứng dụng công nghệ mới và hướng tới nhu cầu người học. Đây là điều kiện

thiết yếu để mở rộng ảnh hưởng và xây dựng hình ảnh bảo tàng như một thiết chế

văn hóa giáo dục gần gũi, hiện đại.

1.1.2.4. Công tác phối hợp với các cơ sở giáo dục của Bảo tàng

Việc phối hợp giữa Bảo tàng Văn học Việt Nam và các trường phổ thông

hiện còn thiếu chặt chẽ, bền vững và hệ thống. Các hoạt động giáo dục chủ yếu diễn

ra theo dịp lễ hoặc yêu cầu riêng lẻ, chưa hình thành cơ chế hợp tác dài hạn, định

kỳ. Việc thiếu biên bản ghi nhớ hoặc thỏa thuận cụ thể khiến liên kết dễ bị gián

đoạn khi có thay đổi nhân sự hay ưu tiên tổ chức.

Nhiều trường chưa coi bảo tàng là đối tác giáo dục chiến lược, trong khi phía

bảo tàng cũng gặp khó khăn khi thiếu thông tin phối hợp theo cấp học. Hiện cũng

chưa có nhiều mô hình liên kết điển hình để tổng kết, nhân rộng hoặc đề xuất về

chính sách.

Trong định hướng giáo dục phát triển năng lực toàn diện, việc xây dựng cơ

chế phối hợp ổn định, có kế hoạch dài hạn là yêu cầu thiết yếu. Các mô hình hợp tác

22

điểm, chương trình phối hợp định kỳ và đào tạo liên ngành sẽ giúp bảo tàng phát

huy hiệu quả vai trò giáo dục hiện đại, thiết thực hơn.

1.2. Cơ sở lý luận

1.2.1 Những khái niệm cơ bản được sử dụng trong đề án

1.2.1.1. Khái niệm hoạt động giáo dục

Hoạt động giáo dục là quá trình tổ chức, định hướng và tác động có mục đích

của chủ thể giáo dục (thường là giáo viên, người hướng dẫn, tổ chức giáo dục…)

nhằm tạo ra sự chuyển biến tích cực về tri thức, kỹ năng, thái độ và phẩm chất ở

người học. Đây là khái niệm mang tính bao quát, áp dụng cho nhiều bối cảnh và

hình thức giáo dục khác nhau, từ giáo dục chính quy trong nhà trường đến giáo dục

ngoài nhà trường.

Về bản chất, hoạt động giáo dục thường bao gồm các yếu tố cấu thành như

mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức và đánh giá. Hoạt

động giáo dục không chỉ giới hạn trong khuôn khổ lớp học mà còn diễn ra ở nhiều

môi trường mở như bảo tàng, công viên, thư viện, di tích, cộng đồng... Trong các

bối cảnh này, hoạt động giáo dục có thể mang tính chính thức (chương trình được

thiết kế bài bản) hoặc phi chính thức (tương tác tự nhiên nhưng vẫn mang tính giáo

dục).

1.2.1.2. Khái niệm hoạt động giáo dục trong lĩnh vực bảo tàng

Hoạt động giáo dục trong bảo tàng là một dạng giáo dục ngoài nhà trường

đặc thù, được tổ chức dựa trên hệ thống hiện vật, không gian trưng bày và trải

nghiệm thực tiễn, nhằm giúp công chúng, đặc biệt là học sinh tiếp cận tri thức một

cách trực quan, cảm xúc và mang tính khám phá.

Khác với hoạt động giáo dục trong nhà trường vốn thiên về giảng dạy lý

thuyết, giáo dục bảo tàng nhấn mạnh vào việc khơi gợi tư duy độc lập, cảm thụ

thẩm mỹ và hình thành kỹ năng học tập chủ động thông qua quan sát, tương tác và

phản hồi. Đây là hình thức giáo dục gắn liền với di sản văn hóa – lịch sử, lấy trải

nghiệm cá nhân làm trung tâm, đồng thời khuyến khích sự sáng tạo và kết nối liên

ngành giữa nhiều lĩnh vực như văn học, nghệ thuật, lịch sử, mỹ thuật...

Theo Thông tư số 18/2010/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du

lịch, hoạt động giáo dục tại bảo tàng bao gồm hướng dẫn tham quan, tổ chức

23

chương trình chuyên đề, hội thảo, tọa đàm, nói chuyện chuyên đề, xuất bản ấn phẩm

và các hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Đây là một trong những chức năng cốt lõi,

thể hiện rõ vai trò của bảo tàng như một thiết chế văn hóa – giáo dục phục vụ cộng

đồng.

1.2.1.3. Khái niệm chương trình giáo dục

Chương trình giáo dục là một hệ thống có cấu trúc, bao gồm: mục tiêu, nội

dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức và cách thức đánh giá kết quả

học tập, được xây dựng nhằm đạt được mục tiêu giáo dục cụ thể đối với một nhóm

người học nhất định. Theo nghĩa rộng, chương trình giáo dục không chỉ là bản thiết

kế học thuật mà còn là cơ sở để định hướng tổ chức dạy học và đảm bảo chất lượng

đầu ra.

Trong lĩnh vực giáo dục ngoài nhà trường, chương trình giáo dục có thể được

hiểu là các mô hình hoạt động học tập tích hợp trải nghiệm, phù hợp với từng nhóm

đối tượng, lấy người học làm trung tâm và hướng đến phát triển năng lực toàn diện.

Chương trình giáo dục tại bảo tàng thường được thiết kế linh hoạt, gắn kết chặt chẽ

với hiện vật, không gian trưng bày và các hình thức trình diễn văn hóa, giúp người

học tiếp thu tri thức một cách trực quan, cảm xúc và sáng tạo.

1.2.1.4. Khái niệm học sinh phổ thông

Học sinh phổ thông là những người đang theo học tại các trường phổ thông, bao gồm các cấp học từ lớp 1 đến lớp 12. Đây là nhóm đối tượng có đặc điểm phát triển mạnh về thể chất, trí tuệ và tâm lý xã hội, đồng thời cũng là giai đoạn hình thành và hoàn thiện thế giới quan, nhân sinh quan và giá trị thẩm mỹ.

Trong hệ thống giáo dục quốc dân, học sinh phổ thông giữ vai trò trung tâm của quá trình GD&ĐT thế hệ trẻ, là đối tượng chính của các hoạt động giáo dục tại trường học cũng như trong các thiết chế văn hóa, trong đó có bảo tàng. Do vậy, việc thiết kế các hoạt động giáo dục tại bảo tàng cần đặt trọng tâm vào đặc điểm tiếp nhận, nhu cầu nhận thức và khả năng tương tác của nhóm đối tượng này.

1.2.1.5. Khái niệm Bảo tàng Theo quy định tại Luật Di sản văn hóa (sửa đổi, bổ sung năm 2009),

Bảo tàng là thiết chế văn hóa có chức năng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, trưng bày, giới thiệu di sản văn hóa, bằng chứng vật chất về thiên nhiên, con người

24

và môi trường sống của con người, nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, học tập, tham quan và hưởng thụ văn hóa của công chúng19.

Trong bối cảnh hiện nay, bảo tàng không chỉ đơn thuần là nơi lưu giữ và trình

bày các hiện vật lịch sử – văn hóa, mà còn là một không gian mở thúc đẩy giáo dục

sáng tạo, tương tác đa chiều và kết nối cộng đồng. Với chức năng xã hội hóa tri

thức, bảo tàng trở thành một “lớp học không tường”, góp phần tích cực vào quá

trình giáo dục công dân, đặc biệt là đối với học sinh phổ thông – lực lượng kế thừa

và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.

1.2.2. Một số đặc điểm liên quan đến hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Văn

học Việt Nam

1.2.2.1. Đặc điểm hoạt động giáo dục tại bảo tàng

Hoạt động giáo dục tại bảo tàng là một hình thức giáo dục ngoài nhà trường,

dựa trên hiện vật, không gian trưng bày và trải nghiệm thực tế. Khác với giáo dục

trong lớp học thiên về lý thuyết, giáo dục bảo tàng khuyến khích người học quan

sát, nhập vai, thực hành và phản hồi cá nhân, từ đó phát triển tư duy và cảm xúc

thẩm mỹ.

Các đặc điểm nổi bật của giáo dục bảo tàng gồm: tính trực quan – sinh động

(thông qua hiện vật, tư liệu, không gian lịch sử – văn hóa được tái hiện), tính trải

nghiệm – khám phá (học tập trong môi trường mở, thực tiễn), tính linh hoạt – đa đối

tượng (phù hợp với nhiều lứa tuổi, trình độ) và tính tích hợp liên ngành (kết nối

giữa văn học, lịch sử, nghệ thuật, kỹ năng sống...).

Nhờ các đặc trưng này, hoạt động giáo dục tại bảo tàng không chỉ truyền đạt

kiến thức mà còn góp phần hình thành năng lực toàn diện, đặc biệt là tư duy phản

biện, cảm thụ văn hóa và năng lực học tập suốt đời cho người học.

1.2.2.2. Đặc điểm hoạt động giáo dục cho học sinh phổ thông

Học sinh phổ thông là nhóm đang phát triển mạnh về trí tuệ, cảm xúc và

nhân cách, nên hoạt động giáo dục tại bảo tàng cần phù hợp với đặc điểm tâm lý, độ

tuổi và trình độ nhận thức. Nội dung phải gần gũi, sinh động, dễ hiểu và có khả

19 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Di sản văn hóa (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Điều 4, khoản 16.

năng gợi mở sự tò mò, kết nối với tri thức trong nhà trường.

25

Giáo dục cho đối tượng này cần phát huy tính chủ động, tương tác và thực

hành. Học sinh nên được tham gia các hoạt động như quan sát hiện vật, đặt câu hỏi,

nhập vai nhân vật, sáng tạo thơ ca, kể chuyện, vẽ tranh... để nâng cao hứng thú và

khả năng cảm thụ văn học.

Đặc biệt, chương trình tại bảo tàng cần gắn kết chặt chẽ với các môn học như

Ngữ văn, Lịch sử, Mỹ thuật, Giáo dục công dân… nhằm củng cố kiến thức, phát

triển tư duy liên ngành và tăng khả năng vận dụng vào thực tiễn. Nhờ vậy, hoạt

động giáo dục tại bảo tàng không chỉ là trải nghiệm ngoại khóa mà là phần thiết yếu

trong quá trình giáo dục toàn diện học sinh phổ thông.

1.2.2.3. Một số đặc điểm của Bảo tàng Văn học Việt Nam liên quan đến hoạt

động giáo dục

Bảo tàng Văn học Việt Nam là bảo tàng chuyên ngành duy nhất tại Việt Nam

lấy văn học làm nội dung trung tâm, trực thuộc Hội Nhà văn Việt Nam. Trưng bày

tại đây tập trung giới thiệu tiến trình văn học dân tộc và các tác giả, tác phẩm tiêu

biểu từ trung đại đến hiện đại – tạo nên đặc trưng riêng biệt cho việc thiết kế

chương trình giáo dục.

Không gian trưng bày được bố trí khoa học, giàu biểu tượng và có tính kết nối cao với chương trình Ngữ văn phổ thông. Các chủ đề như “Văn học dân gian”, “Các nhà văn đoạt Giải thưởng Hồ Chí Minh”, hay “Không gian văn hóa Xóm Chòi” mang lại góc nhìn trực quan, giúp học sinh dễ dàng tiếp cận kiến thức văn học thông qua hiện vật sống động.

Ngoài ra, các khu vực tái hiện sinh hoạt truyền thống, không gian chuyên đề và khu vực sáng tạo mở rộng cơ hội thiết kế các hoạt động giáo dục trải nghiệm đa dạng, đáp ứng định hướng phát triển năng lực, phẩm chất người học. Nhờ vậy, bảo tàng hội đủ điều kiện để trở thành thiết chế văn hóa giáo dục hiện đại, góp phần bồi dưỡng tình yêu văn học, năng lực thẩm mỹ và khả năng học tập chủ động cho học sinh phổ thông.

1.2.3. Một số quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về công tác tổ

chức hoạt động giáo dục đối với bảo tàng

1.2.3.1. Phát huy vai trò của bảo tàng trong việc nâng cao đời sống tinh thần

của nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội thông qua giáo dục di sản văn hóa

Đảng và Nhà nước xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội và là động lực phát triển bền vững. Trong đó, bảo tàng được xem là thiết chế không chỉ

26

gìn giữ di sản mà còn đóng vai trò trung tâm giáo dục ngoài nhà trường, góp phần nâng cao dân trí, giáo dục thẩm mỹ và bồi đắp giá trị nhân văn, nhất là đối với thế hệ trẻ.

Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII khẳng định vai trò của bảo tàng trong việc nâng cao đời sống tinh thần nhân dân thông qua hoạt động giáo dục di sản, còn Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 (Quyết định số 1909/QĐ-TTg) nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả của các thiết chế văn hóa, trong đó có bảo tàng, nhằm phục vụ đời sống tinh thần và hội nhập quốc tế.

Từ góc độ phát triển, bảo tàng còn góp phần thúc đẩy công nghiệp văn hóa, du lịch sáng tạo và dịch vụ giáo dục, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế bền vững. Để phát huy hiệu quả, hoạt động giáo dục tại bảo tàng cần đổi mới toàn diện, lấy người học làm trung tâm, ứng dụng công nghệ và tăng cường phối hợp liên ngành – góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc trong thời đại hội nhập.

1.2.3.2. Tăng cường đầu tư cho nhân lực và khoa học công nghệ của bảo

tàng để nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục di sản văn hóa

Trong bối cảnh chuyển đổi số, bảo tàng cần đổi mới toàn diện để đáp ứng yêu cầu giáo dục hiện đại. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định phát triển nhân lực chất lượng cao và ứng dụng khoa học – công nghệ là đột phá chiến lược.

Đối với bảo tàng, việc đào tạo đội ngũ cán bộ có kiến thức liên ngành, tư duy sáng tạo và năng lực thiết kế trải nghiệm là yếu tố then chốt. Cùng với đó, đầu tư công nghệ như VR, AR, phần mềm tương tác, ứng dụng di động… sẽ nâng cao tính cá nhân hóa, hấp dẫn và khả năng tiếp cận đa đối tượng.

Sự kết hợp giữa phát triển nhân lực và ứng dụng công nghệ chính là giải pháp toàn diện để nâng cao hiệu quả giáo dục di sản, góp phần hiện đại hóa bảo tàng theo định hướng Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030.

1.2.3.3. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục di sản văn

hóa thông qua các hoạt động của bảo tàng, góp phần nâng cao ý thức cộng đồng

Tuyên truyền – giáo dục di sản là nhiệm vụ chiến lược nhằm nâng cao nhận thức và thúc đẩy hành vi văn hóa tích cực trong cộng đồng. Đảng và Nhà nước định hướng đổi mới truyền thông bảo tàng theo hướng đa kênh, linh hoạt, phù hợp từng nhóm đối tượng.

Theo Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII và Chiến lược phát triển văn hóa đến 2030, việc tích hợp giáo dục di sản vào chương trình học, hoạt động đoàn thể,

27

truyền thông đại chúng và nền tảng số là hướng đi hiệu quả. Đặc biệt, học sinh phổ thông cần được tiếp cận qua các hình thức sáng tạo như trải nghiệm tương tác, trò chơi học tập, sản phẩm số.

Đẩy mạnh truyền thông giáo dục di sản không chỉ nâng cao vai trò của bảo tàng trong xã hội học tập, mà còn mở rộng cơ hội tiếp cận văn hóa theo hướng bình đẳng, sáng tạo và bền vững.

1.2.3.4. Phát huy giá trị di sản văn hóa thông qua các chương trình giáo dục

của bảo tàng, phục vụ lợi ích xã hội và thúc đẩy giao lưu văn hóa

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, phát huy giá trị di sản qua giáo dục bảo tàng là

cách hiệu quả để gìn giữ bản sắc và thúc đẩy giao lưu văn hóa. Xu hướng chuyển từ

“bảo tàng của hiện vật” sang “bảo tàng vì con người” đặt trải nghiệm và tương tác

của công chúng làm trung tâm đánh giá hiệu quả giáo dục.

Thông qua lớp học trải nghiệm, tọa đàm, workshop, trại sáng tác hay dự án

hợp tác quốc tế, bảo tàng thực hiện sứ mệnh kép: nâng cao dân trí và kết nối văn

hóa. Đây cũng là tinh thần của Nghị quyết 33-NQ/TW và Đề án 844/QĐ-TTg về

phát triển công nghiệp văn hóa.

Xây dựng chương trình giáo dục hướng tới lợi ích xã hội và hội nhập quốc tế

sẽ góp phần định vị bảo tàng như một thiết chế văn hóa sáng tạo, nơi giao thoa giữa

truyền thống và hiện đại, địa phương và toàn cầu.

2. Nội dung đề án

2.1. Mục đích, yêu cầu

2.1.1. Mục đích

Mục tiêu chính của đề án là tổ chức, thử nghiệm và nhân rộng các mô hình

giáo dục văn học dành cho học sinh phổ thông tại Bảo tàng Văn học Việt Nam.

Thông qua khai thác hiệu quả môi trường di sản và hiện vật văn học, đề án góp

phần nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn phổ thông theo hướng trực quan – cảm

xúc – thực hành.

Các mô hình tập trung vào học qua trải nghiệm như: thảo luận văn học liên

thế hệ, nhập vai nhân vật, viết sáng tạo, cảm thụ tác phẩm qua hình ảnh, âm thanh

và hiện vật gốc. Qua đó, học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức, mà còn phát triển

tình yêu văn học, năng lực cảm thụ và tư duy sáng tạo.

Đồng thời, đề án đề xuất cơ chế phối hợp giữa bảo tàng – nhà trường –

chuyên gia, tích hợp hoạt động trải nghiệm vào chương trình học chính khóa hoặc

28

ngoại khóa theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh trong

chương trình GDPT 2018.

2.1.2. Yêu cầu

Để phù hợp với học sinh phổ thông, các hoạt động giáo dục trong đề án cần

đáp ứng các yêu cầu sau:

- Về nội dung: Lựa chọn chủ đề gần gũi với chương trình Ngữ văn phổ

thông, ưu tiên các tác phẩm có trong sách giáo khoa. Đồng thời, mở rộng bằng

những tác phẩm có giá trị nghệ thuật và tư tưởng nhằm nâng cao nhận thức văn học.

- Về hình thức tổ chức: Áp dụng phương pháp học tích cực như thảo luận,

viết cảm nhận, nhập vai, làm dự án, sơ đồ tư duy. Tổ chức trò chơi học tập như

“Đoán tác giả – tác phẩm”, “Tái hiện nhân vật”, “Sân khấu hóa văn học” để tạo

hứng thú.

- Về cách tiếp cận: Lấy người học làm trung tâm, khuyến khích quan sát,

phân tích, phản hồi và hợp tác nhóm. Hoạt động cần phát triển tư duy phản biện,

năng lực ngôn ngữ và cảm thụ văn học.

- Về cơ chế phối hợp: Giáo viên và cán bộ bảo tàng cần chuẩn bị nội dung

trước buổi học; sau hoạt động, tổ chức đánh giá – phản hồi nhằm hoàn thiện chương

trình và đo lường hiệu quả học tập.

2.2. Thời gian, địa điểm, thành phần

2.2.1. Thời gian

Đề án được triển khai từ 2025 – 2030, bao gồm hai giai đoạn:

- Giai đoạn 1 (07/2026–2026): Thử nghiệm các mô hình tổ chức hoạt động

giáo dục đã được xây dựng trong đề án, đánh giá tính khả thi trong điều kiện thực

tiễn tại Bảo tàng Văn học Việt Nam, từ đó điều chỉnh và hoàn thiện nội dung phù

hợp với đối tượng học sinh phổ thông.

- Giai đoạn 2 (2027–2030): Nhân rộng các mô hình giáo dục đã hoàn thiện

tại bảo tàng và mở rộng phối hợp với các cơ sở giáo dục phổ thông; đồng thời xây

dựng cơ chế phối hợp bền vững nhằm phát triển hoạt động giáo dục tại bảo tàng

theo hướng thường xuyên, hiệu quả và lâu dài.

2.2.2. Địa điểm

- Đề án được triển khai tại Bảo tàng Văn học Việt Nam, địa chỉ số 275 Âu

Cơ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội

29

2.2.3. Thành phần tham gia

- Đối tượng chính: Học sinh THPT đang theo học tại các trường phổ thông

trên địa bàn thành phố Hà Nội.

- Đơn vị tổ chức: Bảo tàng Văn học Việt Nam chủ trì, phối hợp với các

trường THPT và các phòng giáo dục – đào tạo tại địa phương.

- Đội ngũ thực hiện: Gồm cán bộ bảo tàng, giáo viên dạy Ngữ văn, chuyên

gia trong lĩnh vực văn học và giáo dục di sản, cùng các cộng tác viên có kinh

nghiệm tổ chức hoạt động ngoại khóa.

- Khách mời chuyên đề: Bao gồm các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn

học, nhà giáo và nhà báo có uy tín trong lĩnh vực văn hóa – văn học.

2.3. Nội dung, chương trình

2.3.1. Mô hình xây dựng không gian văn học ảo 3D để học sinh phổ thông

trải nghiệm

Mục tiêu:

Mô hình hướng đến việc tạo dựng một không gian học tập trực quan, hấp dẫn

và tích hợp công nghệ hiện đại, nhằm hỗ trợ học sinh phổ thông tiếp cận tác phẩm

văn học theo cách sáng tạo, trực quan và giàu cảm xúc cá nhân. Thông qua trải

nghiệm không gian văn học ảo 3D tại Bảo tàng Văn học Việt Nam hoặc trên nền

tảng số, học sinh có điều kiện thâm nhập vào bối cảnh sáng tác, không gian sống

của nhân vật, cấu trúc biểu tượng trong tác phẩm, từ đó nâng cao khả năng cảm thụ,

tư duy phản biện và tình yêu đối với môn Ngữ văn.

Nội dung và hoạt động cụ thể:

Mô hình triển khai chuỗi hoạt động ba giai đoạn phù hợp với tiến trình học tập

của học sinh phổ thông: trước – trong – sau trải nghiệm. Tất cả hoạt động đều được

xây dựng trên cơ sở chương trình Ngữ văn THPT theo Chương trình Giáo dục phổ

thông 2018, đồng thời phù hợp với điều kiện công nghệ hiện có tại nhà trường. Các

hoạt động cụ thể bao gồm:

- Xây dựng không gian 3D theo chuyên đề văn học trọng tâm chương trình

phổ thông:

Mỗi chuyên đề tương ứng với một nhóm tác phẩm hoặc tác giả quan trọng trong

chương trình Ngữ văn các lớp 10, 11, 12.

Không gian được thiết kế bằng công nghệ 3D tái hiện bối cảnh nghệ thuật, lịch

sử, xã hội của tác phẩm.

30

Một số chuyên đề minh họa:

Làng quê Việt Nam: trải nghiệm không gian trong Làng (Kim Lân), thơ

Nguyễn Bính.

Ánh sáng và bóng tối nơi phố huyện: Hai đứa trẻ (Thạch Lam).

Hành trình kháng chiến: Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành), thơ Tố Hữu.

Thơ và cảm xúc tuổi trẻ: Sóng (Xuân Quỳnh), Tự tình (Hồ Xuân Hương),

Tây Tiến (Quang Dũng).

Tiếng cười phê phán xã hội: Số đỏ (Vũ Trọng Phụng), Hạnh phúc của một

tang gia (Nam Cao).

- Chuỗi hoạt động trải nghiệm dành cho học sinh phổ thông:

Trước trải nghiệm (tại lớp học):

Giáo viên Ngữ văn giới thiệu chuyên đề và bối cảnh, hướng dẫn học sinh

nghiên cứu tác phẩm, tìm hiểu nhân vật, đặt câu hỏi khám phá.

Học sinh lập sơ đồ tư duy, viết nhật ký nhập vai nhân vật hoặc sáng tác tranh

minh họa thị giác.

Trong trải nghiệm (tại bảo tàng hoặc trực tuyến):

Học sinh tham quan không gian ảo bằng thiết bị thực tế ảo (VR), ứng dụng AR

hoặc trình chiếu tương tác.

Tương tác với các điểm chạm (hotspots): nội dung giải thích chi tiết văn học,

âm thanh nền, đoạn trích dẫn, lời dẫn chuyện tự động.

Thực hiện nhiệm vụ học tập cá nhân hoặc nhóm: phân tích bối cảnh, nhận diện

biểu tượng, so sánh tác phẩm, viết cảm nhận tại chỗ.

Sau trải nghiệm (kết nối thực tiễn):

Viết cảm nhận, nhật ký trải nghiệm, sáng tác mới (thơ, truyện ngắn, tranh,

clip).

Báo cáo kết quả, trình bày sản phẩm nhóm, tạo hồ sơ học tập cá nhân.

Trường có thể tổ chức triển lãm nhỏ hoặc liên kết với bảo tàng trưng bày trực

tuyến.

- Đánh giá kết quả học tập:

Đánh giá theo hướng phát triển năng lực toàn diện của học sinh, phù hợp định

hướng của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Các tiêu chí cụ thể bao gồm:

Năng lực cảm thụ và tư duy văn học: Mức độ hiểu và phân tích tác phẩm trong

bối cảnh không gian – thời gian nghệ thuật.

31

Năng lực sáng tạo: Khả năng thể hiện cảm xúc, liên hệ thực tiễn, tái hiện tác

phẩm bằng phương tiện nghệ thuật đa dạng.

Năng lực giao tiếp – hợp tác: thái độ làm việc nhóm, kỹ năng trình bày và

phản biện trong các hoạt động học tập chung. Giáo viên và cán bộ bảo tàng cùng sử

dụng bảng tiêu chí định lượng và định tính phù hợp với lứa tuổi.

Giáo viên và cán bộ bảo tàng sử dụng bảng tiêu chí định lượng và định tính

phù hợp với lứa tuổi học sinh.

Kết quả học tập có thể được tích hợp vào điểm thành phần môn Ngữ văn hoặc

hồ sơ rèn luyện kỹ năng sống.

Thời gian thực hiện: 2025 - 2030

Tổ chức thực hiện, các bên liên quan:

- Đơn vị chủ quản: Bảo tàng Văn học Việt Nam quản lý và phối hợp với các

đối tác triển khai.

- Các bên liên quan:

Các trường THPT tại Hà Nội và các tỉnh lân cận: phối hợp cử học sinh, giáo

viên tham gia, tích hợp hoạt động vào chương trình Ngữ văn.

Khoa Ngữ văn (Đại học Sư phạm, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn): tư

vấn nội dung, phương pháp sư phạm, hỗ trợ tập huấn.

Doanh nghiệp công nghệ – thiết kế 3D: đảm nhiệm kỹ thuật, thiết kế không

gian ảo, hỗ trợ vận hành.

Hội Nhà văn Việt Nam, báo chí – truyền thông: hỗ trợ chuyên gia nội dung,

lan tỏa mô hình đến cộng đồng.

Nguồn lực thực hiện và cách huy động nguồn lực:

Nhân lực: Cán bộ bảo tàng, giáo viên bộ môn Ngữ văn, chuyên gia công

nghệ giáo dục, sinh viên sư phạm, cộng tác viên văn học.

Tài chính: Kết hợp ngân sách bảo tàng, tài trợ từ doanh nghiệp, quỹ khuyến

học, các dự án giáo dục – chuyển đổi số.

Thiết bị – công nghệ: Thiết bị VR (có thể sử dụng luân phiên theo nhóm),

phần mềm dựng hình 3D, máy chiếu, nền tảng học tập số.

Hình thức huy động: Ưu tiên xã hội hóa, phù hợp với điều kiện tài chính và

hạ tầng công nghệ tại các trường phổ thông.

Kết quả mô hình mang lại:

32

Giúp học sinh phổ thông tiếp cận văn học qua trải nghiệm thị giác, xúc cảm,

tương tác, vượt khỏi lối tiếp cận thụ động qua sách giáo khoa truyền thống.

Phát triển đồng thời năng lực học thuật, công nghệ, nghệ thuật và giao tiếp.

Là cầu nối giữa văn học, công nghệ, bảo tàng và nhà trường, thúc đẩy chuyển

đổi số trong giáo dục phổ thông.

Tạo cơ hội cho học sinh thể hiện cá tính, khám phá tác phẩm văn học qua

Mô hình có tính khả thi cao và có thể được nhân rộng tại các bảo tàng chuyên

nhiều góc nhìn sáng tạo. đề khác hoặc trong hệ thống trường học có điều kiện công nghệ phù hợp.

2.3.2. Mô hình xây dựng hệ thống thuyết minh dành cho học sinh phổ

thông

Mục tiêu: Mô hình hướng đến xây dựng một hệ thống thuyết minh chuyên biệt, sinh động và dễ tiếp cận dành riêng cho đối tượng học sinh phổ thông, giúp các em tiếp nhận tri thức văn học một cách rõ ràng, gợi mở và phù hợp với đặc điểm lứa tuổi. Thuyết minh không chỉ đơn thuần là cung cấp thông tin, mà còn mang tính chất dẫn dắt, tương tác và khơi gợi cảm xúc, qua đó hỗ trợ hiệu quả cho quá trình cảm thụ văn học, phát triển tư duy và tình yêu đối với di sản văn học dân tộc.

Nội dung và hoạt động cụ thể: - Phân loại và xây dựng nội dung thuyết minh theo nhóm tuổi và năng lực học

sinh:

Thiết kế nội dung thuyết minh theo ba cấp độ: lớp 10, lớp 11, lớp 12 gắn với

chương trình Ngữ văn THPT.

Có phiên bản dành cho học sinh trung bình – khá (ngắn gọn, dễ hiểu, minh họa

trực quan) và học sinh giỏi (mở rộng liên hệ, phân tích chuyên sâu).

Nội dung đảm bảo tính khoa học, tính sư phạm và tính hấp dẫn – lôi cuốn. - Xây dựng các hình thức thuyết minh đa phương tiện: Thuyết minh tự động qua thiết bị cầm tay (máy nghe, tai nghe có mã số) hoặc

mã QR tích hợp trên điện thoại học sinh.

Thuyết minh trực quan qua video minh họa ngắn, hoạt hình 2D/3D, sơ đồ tư

duy hoặc hoạt cảnh ngắn.

Thuyết minh sống do chính cán bộ bảo tàng hoặc học sinh/giáo viên hóa thân

dẫn chuyện theo vai (VD: vai nhà văn, nhân vật, hướng dẫn viên học sinh).

33

- Chuỗi hoạt động trải nghiệm đi kèm thuyết minh: Trước chuyến tham quan: Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu sơ bộ về không gian trưng bày và cách

sử dụng thiết bị thuyết minh.

Học sinh chuẩn bị bảng câu hỏi định hướng và biểu mẫu ghi chú thông tin thu

thập được.

Trong quá trình tham quan: Học sinh tham quan theo tuyến cố định hoặc chủ đề (tác giả, tác phẩm, thể

loại, dòng văn học).

Học sinh sử dụng các công cụ thuyết minh tương ứng: mã QR, máy nghe,

bảng tương tác, ứng dụng di động.

Kết hợp nhiệm vụ học tập tại chỗ: điền thông tin, phản hồi nhanh, chụp ảnh

chi tiết đặc biệt và ghi chú cảm nhận.

Sau chuyến tham quan: Học sinh viết thu hoạch hoặc sản phẩm sáng tạo dựa trên thông tin thu nhận từ

phần thuyết minh.

Tham gia hoạt động thảo luận nhóm hoặc tổ chức mini game kiểm tra kiến

thức sau trải nghiệm.

Một số em có thể thử vai “hướng dẫn viên nhí” trong hoạt động ngoại khóa

hoặc triển lãm tại trường.

- Đánh giá kết quả học tập: Đánh giá được thực hiện thông qua: Mức độ hiểu và ghi nhớ nội dung thuyết minh. Khả năng trình bày lại thông tin theo ngôn ngữ của bản thân. Khả năng sử dụng thông tin thu nhận để cảm thụ, liên hệ và sáng tạo. Sản phẩm học tập có thể được tích hợp vào điểm thành phần môn Ngữ văn,

hoặc hồ sơ rèn luyện kỹ năng sống – hướng nghiệp.

Thời gian thực hiện: 2025 - 2030 Tổ chức thực hiện, các bên liên quan: - Đơn vị chủ quản: Bảo tàng Văn học Việt Nam trực tiếp xây dựng nội dung,

tổ chức sản xuất và vận hành hệ thống thuyết minh.

- Các bên liên quan: Các trường THPT: thử nghiệm mô hình, góp ý cải tiến nội dung và hình thức

thuyết minh.

34

Khoa Sư phạm Ngữ văn và Khoa Công nghệ giáo dục: cố vấn nội dung,

phương pháp truyền đạt.

Doanh nghiệp công nghệ giáo dục: hỗ trợ thiết bị, phần mềm và nền tảng số

hóa.

Học sinh và giáo viên: tham gia trực tiếp vào quá trình sáng tạo nội dung,

phản hồi người dùng thực tế.

Nguồn lực thực hiện và cách huy động: Nhân lực: Cán bộ bảo tàng, giáo viên bộ môn, chuyên gia sư phạm, sinh viên

thực tập, cộng tác viên nội dung – kỹ thuật.

Tài chính: Nguồn ngân sách bảo tàng, tài trợ của các doanh nghiệp công nghệ,

dự án đổi mới giáo dục, quỹ hỗ trợ từ Bộ GD&ĐT.

Thiết bị – công nghệ: Máy nghe hướng dẫn tự động, phần mềm ứng dụng trên

điện thoại, mã QR, video 2D/3D.

Huy động theo hình thức xã hội hóa kết hợp đầu tư công – tư. Kết quả mô hình mang lại: Tăng cường khả năng tiếp nhận và cảm thụ văn học của học sinh thông qua

hình thức truyền tải hiện đại, gần gũi.

Đáp ứng nhu cầu đa dạng của học sinh phổ thông với các mức độ tiếp nhận

khác nhau.

Góp phần làm giàu trải nghiệm giáo dục tại bảo tàng, đưa thuyết minh trở

thành một phần chủ động của học sinh chứ không chỉ là lời thuyết trình thụ động.

Thúc đẩy bảo tàng trở thành không gian học tập mở – nơi giao thoa giữa văn

học, giáo dục và công nghệ.

2.4. Tổ chức thực hiện 2.4.1. Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội giữ vai trò chỉ đạo và định hướng chiến lược

trong việc triển khai hai mô hình giáo dục văn học tại Bảo tàng Văn học Việt Nam,

đặc biệt là việc tích hợp các hình thức giáo dục trải nghiệm như không gian văn học

ảo 3D và hệ thống thuyết minh dành cho học sinh phổ thông vào chương trình giáo

dục phổ thông. Sở cần ban hành hướng dẫn phối hợp giữa các nhà trường, bảo tàng

và các đối tác công nghệ nhằm đảm bảo tính thống nhất và hiệu quả trong quá trình

tổ chức thực hiện. Đồng thời, cần công nhận các hoạt động giáo dục ngoài giờ tại

bảo tàng như một phần chính thức của chương trình học, có thể tích hợp vào môn

35

Ngữ văn, chuyên đề tự chọn hoặc hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Bên cạnh đó, Sở

cũng cần chủ động đề xuất cơ chế tài chính phù hợp, chính sách hỗ trợ nhân lực và

xây dựng lộ trình mở rộng mô hình từ năm 2025 đến năm 2030 để đảm bảo tính bền

vững và khả năng nhân rộng trên địa bàn thành phố và các tỉnh lân cận.

2.4.2. Bảo tàng Văn học Việt Nam

Với tư cách là đơn vị chủ trì, Bảo tàng Văn học Việt Nam chịu trách nhiệm

toàn diện trong việc tổ chức, vận hành và phát triển hai mô hình giáo dục mới. Giai

đoạn 2025–2026, bảo tàng cần phối hợp với các bên liên quan để thiết kế nội dung,

thử nghiệm hoạt động, đào tạo đội ngũ thực hiện và xây dựng cơ sở hạ tầng công

nghệ cần thiết. Giai đoạn 2027–2030, bảo tàng cần duy trì các hoạt động định kỳ,

cập nhật công nghệ, mở rộng quy mô phối hợp với nhà trường và xây dựng hệ

thống đánh giá chất lượng mô hình. Đồng thời, bảo tàng cần đảm bảo vận hành hiệu

quả các công cụ như nền tảng tương tác 3D, thiết bị thực tế ảo, hệ thống thuyết

minh tự động, hồ sơ học tập số hóa và các ứng dụng hỗ trợ khác nhằm nâng cao trải

nghiệm của học sinh và chất lượng giáo dục văn học tại không gian di sản.

2.4.3. Các trường trung học phổ thông trên địa bàn Hà Nội

Các trường THPT trên địa bàn Hà Nội đóng vai trò là đơn vị triển khai trực

tiếp hai mô hình trong môi trường giáo dục phổ thông. Mỗi trường cần cử giáo viên

và học sinh tham gia vào các hoạt động trải nghiệm tại bảo tàng hoặc trên nền tảng

số, đồng thời chủ động tích hợp nội dung của mô hình vào chương trình môn Ngữ

văn, hoạt động ngoại khóa hoặc chuyên đề sáng tạo. Nhà trường cũng đóng vai trò

trong việc chuẩn bị trước nội dung học tập, đánh giá sau hoạt động, tổ chức triển

lãm sản phẩm học sinh và phản hồi góp ý cho các bên tổ chức để điều chỉnh mô

hình phù hợp với đặc điểm dạy – học thực tế và nhu cầu của học sinh phổ thông.

2.4.4. Các viện nghiên cứu, khoa Văn học và Sư phạm tại các trường đại

học

Các viện nghiên cứu và khoa chuyên môn của các trường đại học giữ vai trò

cố vấn học thuật và đảm bảo tính khoa học, sư phạm cho hai mô hình giáo dục mới.

Các đơn vị này có thể cử giảng viên, sinh viên tham gia hỗ trợ tổ chức hoạt động,

hiệu đính học liệu, xây dựng kịch bản thuyết minh và đóng góp vào quá trình phản

biện, đánh giá chất lượng nội dung. Ngoài ra, các cơ sở đào tạo này còn là nguồn

nhân lực quan trọng trong việc phát triển đội ngũ hướng dẫn viên, cộng tác viên,

36

đồng thời cung cấp tư liệu nghiên cứu, dữ liệu số hóa phục vụ thiết kế không gian

3D và hệ thống thuyết minh chất lượng cao.

2.4.5. Các doanh nghiệp công nghệ và tổ chức đổi mới sáng tạo

Các doanh nghiệp công nghệ và tổ chức đổi mới sáng tạo là đối tác chiến

lược trong việc phát triển, vận hành và bảo trì hệ thống công nghệ phục vụ hai mô

hình giáo dục. Họ chịu trách nhiệm thiết kế không gian văn học ảo 3D, xây dựng

ứng dụng thuyết minh tự động, tích hợp hệ thống âm thanh, hình ảnh và dữ liệu

tương tác vào nền tảng trực tuyến hoặc thiết bị thực tế ảo. Đồng thời, các doanh

nghiệp còn hỗ trợ đào tạo kỹ năng số cho giáo viên và cán bộ bảo tàng, tư vấn giải

pháp kỹ thuật, truyền thông mô hình, tham gia tài trợ và thúc đẩy quá trình chuyển

đổi số trong giáo dục văn học.

2.4.6. Hội Nhà văn Việt Nam và các tổ chức văn hóa – giáo dục Hội Nhà văn Việt Nam cùng các tổ chức văn hóa – giáo dục đóng vai trò kết nối cộng đồng văn học với không gian giáo dục di sản. Các đơn vị này có thể giới thiệu nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình tham gia giao lưu, diễn đàn văn học, xây dựng nội dung thuyết minh và hỗ trợ biên tập tư liệu phục vụ học sinh. Họ cũng góp phần lan tỏa giá trị nhân văn và tinh thần yêu văn học tới thế hệ trẻ thông qua các hoạt động truyền cảm hứng, đồng hành cùng học sinh trong các chương trình trải nghiệm tại bảo tàng hoặc không gian số.

2.4.7. Các cơ quan truyền thông, báo chí, nền tảng số Các cơ quan truyền thông, báo chí và nền tảng số là lực lượng quan trọng trong việc phổ biến và lan tỏa kết quả, giá trị của đề án tới cộng đồng. Họ tham gia truyền thông về tiến độ và nội dung triển khai mô hình, đưa tin về các hoạt động trải nghiệm của học sinh, sản phẩm sáng tạo và các diễn đàn giao lưu văn học. Đồng thời, việc sử dụng các nền tảng số để truyền tải nội dung mô hình giúp mở rộng khả năng tiếp cận tới các địa phương, thúc đẩy việc chia sẻ mô hình, nhân rộng phương pháp giáo dục văn học mới trên toàn quốc.

Từ những phân tích trên, có thể xây dựng mô hình phối hợp giữa Bảo tàng Văn học Việt Nam với các cơ quan, tổ chức liên quan trong việc tổ chức hoạt động giáo dục dành cho học sinh phổ thông. Mô hình này thể hiện sự liên kết đa chiều, góp phần phát huy tối đa nguồn lực xã hội trong công tác giáo dục di sản văn hóa:

37

Sơ đồ 2. Sơ đồ phối hợp tổ chức thực hiện đề án giáo dục văn học tại Bảo tàng Văn học Việt Nam (Nguồn: Tác giả tổng hợp)

3. Điều kiện thực hiện đề án 3.1 Điều kiện pháp lý Việc triển khai đề án cần tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành về giáo dục

và văn hóa – di sản. Các căn cứ pháp lý chính bao gồm: - Luật Di sản văn hóa (sửa đổi, bổ sung năm 2009): Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH10 ngày 29/6/2001, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 32/2009/QH12 ngày 18/6/2009 và hợp nhất theo Văn bản số 10/VBHN-VPQH ngày 14/7/2014 quy định vai trò của bảo tàng là thiết chế văn hóa phục vụ nhu cầu học tập (Điều 4 khoản16) và chính sách của Nhà nước về phát huy giá trị di sản (Điều 9 khoản 1).

- Luật Giáo dục năm 2019: Luật số 43/2019/QH14 ngày 14/6/2019 quy định mục tiêu giáo dục toàn diện (Điều 2), yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học (Điều 28), phương pháp giáo dục phổ thông (Điều 31) và nội dung giáo dục tích hợp thực tiễn (Điều 56). Luật này tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động giáo dục tại bảo tàng.

- Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030: Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 08/12/2022 của Thủ tướng Chính phủ định hướng phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó có các mục tiêu về bảo tồn di sản, phát triển công nghiệp văn hóa, ứng dụng công nghệ số và hợp tác liên ngành. Đề án góp phần thực hiện các mục tiêu này.

38

- Các văn bản hướng dẫn: Thông tư 06/2019/TT-BVHTTDL: Hướng dẫn bảo tàng công lập tổ chức hoạt

động giáo dục phục vụ cộng đồng.

Thông tư 04/2014/TT-BGDĐT: Quy định tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng

tạo trong chương trình phổ thông.

Kế hoạch số 287/KH-SGDĐT (2023): Định hướng hợp tác giữa nhà trường và

bảo tàng nhằm mở rộng không gian giáo dục thực tiễn.

Các văn bản này tạo điều kiện để các hoạt động giáo dục bảo tàng được tích

hợp vào chương trình học chính khóa và ngoại khóa.

- Quy chế phối hợp: Việc xây dựng quy chế phối hợp ba bên (Bảo tàng – Nhà trường – Cơ quan quản lý) là cần thiết để đảm bảo tính pháp lý và hiệu quả của đề án.

3.2. Điều kiện về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là yếu tố then chốt bảo đảm chất lượng và độ bền vững của hai mô hình giáo dục mới tại Bảo tàng Văn học Việt Nam. Đội ngũ cần vừa đủ về số lượng, vừa mạnh về chất lượng, kết hợp chuyên môn văn học, bảo tàng học, giáo dục học và năng lực công nghệ số như thiết kế không gian 3D, lập trình thuyết minh tự động, quản trị kho tư liệu số.

Cán bộ bảo tàng phải được bồi dưỡng kỹ năng liên kết trưng bày với chương trình Ngữ văn và vận hành thiết bị VR/AR; giáo viên phổ thông (đặc biệt là Ngữ văn, Lịch sử, Giáo dục công dân) cần được đào tạo nâng cao về thiết kế hoạt động trải nghiệm số hoá để lồng ghép hiệu quả vào dạy-học chính khóa và ngoại khóa.

Lực lượng cộng tác viên – tình nguyện viên (sinh viên văn hóa, giáo dục, truyền thông) hỗ trợ hướng dẫn, còn chuyên gia công nghệ, nhà văn, nhà nghiên cứu tham gia sản xuất học liệu và cố vấn chuyên đề. Giai đoạn 2025-2030 cần hình thành tổ công tác liên ngành nòng cốt, triển khai các khóa tập huấn định kỳ, thiết lập cơ chế ghi nhận – đánh giá năng lực để bảo đảm nhân sự luôn đa ngành, linh hoạt và được cập nhật kỹ năng theo tiến trình chuyển đổi số của bảo tàng.

3.3. Điều kiện về cơ sở vật chất và tài chính Cơ sở vật chất và tài chính là nền tảng thiết yếu để đảm bảo triển khai hiệu quả hai mô hình giáo dục hiện đại tại Bảo tàng Văn học Việt Nam giai đoạn 2025–2030. Với đặc thù tích hợp công nghệ cao như không gian văn học ảo 3D và hệ thống thuyết minh đa phương tiện, bảo tàng cần đầu tư đồng bộ về hạ tầng vật lý và nền tảng công nghệ số. Về cơ sở vật chất, cần xây dựng các không gian chức năng như

39

phòng trải nghiệm thực tế ảo, phòng học liên kết bảo tàng – nhà trường, kho tư liệu số, studio ghi âm thuyết minh cùng hệ thống thiết bị hiện đại bao gồm kính VR, bảng tương tác, máy chiếu, máy tính cấu hình cao, thiết bị trình chiếu và các nền tảng số kết nối từ xa. Việc phát triển hệ thống học liệu số (âm thanh, hình ảnh, video, dữ liệu 3D) và thiết lập kho học tập trực tuyến cho phép học sinh và giáo viên truy cập mọi lúc – mọi nơi, phù hợp với hình thức học tập kết hợp (blended learning).

Về tài chính, cần xây dựng cơ chế ngân sách ổn định, có lộ trình rõ ràng theo

từng giai đoạn từ thử nghiệm đến nhân rộng mô hình. Bên cạnh nguồn lực công từ

ngân sách nhà nước và đơn vị chủ quản, đề án cần huy động hiệu quả nguồn lực xã

hội hóa từ các doanh nghiệp công nghệ, quỹ khuyến học, tổ chức văn hóa – giáo

dục và các dự án chuyển đổi số trong giáo dục. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế tài

chính minh bạch, hiệu quả, có kiểm toán và đánh giá định kỳ nhằm tạo niềm tin và

thu hút đối tác đồng hành. Việc đầu tư đúng mức cho hạ tầng kỹ thuật và tài chính

sẽ góp phần khẳng định vai trò của bảo tàng như một thiết chế văn hóa giáo dục

hiện đại, kết nối di sản văn học với thế hệ trẻ bằng trải nghiệm sinh động, công nghệ

cao và học tập sáng tạo.

4. Kế hoạch thực hiện đề án

4.1 Kế hoạch triển khai và định hướng phát triển đề án đến năm 2030

4.1.1. Thời gian thực hiện tổng thể

Đề án được xây dựng với lộ trình triển khai cụ thể, bao gồm hai giai đoạn

chính:

Giai đoạn 1 (2025–2026): Thử nghiệm và hoàn thiện mô hình

- Tổ chức thử nghiệm hai mô hình giáo dục đã được đề xuất trong đề án, bao

gồm:

Mô hình xây dựng không gian văn học ảo 3D để học sinh phổ thông trải

nghiệm

Mô hình xây dựng hệ thống thuyết minh dành cho học sinh phổ thông

- Thử nghiệm được triển khai trên quy mô hạn chế tại một số trường THPT và

nhóm học sinh mục tiêu, dưới sự phối hợp giữa Bảo tàng, giáo viên và chuyên gia

công nghệ – giáo dục.

- Tiến hành thu thập phản hồi từ học sinh, giáo viên, cán bộ bảo tàng và

chuyên gia để: Đánh giá hiệu quả tiếp cận, tính hấp dẫn và khả năng tích hợp vào

40

dạy học môn Ngữ văn; Điều chỉnh nội dung chuyên đề, hình thức trình bày, công cụ

công nghệ và phương pháp tổ chức phù hợp với lứa tuổi học sinh phổ thông; Hoàn

thiện mô hình về mặt nội dung, kỹ thuật, sư phạm và khả năng triển khai thực tế,

làm cơ sở cho nhân rộng sau năm 2026.

Giai đoạn 2 (2027–2030): Nhân rộng mô hình và phát triển bền vững

- Tổ chức triển khai rộng rãi hai mô hình giáo dục đã hoàn thiện tại Bảo tàng

Văn học Việt Nam, tích hợp vào hoạt động ngoại khóa hoặc chuyên đề sáng tạo tại

các trường THPT trên địa bàn Hà Nội.

- Xây dựng cơ chế phối hợp lâu dài giữa bảo tàng và nhà trường, trong đó:

Bảo tàng đóng vai trò tổ chức, vận hành, cập nhật công nghệ

Nhà trường đảm nhiệm điều phối học sinh, lồng ghép chương trình học tập và

phản hồi mô hình

Đẩy mạnh truyền thông, ứng dụng nền tảng số và công nghệ mới (VR, thuyết

minh số, dữ liệu học tập trực tuyến) để nâng cao khả năng tiếp cận của học

sinh, mở rộng ảnh hưởng mô hình trong cộng đồng giáo dục.

Đến năm 2030, tổ chức tổng kết, đánh giá toàn diện kết quả thực hiện đề án:

Đề xuất phương án duy trì bền vững trong giai đoạn tiếp theo

Xem xét mở rộng mô hình sang các bảo tàng chuyên đề khác hoặc các thiết chế

văn hóa tương tự nếu có điều kiện phù hợp

4.1.2. Lịch trình thực hiện cụ thể

Thời gian Nội dung công việc chính Đơn vị phụ trách

Giai đoạn 1: Thử nghiệm và hoàn thiện mô hình

07/2025 – Tổ chức thử nghiệm hai mô hình giáo Bảo tàng Văn học Việt

12/2025 dục tại Bảo tàng Văn học Việt Nam; Nam; các trường phổ

phối hợp với một số trường phổ thông thông liên kết

để triển khai hoạt động thực tế

01/2026 - Thu thập phản hồi từ học sinh và giáo Nhóm điều phối chuyên

06/2026 viên; đánh giá hiệu quả thử nghiệm; môn; đại diện nhà

điều chỉnh nội dung, hình thức tổ chức trường

của các mô hình

41

07/2026 - Hoàn thiện mô hình; xây dựng tài liệu Ban điều phối đề án;

12/2026 hướng dẫn triển khai và quy trình tổ nhóm chuyên gia giáo

chức phù hợp với điều kiện thực tiễn tại dục bảo tàng

bảo tàng và nhà trường

Giai đoạn 2: Nhân rộng mô hình và phát triển bền vững

01/2027 - Triển khai nhân rộng mô hình trong Bảo tàng Văn học Việt

12/2028 hoạt động giáo dục định kỳ tại bảo tàng; Nam; Sở GD&ĐT Hà

mở rộng phối hợp với các trường phổ Nội; các trường đối tác

thông tại Hà Nội và một số địa phương

phù hợp

01/2029 – Tổng kết, đánh giá hiệu quả mô hình Bảo tàng, Sở GD&ĐT

12/2030 sau quá trình nhân rộng; hoàn thiện quy Hà Nội, Bộ VHTT&

trình vận hành; đề xuất giải pháp duy trì DL

lâu dài, bền vững trong hoạt động giáo

dục tại bảo tàng

4.1.3. Các hoạt động kiểm tra và điều chỉnh

Giai đoạn thử nghiệm và hoàn thiện mô hình (07/2025–12/2026):

- Tổ chức các cuộc họp định kỳ hàng quý giữa Bảo tàng Văn học Việt Nam,

đại diện nhà trường và nhóm điều phối chuyên môn để rà soát tiến độ, thảo luận các

vấn đề thực tiễn và đề xuất giải pháp điều chỉnh kịp thời.

- Thực hiện khảo sát phản hồi nhanh ngay sau mỗi hoạt động thử nghiệm, với

đối tượng là học sinh, giáo viên và phụ huynh, nhằm thu thập thông tin về mức độ

tiếp cận, tính hấp dẫn, hiệu quả học tập và các gợi ý cải tiến từ người dùng thực tế.

- Tổng hợp dữ liệu đánh giá định tính và định lượng từ các hoạt động, qua đó

tiến hành điều chỉnh nội dung chuyên đề, công cụ công nghệ, hình thức trình bày và

tài liệu hướng dẫn. Việc điều chỉnh được thực hiện có hệ thống nhằm bảo đảm mô

hình được hoàn thiện tối ưu trước khi triển khai diện rộng.

Giai đoạn nhân rộng mô hình và phát triển bền vững (từ 01/2027 – 12/2030):

- Trước mỗi đợt triển khai tại các trường phổ thông, tiến hành đánh giá thực

trạng cụ thể của từng đơn vị (nhân lực, hạ tầng công nghệ, trình độ học sinh, nhu

cầu giáo dục) nhằm có phương án triển khai phù hợp.

42

- Tổ chức các buổi tập huấn chuyên đề và hướng dẫn kỹ thuật cho cán bộ bảo

tàng, giáo viên và cộng tác viên tham gia mô hình, nhằm đảm bảo thống nhất về

phương pháp và kỹ năng triển khai.

- Duy trì cơ chế phối hợp thường xuyên giữa bảo tàng và nhà trường thông

qua đầu mối điều phối; xây dựng hệ thống thông tin hai chiều để kịp thời cập nhật

tình hình thực hiện và hỗ trợ kỹ thuật – nội dung từ trung tâm.

- Định kỳ hằng năm tổ chức tổng kết đánh giá quy mô mô hình đã triển khai,

hiệu quả học tập, mức độ tương tác và giá trị văn hóa – công nghệ mang lại; từ đó

cập nhật, nâng cấp mô hình theo xu hướng đổi mới giáo dục, ứng dụng số và phản

hồi từ thực tiễn.

4.2. Tổ chức thực hiện

Việc triển khai đề án được tiến hành theo một quy trình khoa học, có định

hướng chiến lược và sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan. Trong đó, Bảo

tàng Văn học Việt Nam đóng vai trò trung tâm điều phối, kết nối các lực lượng

tham gia, đồng thời thiết lập các cơ chế thực thi rõ ràng nhằm đảm bảo tính khả thi

và hiệu quả thực tế, đặc biệt trong triển khai các mô hình ứng dụng công nghệ như

không gian ảo 3D và hệ thống thuyết minh tương tác. Các bước tổ chức thực hiện

đề án bao gồm:

4.2.1. Thành lập Ban Điều phối đề án

Bảo tàng Văn học Việt Nam sẽ chủ trì thành lập Ban Điều phối đề án với

thành phần gồm đại diện các bên liên quan như: Sở GD&ĐT Hà Nội, các trường

phổ thông đối tác, các đơn vị công nghệ, chuyên gia học thuật trong lĩnh vực văn

học, bảo tàng học, sư phạm và công nghệ giáo dục. Ban Điều phối có chức năng

định hướng chiến lược, xây dựng kế hoạch tổng thể và theo dõi tiến trình thực hiện

đề án. Cụ thể, Ban có nhiệm vụ:

Xây dựng kế hoạch triển khai đề án theo từng giai đoạn, đảm bảo sự linh hoạt và

thích ứng với thay đổi từ thực tiễn triển khai các mô hình công nghệ.

Điều phối, phân bổ và giám sát nguồn lực (nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất)

giữa các đơn vị tham gia, bao gồm nguồn lực công nghệ và sáng tạo.

Tổ chức các cuộc họp sơ kết, tổng kết theo định kỳ nhằm đánh giá kết quả đạt

được, rút kinh nghiệm và đề xuất giải pháp điều chỉnh kịp thời.

43

Đảm bảo tính minh bạch, khách quan và liên ngành trong quá trình thực hiện

đề án có yếu tố công – tư và cộng đồng.

4.2.2. Xây dựng bộ máy chuyên môn tại bảo tàng

Song song với Ban Điều phối, Bảo tàng Văn học Việt Nam cần kiện toàn bộ

máy chuyên môn để trực tiếp triển khai các nội dung giáo dục. Cụ thể, thành lập các

tổ công tác chuyên trách, gồm:

Tổ giáo dục: đảm nhiệm xây dựng nội dung, phương pháp tổ chức hoạt động

trải nghiệm, thiết kế học liệu số tích hợp văn học với công nghệ, phối hợp với giáo

viên phổ thông để điều chỉnh nội dung 3D và thuyết minh theo chương trình học và

đặc điểm tâm lý học sinh.

Tổ công nghệ: vận hành hệ thống trí tuệ nhân tạo chuyển giọng, nền tảng

không gian ảo 3D, LMS, thiết bị trình chiếu, mã QR, phần mềm thuyết minh; đồng

thời bảo trì kỹ thuật, khắc phục lỗi và cập nhật phiên bản theo phản hồi thực tế.

Tổ truyền thông và hậu cần: phụ trách quảng bá chương trình đến đối tượng

mục tiêu qua nền tảng số và truyền thông đại chúng; đảm bảo điều kiện tổ chức các

hoạt động trực tiếp tại bảo tàng về cơ sở vật chất, an ninh, an toàn và hỗ trợ công

nghệ.

