intTypePromotion=3

Đề tài: Điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước Việt Nam và những vấn đề đặt ra

Chia sẻ: Nguyễn Quang đức | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:39

5
1.771
lượt xem
694
download

Đề tài: Điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước Việt Nam và những vấn đề đặt ra

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài: Điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước Việt Nam và những vấn đề đặt ra gồm 3 chương trình bày về: những vấn đề cơ bản về chính sách tiền tệ, thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế điều hành chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước Việt Nam và những vấn đề đặt ra

  1. NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA NGÂN HÀNG  ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA Giáo viên: Trần Thị Lộc Nhóm 5 – H302 – sáng thứ 6 Hà Nội 20.11.2010
  2. Danh sách thành viên Nhóm 5 H302 sáng thứ 6 stt Tên thành viên Lớp 1 Đào Thị Hải Huyền TCDNB_K11 2 Hoàng Thị Cẩm Tú TCDNB_K11 3 Nguyễn Thị Ngọc Huế TTQTB_K11 4 Vũ Giang Lam TCDNC_K11 5 Trần Văn Chiến TCDNC_K11 6 Nguyễn Thanh Thủy TCDNB_K11 7 Trần Phi Hùng TCDNB_K11 8 Nguyễn Quang Đức TCDNB_K11 9 Bùi Trường Minh TCDNA_K11 10 Phạm Thế Huỳnh TCDNB_K11 11 Mai Hồng Minh TCDNB_K11 12 Nguyễn Văn Thương TCDNB_K11 13 Nguyễn Thị Thùy Linh TCDNE_K11
  3. Mục Lục Chương I: ........................................................................Error! Bookmark not defined. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ........... Error! Bookmark not defined. I) Khái niệm, vị trí của chính sách tiền tệ....................Error! Bookmark not defined. a. Khái niệm chính sách tiền tệ :......................................Error! Bookmark not defined. b. Vị trí chính sách tiền tệ :..............................................Error! Bookmark not defined. II .Mục tiêu của chính sách tiền tệ : ............................. Error! Bookmark not defined. a. Ổn định giá trị đồng tiền : ...........................................Error! Bookmark not defined. b. Tăng công ăn việc làm:................................................Error! Bookmark not defined. c. Tăng trưởng kinh tế: ....................................................Error! Bookmark not defined. III. Các công cụ điều tiết:.............................................Error! Bookmark not defined. Chương II:.......................................................................Error! Bookmark not defined. THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CSTT Ở VIỆT NAM NĂM 2007 TỚI NAY...........Error! Bookmark not defined. Thực trạng CSTT ở Việt Nam: ....................................Error! Bookmark not defined. Bối cảnh chung:....................................................... Error! Bookmark not defined. Diễn biến về việc điều hành CSTT........................... Error! Bookmark not defined. Đánh giá việc điều hành CSTT ở VN trong giai đoạn 2007 đến nay: Error! Bookmark not defined. Những thành công: ..................................................Error! Bookmark not defined. Những hạn chế: ....................................................... Error! Bookmark not defined. .Những vấn đề đặt ra trong việc điều hành CSTT ở VN: ............ Error! Bookmark not defined. Giai đoạn: trong năm 2007- đầu 2008 ...................... Error! Bookmark not defined. Giai đoạn năm 2008:...............................................Error! Bookmark not defined. Giai đoạn trong năm 2009 :......................................Error! Bookmark not defined. Chương III: .....................................................................Error! Bookmark not defined. CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH CSTT CỦA NHNN VIỆT NAM...............................................................................Error! Bookmark not defined. Cung ứng tiền hợp lý: ..................................................Error! Bookmark not defined. Xây dựng hệ thống thanh toán điện tử: ........................ Error! Bookmark not defined. Các giải pháp hỗ trợ cho việc thực hiện chính sách tiền tệ:......... Error! Bookmark not defined. Công tác thanh tra kiểm soát nội bộ với hoạt động thanh tra nhà nước đảm bảo tính hiệu quả và an toàn trong hoạt động ngân hàng:...........Error! Bookmark not defined. Điều kiện để thực thi chính sách tiền tệ có hiệu quả: ....Error! Bookmark not defined.
  4. Lời Mở Đầu Chính sách tiền tệ là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cực kì quan trọng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởng lớn đến các biến số vĩ mô như: công ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạm phát… Để đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ thì việc sử dụng các công cụ của nó có vai trò cơ bản, quyết định. Ở Việt Nam kể từ khi đổi mới đến nay, chính sách tiền tệ đặc biệt là các công cụ của nó đang từng bước hình thành, hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với nền kinh tế. Với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam thì việc lựa chọn các công cụ nào, sử dụng nó ra sao ở các giai đoạn cụ thể của nền kinh tế luôn là một vấn đề thường xuyên phải quan tâm theo dõi và giải quyết đối với các nhà hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, các nhà nghiên cứu kinh tế. Đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và quốc tế như hiện nay thì việc nghiên cứu về chính sách tiền tệ cụ thể là các công cụ của chính sách tiền tệ là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao. Với mục đích trau dồi kiến thức đã học và góp phần nghiên cứu, tìm hiểu về chính sách tiền tệ , chúng em quyết định chọn đề tài : “Điều hành CSTT của NHNN Việt Nam từ năm 2007 đến nay và những vấn đề đặt ra.” Trong quá trình sưu tập và làm bài, chúng em phân ra nhiều phần khác nhau để phân tích và có thể đứng ở một khía cạnh nào đó có thể hạn hẹp. Chính sách tiền tệ của NHNN VN trong giai đoạn 2007 -2010 rất rộng lớn, có thể kiến thức của chúng em chưa đáp ứng được yêu cầu của các thầy (cô) yêu cầu. Chúng em rất mong sự đóng góp ý kiến từ các thầy (cô) và các bạn để bài tiểu luận của chúng em được tốt hơn nữa. Chúng em xin chân thành cảm ơn!!
  5. Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 1) Khái niệm, vị trí của chính sách tiền tệ a. Khái niệm chính sách tiền tệ : Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do Ngân hàng trung ương khởi thảo và thực thi, thông qua các công cụ , biện pháp của mình nhằm đạt các mục tiêu :ổn định giá trị đồng tiền, tạo công ăn việc làm ,tăng trưởng kinh tế . Chúng ta có thể hiểu, chính sách tiền tệ là tổng hòa các phương thức mà NHNN VN (NHTW) thông qua các hoạt động của mình tác động đến khối lượng tiền tệ trong lưu thông, nhằm phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế -xã hội của đất nước trong một thời kì nhất định. Mặt khác, nó là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế - tài chính vĩ mô của chính phủ. Tuỳ điều kiện các nước, chính sách tiền tệ có thể được xác lập theo hai hướng: chính sách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền ,giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất kinh doanh ,giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng -chính sách tiền tệ chống thất nghiệp) hoặc chính sách tiền tệ thắt chặt (giảm cung tiền , tăng lãi suất làm giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng- chính sách tiền tệ ổn định giá trị đồng tiền). b. Vị trí chính sách tiền tệ : Trong hệ thống các công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước thì chính sách tiền tệ là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trực tiếp vào lĩnh vực lưu thông tiền tệ .Song nó cũng có quan hệ chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách tài khoá,chính sách thu nhập,chính sách kinh tế đối ngoại. Đối với Ngân hàng trung ương ,việc hoạch định và thực thi chính sách chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản nhất ,mọi hoạt động của nó đều nhằm làm cho chính sách tiền tệ quốc gia được thực hiện có hiệu quả hơn. 2) Mục tiêu của chính sách tiền tệ : a. Ổn định giá trị đồng tiền :
  6. NHTW thông qua CSTT có thể tác động đến sự tăng hay giảm giá trị đồng tiền của nước mình. Giá trị đồng tiền ổn định được xem xét trên hai mặt: Sức mua đối nội của đồng tiền(chỉ số giá cả hàng hoá và dịch vụ trong nước)và sức mua đối ngoại (tỷ giá của đồng tiền nước mình so với ngoại tệ). Tuy vậy, CSTT hướng tới ổn định giá trị đồng tiền không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát =0 vì như vậy nền kinh tế không thể phát triển được,để có một tỷ lệ lạm phát giảm phảI chấp nhận một tỷ lệ thất nghiệp tăng lên. b. Tăng công ăn việc làm: CSTT mở rộng hay thu hẹp có ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử dụng có hiệu qủa các nguồn lực xã hội, quy mô sản xuất kinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế. Để có một tỷ lệ thất nghịêp giảm thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát tăng lên. Mặt khác, khi tăng trưởng kinh tế đạt được do kết quả của cuộc cải tiến kĩ thuật thì việc làm có thể không tăng mà còn giảm. Theo nhà kinh tế học Arthur Okun thì khi GNP thực tế giảm 2% so với GNP tiềm năng, thì mức thất nghiệp tăng 1%. Từ những điều trên cho thấy, vai trò của NHTW khi thực hiện mục tiêu này : tăng cường đầu tư mở rộng sản xuất – kinh doanh, chống suy thoái kinh tế theo chu kỳ, tăng trưởng kinh tế ổn định, khống chế tỷ lệ thất nghiệp không vượt quá tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. c. Tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi chính phủ trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của mình, để giữ cho nhịp độ tăng trưởng đó ổn định, đặc biệt việc ổn định giá trị đồng bản tệ là rất quan trọng ,nó thể hiện lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ. Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết quả hai mục tiêu trên đạt được một cách hài hoà. Mối quan hệ giữa các mục tiêu : Có mối quan hệ chặt chẽ,hỗ trợ nhau, không tách rời. Nhưng xem xét trong thời gian ngắn hạn thì các mục tiêu này có thể mâu thuẫn với nhau thậm chí triệt tiêu lẫn nhau. Vậy để đạt được các mục tiêu trên một cách hài hoà thì NHTW trong khi thực hiện CSTT cần phải có sự phối hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô khác. Mặt khác để biết các mục tiêu cuối cùng trên có thực hiện được không, thì các NHTW phải chờ thời gian dài ( một năm –khi kết thúc năm tài chính). 3. Các công cụ điều tiết: Công cụ CSTT là các hoạt động được thực hiện trực tiếp bởi NHTW nhằm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến khối lượng tiền trong lưu thông và lãi suất, từ đó mà đạt được các mục tiêu của CSTT.
  7. a. Công cụ trực tiếp: Là các công tác động trực tiếp vào khối lượng tiền trong lưu thông hoặc các mức lãi suất trung và dài hạn. Công cụ trực tiếp được áp dụng phổ biến trong thời kỳ các hoạt động tài chính được điều tiết chặt chẽ. Các công cụ được sử dụng đó là:  Hạn mức tín dụng  Ấn định lãi suất  Ấn định tỷ giá  Quản lý hạn mức tín dụng của các NHTM:  Khái niệm :là việc NHTW quy định tổng mức dư nợ của các NHTM không được vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất định(một năm) để thực hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền của mình.Việc định ra hạn mức tín dụng cho toàn nền kinh tế dựa trên cơ sở là các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô(tốc độ tăng trưởng ,lạm phátiêu thụ..)sau đó NHTW sẽ phân bổ cho các NHTM và NHTM không thể cho vay vượt quá hạn mức do NHTW quy định .  Cơ chế tác động: Đây là một cộng cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đối với lượng tiền cung ứng, việc quy định pháp lý khối lượng hạn mức tín dụng cho nền kinh tế có quan hệ thuận chiều với qui mô lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của NHTM.  Đặc điểm:Giúp NHTW điều chỉnh ,kiểm soát được lượng tiền cung ứng khi các công cụ gián tiếp kém hiệu quả ,đặc biệt tác dụng nhất thời của nó rất cao trong những giai đoạn phát triển quá nóng,tỷ lệ lạm phát quá cao của nền kinh tế .Song nhược điểm của nó rất lớn : triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các NHTM,làm giảm hiệu quả phân bổ vốn trong nến kinh tế ,dễ phát sinh nhiều hình thức tín dụng ngoàI sự kiểm soát của NHTW và nó sẽ trở nên quá kìm hãm khi nhu cầu tín dụng cho việc phát triển kinh tế tăng lên  Quản lý lãi suất của các NHTM:  Khái niệm :NHTW đưa ra một khung lãi suất hay ấn dịnh một trần lãi suất cho vay để hướng các NHTM điều chỉnh lãi suất theo giới hạn đó,từ đó ảnh hưởng tới qui mô tín dụng của nền kinh tế và NHTW có thể đạt được quản lý mức cung tiền của mình.  Cơ chế tác động:Việc điều chỉnh lãi suất theo xu hướng tăng hay giảm sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới qui mô huy động và cho vay của các NHTM làm cho lượng tiền cung ứng thay đổi theo.  Đặc điểm:Giúp cho NHTW thực hiện quản lý lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của từng thời kỳ,đIều này phù hợp với các quốc gia khi chưa có điều kiện để phát huy tác dụng của các công cụ gián tiếp.Song, nó dễ làm mất đi tính khách quan của lãi suất trong nền kinh tế vì thực chất lãi suất là
  8. “giá cả” của vốn do vậy nó phải được hình thành từ chính quan hệ cung cầu về vốn trong nến kinh tế .Mặt khác việc thay đổi quy định đIều chỉnh lãI suất dễ làm cho các NHTM bị động,tốn kém trong hoạt động kinh doanh của mình.  Tỉ giá hối đoái:  Khái niệm : Tỉ giá hối đoái là đại lượng biều thị mối tương quan về mặt giá trịgiữa hai đồng tiền.nói cách khác tỉ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này được biểu hiện bằng một đơn vị tiền nước khác.  Cơ chế tác động: Tác động đến hoạt động kinh tế , từ hoạt động xuất nhập khẩu đến sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong nước qua biến đổi của giá cả hàng hóa.  Đặc điểm: Ngân hàng trung ương có thể ấn định tỉ giá cố định hay tha nổi theo quan hệ cung cầu ngoai tệ trên thị trường ngoại hối bện canh đó còn có tỉ gía cố định nhưng di động khi cần thiết và tỉ giá thả nổi có quản lý.khi vận dung công cụ này không phải NHTU đẩy tỉ giá lên cao hay kéo tỉ gái xuống thấp mà ổn định tỉ gái ở một mức độ hợp lí phù hợp vói đặc điểm điều kiện thực tế của đất nước trong từng giai đoạn để tác động chung cuộc của nó là tốt nhất. b.Công cụ gián tiếp: Đây là nhóm công cụ tác động trước hết vào mục tiêu hoạt động của CSTT, thông qua cơ chế thị trường mà tác động này được lan truyền đến các mục tiêu trung gian là khối lượng tiền cung ứng và lãi suất. Bao gồm:  Nghiệp vụ thị trường mở:  Khái niệm: Là những hoạt động mua bán chứng khoán do NHTW thực hiện trên thị trường mở nhằm tác động tới cơ số tiền tệ qua đó đIều tiết lượng tiền cung ứng.  Cơ chế tác động : Nghiệp vụ thị trường mở có 2 loại: được phép mua bán chứng khoán vào những thời điểm nhất định sau khi nghiệp vụ được tiến hành và loại không được phép mua bán lại. Khi NHTW đem chứng khóan ra thị trường mở để bán nó thu tiền hay séc về, cho nên: o Giảm lượng cung tiền mắt trong lưu thông từ đó giảm khả năng cho vay của các ngân hàng trung gian.
  9. o Khi ngân hàng trung gian mua chứng khóan của NHTW thì dự trữ tiền của nó sẽ giảm xuống và khả năng cung ứng tiền của nó bị thắt chặt. o Lượng chứng khoán tăng lên, chứng khoán trở nên thừa và giá của nó sẽ giảm xuống, lãi suất của nó sẽ tăng lên. Lãi suất chứng khoán tăng lên buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất để tránh tình trạng người dân rút tiền ra khỏi ngân hàng để đầu tư vào chứng khoán. Lãi suất ngân hàng tăng làm lượng tiền cung ứng giảm và do đó tiền trở nên khan hiếm, do đó tỉ giá và giá cả hàng hóa giảm xuống. Và ngược lại khi NHTW ra thị trường mở để mua chứng khoán. Như vậy khi NHTW thực hiện nghiệp vụ bán, nó thắt chặt cung ứng tiền, tăng lãi suất, giảm tỉ giá và giá cả hạ xuống và ngược lại khi thực hiện nghiệp vụ mua.  Đặc điểm: Do vận dụng tính linh hoạt của thị trường nên đây được coi là một công cụ rất năng động, hiệu quả, chính xác của CSTT vì khối lượng chứng khoán mua ( bán ) tỷ lệ với qui mô lượng tiền cung ứng cần điều chỉnh, ít tốn kém về chi phí , dễ đảo ngược tình thế. Tuy vậy, vì được thực hiện thông qua quan hệ trao đổi nên nó còn phụ thuộc vào các chủ thể khác tham gia trên thị trường và mặt khác để công cụ này hiệu quả thì cần phảI có sự phát triển đồng bộ của thị trường tiền tệ ,thị trường vốn.  Dự trữ bắt buộc:  Khái niệm : Số tiền dự trữ bắt buộc là số tiền mà các NH phảI giữ lại, do NHTW qui định, gửi tại NHTW, không hưởng lãI, không được dùng để đầu tư, cho vay và thông thường được tính theo một tỷ lệ nhất định trên tổng só tiền gửi của khách hàng để đảm bảo khả năng thanh toán, sự ổn định của hệ thống ngân hàng.  Cơ chế tác động: Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng trực tiếp đến số nhân tiền tệ (m=1+s/s+ER+RR) trong cơ chế tạo tiền của các NHTM.Mặt khác khi tăng (giảm ) tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì khả năng cho vay của các NHTM giảm (tăng), làm cho lãI suất cho vay tăng (giảm), từ đó làm cho lượng cung ứng tiền giảm (tăng).  Đặc điểm: Đây là công cụ mang nặng tính quản lý Nhà nước nên giúp NHTW chủ động trong việc đIều chỉnh lượng tiền cung ứng và tác động của nó cũng rất mạnh (chỉ cần thay đổi một lượng nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc là ảnh hưởng tới một lượng rất lớn mức cung tiền). Song tính linh hoạt của nó không cao vì việc tổ chức thực hiện nó rất chậm ,phức tạp, tốn kém và nó có thể ảnh hưởng không tốt tới hoạt động kinh doanh của các NHTM.
  10. Chương II: THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CSTT Ở VIỆT NAM NĂM 2007 TỚI NAY I. Thực trạng CSTT ở Việt Nam: 1) Bối cảnh chung: Năm 2007, kinh tế Việt Nam phát triển trong điều kiện khó khăn nhiều hơn thuận lợi so với các năm trước.  Về khó khăn: Thị trường thế giới biến động lớn, phức tạp. Giá cả nhiên liệu, vật tư, nhất là xăng dầu, phôi thép, thép, nguyên liệu sợi, vải, vật liệu phục vụ công nghiệp dệt may, da giày, hóa chất, phân bón, thức ăn chăn nuôi tăng cao. Thị trường xuất khẩu một số mặt hàng biến động phức tạp như dệt may, da giày, thủy sản, thủ công mỹ nghệ, xe đạp và phụ tùng, động cơ điện... Điều đó đã làm cho giá cả tiêu dùng trong nước tăng cao liên tục chưa có điểm dừng. Các điểm yếu của nền kinh tế vốn tồn tại nhiều năm nay như kết cấu hạ tầng yếu kém, nhất là giao thông, thủy lợi, điện đã bộc lộ rõ nét qua thiên tai năm 2007... không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế bền vững với tốc độ cao.  Về thuận lợi: Thành quả nổi bật của những năm qua là duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5%/ năm trong 5 năm 2001 - 2005 và 8,17% năm 2006, thế và lực của Việt Nam đã mạnh lên so với các năm trước. Đó là những tiền đề vật chất rất quan trọng, là yếu tố thuận lợi cơ bản để các ngành, các cấp thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch năm 2007. Năm 2007 là năm đầu tiên Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO và thực hiện cam kết PNTR với Hoa Kỳ, do đó, thị trường xuất khẩu mở rộng, các rào cản thương mại Việt Nam với các nước thành viên WTO được dỡ bỏ hoặc hạn chế. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao qua Hội nghị cấp cao APEC năm 2006. Quan hệ ngoại giao, các hoạt động hợp tác kinh tế, đầu tư, mở rộng thị trường xuất khẩu được củng cố và tăng cường thông qua các cuộc thăm cấp cao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng với sự tham gia của các nhà doanh nghiệp. Tình hình chính trị ổn định, an ninh - quốc phòng bảo đảm, đã tạo môi trường thuận lợi thu hút các nhà đầu tư nước ngoài cũng như các doanh nghiệp trong nước.
  11. Thị trường và giá cả nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam diễn biến theo hướng cầu lớn hơn cung như dầu thô, gạo, cà phê, chè, thủy sản... Do đó, giá cả các mặt hàng này tăng cao, có lợi cho hoạt động xuất khẩu. Bối cảnh trên đây đã tác động trực tiếp, toàn diện đến quá trình và kết quả sản xuất, kinh doanh của các ngành, các doanh nghiệp và xu thế biến động thị trường, giá cả trong nước trên cả 2 mặt thành tựu và hạn chế, bất cập của nền kinh tế năm 2007. Sang đến năm 2008 tình hình kinh tế trong nước và thế giới có nhiều biến động phức tạp. Cụ thể:  Tình hình thế giới: Từ đầu năm 2008, giá dầu thô và nhiều loại vật tư, lương thực trên thị trường thế giới tăng đột biến, giá dầu thô đã tăng trên 140 USD/thùng; giá lương thực tăng trên 1.000 USD/tấn. Kinh tế tăng trưởng chậm lại trên phạm vi toàn cầu, trước hết là do những khó khăn trong thị trường nhà đất của Mỹ và sự mất giá của đồng đô la làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế Mỹ giảm sút. Từ sự suy thoái của kinh tế Mỹ, suy thoái kinh tế và lạm phát đã lan rộng ra các nền kinh tế lớn khác trong năm 2008 như EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ... và ảnh hưởng toàn cầu. Tốc độ tăng trưởng kinh tế Quí I năm 2008 của các nước đều giảm. Dự báo chỉ số CPI của các nước năm 2008 sẽ tăng cao hơn nhiều các năm trước.  Tình hình trong nước: Từ năm 2007 một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của nền kinh tế đã có những biểu hiện xấu và tiếp tục tác động sang năm 2008 như: chỉ số giá trong năm 2007 tăng tới 12,6%; tổng kim ngạch nhập khẩu tăng tới 39% và nhập siêu lên tới 29% tổng kim ngạch xuất khẩu; cân đối tiền tệ, các chỉ số về tổng phương tiện thanh toán, tổng mức huy động vốn và tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế đều tăng rất cao. Các dự báo khi xây dựng kế hoạch năm 2008 biến động khá lớn so với tình hình thực tế (tỷ giá giữa đồng Việt nam với USD; lãi suất tiết kiệm; mức lãi suất cho vay ). Kinh tế thế giới bước sang 2009 với nhiều lo âu và thấp thỏm. Mỹ, đầu tầu kinh tế toàn cầu sau khi “lên dốc” không thành vào quý III năm 2008, đã trượt dốc không phanh. Các kế hoạch cứu trợ khẩn cấp liên tiếp được đưa ra nhưng chưa thể ngăn chặn được sự “bốc hơi” của lượng tài sản tài chính lên tới hơn 30.000 tỉ USD.Toàn thế giới đã chịu “chấn động” của “cơn sóng thần thế kỷ”. Lạm phát, giá hàng hóa, vật tư tăng cao. Nếu tăng trưởng kinh tế năm 2008 của nước ta diễn ra theo đúng kịch bản 6,5%, thì hy vọng rằng trong năm 2009 chúng ta vẫn tiếp tục là nền kinh tế thu hút nhiều sự quan tâm của cộng đồng kinh doanh và tài chính quốc tế. Tuy vậy, khó khăn về nguồn vốn và tín dụng quốc tế chưa đi qua. Thu hút vốn FDI trong năm tới sẽ gặp nhiều khó khăn. Tỷ lệ thất nghiệp tăng cao sẽ trở thành vấn nạn của năm 2009, kéo
  12. theo hiệu ứng là các tệ nạn tiêu cực xã hội. Tạo đủ công ăn việc làm cho người lao động là một thách thức của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2009. Khu vực doanh nghiệp, đặc biệt khối tư nhân, còn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Thu hẹp quy mô và giãn sản xuất, đồng nghĩa với việc cắt giảm nhân công hoặc sử dụng không hết thời gian làm việc, là những giải pháp phổ biến tại nhiều đơn vị sản xuất thời gian qua. Mặt bằng lãi suất đã được điều chỉnh giảm dần suốt 6 tháng cuối năm 2008 nhưng trên thị trường tín dụng, ngân hàng và doanh nghiệp vẫn chưa tìm được tiếng nói chung. Do tình trạng suy thoái kinh tế và thất nghiệp còn gia tăng, nhu cầu tiêu dùng trong năm 2009 sẽ giảm mạnh. Ngân hàng Thế giới ước tính mậu dịch thế giới sau khi tăng 6,2% trong năm 2008 sẽ suy giảm còn 2,1% trong năm tới. Từ đó, có thể xác định một năm khó khăn cho xuất khẩu Việt Nam đang ở phía trước. Mặc dù giá nhập khẩu cũng có xu thế giảm, nhưng muốn bảo đảm nhập siêu ở mức an toàn, cần tiếp tục kiểm soát chặt chẽ hoạt động nhập khẩu và cổ vũ thực hành tiết kiệm trong tiêu dùng và đầu tư. Trong năm 2009, NHNN đã thành công trong việc kích thích tăng trưởng ở mức 5,3%, trong khi kiềm chế lạm phát ở mức 6,5%. Nền kinh tế đã dần đi vào ổn định. Năm 2010, NHNN sẽ cố gắng đáp ứng cả hai mục tiêu, nhưng mục tiêu tăng trưởng sẽ chiếm ưu thế vì tình hình kinh tế thế giới sẽ biến chuyển thuận lợi hơn, tạo điều kiện cho VN tăng trưởng nhanh hơn so với năm ngoái. Để đạt mức tăng trưởng 6,5% cho 2010 chúng ta phải chấp nhận một mức độ lạm phát cao hơn 7%. Một mức lạm phát 7-9% có thể chấp nhận được Kinh tế trong nước có xu hướng tăng trưởng cao, thị trường tài chính, tiền tệ và kinh tế vĩ mô về cơ bản là ổn định. Mặc dù vậy, giá cả hàng hóa tiêu dùng trong nước tăng ở mức khá cao. Chỉ số giá tiêu dùng 2 tháng đầu năm nay tăng 3,35%, hầu hết các nhóm mặt hàng đều tăng. Như vậy, giá cả hàng hóa tiêu dùng tăng ở mức khá cao trong những tháng đầu năm nay, nhưng so với cùng kỳ các năm gần đây chưa phải là đột biến. Nguyên nhân trực tiếp và chủ yếu làm cho giá cả hàng hóa tiêu dùng tăng là do tác động của giá cả hàng hóa thế giới, nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán và việc điều chỉnh tăng giá một số mặt hàng thiết yếu. 2. Diễn biến về việc điều hành CSTT: a. Giai đoạn 2007: Thực hiện ý kiến chỉ đạo nhiệm vụ ngành ngân hàng năm 2007, NHNN trong thực thi CSTT đã bám sát mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, đảm bảo sự ổn định tiền tệ, ổn định hệ thống ngân hàng, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao, bền vững trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế - nhiều thuận lợi, nhưng
  13. cũng không ít thách thức. Trên cơ sở đó, NHNN đã thực hiện các giải pháp điều hành CSTT như sau: +)Thực hiện can thiệp thị trường ngoại hối nhằm giảm áp lực tăng giá VND gây bất lợi cho tăng trưởng kinh tế: Trong phạm vi khối lượng tiền cung ứng tăng được Chính phủ phê duyệt năm 2007, NHNN đã sử dụng linh hoạt các công cụ CSTT để điều tiết có hiệu quả khối lượng tiền cung ứng này, nhằm đạt mục tiêu mua ngoại tệ tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước, hạn chế sức ép tăng giá đồng Việt Nam, góp phần bình ổn thị trường ngoại hối, nhưng đồng thời cũng hút mạnh lượng tiền đã cung ứng ra cho mục đích mua ngoại tệ để giảm mức độ dư thừa vốn khả dụng của các NHTM, hạn chế sự giá tăng của tổng phương tiện thanh toán (TPTTT), qua đó giảm áp lực lạm phát. Cụ thể: - Thông qua nghiệp vụ thị trường mở, NHNN đã hút được một lượng tương đối lớn vốn khả dụng dư thừa của các TCTD, đồng thời vẫn điều tiết kịp thời sự thiếu hụt vốn mang tính thời điểm của một số TCTD, đảm bảo duy trì ổn định tiền tệ, ổn định lãi suất thị trường. - Điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng gấp 2 lần so với mức của năm 2006 để hạn chế mức độ dư thừa vốn khả dụng của các TCTD, qua đó hạn chế tăng trưởng tín dụng vào những lĩnh vực kém hiệu quả, giảm sức ép tăng lạm phát trong những tháng cuối năm. - Giữ ổn định các mức lãi suất chính thức do NHNN công bố, nhằm phát tín hiệu ổn định lãi suất thị trường. Đồng thời, trong điều kiện nguồn cung ngoại tệ dồi dào, từ 01/03/2007, NHNN đã chính thức thực hiện bỏ qui định về trần lãi suất tiền gửi USD của pháp nhân tại TCTD để hoàn toàn tự do hóa lãi suất thị trường, phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế. - Hạn chế cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá, thực hiện cho vay chiết khấu trong hạn mức phân bổ. +) Điều hành tỷ giá và quản lý dự trữ ngoại hối phù hợp với điều kiện mở cửa thị trường tài chính: - Ngay từ đầu năm 2007, NHNN bắt đầu thực hiện nới lỏng biên độ tỷ giá từ 0,25% lên 0,5% và đến 12/12/2007, tiếp tục nới rộng biên độ lên 0,75%. Đồng thời NHNN đã thực hiện việc mua ngoại tệ theo nhu cầu bán của các NHTM, Kho bạc Nhà nước và các tổ chức quốc tế với tỷ giá phù hợp để hạn chế sức ép tăng giá đồng Việt Nam và tăng cường mức dự trữ ngoại hối Nhà nước. Chênh lệch giữa tỷ giá mua ngoại tệ của NHNN và tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng đã được thu hẹp, phản ánh sát cung cầu ngoại tệ trên thị trường. - Thực hiện Quyết định số 597/QĐ-TTg ngày 11/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã duy trì hạn mức Quỹ bình ổn tỷ giá và giá vàng bằng 30% tổng dự trữ ngoại hối nhà nước, (xác định theo quý) với biên độ +/- 10% thay vì xác định hạn mức theo giá trị tuyệt đối như trước đây. Việc xác định hạn mức như vậy cho phép NHNN tăng cường tính linh hoạt trong điều hành tỷ giá, kịp thời ứng phó với các rủi ro đảo chiều của các nguồn vốn, đặc biệt là các nguồn vốn
  14. đầu tư gián tiếp của nước ngoài. - NHNN đã quản lý an toàn dự trữ ngoại hối Nhà nước, đáp ứng mục tiêu thanh khoản và sinh lời ở mức độ nhất định. Tổng dự trữ ngoại hối Nhà nước tính theo tuần nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ tăng từ mức 13,6 tuần vào thời điểm cuối năm 2006 lên gần 18 tuần năm 2007. - Xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh Ngoại hối; triển khai thực hiện Đề án nâng cao tính chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam, khắc phục tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. +) Thực hiện các giải pháp kiểm soát chất lượng và tốc độ tăng trưởng tín dụng, tăng tổng phương tiện thanh toán nhằm kiểm soát lạm phát. Bên cạnh việc sử dụng các công cụ CSTT để thu hút tiền dư thừa của các TCTD để hạn chế việc mở rộng quá mức đầu tư tín dụng và tăng TPTTT, NHNN tiếp tục thực hiện hoàn thiện cơ sở pháp lý và yêu cầu các TCTD thực hiện các quy định về kiểm soát rủi ro, quy mô, chất lượng tín dụng và cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán nhằm kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như: - Yêu cầu các TCTD tiếp tục thực hiện Công văn số 7318/NHNN-CSTT ngày 25/8/2006 về việc thực hiện một số biện pháp để kiểm soát việc cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán ở mức hạn chế và đảm bảo an toàn. Ban hành Chỉ thị 03/2007/CT-NHNN ngày 28/5/2007 về kiểm soát quy mô, chất lượng tín dụng và cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán nhằm kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, trong đó có qui định khống chế dư nợ vốn cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư kinh doanh chứng khoán ở mức dưới 3% tổng dư nợ tín dụng của TCTD... - Ban hành Quyết định số 03/2007/QĐ-NHNN ngày 19/1/2007 quy định các TCTD không được cấp tín dụng cho các doanh nghiệp trực thuộc hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán, không được cho vay không có bảo đảm đối với các khoản vay nhằm đầu tư, kinh doanh chứng khoán và trong thời hạn 1 năm kể từ ngày Quyết định 03 có hiệu lực, các TCTD phải điều chỉnh để đáp ứng các quy định trên. - Đồng thời, bổ sung sửa đổi quy định về tín dụng, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro phù hợp với chuẩn mực quốc tế và yêu cầu tăng cường năng lực tài chính của NHTM khi tính tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, hệ số rủi ro của các khoản cho vay để đầu tư chứng khoán, các khoản cho vay đối với công ty chứng khoán nhằm kinh doanh, mua bán chứng khoán được nâng lên mức 150% (theo quy định tại Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN là 100%); - Ban hành văn bản số 3224/NHNN-CSTT ngày 10/4/2007 quy định việc các TCTD báo cáo định kỳ về hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán, cho vay có bảo đảm bằng cầm cố chứng khoán, ủy thác đầu tư và chiết khấu giấy tờ có giá nhằm phục vụ việc giám sát thường xuyên hoạt động cho vay đối với nhu cầu vốn này và có các giải pháp xử lý kịp thời; ban hành Chỉ thị 03/2007/CT- NHNN ngày 28/5/2007 về kiểm soát quy mô, chất lượng tín dụng và cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán và các văn bản hướng dẫn lộ thực hiện đối với
  15. các NHTM đã cho vay vượt mức khống chế tỷ lệ 3%, giảm dần cho đến thời điểm 31/12/2007 phải đảm bảo tỷ lệ 3%; tăng cường thanh tra, giám sát việc mở rộng quy mô và chất lượng tín dụng theo Chỉ thị này. - Ban hành Chỉ thị số 06/2007/CT-NHNN ngày 02/11/2007 về yêu cầu các tổ chức tín dụng và các đơn vị trực thuộc NHNN thực hiện các giải pháp đảm bảo khả năng thanh toán và kiểm soát tổng phương tiện thanh toán. - Tổ chức họp với các NHTM và NHNN chi nhánh thành phố Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ, Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh để triển khai thực hiện các giải pháp cụ thể về tiền tệ, tín dụng. NHNN đã chỉ đạo các NHTM tích cực tham gia nghiệp vụ thị trường mở, điều chỉnh cơ cấu tín dụng, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với một số lĩnh vực có độ rủi ro cao như cho vay để đầu tư, kinh doanh chứng khoán, cho vay kinh doanh bất động sản, cho vay bằng ngoại tệ, cho vay tiêu dùng. - Tiến hành thanh tra tại các TCTD về hoạt động cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán, cho vay có bảo đảm bằng cầm cố chứng khoán. b. Giai đoạn 2008:  6 tháng đầu năm: Trong 6 tháng đầu năm, áp lực lạm phát gia tăng mang tính toàn cầu, CPI của Việt Nam trong 6 tháng tăng bình quân là 15,03%, mức thâm hụt cán cân thương mại ở mức kỷ lục (hơn 14% GDP). Trước tình hình đó thực hiện các công văn số 75/TTg-KTTH, ngày 15 tháng 1 năm 2008, và 319/TTg-KTTH, ngày 03 tháng 03 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp kiềm chế lạm phát năm 2008 cùng với nghị quyết 10/2008/NQ_CP về các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững; NHNN đã thực hiện các giải pháp điều hành CSTT như sau: +) Điều hành CSTT theo hướng thắt chặt để kiềm chế tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng nhằm đảm bảo mức tăng tổng dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng không vượt quá 30%. Để thực hiện mục tiêu này, NHNN đề ra những giải pháp và biện pháp cụ thể: Thứ nhất, chỉ đạo các TCTD kiểm soát chặt chẽ những lĩnh vực cho vay có rủi ro cao như đầu tư kinh doanh chứng khoán, bất động sản thông qua việc: - Siết chặt lại các điều kiện được cho vay và khống chế tổng dư nợ cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư kinh doanh chứng khoán không được vượt quá 20% vốn điều lệ của TCTD. - Yêu cầu các TCTD khống chế tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay bất động sản ở mức hợp lý so với tổng dư nợ và nguồn vốn cho vay. - Ban hành Quyết định số 09/2008/QĐ-NHNN về cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng đối với khách hàng vay là người cư trú nhằm hạn chế cho vay đối với nhu cầu không nhất thiết phải sử dụng vốn ngoại tệ.
  16. Thứ hai, sử dụng các công cụ của CSTT như lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc (DTBB), thị trường mở để điều tiết lượng vốn khả dụng của các ngân hàng thương mại (NHTM) và từ đó tác động lên khả năng cung vốn ngân hàng ra thị trường theo mục đích đặt ra và thu hút mạnh tiền từ lưu thông về, cụ thể: - Tăng tỷ lệ DTBB (trừ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và các TCTD hoạt động trên địa bàn nông thôn). - Tăng khối lượng bán tín phiếu trên nghiệp vụ thị trường mở và phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc đối với các TCTD có quy mô vốn huy động bằng VND trên 1.000 tỷ đồng (trừ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương). - 6 tháng đầu năm 2008, NHNN đã 2 lần thay đổi các lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu theo hướng tăng lên. Điều này được thực hiện nhằm tạo hành lang lãi suất phù hợp với định hướng kiểm soát tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng và từng bước đảm bảo lãi suất thực dương cho người gửi tiền, cụ thể : + Tăng lần 1: lãi suất cơ bản lên 12%/năm, lãi suất tái cấp vốn lên 13%/năm, lãi suất chiết khấu lên 11%/năm. + Tăng lần 2: Lãi suất cơ bản lên 14%/năm, lãi suất tái cấp vốn lên 15%/năm, lãi suất chiết khấu lên 13%/năm. +) Nâng dự trữ bắt buộc đối với các NHTM và qui định các NH mua tín phiếu NHNN: - Ban hành Quyết định số 187/2008/QĐ-NHNN về việc điều chỉnh dự trữ bắt buộc đối với tổ chức tín dụng. Cụ thể, mở rộng diện các loại tiền gửi phải dự trữ bắt buộc bao gồm các loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, thay vì áp dụng dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn từ 24 tháng trở xuống như thời gian qua. Điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc 1% đối với các loại tiền gửi so với tỷ lệ quy định hiện nay. Không điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng hoạt động trên địa bàn nông nghiệp nông thôn. - Ban hành quyết định số 346/QĐ-NHNN về việc phát hành tín phiếu NHNN bằng VND dưới hình thức bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng với nội dung chủ yếu là: tổng giá trị tín phiếu NHNN phát hành bắt buộc đợt này là 20.300 tỷ đồng, kỳ hạn là 364 ngày, lãi suất là 7,80%/năm; hình thức phát hành là ghi sổ; giá trị tín phiếu được phân bổ cho từng tổ chức tín dụng theo quy mô, tỷ trọng huy động vốn bằng đồng Việt Nam của từng tổ chức tín dụng; thời điểm phát hành tín phiếu là ngày 17/3/2008. +) Bình ổn thị trường ngoại hối: - Để bình ổn thị trường ngoại hối, NHNN đã thực hiện hàng loạt biện pháp, như nới rộng biên độ tỷ giá từ ±1% lên mức ±2% tạo sự linh hoạt tỷ giá sát với cung - cầu thị trường; thực hiện mở rộng đối tượng bán ngoại tệ cho các NHTM, việc can thiệp dựa vào trạng thái ngoại tệ của các NHTM trong ngày, thực hiện minh bạch các thông tin về dự trữ ngoại hối.
  17. - Bên cạnh đó, NHNN thực hiện giám sát chặt chẽ hoạt động kinh doanh ngoại tệ, cấm các tổ chức tín dụng (TCTD) không được mua - bán USD thông qua ngoại tệ khác, phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra và xử lý các hoạt động đầu cơ, kinh doanh ngoại tệ trái pháp luật trên thị trường và thiết lập đường dây nóng. Hành động này đã có tác động nâng cao kỷ luật thị trường, góp phần tích cực tạo bình ổn thị trường.  6 tháng cuối năm: Chính sách tiền tệ 6 tháng cuối năm 2008 để chủ động ngăn chặn suy giảm kinh tế, chính sách tiền tệ thắt chặt được chuyển dần sang nới lỏng một cách thận trọng. Theo ý kiến chỉ đạo của Công văn số 970/TTg-KTTH ban hành ngày 25/6/2008 về việc thực hiện biện pháp kiềm chế lạm phát và bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô những tháng cuối năm 2008, NHNN đã thực hiện một loạt các giải pháp sau: +) Điều chỉnh lãi suất : - Đã 4 lần điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản từ 14%/năm xuống 13%/năm, 12%/năm, 10%/năm và 8,5%/năm; lãi suất tái cấp vốn từ 15%/năm xuống 14%/năm 13%/năm, 11%/năm và 9,5%/năm; lãi suất chiết khấu từ 13%/năm xuồng 12%/năm và 11%/năm, 9%/năm và 7,5%/năm, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng thương mại từ 15%/năm xuống 14%/năm, 13%/năm, 11%/năm và 9,5%/năm. Bảng 1 Ngày thực Lãi suất CB Quyết định hiện 3161/QĐ-NHNN ngày 8,5% 22/12/2008 19/12/2008 2948/QĐ-NHNN ngày 10% 05/12/2008 03/12/2008 2808/QĐ--NHNN ngày 11%/năm 21/11/2008 20/11/2008 2559/QĐ-NHNN ngày 12%/năm 05/11/2008 3/11/2008 2316/QĐ-NHNN ngày 13.0%/năm 21/10/2008 20/10/2008 1317/QĐ-NHNN ngày 14%/năm 11/06/2008 10/6/2008
  18. - Đã tăng lãi suất tiền gửi DTBB bằng đồng Việt Nam đối với các TCTD từ 5%/năm lên 10%/năm và giảm 1% tỷ lệ DTBB đối với tiền nội tệ và 2% tỷ lệ DTBB tiền gửi ngoại tệ áp dụng cho các TCTD. Tiếp đến tháng 11 giảm lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc xuống 7 % và hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc xuống còn mức 5% đối với Việt Nam đồng. Bảng 2: Lãi suất Quyết định Ngày thực hiện DTBB 3162/QĐ-NHNN ngày 8,5%/năm 22/12/2008 19/12/2008 2950/QĐ-NHNN ngày 9%/năm 5/12/2008 3/12/2008 2321/QĐ-NHNN ngày 10%/năm 21/10/2008 20/10/2008 2133/QĐ-NHNN ngày 5,0%/năm 01/10/2008 25/9/2008 1907/QĐ-NHNN ngày 3,5%/năm 01/9/2008 29/8/2008 -Ban hành Quyết định 2811 ngày 20/11/2008 theo đó, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam từ 10%/năm xuống còn 8%/năm, rồi từ 8% xuống còn 6% (Quyết định 2951 ngày 03/12/2008), đến 19/12/2008 còn 5% (Quyết định 3158). +) Điều chỉnh tỷ giá:
  19. - Ngày 6/11/2008, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 2635/QĐ- NHNN, theo đó,cho phép Tổng Giám đốc (Giám đốc) các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối ấn định tỷ giá mua bán giao ngay giữa VND và USD trong biên độ ±3% so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng, tăng ±1% so với mức ±2% đã được áp dụng. Biên độ tỷ giá mới sẽ được áp dụng từ ngày 07/11/2008. Bên cạnh đó, NHNN đã ban hành Chỉ thị số 05/CT-NHNN ngày 09/10/2008, theo đó yêu cầu các TCTD áp dụng các biện pháp đảm bảo an toàn, hiệu quả hoạt động kinh doanh, trong đó chú trọng các biện pháp ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra do tác động của khủng hoảng tài chính và dấu hiệu suy thoái kinh tế toàn cầu, chấp hành đúng quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động kinh doanh; đáp ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế trên cơ sở khả năng huy động vốn trong và ngoài nước, đi đôi với kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng và tiếp tục điều chỉnh cơ cấu tín dụng để tập trung vốn cho các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu, lĩnh vực nông nghiệp nông thôn… c. Giai đoạn 2009-nay:  Trong năm 2009: Năm 2009, một năm mà chính sách tiền tệ đã phải đối mặt với nhiều thách thức khó lường phát sinh từ những bất cập của nền kinh tế và tác động bất lợi của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế. NHNN đã thực thi CSTT một cách linh hoạt phối hợp đồng bộ với nhiều giải pháp khác để giữ bình ổn thị trường. +) Dự trữ bắt buộc: Từ 1/3/2009, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng VND của các tổ chức tín dụng, đồng thời tiếp tục giữ nguyên lãi suất cơ bản VND. Cụ thể, lãi suất cơ bản được giữ nguyên ở mức 7%/năm và lãi suất cho vay tối đa là 10,5%/năm. Tỷ lệ dữ trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng được điều chỉnh đối với mọi loại hình tổ chức tín dụng - Ngày 3/4/2009, Thống đốc NHNN (NHNN) đã ban hành Quyết định số 790/QĐ- NHNN về lãi suất tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với tổ chức tín dụng (TCTD) và lãi suất tiền gửi bằng ngoại tệ của Kho bạc Nhà nước tại NHNN. Theo quyết định này, kể từ ngày 3/4/2009, NHNN áp dụng mức lãi suất đối với tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ gửi tại NHNN của các TCTD là 0,1%/năm, áp dụng kể từ kỳ duy trì dự trữ bắt buộc tháng 4/2009. Tiền gửi bằng ngoại tệ của Kho bạc Nhà nước tại NHNN cũng được áp dụng mức lãi suất 0,1%/năm. +) Hỗ trợ tín dụng:
  20. -Ngày 29/9, Thống đốc NHNN ban hành Thông tư số 20/2010/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện các biện pháp điều hành công cụ chính sách tiền tệ để hỗ trợ tổ chức tín dụng cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn. +) Lãi suất: Lãi suất tái cấp vốn: Giá trị Văn bản quyết định Ngày áp dụng 08% 2664/QĐ-NHNN 25/11/2009 01/12/2009 7,0%/năm 2232/QĐ-NHNN 01/10/2009 7% 837/QĐ-NHNN 10/04/2009 10/04/2009 7% 173/QĐ-NHNN 23/01/2009 01/02/2009 - Ngày 23/01/2009 Thống đốc NHNNVN ra Quyết định số 173/QĐ-NHNN về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNNVNđối với các ngân hàng. -Ngày 10/04/2009 Phó Thống đốc Trần Minh Tuấn ký ban hành Quyết định số 837/QĐ-NHNN về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNNVNđối với các Ngân hàng. Theo quy định các mức lãi suất của NHNNVNnhư sau: 1. Lãi suất tái cấp vốn: 7,0%/năm. 2. Lãi suất tái chiết khấu: 5,0%/năm. 3. Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNNVNđối với các ngân hàng: 7,0%/năm. -Ngày 25/11/2009, Thống đốc NHNN (NHNN) Việt Nam đã ban hành các Quyết định điều chỉnh mức lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu và tỷ giá. Quy định các mức lãi suất của NHNNVNnhư sau: 1. Lãi suất tái cấp vốn: 8,0%/năm 2. Lãi suất tái chiết khấu: 6,0%/năm. 3. Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của NHNNVNđối với các ngân hàng: 8,0%/năm. Lãi suất cơ bản:
ANTS
ANTS

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản