Định nghĩa thủy lực cơ
bản đầu tiên (kiến thức
cơ bản)
Dưới đây là một số khái niệm cơ bản mà tôi đọc/học đượcđâu đó. Các bạn
cũng có thể nắm rõ nhng điều này rồi.
1. Điu quan trọng nhất: Bơm thủy lực chỉ tạo ra lưu lượng dầu chứ không
tạo ra áp suất.
Rất nhiều ngườii với tôi đại loại như: “Xe của tôi không chy, bơm của
nó bhng rồi!!!hoặc “Tôi đã cố gắng điều chỉnhc loại valve gn trên
m nhưng xy lanh vẫn đứng im không nhúc nhích!!!”
Điều chính xác tuyệt đối ở đây: m bản thân nó không tạo ra một tẹo áp
suất nào trong hệ thống. Nó chỉ tạo ra lưu lượng và lưu lượng này ca nó b
cản trở” lại và gây nên áp suất. Các cản tr này tạo ra trong hệ thng thủy
lực bởi các cụmng tác (xy lanh motor) – đây là công có ích và các
cụm valve, đường ống, ma sát… đây là công vô ích. Như vậy, áp suất của
m thay đổi phụ thuộc hoàn toàn vào ti chứ không phụ thuộc vào kích cỡ,
các chế độ làm việc của bơm.
Hãy tưởng tượng bạn vụt vào một bao tải gạo bằng một cái gy. Nếu bạn vụt
nhẹ, cái gậy chỉ cong đi chút xíu, nếu vụt thật mạnh: cái gy có thể gẫy đôi;
nhưng nếu bạn vụt vào không khí, tay bn chẳng cảm thấy gì c. Ở ví dụ
này: Tay bạn như cái bơm, i gy là dây dn dầu thủy lực còn sức chịu
đựng của cái gy khi b vụt là áp suất dầu.
Do đó, khi ai đó nói:m kng vượt quá được áp suất abc bar”, điều đó
thực tế là:Lưu lượng của bơm được đưa vào hệ thống quá ít và nó làm cho
áp suất không ợt nổi quá abc bar”. Có thể là do bơm đã blọt, rò rỉ phần
ln lưu lượng đi mất rồi.
Khi bạn hiểu rõ được điều này, bn mới có thể kiểm tra, chuẩn đoán chính
xác hệ thống thủy lực.
2. Nhim vụ chính của hệ thống thủy lực là truyền năng lượng từ cơ cấu dẫn
động (động cơ điện, động cơ nổ…) đến cơ cấu chấp hành (xy lanh, motor)
để thực hin một công có ích” nào đó. Số lượng “côngsản ra trong một
khoảng thời gian gọi là “Công suất”. Do “công suất” của nguồn dn động là
giới hạn nên tốc độ sản ra ng của cơ cấu chấp hành cũng b giới hạn theo.
Trong hệ thống thủy lực có 3 loại năng lượng chính đó là: Thế năng Động
năng và Nhiệt năng. Các nguồn năng lượng này khi đưa vào trong hệ thống
thủy lực thì đều trở tnh hai nguồn chính là “công có ích” và “phát nhiệt”
và “gây rung động hệ thng zzzzzzZZZZ”. Do đó, hệ thống thủy lực không
bao giờ truyền tải được 100% công suất và ngoi trừ công suất có ích, phần
còn li phần ln biến thành nhiệt tích t trong hệ thống thủy lực. Do đó,
nhiệt độ của dầu – cũng như nhiệt độ của cơ thcon người là thước đo độ
mạnh/yếu của hệ thống thủy lực. Nếu nhiệt độ tăng cao bất thường, điều đó
chứng tỏ công có ích đã bgim đi, công vô ích trong hệ thng ng lên. Bạn
đang tốn tiền vô ích.
3. “Áp suất” nghĩa là “lực hoặc men”; “Lưu lượng” nghĩa là “tốc độ”.
Xin đừng nhầm lẫn hai khái nim này. Khi máy c ca bạn không thể đào
nhanh thì đừng cố vặn valve áp suất vào.
Áp suất” x “Lưu lượng” = “Công suất” do đó nếu bạn cần thêm lực thì cn
tăng áp sut; nếu cần nhanh thêm thì phi tăng lưu lượng còn nếu cần cả hai
thì phải lắp bơm+motor to hơn…
4. Dòng chy của dầu luôn luôn là ti chỗ nào có ít cản trở nhất. Do đó hãy
chắc chắn hướng của dòng chảy nếu không bạn chắc chắn gặp những sự c
bất ngờ.
Trên đây là một số khái niệm cần thiết trước khi làm việc với hệ thống thủy
lực. Nếu bạn không hiểu hoặc không chắc chắn lm về những điều trên t
theo tôi, bn đừng nên đụng chạm vào nó làm . Hệ thống thủy lực với áp
suất cao có khả ng gây ra nhng tai nạn thảm khốc dẫn đến tàn tật vĩnh
viễn hoặc chết người. Đây không phải là dọa dẫm đâu. Bản thân tôi đã gặp
không ít n 5 người (cả tây lẫn ta) bị cụt ngón tay do tại nạn dầu thủy lực.
Hãy để những người có kinh nghim và được đào tạo thực hin công việc
đó.