Đây là bộ phận triển khai trực tiếp các mô hình đến học sinh và giáo viên

trong môi trường thực và trực tuyến.

4.2.3. Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành

Một cơ chế phối hợp rõ ràng và hiệu quả giữa các đơn vị là điều kiện tiên

quyết để đảm bảo đề án được thực hiện nhất quán và đồng bộ. Theo đó:

Xây dựng kế hoạch phối hợp theo từng học kỳ giữa các bên: bảo tàng – nhà

trường – doanh nghiệp – chuyên gia, trong đó phân định cụ thể vai trò, trách nhiệm,

quyền lợi và cơ chế làm việc trong từng mô hình (3D và thuyết minh).

Tổ chức họp giao ban định kỳ (theo quý hoặc theo tiến độ giai đoạn) nhằm

tổng hợp phản hồi từ người học và giáo viên, đánh giá hiệu quả mô hình công nghệ,

cập nhật xu hướng giáo dục – công nghệ mới để điều chỉnh kịp thời.

Mỗi đơn vị phối hợp cần có đầu mối kỹ thuật riêng để kịp thời xử lý sự cố

công nghệ, thiết bị hoặc nội dung giáo dục phát sinh trong quá trình trải nghiệm ảo

và thuyết minh số.

44

Thiết lập quy trình xử lý tình huống linh hoạt, bảo đảm chất lượng triển khai

liên tục, không bị gián đoạn bởi yếu tố hành chính hay kỹ thuật.

4.2.4. Ứng dụng công nghệ trong quản lý

Việc ứng dụng công nghệ là một trong những điểm nhấn hiện đại của đề án,

góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và tính minh bạch trong triển khai:

Sử dụng hệ thống quản lý học tập số (LMS) để hỗ trợ học sinh và giáo viên

đăng ký tham gia, theo dõi tiến độ trải nghiệm ảo, phân phối học liệu số, chấm điểm

tự động và lưu trữ hồ sơ học tập cá nhân.

Tích hợp hệ thống LMS với công cụ phân tích dữ liệu học tập, cho phép cá

nhân hóa nội dung học theo nhóm lớp, năng lực và mức độ cảm thụ của từng học

sinh.

Xây dựng hệ thống khảo sát trực tuyến áp dụng sau mỗi hoạt động để thu nhận

phản hồi từ học sinh, giáo viên và chuyên gia. Kết quả khảo sát là cơ sở để hiệu

chỉnh nội dung chuyên đề, điều chỉnh công nghệ sử dụng và thiết kế trải nghiệm tốt

hơn.

Kết nối hệ thống quản lý với các nền tảng truyền thông xã hội và kênh thông

tin chính thức của bảo tàng, giúp quảng bá, cập nhật hoạt động nhanh chóng, tạo

hiệu ứng lan tỏa cộng đồng.

4.2.5. Huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực

Nguồn lực đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo tính bền vững và khả năng

nhân rộng của mô hình. Việc huy động và sử dụng nguồn lực cần được tiến hành

linh hoạt, sáng tạo, đúng pháp luật và tiết kiệm:

- Kinh phí thực hiện đề án được huy động từ nhiều nguồn: ngân sách nhà nước

(trung ương, địa phương), các chương trình mục tiêu quốc gia, tài trợ doanh nghiệp

công nghệ giáo dục, quỹ phát triển văn hóa – giáo dục, mô hình hợp tác công – tư

(PPP).

- Tận dụng lực lượng sinh viên thực tập ngành sư phạm, công nghệ giáo dục,

bảo tàng học, thiết kế mỹ thuật để hỗ trợ xây dựng nội dung, thử nghiệm công nghệ,

hướng dẫn học sinh và tổ chức hoạt động ngoại khóa.

- Thiết lập cơ chế giám sát tài chính minh bạch, có kiểm toán nội bộ và phản

hồi từ đối tác, cộng đồng người học để bảo đảm niềm tin và tính công khai của mô

hình xã hội hóa.

45

Việc tổ chức thực hiện đề án không chỉ là công tác hành chính – kỹ thuật, mà còn là quá trình thiết lập nền tảng vững chắc cho mô hình giáo dục bảo tàng hiện đại. Với cách tiếp cận bài bản, liên ngành, ứng dụng công nghệ và đặt người học phổ thông làm trung tâm, đề án kỳ vọng tạo ra hiệu ứng lan tỏa tích cực trong hệ sinh thái giáo dục – văn hóa quốc gia.

Sơ đồ 3. Sơ đồ tổ chức thực hiện đề án tại Bảo tàng Văn học Việt Nam 4.3. Kinh phí và hiệu quả thực hiện đề án 4.3.1. Kinh phí

KHOẢN 1: CHI PHÍ TRIỂN KHAI MÔ HÌNH GIÁO DỤC Bảng 1. Chi phí triển khai hai mô hình giáo dục tại Bảo tàng Văn học Việt Nam giai đoạn 2025–2030 (Đơn vị: Triệu VNĐ)

STT Đơn giá Tổng cộng Hạng mục chi phí Số lượng ước tính Ngân sách đơn vị chủ quản Nguồn hỗ trợ mục tiêu quốc gia Hợp tác công – tư & tài trợ Đóng góp cộng đồng & tổ chức quốc tế

46

Mô hình xây dựng không gian văn học ảo 3D để học sinh phổ thông trải nghiệm

1 18 chủ đề 10 180 105 60 15 0

Thiết kế và phát triển không gian văn học 3D theo chuyên đề

90 lượt 3 270 150 70 40 10

Thù lao chuyên gia nội dung, thiết kế 3D, sư phạm

2 18 buổi 15 270 150 80 30 10

Tổ chức hoạt động trải nghiệm tại bảo tàng/ online

4 20 120 80 25 10 5 1 gói/năm x 6 năm

Tài liệu học tập, phiếu học tập, nhật ký học sinh

5 - 100 60 20 15 5 Gói toàn kỳ

Chi phí truyền thông, lan tỏa mô hình và kết nối trường học

- 80 40 20 10 10 Gói toàn kỳ

Số hóa không gian, tích hợp hệ thống truy cập ảo

- 100 85 15 0 0 Quản lý, giám sát, vận hành Gói toàn kỳ

Tổng chi phí mô hình 1120 670 290 120 40

Mô hình xây dựng hệ thống thuyết minh dành cho học sinh phổ thông

47

1 1 500 280 160 40 20 500 nội dung

Xây dựng nội dung thuyết minh theo cấp độ lớp và năng lực học sinh

2 50 thiết bị 8 400 250 150 0 0

Thiết kế và vận hành hệ thống thiết bị thuyết minh tự động (máy nghe, QR...)

3 - 250 150 70 25 5 Gói phần mềm

Phát triển phần mềm thuyết minh và tích hợp đa phương tiện

4 5 đợt - 0 50 0 0 0

Thử nghiệm, hiệu chỉnh nội dung và thiết bị

5 - 200 130 50 10 10 Gói nhân sự

Chi phí chuyên gia (âm thanh, lập trình, văn học, giáo dục)

6 - 100 60 20 10 10 Gói toàn kỳ

Chi phí truyền thông, hướng dẫn sử dụng mô hình

7 - 100 80 20 0 0 Gói duy trì 5 năm

Duy trì hệ thống, cập nhật dữ liệu, hỗ trợ kỹ thuật

48

Tổng chi phí mô hình 1600 1000 470 85 45

TỔNG CỘNG 2720 1670 760 205 85

Tổng chi phí thực hiện hai mô hình: 2.720 triệu VNĐ (2.72 tỷ VNĐ), trong đó:

- Ngân sách của đơn vị chủ quản: 1.670 triệu VNĐ (chiếm khoảng 61,40% tổng kinh phí). Khoản kinh phí này được ưu tiên đầu tư cho các hạng mục cốt lõi như: thiết kế và dựng hình không gian 3D, xây dựng hệ thống thuyết minh học sinh, tổ chức hoạt động trải nghiệm trực tiếp và trực tuyến, thù lao chuyên gia nội dung – công nghệ – sư phạm, và vận hành hệ thống xuyên suốt giai đoạn 2025–2030.

- Nguồn hỗ trợ từ chương trình mục tiêu quốc gia: 760 triệu VNĐ (chiếm khoảng 27,94%). Khoản này tập trung hỗ trợ cho việc phát triển kho học liệu ảo, tích hợp công nghệ thuyết minh thông minh (QR, audio, hoạt hình), truyền thông – lan tỏa mô hình, cũng như số hóa và lưu trữ dữ liệu văn học – học sinh trên nền tảng số.

- Nguồn hợp tác công – tư và tài trợ: 205 triệu VNĐ (chiếm khoảng 7,54%), chủ yếu từ doanh nghiệp công nghệ – giáo dục, dùng để hỗ trợ triển khai thiết bị VR, phần mềm ứng dụng thuyết minh, đào tạo nhân lực công nghệ – truyền thông và đồng hành trong truyền thông xã hội.

- Đóng góp từ cộng đồng và tổ chức quốc tế: 85 triệu VNĐ (chiếm khoảng 3,12%), tập trung vào các hoạt động sáng tạo cộng đồng, hỗ trợ học sinh tiếp cận học liệu miễn phí, tổ chức triển lãm sản phẩm học sinh và phát triển tài nguyên mở cho giáo dục văn học ứng dụng.

49

KHOẢN 2: CHI PHÍ KHÁC

Bảng 2. Chi phí các hạng mục bổ trợ trong quá trình triển khai hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Văn học Việt Nam giai đoạn 2025–2030

(Đơn vị: Triệu VNĐ)

STT Hạng mục chi phí Số lượng ước tính Đơn giá Tổng cộng

Nguồn hỗ trợ mục tiêu quốc gia Ngân sách đơn vị chủ quản Hợp tác công – tư & tài trợ Đóng góp cộng đồng & tổ chức quốc tế

30 180 60 60 40 20 1 6 khóa (1 khóa/năm)

Tập huấn cán bộ, hướng dẫn viên, cộng tác viên bảo tàng

30 90 30 30 20 10 2 3 đợt khảo sát toàn kỳ

Khảo sát, đánh giá tác động mô hình (trước - trong - sau)

3 Gói toàn kỳ 120 120 40 40 30 10

Thiết kế ấn phẩm truyền thông, tài liệu hướng dẫn giáo dục

4 30 180 60 60 40 20 Hỗ trợ đi lại, lưu trú 60 lượt/năm

50

cho diễn giả, chuyên gia và cộng tác viên

5 Gói 5 năm 150 150 50 50 30 20

Phí bảo trì, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật bảo tàng phục vụ hoạt động

6 130 130 40 40 40 10

Gói khởi tạo & duy trì

Phát triển sản phẩm số (ứng dụng, mã QR, microsite)

7 - 140 140 50 40 30 20

Dự phòng rủi ro và điều chỉnh chi phí phát sinh

Tổng chi phí các hạng mục 990 330 320 230 110

Tổng chi phí thực hiện các hạng mục bổ trợ: 990 triệu VNĐ, trong đó: - Ngân sách của đơn vị chủ quản là 330 triệu VNĐ (chiếm khoảng 33,34%

tổng kinh phí). Nguồn ngân sách này được ưu tiên cho các hoạt động thiết yếu như:

tập huấn cán bộ thuyết minh và vận hành không gian ảo 3D, hỗ trợ chuyên gia kỹ

thuật – giáo dục, duy trì hạ tầng bảo tàng và phát triển các sản phẩm công nghệ số

đi kèm hai mô hình.

- Nguồn hỗ trợ từ chương trình mục tiêu quốc gia: 320 triệu VNĐ (khoảng

32,32%), tập trung hỗ trợ khảo sát – đánh giá hiệu quả mô hình 3D và thuyết minh,

51

thiết kế tài liệu hướng dẫn cho giáo viên – học sinh, và truyền thông mô hình trong

hệ thống giáo dục.

- Nguồn hợp tác công – tư và tài trợ: 230 triệu VNĐ (23,23%), ưu tiên cho

nâng cấp kỹ thuật số, sản phẩm thuyết minh di động (ứng dụng, mã QR), đào tạo

cộng tác viên công nghệ và thúc đẩy kết nối mô hình ra cộng đồng giáo dục.

- Đóng góp từ cộng đồng và tổ chức quốc tế: 110 triệu VNĐ (11,11%), tập

trung vào các hoạt động linh hoạt, dự phòng rủi ro, hỗ trợ các sáng kiến cộng đồng

(như triển lãm sản phẩm học sinh, đào tạo học sinh làm hướng dẫn viên), và tăng

cường tương tác quốc tế.

Tổng chi phí toàn bộ dự án:

2.720 triệu VNĐ + 990 triệu VNĐ = 3.710 triệu VNĐ (3.71 tỷ VNĐ)

4.3.2. Hiệu quả thực hiện đề án

Hiệu quả về giáo dục:

- Nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập môn Ngữ văn thông qua các phương

pháp giáo dục đổi mới, tích hợp trải nghiệm không gian ảo và thuyết minh chuyên

biệt.

- Góp phần phát triển năng lực cảm thụ văn học, tư duy phản biện, kỹ năng

giao tiếp và hợp tác nhóm của học sinh.

- Khuyến khích học sinh chủ động khám phá và tiếp cận văn học qua phương

pháp đa phương tiện, vượt khỏi lối học thụ động qua sách giáo khoa.

- Tăng khả năng cá nhân hóa việc học nhờ hệ thống thuyết minh phân cấp phù

hợp với trình độ và hứng thú của từng học sinh.

Hiệu quả về văn hóa:

- Góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn học dân tộc thông qua hình

thức trải nghiệm hiện đại, sống động, gần gũi với thế hệ trẻ.

- Xây dựng cầu nối cảm xúc và nhận thức giữa học sinh với các giá trị văn

học, tạo điều kiện để các em hóa thân, đồng cảm và tương tác với tác phẩm.

- Tạo ra hệ thống học liệu số, không gian trưng bày số hóa và kịch bản thuyết

minh có thể sử dụng lâu dài trong giáo dục văn học và hoạt động bảo tàng.

Hiệu quả về xã hội:

- Thúc đẩy sự phối hợp liên ngành giữa nhà trường, bảo tàng, doanh nghiệp

công nghệ và chuyên gia giáo dục trong xây dựng và triển khai mô hình giáo dục

mới.

52

- Góp phần xã hội hóa hoạt động giáo dục di sản, thu hút sự tham gia của các

nguồn lực ngoài nhà nước vào đổi mới giáo dục phổ thông.

- Gắn kết học sinh, giáo viên, phụ huynh và cộng đồng vào tiến trình xây dựng

bảo tàng trở thành không gian học tập mở, giàu tính trải nghiệm và sáng tạo.

Hiệu quả lâu dài và chiến lược: - Định vị Bảo tàng Văn học Việt Nam là đơn vị tiên phong trong ứng dụng

công nghệ 3D và thuyết minh cá nhân hóa vào hoạt động giáo dục văn học.

- Xây dựng mô hình bảo tàng học tập gắn bó với chương trình giáo dục phổ

thông và có thể tích hợp vào hoạt động giáo dục chính khóa hoặc ngoại khóa.

- Tạo tiền đề để mở rộng các mô hình trải nghiệm tương tự tại các bảo tàng chuyên đề khác, phù hợp với định hướng chuyển đổi số trong văn hóa – giáo dục quốc gia.

5. Một số giải pháp nhằm thúc đẩy tiến độ và bảo đảm chất lượng thực

hiện đề án

5.1 Đổi mới phương pháp hoạt động, đa dạng hóa các hình thức tổ chức

hoạt động giáo dục

Để nâng cao hiệu quả và sự hấp dẫn của các hoạt động giáo dục, việc đổi mới phương pháp và đa dạng hóa hình thức tổ chức là yêu cầu cấp thiết. Cần chuyển từ phương thức truyền thụ tuyến tính sang hướng tiếp cận tương tác – trải nghiệm – sáng tạo, trong đó học sinh không chỉ nghe giảng thụ động mà còn được nhập vai, khám phá và thực hiện nhiệm vụ học tập trong không gian văn học ảo.

Việc tích hợp các công nghệ hiện đại như thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR), hệ thống thuyết minh thông minh, mã QR và TTNT (AI) vào thiết kế, tổ chức và đánh giá hoạt động sẽ gia tăng tính linh hoạt, cá nhân hóa trải nghiệm và mở rộng không gian học tập vượt khỏi giới hạn vật lý. Đồng thời, cần triển khai hoạt động theo tiến trình ba giai đoạn (trước – trong – sau trải nghiệm) để đảm bảo tính hệ thống và hiệu quả tiếp nhận, đồng thời thiết lập bộ tiêu chí đánh giá linh hoạt, chú trọng phát triển năng lực cảm thụ văn học, tư duy phản biện và khả năng hợp tác của học sinh.

5.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường chính sách, chế độ

đãi ngộ với cán bộ phụ trách hoạt động giáo dục

Một trong những yếu tố then chốt quyết định sự thành công và bền vững của đề án là đội ngũ cán bộ giáo dục bảo tàng có trình độ chuyên môn vững vàng và khả năng ứng dụng công nghệ hiệu quả. Do đó, cần xây dựng kế hoạch đào tạo định kỳ

53

chuyên sâu về công nghệ giáo dục, tổ chức trải nghiệm học tập số và phát triển học liệu cá nhân hóa cho cán bộ, giáo viên và cộng tác viên. Việc tăng cường hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ giáo dục nhằm tổ chức các khóa tập huấn, hội thảo chuyên đề và chương trình trao đổi chuyên môn sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đồng thời, cần có chế độ đãi ngộ phù hợp, minh bạch, khuyến khích sáng tạo nội dung, đóng góp chuyên môn và phát triển nghề nghiệp, qua đó tạo động lực và giữ chân đội ngũ cán bộ có năng lực, tâm huyết và thích ứng tốt với các mô hình giáo dục di sản đổi mới.

5.3 Đẩy mạnh công tác truyền thông, quảng bá hoạt động Bảo tàng Truyền thông đóng vai trò thiết yếu trong việc nâng cao nhận diện, tạo sức lan tỏa và thu hút học sinh, giáo viên, phụ huynh cũng như cộng đồng xã hội tham gia vào các hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Văn học Việt Nam. Bảo tàng cần xây dựng chiến lược truyền thông đa nền tảng, kết hợp linh hoạt giữa các phương tiện truyền thống (báo in, truyền hình) và nền tảng số (mạng xã hội, podcast, ứng dụng di động). Nội dung truyền thông cần được thiết kế sáng tạo, sinh động và gắn với từng mô hình hoạt động, chẳng hạn như video giới thiệu không gian 3D, các trích đoạn thuyết minh dẫn chuyện, hoặc sản phẩm học sinh sau trải nghiệm. Việc liên kết với trường học, tổ chức xã hội, nhà xuất bản và những người có ảnh hưởng trong lĩnh vực giáo dục để tổ chức sự kiện, cuộc thi, ngày hội trải nghiệm sẽ góp phần đưa hình ảnh bảo tàng đến gần hơn với công chúng trẻ. Đồng thời, bảo tàng cũng cần xây dựng đội ngũ truyền thông chuyên trách hoặc hợp tác với các đơn vị chuyên nghiệp nhằm đảm bảo duy trì hiệu quả, điều chỉnh linh hoạt chiến lược theo xu hướng và nhu cầu thực tiễn.

5.4. Tăng cường công tác phối hợp giữa Bảo tàng và các bên liên quan Để đảm bảo tính đồng bộ, linh hoạt và hiệu quả trong quá trình thực hiện đề án, việc tăng cường phối hợp liên ngành giữa Bảo tàng Văn học Việt Nam và các bên liên quan là giải pháp không thể thiếu. Trước hết, cần duy trì và mở rộng mối quan hệ hợp tác với các trường THPT, lồng ghép hoạt động trải nghiệm văn học vào chương trình học chính khóa hoặc ngoại khóa theo từng học kỳ. Đồng thời, bảo tàng cần chủ động phối hợp với các trường đại học, viện nghiên cứu chuyên ngành để xây dựng học liệu số, hỗ trợ chuyên môn và tổ chức các hoạt động thực tập, nghiên cứu cho sinh viên. Đặc biệt, sự tham gia của doanh nghiệp công nghệ, tổ chức xã hội và chính quyền địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn lực kỹ thuật, tài chính và hành lang pháp lý, thông qua các biên bản ghi nhớ hợp tác

54

(MOU), nhằm đảm bảo mô hình được vận hành bền vững, mở rộng phạm vi áp dụng và từng bước thể chế hóa trong hệ thống giáo dục phổ thông.

5.5. Đảm bảo các nguồn lực thực hiện đề án Việc đảm bảo đầy đủ, đồng bộ và bền vững các nguồn lực là điều kiện tiên quyết để đề án triển khai thành công trong giai đoạn 2025–2030 và hướng tới nhân rộng.

Về nhân lực, bảo tàng cần xây dựng đội ngũ chuyên trách có trình độ chuyên môn về văn học, sư phạm, công nghệ giáo dục, đồng thời huy động sinh viên thực tập, cộng tác viên, nhà văn, nghệ sĩ và giáo viên giàu kinh nghiệm tham gia tổ chức hoạt động.

Về tài chính, cần kết hợp linh hoạt các nguồn như ngân sách bảo tàng, tài trợ từ doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ văn hóa – giáo dục và các chương trình chuyển đổi số quốc gia, đảm bảo phân bổ hợp lý cho từng hạng mục và mô hình hoạt động.

Về vật lực – công nghệ, bảo tàng cần đầu tư nâng cấp không gian trưng bày, phòng học chuyên đề, thiết bị trình chiếu, nền tảng số hóa và hệ thống thuyết minh tự động phù hợp với năng lực tiếp nhận của học sinh.

Ngoài ra, việc xây dựng mạng lưới liên kết với nhà trường, đơn vị công nghệ, tổ chức xã hội và cơ quan quản lý sẽ tạo thành hệ sinh thái hỗ trợ mạnh mẽ cho việc triển khai, giám sát và cải tiến đề án theo thời gian, bảo đảm chất lượng và khả năng nhân rộng trong tương lai. 6. Kiến nghị 6.1. Đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bộ VHTT & DL ban hành các chính sách và hướng dẫn chuyên môn cụ thể nhằm thúc đẩy phát triển các mô hình giáo dục ứng dụng công nghệ số trong bảo tàng, nhất là các mô hình tiên tiến như không gian văn học ảo 3D và hệ thống thuyết minh thông minh dành cho học sinh phổ thông. Cần ưu tiên ngân sách đầu tư cho các bảo tàng chuyên đề ứng dụng VR/AR, AI, đồng thời tổ chức các hội thảo, chương trình tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ bảo tàng, giáo viên và cộng tác viên nhằm bảo đảm chất lượng triển khai và khả năng nhân rộng mô hình giáo dục di sản trong thời đại chuyển đổi số.

6.2. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo các địa phương Sở GD&ĐT cần đẩy mạnh kết nối giữa các trường phổ thông với Bảo tàng Văn học Việt Nam, khuyến khích đưa hoạt động trải nghiệm văn học vào chương trình học chính khóa hoặc ngoại khóa theo định hướng phát triển năng lực. Cần có

55

văn bản chỉ đạo về tích hợp sử dụng công nghệ trong trải nghiệm học tập tại bảo tàng, tổ chức tập huấn chuyên đề cho giáo viên về cách khai thác không gian 3D và hệ thống thuyết minh phù hợp với trình độ học sinh từng khối lớp, qua đó nâng cao hiệu quả dạy học Ngữ văn và tăng cường kết nối giữa giáo dục chính quy và giáo dục văn hóa ngoài nhà trường.

6.3. Đối với Bảo tàng Văn học Việt Nam Bảo tàng Văn học Việt Nam cần xác định rõ vai trò trung tâm trong việc tổ chức và triển khai các mô hình giáo dục tích hợp công nghệ số, đặc biệt là hai mô hình trọng điểm: không gian văn học ảo 3D và hệ thống thuyết minh chuyên biệt cho học sinh. Cần xây dựng kế hoạch phát triển bền vững gắn với chiến lược chuyển đổi số, đầu tư cho đội ngũ chuyên môn có khả năng kết hợp công nghệ, sư phạm và văn học, đồng thời chủ động hợp tác với các doanh nghiệp, trường đại học, tổ chức xã hội nhằm phát triển nội dung chất lượng, thân thiện với học sinh và dễ dàng mở rộng trong tương lai.

6.4. Đối với các cơ sở giáo dục phổ thông Các trường học cần chủ động xem bảo tàng là đối tác chiến lược trong giáo dục trải nghiệm môn Ngữ văn, tích cực phối hợp tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động học tập tại không gian văn học ảo hoặc thông qua hệ thống thuyết minh thông minh tại bảo tàng. Giáo viên bộ môn cần được tạo điều kiện tham gia xây dựng nội dung chuyên đề phù hợp, phối hợp tổ chức hoạt động theo ba giai đoạn trước – trong – sau trải nghiệm, cũng như đánh giá kết quả học tập của học sinh một cách linh hoạt và thực chất, hướng tới sự phát triển toàn diện.

6.5. Đối với các tổ chức, doanh nghiệp và đối tác xã hội Các doanh nghiệp công nghệ, tổ chức giáo dục – xã hội và nhà tài trợ có thể đồng hành cùng Bảo tàng Văn học Việt Nam trong việc phát triển hai mô hình giáo dục trọng điểm thông qua hỗ trợ kỹ thuật, tài chính, thiết bị công nghệ (VR, phần mềm dựng 3D, thiết bị thuyết minh), truyền thông và đào tạo nhân lực. Việc xây dựng cơ chế hợp tác công – tư minh bạch và linh hoạt sẽ góp phần hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số toàn diện trong giáo dục bảo tàng, mở rộng khả năng tiếp cận và nâng cao chất lượng trải nghiệm học tập của học sinh phổ thông trên phạm vi toàn quốc.

56

KẾT LUẬN

Trong bối cảnh xã hội hiện đại đang chuyển mình mạnh mẽ dưới tác động của toàn cầu hóa, chuyển đổi số và yêu cầu đổi mới giáo dục toàn diện, vai trò của bảo tàng với tư cách là một thiết chế văn hóa – giáo dục ngày càng được khẳng định rõ nét. Không chỉ đơn thuần là nơi lưu giữ ký ức và di sản, bảo tàng ngày nay cần trở thành không gian học tập mở, nơi thế hệ trẻ được kết nối với văn hóa, lịch sử và các giá trị nhân văn sâu sắc thông qua những hình thức giáo dục sáng tạo, hấp dẫn và mang tính tương tác cao.

Xuất phát từ định hướng đó, đề án “Tổ chức hoạt động giáo dục cho học sinh phổ thông tại Bảo tàng Văn học Việt Nam” được xây dựng với mục tiêu nghiên cứu thực trạng, xác định điều kiện triển khai, đề xuất mô hình tổ chức và giải pháp thực hiện phù hợp với đặc điểm học sinh phổ thông trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành giữa quản lý văn hóa, bảo tàng học, giáo dục học và công nghệ, đề án đã lựa chọn phương pháp nghiên cứu đa dạng, kết hợp giữa khảo sát thực địa, phỏng vấn sâu, điều tra xã hội học và phân tích tài liệu nhằm đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy cho các kết quả thu nhận được.

Kết quả khảo sát và phân tích cho thấy, Bảo tàng Văn học Việt Nam hiện có nhiều tiềm năng để triển khai hoạt động giáo dục cho học sinh phổ thông một cách hiệu quả. Các yếu tố như không gian trưng bày có chiều sâu, đội ngũ cán bộ chuyên môn tâm huyết, sự liên kết bước đầu với nhà trường và nhu cầu trải nghiệm văn học ngày càng tăng trong học sinh là những điều kiện thuận lợi để phát triển mô hình giáo dục tại bảo tàng. Tuy nhiên, đề án cũng chỉ ra nhiều tồn tại: hình thức hoạt động còn đơn điệu, thiếu chiều sâu sư phạm; công nghệ chưa được tích hợp toàn diện; công tác truyền thông chưa đồng bộ; và đặc biệt là thiếu sự phối hợp chặt chẽ với các cơ sở giáo dục phổ thông trong xây dựng nội dung phù hợp.

Từ các phân tích lý luận và thực tiễn, đề án đã đề xuất hai mô hình hoạt động giáo dục mang tính đổi mới và có khả năng ứng dụng cao, gồm: (1) Mô hình xây dựng không gian văn học ảo 3D để học sinh phổ thông trải nghiệm và (2) Mô hình xây dựng hệ thống thuyết minh dành cho học sinh phổ thông. Cả hai mô hình đều nhấn mạnh tính trải nghiệm, tương tác, cá nhân hóa và tích hợp công nghệ – những yếu tố thiết yếu trong giáo dục thế kỷ XXI. Đồng thời, các mô hình được xây dựng với lộ trình cụ thể từ thử nghiệm đến nhân rộng (2025–2030), gắn với các giải pháp về nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất, truyền thông và hợp tác liên ngành.

57

Những kết quả và đề xuất của đề án không chỉ có ý nghĩa thực tiễn đối với Bảo tàng Văn học Việt Nam, mà còn có thể trở thành tài liệu tham khảo cho các bảo tàng chuyên ngành khác đang hướng đến đổi mới hoạt động giáo dục cho học sinh phổ thông. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục di sản trong nhà trường, làm phong phú trải nghiệm học tập và bồi đắp tình yêu văn hóa – văn học cho thế hệ trẻ trong thời đại hội nhập và phát triển bền vững.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu Tiếng Việt 1.

2.

3.

4.

5.

6.

7.

8.

9.

Nguyễn Thị Mai Anh (2022), “Bảo tàng Văn học Việt Nam với việc giáo dục truyền thống văn học cho thế hệ trẻ”, Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 91. Bảo tàng Văn học Việt Nam (2022), Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2022, tài liệu lưu hành nội bộ. Bộ Khoa học và Công nghệ (2014), Di sản văn hóa và các vấn đề liên quan – Thuật ngữ và định nghĩa chung, Tiêu chuẩn Việt Nam 10382:2014, Hà Nội. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2010), Thông tư số 18/2010/TT-BVHTTDL ngày 31 tháng 12 năm 2010 về tổ chức và hoạt động của bảo tàng, Hà Nội. Phạm Thị Hằng (2018), “Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia”, Tạp chí Di sản Văn hóa, số 4. Nguyễn Văn Huy (2020), “Một số vấn đề đặt ra trong hoạt động trưng bày và giáo dục ở bảo tàng”, Tạp chí Dân tộc học, số 3. Đặng Thị Mỹ Linh (2020), “Kết nối bảo tàng với trường học trong giáo dục giá trị văn hóa truyền thống”, Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa, số 6. Nguyễn Văn Nam (2020), “Bảo tàng và giáo dục công chúng: Từ lý thuyết đến thực tiễn tại Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Xã hội, số 10. Lê Minh Nguyệt (2020), “Phát huy giá trị giáo dục của bảo tàng địa phương qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 425.

10. Nguyễn Thị Hồng Nhung (2021), Tổ chức hoạt động giáo dục tại Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh dành cho học sinh phổ thông, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.

11. Nguyễn Thị Minh Tâm (2015), “Hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Dân tộc

12.

học Việt Nam”, Tạp chí Văn hóa Dân tộc, số 10. Tạ Thị Thảo (2022), “Vai trò giáo dục của bảo tàng tỉnh, thành phố ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 438.

13. Đỗ Văn Thắng (2022), “Giáo dục di sản văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi

số tại các bảo tàng Việt Nam”, Tạp chí Di sản Văn hóa, số 24.

14. Nguyễn Thị Thu Trang (2018), Nghiên cứu hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.

15.

Lê Minh Tuấn (2022), “Phát huy vai trò của bảo tàng trong đời sống hiện đại”, Báo Văn hóa, số ra ngày 18/8/2022.

16. Nguyễn Thị Hồng Vân (2023), “Vai trò của bảo tàng trong việc hình thành nhân cách văn hóa cho học sinh”, Tạp chí Văn hóa – Nghệ thuật, số 442. 17. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ((sửa đổi, bổ sung năm

2009), Luật Di sản văn hóa, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật.

18. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2019), Luật Giáo dục,

Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật.

19. Viện Văn học (2021), Báo cáo Hội thảo Đổi mới hoạt động giáo dục trong

bảo tàng chuyên ngành, Hà Nội, tài liệu lưu hành nội bộ.

(Phần truy cập 1),

Tài liệu trực tuyến 20. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (2020), “Bảo tàng và hoạt động giáo dục bảo tàng” tại: https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3099/71423/bao-tang-va-hoat-djong-giao -duc-bao-tang-phan-1.html

21. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (2020), “Bảo tàng và hoạt động giáo dục bảo

tàng” (Phần 2 và hết), truy cập tại: https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3099/71425/bao-tang-va-hoat-djong-giao -duc-bao-tang-phan-2-va-het.html

22. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (2021), “Phương pháp xây dựng và tổ chức

chương

trình giáo dục bảo tang”, truy cập tại:

https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3099/72403/phuong-phap-xay-dung-va-to-

nghệ công truy số”, cập

chuc-chuong-trinh-giao-duc-bao-tang.html 23. Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam (2023), “Giáo dục di sản bảo tàng trong kỷ nguyên tại: https://baotangphunu.com/giao-duc-di-san-bao-tang-trong-ky-nguyen-cong-n ghe-so/

24. Bảo tàng Văn học Việt Nam (2024), Cổng thông tin điện tử, truy cập tại:

https://baotangvanhoc.vn/, ngày truy cập: 18/05/2025.

25. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2023), “Chương trình giáo dục di sản cần phải được xây dựng theo phương pháp tiếp cận mới”, truy cập tại: https://bvhttdl.gov.vn/chuong-trinh-giao-duc-di-san-can-phai-duoc-xay-dung -theo-phuong-phap-tiep-can-moi-20231128195522931.htm

26. Cục Di sản Văn hóa (2023), “Gắn kết hoạt động giáo dục bảo tàng với nội dung giáo dục địa phương trong chương trình giáo dục phổ thông 2018”, truy cập tại: https://vanhoanghethuat.vn/gan-ket-hoat-dong-giao-duc-bao-tang-voi-noi-du ng-giao-duc-dia-phuong-trong-chuong-trinh-giao-duc-pho-thong-2018.htm

28.

Tài liệu Tiếng Anh 27. Black, G. (2005), The Engaging Museum: Developing Museums for Visitor Involvement (Bảo tàng hấp dẫn: Phát triển bảo tàng với sự tham gia của khách tham quan), Routledge. Falk J. H., Dierking L. D. (2000), Learning from Museums: Visitor Experiences and the Making of Meaning (Học tập từ bảo tàng: Trải nghiệm của khách tham quan và quá trình tạo lập ý nghĩa), AltaMira Press.

29. Hein G. (1998), Learning in the Museum (Học tập trong bảo tàng),

Routledge.

30. Hooper-Greenhill E. (2007), Museums and Education: Purpose, Pedagogy, Performance (Bảo tàng và giáo dục: Mục đích, phương pháp, hiệu quả), Routledge.

32.

31. McLeod, S. K. & Anderson, G. M. (2012), Learning Through Objects: What Makes Museums Work for Schools? (Học qua hiện vật: Điều gì khiến bảo tàng hiệu quả với học đường?), Cultural Heritage & Preservation, Vol. 13, No. 3. Piscitelli, B. & Anderson, D. (2001), Young Children's Perspectives of Museum Settings and Experiences (Góc nhìn của trẻ nhỏ về không gian và trải nghiệm bảo tàng), Museum Management and Curatorship, Vol. 19, No. 3.

33. Vlachaki, F. (2018), Engaging schoolchildren with Cultural Heritage: The Role of Museums (Thu hút học sinh với di sản văn hóa: Vai trò của bảo tàng), International Journal of Education and Practice, Vol. 6, No. 1.

BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KIỀU ĐỨC MẠNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG CỦA BẢO TÀNG VĂN HỌC VIỆT NAM

PHỤ LỤC ĐỀ ÁN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

Hà Nội – 2025

MỤC LỤC

Phụ lục 01: HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TRẢI NGHIỆM CHO

HỌC SINH PHỔ THÔNG TẠI BẢO TÀNG VĂN HỌC VIỆT NAM

Phụ lục 02: MẪU PHIẾU KHẢO SÁT MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA HỌC

SINH KHI THAM GIA HOẠT ĐỘNG TẠI BẢO TÀNG

Phụ lục 03: KẾT QUẢ KHẢO SÁT Phụ lục 04: KHUNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN Phụ lục 05: DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI TRẢ LỜI PHỎNG VẤN Phụ lục 06. MỘT SỐ VĂN BẢN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ ÁN

PHỤ LỤC 01: HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TRẢI NGHIỆM

CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG TẠI BẢO TÀNG VĂN HỌC VIỆT NAM

Hình ảnh 1. Trải nghiệm thực tế môn Văn của học sinh trường THPT Chuyên Bắc Ninh (Nguồn: Bảo tàng Văn học Việt Nam, 2024)

Hình 2. Tổ Ngữ văn THPT Lục Nam đưa học sinh trải nghiệm Bảo tàng Văn học Việt Nam (Nguồn: Bảo tàng Văn học Việt Nam, 2024)

Hình 3. Trường Liên cấp Deway Hải Phòng tham gia học tập tại Bảo tàng (Nguồn: Bảo tàng Văn học Việt Nam, 2024)

Hình 4. Học sinh giao lưu với nhà thơ Đỗ Anh Vũ và Tiến sĩ văn học Đỗ Thanh Nga về những tác phẩm văn học tại bảo tàng (Nguồn: Bảo tàng Văn học Việt Nam, 2024)

Hình 5. Học sinh ghi chép nhanh nội dung quan trọng trong buổi trải nghiệm (Nguồn: Bảo tàng Văn học Việt Nam, 2024)

Hình 6. Các em học sinh xem phim tại phòng chiếu màn hình ghép của Bảo tàng Văn học Việt Nam (Nguồn: Bảo tàng Văn học Việt Nam, 2024)

Hình 7. Học sinh tham gia trải nghiệm giải ô chữ và đóng dấu Tâm – Tài trên nền giấy dó (Nguồn: Bảo tàng Văn học Việt Nam, 2024)

Hình 8. Cô và trò chia sẻ cảm xúc sau buổi trải nghiệm (Nguồn: Bảo tàng Văn học Việt Nam, 2024)

MỘT SỐ HÌNH ẢNH TẠI BẢO TÀNG VĂN HỌC VIỆT NAM

Huân huy chương của Nhà văn Nguyễn Văn Bổng (Nguồn: Tác giả, 2025)

Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tặng Hội Nhà văn Việt Nam bức trướng Đoàn kết - Dân chủ - Xây dựng - Sáng tạo (Nguồn: Tác giả, 2025)

Một số tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh (Nguồn: Tác giả, 2025)

Một số tác phẩm của Nhà văn, Nhà thơ, Nhạc sĩ Văn Cao

(Nguồn: Tác giả, 2025)

Một số tác phẩm của Nhà thơ Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh (Nguồn: Tác giả, 2025)

Một số tác phẩm của Nhà chính trị, Nhà văn

Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi (Nguồn: Tác giả, 2025)

PHỤ LỤC 02: MẪU PHIẾU KHẢO SÁT MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA HỌC SINH KHI THAM GIA HOẠT ĐỘNG TẠI BẢO TÀNG

Xin chào anh/chị! Tôi là Kiều Đức Mạnh, học viên lớp cao học Quản lý văn

hóa, trường Đại học Văn hóa Hà Nội.

Hiện tôi đang thực hiện đề án “Tổ chức hoạt động giáo dục cho học sinh phổ thông của Bảo tàng Văn học Việt Nam”. Rất mong nhận được sự hợp tác của anh/chị trong việc cung cấp thông tin để hoàn thiện đề án. Mọi thông tin thu thập chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu học thuật và được đảm bảo giữ bí mật.

PHẦN I. THÔNG TIN CHUNG 1. Họ và tên: ....................................................... 2. Trường: ........................................................... 3. Lớp: ............................................................... 4. Giới tính: ☐ Nam ☐ Nữ

5. Đã từng tham gia hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Văn học Việt Nam

trước đây chưa? ☐ Có ☐ Chưa

PHẦN II. MỨC ĐỘ HÀI LÒNG VỀ NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG 6. Hoạt động có giúp bạn hiểu thêm về tác giả, tác phẩm văn học không? ☐ Rất đồng ý ☐ Đồng ý ☐ Không ý kiến ☐ Không đồng ý ☐ Hoàn toàn không đồng ý

7. Bạn đánh giá mức độ gắn kết giữa nội dung hoạt động tại bảo tàng với

chương trình học Ngữ văn như thế nào?

☐ Rất gắn kết   ☐ Gắn kết   ☐ Bình thường   ☐ Chưa gắn kết   ☐ Không gắn kết

8. Bạn cảm thấy mức độ dễ hiểu và hữu ích của kiến thức thu nhận được

từ hoạt động?

☐ Rất dễ hiểu, rất hữu ích ☐ Dễ hiểu, hữu ích ☐ Bình thường ☐ Khó hiểu, ít hữu ích ☐ Không hữu ích

9. Bạn có cảm thấy hoạt động tại bảo tàng giúp bạn hứng thú hơn với

môn Văn học không? ☐ Có, rất nhiều ☐ Có, ở mức độ nhất định ☐ Bình thường ☐ Ít hoặc không đáng kể ☐ Không hứng thú

PHẦN III. HÌNH THỨC TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY 10. Bạn đánh giá thế nào về hình thức tổ chức hoạt động tại bảo tàng? ☐ Rất linh hoạt   ☐ Linh hoạt   ☐ Bình thường   ☐ Ít linh hoạt   ☐ Không linh hoạt

11. Bạn có được tham gia vào các hoạt động nhóm, thảo luận, trò chơi

không?

☐ Rất nhiều ☐ Có ☐ Ít ☐ Không

11. Bạn thích nhất hình thức tổ chức nào dưới đây? (Có thể chọn nhiều đáp án) ☐ Nhập vai nhân vật văn học ☐ Trò chơi tương tác ☐ Sân khấu hóa tác phẩm ☐ Thuyết minh kết hợp hiện vật ☐ Hoạt động trải nghiệm nhóm ☐ Hình thức khác: …………………………………

PHẦN IV. CƠ SỞ VẬT CHẤT VÀ MÔI TRƯỜNG HỌC TẬP

12. Không gian trưng bày và học tập tại bảo tàng có thuận tiện, dễ tiếp

cận không?

☐ Rất thuận tiện ☐ Thuận tiện ☐ Bình thường ☐ Không thuận tiện

13. Trang thiết bị hỗ trợ (máy chiếu, âm thanh, hình ảnh...) có đầy đủ và

hoạt động tốt không?

☐ Rất tốt ☐ Tốt ☐ Bình thường ☐ Kém

PHẦN V. ĐÁNH GIÁ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ GIÁO DỤC 14. Bạn đánh giá như thế nào về đội ngũ cán bộ giáo dục/hướng dẫn

viên tại Bảo tàng Văn học Việt Nam?

☐ Rất thân thiện, nhiệt tình, truyền cảm hứng ☐ Thân thiện, trình bày dễ hiểu ☐ Bình thường, làm tròn vai trò ☐ Thiếu nhiệt tình, chưa gần gũi ☐ Không đáp ứng được mong đợi

PHẦN VI. TRẢI NGHIỆM CỦA BẠN VỚI CÔNG NGHỆ, TRUYỀN

THÔNG

15. Bạn đã sử dụng công nghệ (máy chiếu, màn hình tương tác, thuyết

minh số, mã QR...) trong hoạt động chưa?

☐ Có ☐ Không ☐ Không rõ

16. Bạn đánh giá mức độ hữu ích của các công nghệ hỗ trợ trong việc

tiếp thu kiến thức?

☐ Rất hữu ích ☐ Hữu ích ☐ Bình thường ☐ Không hữu ích

PHẦN VII. ẢNH HƯỞNG VÀ ẤN TƯỢNG SAU HOẠT ĐỘNG 17. Sau buổi học tại Bảo tàng, bạn có cảm thấy hứng thú hơn với môn

Ngữ văn không?

☐ Rất nhiều ☐ Có ☐ Bình thường ☐ Không thay đổi ☐ Giảm hứng

thú

18. Bạn có mong muốn quay lại Bảo tàng Văn học Việt Nam tham gia

hoạt động khác không?

☐ Rất mong muốn ☐ Có ☐ Bình thường ☐ Không quan tâm

PHẦN VIII. ĐỀ XUẤT VÀ GÓP Ý 18. Bạn mong muốn Bảo tàng Văn học Việt Nam có thêm những hoạt

động nào trong tương lai?

............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ 19. Bạn có góp ý nào để buổi học tại Bảo tàng trở nên hấp dẫn và hiệu

quả hơn?

............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ Xin chân thành cảm ơn anh/chị đã dành thời gian trả lời khảo sát!

PHỤ LỤC 03 KẾT QUẢ KHẢO SÁT PHỤ LỤC 3.1. KẾT QUẢ KHẢO SÁT MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA HỌC SINH KHI THAM GIA HOẠT ĐỘNG TẠI BẢO TÀNG VĂN HỌC VIỆT NAM

Nữ: 104 học sinh Giới tính: Nam: 91 học sinh (46.7%)

Từng tham gia hoạt động tại Bảo tàng trước đây:

Hiểu thêm về tác giả, tác phẩm văn học:

Gắn kết với chương trình học Ngữ văn:

Tổng số phiếu phát ra: 200 phiếu Tổng số phiếu thu về: 200 phiếu Số phiếu không hợp lệ: 05 phiếu Số phiếu hợp lệ: 195 phiếu Dưới đây là tổng hợp và phân tích kết quả khảo sát: I. Thông tin chung 1. (53.3%) 2. - Có: 47 học sinh (24.10%) - Chưa: 148 học sinh (75.90%) II. Mức độ hài lòng về nội dung hoạt động 3. - Rất đồng ý: 86 (44.10%) - Đồng ý: 78 (40.0%) - Không ý kiến: 19 (9.7%) - Không đồng ý: 9 (4.6%) - Hoàn toàn không đồng ý: 3 (1.6%) 4. - Rất gắn kết: 64 (32.8%) - Gắn kết: 70 (40.5%) - Bình thường: 37 (19.0%) - Ít gắn kết: 12 (6.2%) - Không gắn kết: 3 (1.5%) 5. Mức độ dễ hiểu và hữu ích của kiến thức: - Rất dễ hiểu, rất hữu ích: 73 (37.4%) - Dễ hiểu, hữu ích: 88 (45.1%) - Bình thường: 25 (12.9%) - Khó hiểu, ít hữu ích: 7 (3.6%)

Tăng hứng thú với môn Văn học:

Tham gia hoạt động nhóm/thảo luận/trò chơi:

- Không hữu ích: 2 (1.0%) 6. - Có, rất nhiều: 59 (30.3%) - Có, mức độ nhất định: 74 (37.9%) - Bình thường: 36 (18.5%) - Ít hoặc không đáng kể: 19 (9.7%) - Không hứng thú: 7 (3.6%) III. Hình thức tổ chức và phương pháp giảng dạy 7. Đánh giá hình thức tổ chức hoạt động: - Rất linh hoạt: 70 (35.9%) - Linh hoạt: 83 (42.6%) - Bình thường: 30 (15.4%) - Ít linh hoạt: 8 (4.1%) - Không linh hoạt: 4 (2.0%) 8. - Rất nhiều: 48 (24.6%) - Có: 102 (52.3%) - Ít: 34 (17.4%) - Không: 11 (5.7%) 9. Hình thức tổ chức yêu thích nhất (học sinh được chọn nhiều đáp

án):

- Nhập vai nhân vật văn học: 106 lượt chọn - Trò chơi tương tác: 123 lượt chọn - Sân khấu hóa tác phẩm: 98 lượt chọn - Thuyết minh kết hợp hiện vật: 81 lượt chọn - Hoạt động trải nghiệm nhóm: 109 lượt chọn - Hình thức khác (ghi chú): 17 lượt chọn IV. Cơ sở vật chất và môi trường học tập 10. Không gian trưng bày thuận tiện, dễ tiếp cận: - Rất thuận tiện: 72 (36.9%) - Thuận tiện: 84 (43.1%) - Bình thường: 28 (14.4%) - Không thuận tiện: 11 (5.6%) 11. Trang thiết bị hỗ trợ:

- Rất tốt: 55 (28.2%) - Tốt: 89 (45.6%) - Bình thường: 38 (19.5%) - Kém: 13 (6.7%) V. Đánh giá đội ngũ cán bộ giáo dục 12. Cán bộ giáo dục/hướng dẫn viên: - Rất thân thiện, truyền cảm hứng: 64 (32.8%) - Thân thiện, dễ hiểu: 52 (26.7%) - Bình thường: 45 (23.1%) - Thiếu nhiệt tình: 24 (12.3%) - Không đáp ứng mong đợi: 10 (5.1%) 13. Sử dụng công nghệ hỗ trợ: - Có 132 (67.7%) - Không: 51 (26.2%) - Không rõ: 12 (6.1%) 14. Đánh giá công nghệ hỗ trợ: - Rất hữu ích: 63 (32.3%) - Hữu ích: 81 (41.6%) - Bình thường: 34 (17.4%) - Không hữu ích: 17 (8.7%) 15. Mong muốn quay lại Bảo tàng trong tương lai: - Rất mong muốn: 81 (41.6%) - Có: 76 (39.0%) - Bình thường: 26 (13.3%) - Không mong muốn: 12 (6.1%) VIII. Góp ý và đề xuất 16. Hoạt động mong muốn được tổ chức thêm: ●

Các chủ đề phổ biến được đề xuất bao gồm: thi sáng tác văn học, gặp gỡ nhà văn, trải nghiệm viết thư pháp, tìm hiểu hậu trường bảo tàng, sử dụng công nghệ AR/VR để tái hiện bối cảnh tác phẩm... 17. Góp ý cải thiện hoạt động: ●

Một số đề xuất tiêu biểu: Tăng thời lượng cho các hoạt động tương tác nhóm; Đa dạng hóa hình thức trình bày; Cải thiện hệ thống âm thanh và ánh sáng; Bổ sung tài liệu học tập số hóa….

Kết quả khảo sát cho thấy học sinh đánh giá tích cực đối với hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Văn học Việt Nam trên nhiều phương diện: nội dung, phương pháp, cơ sở vật chất, và đội ngũ hướng dẫn. Những đề xuất và góp ý thu thập được là cơ sở quan trọng để hoàn thiện và phát triển các hoạt động giáo dục tại bảo tàng trong tương lai.

PHỤ LỤC 3.2. KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ CỦA GIÁO VIÊN VỀ MỨC ĐỘ PHỐI HỢP GIỮA BẢO TÀNG VĂN HỌC VIỆT NAM VÀ NHÀ TRƯỜNG

Để đánh giá mức độ phối hợp giữa Bảo tàng Văn học Việt Nam và các trường phổ thông trong việc tổ chức hoạt động giáo dục, tác giả đã tiến hành khảo sát thông qua phỏng vấn sâu bán cấu trúc với 12 giáo viên môn Ngữ văn và cán bộ quản lý tại một số trường THPT trên địa bàn Hà Nội. Dữ liệu thu thập được tổng hợp như sau:

Mức độ phối hợp Số lượng người được hỏi Tỷ lệ (%)

Rất chặt chẽ 3 25.0%

Chặt chẽ 5 41.7%

Bình thường 3 25.0%

Chưa chặt chẽ 1 8.3%

Tổng cộng 12 100%

Biểu đồ minh họa:

Biểu đồ Đánh giá của giáo viên về mức độ phối hợp giữa Bảo tàng Văn

học Việt Nam và nhà trường (Đơn vị: %)

PHỤ LỤC 04 KHUNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN

PHỤ LỤC 4.1. KHUNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN DÀNH CHO

GIÁO VIÊN NGỮ VĂN

1. Anh/chị đánh giá như thế nào về vai trò của Bảo tàng Văn học Việt

Nam trong giáo dục học sinh phổ thông?

2. Anh/chị đã từng tổ chức hoặc tham gia hoạt động trải nghiệm tại Bảo

tàng cho học sinh chưa? Nếu có, xin chia sẻ trải nghiệm cụ thể.

3. Theo anh/chị, các nội dung, hình thức hoạt động giáo dục hiện nay của

Bảo tàng có phù hợp và hấp dẫn với học sinh không?

4. Anh/chị nhận thấy những khó khăn nào khi tổ chức cho học sinh tham

quan, học tập tại Bảo tàng?

5. Việc phối hợp giữa nhà trường và Bảo tàng hiện được thực hiện ra sao?

Có điều gì cần cải thiện?

6. Anh/chị có đề xuất gì để nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục tại Bảo

tàng, đặc biệt là gắn với chương trình môn Ngữ văn?

PHỤ LỤC 4.1. KHUNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN DÀNH CHO HỌC SINH

1. Em đã từng tham quan hoặc tham gia hoạt động trải nghiệm tại Bảo

tàng Văn học Việt Nam chưa?

2. Em cảm thấy điều gì thú vị hoặc chưa hấp dẫn trong chuyến tham quan

đó?

3. Những nội dung nào tại Bảo tàng khiến em ấn tượng và giúp ích cho

môn Ngữ văn trên lớp?

4. Em mong muốn hoạt động giáo dục tại Bảo tàng được tổ chức theo

hình thức nào để dễ tiếp cận và hấp dẫn hơn?

5. Theo em, hoạt động tại Bảo tàng nên tổ chức như thế nào để bổ trợ tốt

hơn cho việc học tập?

PHỤ LỤC 4.3. KHUNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN DÀNH CHO CÁN BỘ PHỤ TRÁCH GIÁO DỤC TẠI BẢO TÀNG VĂN HỌC VIỆT NAM

1. Anh/chị có thể giới thiệu khái quát về các chương trình giáo dục hiện

có tại Bảo tàng Văn học Việt Nam dành cho học sinh phổ thông?

2. Trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục, anh/chị thấy đâu là

thuận lợi và khó khăn?

3. Đánh giá của anh/chị về sự phối hợp giữa Bảo tàng và các trường phổ

thông hiện nay như thế nào?

4. Bảo tàng có thực hiện khảo sát hoặc thu nhận phản hồi từ giáo viên và

học sinh sau các chương trình giáo dục không?

5. Anh/chị có đề xuất gì để nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động giáo dục

hướng tới học sinh phổ thông?

PHỤ LỤC 4.1. KHUNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN DÀNH CHO CHUYÊN

GIA TRONG LĨNH VỰC BẢO TÀNG

1. Theo anh/chị, vai trò của bảo tàng nói chung và Bảo tàng Văn học Việt

Nam nói riêng trong giáo dục học sinh phổ thông là gì?

2. Các yếu tố nào là then chốt để một bảo tàng thực hiện tốt chức năng

giáo dục cho đối tượng học sinh?

3. Anh/chị đánh giá như thế nào về mô hình tổ chức hoạt động giáo dục

tại Bảo tàng Văn học hiện nay?

4. Theo anh/chị, việc đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục tại bảo

tàng cần bắt đầu từ đâu?

5. Anh/chị có kiến nghị nào về chính sách hoặc mô hình quản lý để nâng

cao vai trò giáo dục của Bảo tàng Văn học Việt Nam?

PHỤ LỤC 05: DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI TRẢ LỜI PHỎNG VẤN

STT Họ và tên Đơn vị công tác Nhóm đối tượng

Giới tính

Nguyễn Thị Hiền Nữ Trường THPT Cầu Giấy Giáo viên Ngữ văn 1

Phạm Trung Kiên Nam Trường THPT Cầu Giấy Giáo viên Ngữ văn 2

3 Đỗ Thị Lan Hương Nữ Trường THPT Cầu Giấy Giáo viên Ngữ văn

Nguyễn Văn Việt Nam Trường THPT Lê Lợi Giáo viên Ngữ văn 4

Trần Thị Thùy Nữ Trường THPT Lê Lợi Giáo viên Ngữ văn 5

6 Nguyễn Thúy Quỳnh Nữ Trường THPT Lê Lợi Giáo viên Ngữ văn

Nguyễn Văn Hải Nam Trường THPT Kim Liên Giáo viên Ngữ văn 7

Phan Thị Huyền Nữ Trường THPT Kim Liên Giáo viên Ngữ văn 8

Đỗ Long Vũ Nam Trường THPT Đông Đô Giáo viên Ngữ văn 9

Vũ Thị Thắm Nữ Trường THPT Đông Đô Giáo viên Ngữ văn 10

Đoàn Thị Hoài Nữ Trường THPT Nhân Giáo viên Ngữ văn 11

Chính

12 Đặng Anh Tuấn Nam Trường THPT Nhân Giáo viên Ngữ văn

Chính

13 Nguyễn Hải An Nữ Học sinh lớp 11 trường Học sinh THPT

THPT Cầu Giấy

14 Nguyễn Văn Thắng Nam Học sinh lớp 12 trường Học sinh THPT

THPT Lê Lợi

15 Phạm Minh Lý Nữ Học sinh lớp 10 trường Học sinh THPT

THPT Kim Liên

16 Trần Thị Thu Học sinh THPT

Nữ Học sinh lớp 11 trường THPT Nhân Chính

17 Phạm Văn Linh Nam Học sinh lớp 12 trường Học sinh THPT

THPT Đông Đô

18 Chu Thị Hòa Cán bộ bảo tàng

Nữ Phòng Giáo dục – Bảo tàng Văn học Việt Nam

19 Nguyễn Văn Bình Nam Phòng Trưng bày – Bảo Cán bộ bảo tàng

tàng Văn học Việt Nam

20 Lê Thị Hương Cán bộ bảo tàng

Nữ Phòng Nghiên cứu – Bảo tàng Văn học Việt Nam

21 Chuyên gia

TS. Võ Thị Mai Phương

Nữ Chuyên gia bảo tàng học, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam