1
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ ĐIỆN
KHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM, NÔNG NGHIỆP
ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN CÁC SẢN PHẨM
TỪ BỘT
HỆ TRUNG CẤP
NGÀNH: CHẾ BIẾN THỰC PHẨM
Năm học 2024-2025
( Lưu hành nội bộ )
2
CHƯƠNG I
NGUYÊN LIỆU TRONG CÁC SẢN PHẨM CHẾ BIẾN SAU BỘT
1.1. Đặc điểm , thành phần hoá học của các nguyên liệu chính
1.1.1. Đặc điểm , thành phần hoá học của gạo
1.1.1.1 Đặc điểm cấu tạo của hạt thóc.
Thóc đưa vào chế biến có nhiều giống loại khác nhau, với những đặc điểm cấu trúc
cơ học và tính chất hoá lý khác nhau . Độ bền của mối liê n kết giữa v trấunhân, kh
năng chống lại các lực cơ học của nhân trong quá trình xay xát, độ bền của liên kết còn ph
thuộc vào giống , loại thóc, độ lớnđộ ẩm của hạt.
Kh năng chng li cá lc cơ hc ca các ging, loi thóc khác nhau là khác
nhau.Nó phụ thuộc vào độ cng (độ trng trong)ca nhân, hình dạngđặc đim cấu trúc
của hạt .
Hạt thóc có nhng thành phn chính sau: Mày thóc, vỏ trấu vỏ hạt (cám), ni nhũ
phôi
1.1.1.1.1. Mày thóc
Tuỳ theo giống và điều kiện canh tác mà mày có độ dài ngắn khác nhau. Trong quá
trình bảo quản do cào đảo mà mày rụng ra là nguồn làm tăng lượng tạp chất trong khối hạt.
1.1.1.1.2. Vỏ trấu
Vỏ trấu có tác dụng bảo vệ hạt thóc chống lại ảnh hưởng xấu của điều kiện ngoại
cảnh (thời tiết, vi sinh vật hại). Vỏ trấu được cu to t nhiu lp tế bào mà phn chính là
xenluloza và hemixenlluloza. Trên b mt v tru có các đường gân và có nhiu lông thô
ráp, xù xì. Tu ging và điu kin canh tác mà v tru có màu sc khác nhau: màu vàng hay
màu nâu xẫm. V tru thường chiếm khong 18-20% so vi khi lượng toàn ht
1.1.1.1.3. Vỏ hạt
Là vỏ quả (hạt gạo), dễ bóc đi trong quá trình xát gạo. Mô của nó chặt và cứng, bảo
vệ các lớp bên trong của quả chống sự chuyển dịch của oxy, carbon diocide và hơi nước như
vậy vỏ quả là một lớp bảo vệ tốt chống nấm mốc và sự mất phẩm chất vì oxy hóa và enzim.
Vỏ quả thực tế gồm 3 lớp (kể từ ngoài vào) là: Vỏ ngoài, vỏ giữa và lớp có thớ chéo. Ngay
dưới lớp vỏ quả là lớp vỏ lụa- đó chỉ là một lớp tế bào mỏng, dưới lớp vỏ lụa là lớp alơ ron.
Lớp alơ ron tập trung nhiều dinh dưỡng quan trọng. Trung bình lớp vỏ hạt chiếm 5,5-6,0%
khối lượng hạt gạo lật (gạo chỉ mới bóc vỏ trấu). Trong thành phần alơ ron có protein, lipit,
muối khoáng và Vitamin. Khi xát gạo không kỹ thì gạo dễ bị ôi khét vì lipit bị oxy hóa. Như
3
vậy gạo càng xát kỹ càng dễ bảo quản nhưng dinh dưỡng đặc biệt là vitaminB1 bị mất đi
nhiều.
1.1.1.1.4. Nội nhũ
Là phần chiếm tỷ lệ khối lượng lớn nhất toàn hạt. Trong nội nhũ, tinh bột chiếm tới
90%, trongđó so với toàn hạt gạo tinh bột chiếm 75%. Hàm lượng trong protein trong nội
nhũ thấp, hàm lượng khoáng và chất béo không đáng kể, nhưng nhờ hàm lượng tinh bột cao
nên nó có giá trị năng lượng lớn. Hai thành phần chính cấu tạo nên tinh bột là amylose và
amylopectin, trong đó amylose đóng vai trò quyết định trong phẩm chất của gạo. Tùy theo
giống và điều kiện canh tác nội nhũ gạo có thể trắng trong, trắng đục, bạc bụng. Độ trong
nội nhũ đóng vai trò quan trọng trong tính chất cơ lýcủa thóc. Thóc có nội nhũ trắng đục,
bạc bụng thì xay xát tỷ lệ gạo nguyên thấp.
1.1.1.1.5. Phôi
Thường nằm ở gốc nội nhũ, được bảo vệ bằng diệp tử (lá mầm), lúa là loại đơn diệp
tử. Phôi chứa hầu hết các chất quan trọng như các enzim thủy phaanprotein, lipit, các
vitamin cannf thiết cho sự sinh trưởng của mầm cây klhi có điều kiện thuận lợi là độ ẩm và
nhiệt độ. Phôi chứa tới 66% vitaminB1 của hạt. Phôi có cấu tạo xốp, chứa nhiều dinh dưỡng,
các hoạt động sinh lý mạnh, phôi dễ bị ẩm nên trong quá trình bảo quản dễ bị côn trùng tấn
công và vi sinh vật xâm hại. Ở lúa, phôi thường chiếm khoảng 2,2-3,0% khối lượng toàn
hạt. Khi xay xát phôi thường bị tách nat ra thành cám
1.1.1.2. Thành phần hóa học của gạo
Những nghiên ứu của các nhà khoa học cho thấy thành phần hóa học của thóc phụ
thuộc vào giống , loại và điều kiện gieo trồng của cây lúa. Hạt càng lớn thì hàm lượng tinh
bột càng cao, hàm lượng xenluloza càng thấp và ngược lại
Bảng 1.1. Thành phần hóa học của thóc
Các chất
Hàm lượng các chất
Cực tiểu
Cực đại
Trung bình
Protin
6,66
10,43
8,47
Tinh bột
47,70
68,0
56,20
Xenluloza
8,74
12,22
9,41
Tro
4,00
6,9
5,80
Đường
0,1
4,50
3,20
Chất béo
1,80
2,50
1,20
Dextrin
0,80
3,20
1,30
4
Các chất protein, chất béo, chất khoáng và các vitamin phân bố trong hạt không
đều(theo Hintơn-1954, Kils- 185, Hoiston-1964). Phần lớn các chất này phân bố ở các lớp
vỏ ngoài, lớp alơron và phôi
Protein của thóc gồm albumin, globulin, prolamin và glutenin trong đó glutenin
thành phần chủ yếu. Tỷ lệ giữa chúng được trình bày ở bảng sau
Bảng 1.2. Thành phần protein của thóc
Tác giả
Albumin
Prolamin
Globulin
Zuzuki và cộng tác viên
(Nhật BẢn), 1938........
5,84
9,17
70,90
Anbert và cộng tác viên
(Hungaria),1953......
0,589 - 3,36
7,25 - 8,97
82,0684,16
Larros (Liên Xô)1961.......
12 - 16
4 -10
58 69
Xukhơnov (Liên Xô)1965.....
3,18 - 49,6
2,31 7,80
73,44
So với protin của cá c hạt hòa thảo khác, protein của thóc được coi là hoàn thiện hơn
cả (Tyons-1984, Kils-1945, Xukhơnov-1965). Nó chứa đủ các axit amin không thay thế.
Theo Prokhovov và Renhichenco, trong ozizein chứa 17 axit amin: xistin, lizin, argrinin,
treonin, alanin, histidin, glixin, serin, axit asparagin, axit glutamic, alamin, prolin, tirozin,
valin, metionin, phenilalanin, leizin và triptophan
Gluxit của thóc gồm tinh bột, xenluloza, hemixenluloza và các đường glucoza,
saccaroza, mantoza, fructoza, raphinoza. Trong đó tinh bột là thành phần chủ yếu. Thành
phần tinh bột thóc tẻ chủ yếu gồm amilopectin và khoảng 17% amiloza, còn trong tinh bột
thóc nếp hầu như không có amiloza.
Chất béo của thóc chủ yếu gồm các axit béo oleic(41-45%), linolic(27-36,7%),
panmitic(12,3 17.3%) và chủ tập trung ở phôi và lớp alơ ron .
1.1.2. Đặc điểm , thành phần hoá học của sắn
1.1.2.1 Đặc điểm cấu tạo của củ sắn.
Sắn là cây lương thực ưa ẩm và ấm, phát nguồn từ lưu vực sông Amazon Nam M.
Đến thế ký 16 mới được trồng ở châu Á và châu Phi. Ở nước ta ,sắn được trồng từ Nam tới
Bắc, nhiều nhất là vùng trung du miền núi. Hiện nay sắn là một trong những loại màu quan
trọng trong cơ cấu phát triển lương thực ở nước ta.
5
Sắn có nhiều loại khác nhau về màu sắc thân cây, lá, vỏ , củ , thịt....tuy nhiên trong
công nghệ sản xuất người ta chia sắn thành hai loại: sắn đắng và sắn ngọt. Hai loại này khác
nhau về hàm lượng tinh bột và lượng độc tố.
Sắn đắng hay còn gọi là sắn dù. Cây thấp (cao klhoong quá 1,2m), ít bị đổ khi gió to.
Năng sất cao, củ mập, nhiều tinh bột, nhiều mủ và hàm lượng axit xianhydric cao. Ăn tươi
dễ bị ngộ độc.
Đặc điểm của cây sắn dù là đốt ngắn, thân cây khi non màu xanh nhạt. Cuống lá chỗ
nối tiếp thân và cây màu đỏ thẫm, kế đó màu trắng nhạt rồi lại hồng dần. Vỏ gỗ của củ màu
nâu sẫm, vỏ cùi và thịt củ sắn dều có màu trắng.
Sắn ngọt bao gồm tất cả các loại mà hàm lượng axit xianhydric thấp như sắn vàng,
sắn đỏ, sắn trắng.......
Sắn vàng hay còn gọi là sắn nghệ. Khi non thân cây màu xanh thẫm, cuống lá màu
đỏ có sọc nhạt, vỏ gỗ của củ màu nâu,vỏ cùi trắng, thịt củ màu vàng nhạt , khi luộc màu
vàng rõ rệt hơn.
Sắn đỏ thân cây cao, khi non màu xanh thẫm, cuống và gân lá màu đỏ thẫm. Củ dài
to, vỏ gỗ màu nâu đậm, vỏ cùi dày màu hơi đỏ, thịt sắn màu trắng.
Sắn trắng thân cây cao, khi non màu xanmh nhạt, cuoonmgs lá đỏ. Củ ngắn và mập,
vỏ gỗ màu xám nhạt , thịt và vỏ cùi màu trắng.
Sắn ngọt hàm lượng tinh bột thấp, ít độc tố ăn tươi không ngộ độc, dễ chế biến.
Bảng 1.3. Tình hình phát triển sắn ở các tỉnh
Năm
Diện tích(ha)
Sản lượng(tấn)
1960
35.890
320.990
1964
121.159
896.260
1970
85.219
635.236
1975
84.956
681.0325
1980
447.000
3.978.000
2000
237.600
1.986.300
2001
292.300
3.509.200
2001
337.000
4.438.000
2003
371.000
5.308.900
2004
383.600
5.572.8000