Giới thiệu tài liệu
Tài liệu trình bày đường lối và kết quả thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của Cách mạng Việt Nam giai đoạn 1954-1975, đồng thời phân tích đối sách của Đảng ta trong việc chống thù trong, giặc ngoài giai đoạn 1945-1946.
Đối tượng sử dụng
Tài liệu này hướng đến sinh viên, nhà nghiên cứu và những ai quan tâm đến lịch sử Cách mạng Việt Nam, đặc biệt là đường lối chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước và bảo vệ chính quyền non trẻ sau Cách mạng tháng Tám.
Nội dung tóm tắt
Tài liệu này đi sâu vào phân tích đường lối chiến lược và những thành tựu đạt được của Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975, được chia thành hai thời kỳ chính: 1954-1964 và 1965-1975. Đối với giai đoạn 1954-1964, tài liệu mô tả tình hình đất nước sau năm 1954, với miền Nam trở thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, trong khi miền Bắc được giải phóng và bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội III của Đảng (1960) đã xác định rõ hai nhiệm vụ chiến lược song song: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, hướng tới mục tiêu thống nhất đất nước. Tài liệu nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết và tác dụng thúc đẩy lẫn nhau giữa hai nhiệm vụ này, khẳng định vai trò hậu phương quyết định của miền Bắc. Đồng thời, tài liệu cũng nêu bật chủ trương kiên trì con đường hòa bình thống nhất đất nước theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, nhưng luôn sẵn sàng đối phó với mọi âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ.
Trong giai đoạn 1965-1975, tài liệu trình bày đối sách của Đảng trước các chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” và “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ ở miền Nam, cùng với cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Bắc. Các Hội nghị Trung ương Đảng (1963, 1965) đã đề ra đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước, với phương châm chiến tranh nhân dân, tự lực cánh sinh, kết hợp đấu tranh quân sự và chính trị. Miền Bắc được xác định là hậu phương vững chắc, có nhiệm vụ chi viện tối đa cho tiền tuyến miền Nam. Kết quả của việc thực hiện các nhiệm vụ chiến lược này là miền Bắc đã đạt được những thành tựu đáng tự hào trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, vượt qua khó khăn chiến tranh, và miền Nam đã đánh bại các chiến lược xâm lược của Mỹ, dẫn đến thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước.
Ngoài ra, tài liệu còn đề cập đến đối sách của Đảng ta nhằm chống lại các thế lực thù địch bên trong và bên ngoài trong giai đoạn 1945-1946 đầy thử thách. Tài liệu chỉ rõ kẻ thù chính là quân Tưởng (có Mỹ hậu thuẫn) và Pháp, cùng tay sai của chúng. Đảng đã thực hiện sách lược hòa hoãn với Tưởng để tránh đối đầu cùng lúc với nhiều kẻ thù mạnh, sau đó hòa hoãn với Pháp để mượn tay Pháp đuổi quân Tưởng. Các biện pháp cụ thể bao gồm nhượng bộ chính trị cho phe Tưởng và ký kết Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 với Pháp, qua đó Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do và ta chấp nhận cho quân Pháp ra miền Bắc thay thế quân Tưởng. Những sách lược khôn khéo này đã giúp bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, giành được thời gian quý báu để củng cố lực lượng và tránh một cuộc chiến tranh quá sớm, không cân sức.