
4
công tác QLRRTT ở trung ương và địa phương là cấp thiết và là giải pháp lâu dài để đạt được sự phát triển
thể chế bền vững nhằm giúp quốc gia giải quyết hiệu quả những thách thức này.
Trong Giai đoạn I của dự án này, một nhóm chuyên gia tư vấn đã ký kết hợp đồng thực hiện nhiệm vụ hỗ
trợ hoàn thiện pháp luật về QLRRTT tại Việt Nam. Nhóm đã làm việc mật thiết với Bộ NN&PTNT, Bộ
Tư pháp và các bộ ngành có liên quan khác – thông qua quá trình tham vấn các bên hữu quan rộng rãi và
toàn diện (với các cơ quan của chính phủ, cơ quan của LHQ, các tổ chức phi chính phủ quốc tế, và Hội Chữ
thập đỏ) ở cả cấp quốc gia và địa phương để thực hiện các hoạt động và đạt được các kết quả sau:
Một phân tích toàn diện về khung pháp lý hiện hành trong luật pháp về QLRRTT ở Việt Nam
Kết quả đạt được:Bảng tổng hợp các văn bản pháp lý có liên quan đến QLRRTT;Báo cáo về hệ thống các cơ quan có
trách nhiệm QLRRTT; và Báo cáo đánh giá về khung pháp luật hiện hành QLRRTT, trong đó xác định các khoảng
trống và các điểm còn hạn chế mà luật mới có thể khắc phục9.
Một nghiên cứu mang tính so sánh về các quá trình cải cách pháp luật về QLRRTT tương tự trong những năm gần
đây tại các nước trong khu vực châu Á Thái Bình Dương, xác định những bài học kinh nghiệm phù hợp với hoàn
cảnh của Việt Nam10
Kết quả đạt được: một tập hợp các nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về các luật QLRRTT của Indonesia, Thái Lan,
Pakistan, Philippines, Sri Lanka, Trung Quốc và Nhật Bản; một Bảng So sánh các luật mới về QLRRTT trong Khu vực
Châu Á-Thái Bình Dương; một Báo cáo về các nước có mô hình Bộ quản lý rủi ro thảm họa và một Báo cáo Tóm tắt
các khía cạnh của thực tiễn quốc tế có thể áp dụng đối với Việt Nam.
Một nghiên cứu các hiệp định và chuẩn mực quốc tế trong lĩnh vực QLRRTT
Kết quả đạt được:một báo cáo về các chuẩn mực và nghĩa vụ quốc tế về QLRRTT của Việt Nam có đề cập đến các
khuyến nghị về các quy định cần được đưa vào luật mới nhằm hài hòa các quy định của pháp luật trong nước và nghĩa
vụ quốc tế của Việt Nam.
Tham vấn với các bên hữu quan– bao gồm đại diện của Chính phủ, tổ chức chính trị- xã hội, cộng đồng quốc tế và các
cơ quan chức năng ở địa phương để thu thập ý kiến tư vấn và các đề xuất của họ về các vấn đề có thể được quy định
trong luật mới. Công việc này bao gồm cả việc trình bày tại các cuộc họp, hội thảo và phỏng vấn các cá nhân.
Kết quả đạt được:một báo cáo về các Ý kiến của các bên hữu quan trong đó thảo luận về kết quả của các buổi tham vấn
để xác định các khuyến nghị chính về nội dung và cấu trúc của luật mới về QLRRTT, có kèm đầy đủ các báo cáo và
biên bản các cuộc hội thảo và phỏng vấn11.
Xác định phương án phù hợp nhất về cấu trúc và nội dung của luật QLRRTT mới của Việt Nam
Kết quả đạt được:Báo cáo về Nội dung và Cấu trúc của Luật mới về QLRRTT, trong đó tổng hợp các kết quả chính từ
các báo cáo nói trên và phân tích các lựa chọn có tính khả thi nhất cho Việt Nam. Báo cáo tập trung vào việc đánh giá
phạm vi áp dụng phù hợp nhất của luật mới, các thay đổi cần thực hiện về mặt thể chế dành cho công tác QLRRTT và
cách thức mà luật mới nên đề cập đến các thành phần khác nhau của QLRRTT.12.
Nghiên cứu các công việc cần thực hiện và các mốc thời gian dự kiến để xây dựng luật QLRRTT mới tại Việt Nam
dựa trên các quy định của luật, nghị định và thủ tục của Chính phủ13
Kết quả đạt được:Một bản Lộ trình cho việc thông qua luật mới về QLRRTT trong đó đề ra các mốc thời gian và các
hoạt động quan trọng cần thực hiện để luật mới có thể được thông qua vào năm 2012.
Trong giai đoạn 2 của dự án này, nhóm chuyên gia tư vấn đã tiếp tục thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ việc đề
xuất và xây dựng luật QLRRTT. Nhóm đã làm việc mật thi
t với Bộ NN&PTNT, Bộ Tư pháp và các bộ
9Rà soát khung pháp luật Việt Nam được thực hiện cả với phạm vi rộng (disaster/thảm hoạ) và phạm vi hẹp (natural
hazards/thiên tai), nhằm chuẩn bị các đề xuất rộng về “nội dung và cấu trúc”của luật mới và phân tích những nội
dung của các văn bản và khung pháp luật hiện hành về QLRRTT
10Nghiên cứu về thực tiễn của các quốc gia khác và luật quốc tế có liên quan với phạm vi rộng và không được thiết
kế trùng với các cần nghiên cứu sâu như phạm vi áp dụng của luật, cơ cấu tổ chức, v.v…; đưa ra những đề xuất
chung đảm bảo sự tuân thủ với các chuẩn mực, nghĩa vụ quốc tế và thực tiễn tốt và tập trung vào ba văn kiện quốc
tế có liên quan đến QLRRTT (AADMER, HFA and IDRL Guidelines)
11Tham vấn các bên hữu quan được thực hiện chủ yếu với các bộ, tổ chức và đại diện của các địa phương, và tập
trung chủ yếu vào một số vấn đề (ví dụ như phạm vi áp dụng của luật, định nghĩa, cơ cấu tổ chức và so sánh giữa
các phương án) và hướng tới việc đề xuất nội dung và cấu trúc của luật mới nói chung, hơn là các quy định, điều
khoản cụ thể của luật.
12Báo cáo tập trung chủ yếu vào việc xác định và đánh giá sự phù hợp của các phương án khác nhau của luật mới
về đối tượng điều chỉnh, cơ cấu tổ chức, cấu trúc chung dựa trên các vấn đề thuộc các chủ đề khác nhau
13Lộ trình được chuẩn bị dựa trên các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Số 17/2008/QH12)
và Nghị định hướng dẫn thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định số 24/2009/NĐ-CP)