
Luận văn
Giải pháp đề hàng dệt
may Việt Nam vượt qua
rào cản kỹ thuật của EU

LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa thương mại giữa các
nước là mang tính tất yếu. Bản chất của thương mại quốc tế chính là hoạt
động xuất nhập khẩu giữa các nước. Các hàng rào thuế quan và hạn ngạch
giảm dần và tiến tới xóa bỏ, việc lưu thông hàng hóa giữa các nước trở nên dễ
dàng hơn. Do vậy để đảm bảo nền sản xuất trong nước, bảo vệ người tiêu
dùng, hệ thống các rào cản kỹ thuật được các quốc gia sử dụng phổ biến. EU
được công nhận là một trong những thị trường khó tính nhất với những hệ
thống quy định và tiêu chuẩn rất khắt khe. Các rào cản kỹ thuật được sử dụng
trong hầu hết các ngành, không loại trừ ngành dệt may.
Hiện nay, EU đang là đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam (đứng
thứ 2 sau Mỹ), chiếm 23% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào EU liên tục tăng trong những năm qua.
Năm 2003 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào EU chỉ đạt 2.3 tỷ EUR thì
đến năm 2008 con số này tăng lên 7,7 tỷ EUR. Trong đó tỷ trọng hàng dệt
may chiếm 9% tổng kim ngạch. Để có thể xuất khẩu bền vững tại thị trường
500 triệu dân này, đòi hỏi các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần có những
bước đi đúng đắn đáp ứng những yêu cầu mà thị trường đối tác đặt ra.
Góp phần giải quyết vấn đề trên, em đã chọn đề tài “Giải pháp đề
hàng dệt may Việt Nam vượt qua rào cản kỹ thuật của EU” làm chuyên đề
thực tập. Bài viết được hoàn thành trên cơ sở tổng hợp thông tin, phân tích và
đánh giá, tham khảo các nhận định của các chuyên gia kinh tế.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của chuyên đề
Đối tượng nghiên cứu: rào cản kỹ thuật của EU và tình hình vượt qua
các rào cản kỹ thuật của EU đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu: các rào cản kỹ thuật của EU trong quản lý nhập
khẩu. Thời gian nghiên cứu 200 – 2009.
Phương pháp nghiên cứu của chuyên đề
Đề tài sử dụng các phương pháp lý luận thực tiễn, kết hợp phương pháp
tư duy logic, phương pháp phân tích số liệu, phương pháp so sánh và phương
pháp tổng hợp nhằm làm rõ nội dung đề tài.
Kết cấu chuyên đề
Nội dung bài viết được chia làm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan chung về thị trường EU và quan hệ thương mại
Việt Nam – EU.
Chương 2: Tổng quan về xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU
và thực trạng vượt qua các rào cản kỹ thuật của EU đối với hàng dệt may xuất
khẩu Việt Nam.
Chương 3: Triển vọng và giải pháp để hàng dệt may Việt Nam vượt
qua rào cản kỹ thuật vào thị trường EU.

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG EU VÀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM – EU
1.1. Khái quát thị trường EU
1.1.1. Lịch sử hình thành thị trường EU
EU có nguồn gốc từ Cộng đồng Than thép châu Âu thành lập từ sáu
nước năm 1951. Và đến ngày 25/3/1957 Liên minh Châu Âu (EU) ra đời với
hiệp ước thành lập Cộng đồng Kinh tế Châu Âu EEC (European Economic
Community) và Cộng đồng Năng lượng Nguyên tử Châu Âu (Euratom) được
ký tại Rome. Trụ sở của EU được đặt tại Bruxelles (thủ đô của Bỉ). EEC giờ
đã là Liên minh Châu Âu (EU) với số thành viên tăng từ 6 lên 27 qua nhiều
đợt mở rộng, tiêu biểu là việc Anh, Ireland, Đan Mạch tham gia năm 1973,
Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha năm 1986. Lần mở rộng lớn nhất diễn trong
năm 2004 với việc kết nạp 10 thành viên mới, gồm nhiều nước Cộng sản cũ
tại Trung và Đông Âu. Đầu năm 2007, Romania và Bulgaria trở thành thành
viên chính thức thứ 26 và 27 của khối. Dự kiến rằng Croatia, Bosnia, Albania
có thể được kết nạp vào năm 2011 và Macedonia, Montenegro, Serbi, Thổ
Nhĩ Kỳ có thể được kết nạp vào năm 2013.
Có thể thấy rõ được quá trình thành lập EU và sự phát triển của liên kế
thông qua các hiệp ước và sự kiện sau:
Đầu tiên là Hiệp ước Paris năm 1951 đưa đến việc thành lập Cộng đồng
Than thép châu Âu (ECSC)
Thứ hai là Hiệp ước Roma năm 1957 đưa đến việc thành lập Cộng
đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu (Euratom) và thành lập cộng đồng Kinh
tế châu Âu (EEC)

Tiếp đó là năm 1967 cơ quan điều hành của cộng đồng trên được hợp
nhất và gọi là Hội đồng châu Âu.
Năm 1987, EU bắt đầu triển khai kế hoạch xây dựng khối thị trường
chung châu Âu gọi là “Thị trường nội địa thống nhất châu Âu”
Hiệp ước thứ ba là hiệp ước Maastricht còn gọi là hiệp ước Liên hiệp
châu Âu, ký ngày 7/12/1991 tại Maastricht Hà Lan nhằm 2 mục đích: một là
thành lập liên minh kinh tế và liên minh tiền tệ vào cuối thập niên 1990, với
một đợn vị tiền tệ chung và một ngân hàng trung ương độc lập. Và hai là
thành lập một liên minh chính trị bao gồm việc thực hiện chính sách đối ngoại
và an ninh chung để tiến tới có chính sách phòng thủ chung, tăng cường hợp
tác về cảnh sát và luật pháp. Hiệp ước này đã đánh dấu một bước ngoặt trong
tiến trình nhất thể hóa châu Âu và dẫn đến thành lập Cộng đồng châu Âu.
Thứ 4 là hiệp ước Amsterdam là hiệp ước Masstricht sửa đổi, ký ngày
2/10/1997 (tại Amsterdam) đã sửa đổi và bổ sung một số lĩnh vực như những
quyền cơ bản, không phân biệt đối xử; Tư pháp và đối nội; chính sách xã hội
và việc làm và cuối cùng là chính sách đối ngoại và an ninh chung.
Thứ 5 là Hiệp ước Schengen: đây là hiệp ước mà phải mất 6 năm sau
ngày ký mới có hiệu lực (ký từ năm 1990 đến năm 1995mới có hiệu lực).
Hiệp ước quy định quyền tự do đi lại của công dân các nước thành viên. Đối
với công dân nước ngoài chỉ cần có visa của 1 trong 9 nước thành viên (tại
thời điểm ký) là được phép đi lại trong toàn khu vực Schengen. Hiện nay, 14
trong 27 nước thành viên EU đã tham gia khu vực Schengen.
Cuối cùng là hiệp ước Nice (11/12/2000) tập trung vào vấn đề cải cách
thể chế đón nhận các thành viên mới đồng thời tăng cường vài trò của Nghị
viện Châu Âu, thành lập lực lượng phản ứng nhanh (RRF)
Quá trình thành lập và phát triển của EU có thể được tóm tắt qua thời
biểu sau:

