BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG

THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƢƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH HOÀNG QUỐC VIỆT

SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN DIỆP ANH MÃ SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH

: A17521 : TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

HÀ NỘI - 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG …o0o…

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƢƠNG VIỆT NAM –

CHI NHÁNH HOÀNG QUỐC VIỆT

Giáo viên hƣớng dẫn : Ths. Lê Thị Hà Thu Sinh viên thực hiện : Nguyễn Diệp Anh Mã sinh viên Chuyên ngành

: A17521 : Tài chính - Ngân hàng

HÀ NỘI – 2013

LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các Thầy giáo, cô giáo trường

Đại Học Thăng Long, đặc biệt em chân thành cảm ơn sự chỉ bảo tận tình của giáo viên

hướng dẫn là Thạc sĩ Lê Thị Hà Thu, cô đã luôn giúp đỡ, trau dồi thêm kiến thức, chỉ

ra những thiếu sót và giúp em có những định hướng tốt hơn trong suốt thời gian em

thực hiện làm khóa luận. Em cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ của các cô chú, anh chị công tác tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt đã

nhiệt tình giúp đỡ em trng việc cung cấp các số liệu và thông tin thực tế để chứng

minh cho các kết luận trong khóa luận tốt nghiệp của em.

Do giới hạn kiến thức và khả năng lỹ luận của bản thân còn thiếu sót, em kính

mong được sự chỉ dẫn và đóng góp của các thầy cô giáo để khóa luận của em hoàn

thiện hơn.

Hà Nội,… ngày… tháng… năm…

Sinh viên

Nguyễn Diệp Anh

MỤC LỤC

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH

NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI ................................ 1 1.1. Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa ............................................................... 1

1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa ................................................................... 1

1.1.2. Đặc điểm và thực trạng của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam ................ 2 1.1.2.1. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa ............................................................ 2

1.1.2.2. Thực trạng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam hiện nay ............................. 4

1.1.3. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế Việt Nam ................... 5

1.2. Tổng quan về hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân

hàng thƣơng mại ............................................................................................................ 7

1.2.1. Khái niệm hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa Ngân hàng thương

mại ................................................................................................................................... 7 1.2.2. Đặc điểm của cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ................................... 8

1.2.3. Vai trò của hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ...................... 9

1.2.4. Các hình thức cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng

thương mại .................................................................................................................... 10

1.3. Rủi ro cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thƣơng mại 12

1.3.1. Khái niệm rủi ro cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng

thương mại .................................................................................................................... 12

1.3.2. Nguyên nhân gây ra rủi ro cho vay DNNVV .................................................... 13 1.3.2.1. Các nguyên nhân khách quan ........................................................................... 13

1.3.2.2. Các nguyên nhân chủ quan .............................................................................. 14

1.3.3. Sự cần thiết của việc hạn chế rủi ro cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

tại Ngân hàng thương mại ........................................................................................... 16 1.3.3.1. Đối với Ngân hàng ........................................................................................... 16

1.3.3.2. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa .................................................................... 17

1.3.3.3. Đối với nền kinh tế ............................................................................................ 17

1.3.4. Các tiêu chí đánh giá rủi ro cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại ................................................................................................ 18 1.3.4.1. Chỉ tiêu định tính .............................................................................................. 18 1.3.4.2. Các chỉ tiêu định lượng .................................................................................... 20

CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HẠN CHẾ RỦI RO CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƢƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH HOÀNG QUỐC VIỆT ............................. 24 2.1. Khái quát về hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Kỹ

Thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt .................................................... 24

2.1.1. Quá trình hình thành và phát trển của Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ

Thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt ...................................................... 24

2.1.2. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt ........................................................................... 25

2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ

Thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt giai đoạn 2010-2012 ................... 27 2.1.3.1. Hoạt động huy động vốn ................................................................................... 27

2.1.3.2. Hoạt động sử dụng vốn ..................................................................................... 32

2.1.3.3. Kết quả kinh doanh ........................................................................................... 36

2.2. Thực trạng hạn chế rủi ro cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân

hàng thƣơng mại cổ phần Kỹ thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt .. 38

2.2.1. Một số quy định chung về hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và

vừa tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt ....................................................................................................................... 38

2.2.2. Tình hình hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng

thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt ............... 41 2.2.2.1. Số doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ

thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt........................................................... 42

2.2.2.2. Tình hình doanh số cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương

mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt ................................ 43

2.2.2.3. Tình hình doanh số thu nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng

thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt .................... 44

2.2.2.4. Tình hình dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại

cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt ....................................... 46

2.2.2.5. Cơ cấu dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại cổ

phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt ............................................ 47

2.2.3. Tình hình rủi ro cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại

cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt ................................... 51 2.2.3.1. Trích lập dự phòng rủi ro ................................................................................. 51 2.2.3.2. Xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt ........... 52 2.2.3.3. Phân tích các chỉ tiêu ....................................................................................... 55

2.3. Đánh giá về thực trạng hạn chế rủi ro cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Kỹ thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt ...................................................................................................................... 62 2.3.1. Những kết quả đạt được ..................................................................................... 62

2.3.2. Những tồn tại cần khắc phục ............................................................................. 64

2.3.3. Nguyên nhân của những tồn tại ........................................................................ 66 2.3.3.1. Nguyên nhân khách quan ................................................................................. 66

2.3.3.2. Nguyên nhân chủ quan ..................................................................................... 67

CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH

NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ

THƢƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH HOÀNG QUỐC VIỆT ............................. 70

3.1. Định hƣớng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Kỹ thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt ......................... 70

3.1.1. Định hướng phát triển chung hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương

mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt ............................ 70

3.1.2. Định hướng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân

hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt .... 71

3.2. Một số giải pháp hạn chế rủi ro đối với cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Kỹ Thƣơng - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt ........ 72

3.2.1. Xây dựng chiến lược cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Chi nhánh

trong thời gian tới ......................................................................................................... 72

3.2.2. Xây dựng một chính sách cho vay hợp lý trong cho vay DNNVV ................... 73

3.2.3. Nâng cao hiệu quả công tác thu thập và xử lý thông tin khách hàng DNNVV

....................................................................................................................................... 75

3.2.4. Nâng cao chất lượng phân tích, thẩm định dự án, phương án khi xem xét cho

vay .................................................................................................................................. 75

3.2.5. Tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát hoạt động cho vay đối với doanh

nghiệp nhỏ và vừa ........................................................................................................ 76

3.2.6. Thực hiện phân tán rủi ro .................................................................................. 77

3.2.7. Nâng cao công tác xử lý và giải quyết dứt điểm nợ xấu ................................... 77

3.2.8. Tăng cường và nâng cao chất lượng cán bộ cho vay ....................................... 78

3.2.9. Tăng cường đầu tư công nghệ hiện đại vào hoạt động cho vay ...................... 79

3.3. Một số kiến nghị .................................................................................................... 79

3.3.1. Kiến nghị với ngân hàng nhà nước ................................................................... 79 3.3.2. Kiến nghị với Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương - Chi nhánh

Hoàng Quốc Việt .......................................................................................................... 80

DANH MỤC VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ

CBTD Cán bộ tín dụng

DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa

DPRR Dự phòng rủi ro

NHNN Ngân hàng Nhà nước

NHTM Ngân hàng thương mại

TMCP Thương mại cổ phần

NQH Nợ quá hạn

SXKD Sản xuất kinh doanh

RRTD Rủi ro tín dụng

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

TSĐB Tài sản đảm bảo

VNĐ Việt Nam đồng

VCSH Vốn chủ sở hữu

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Sơ đồ 2.1. Tổ chức bộ máy hoạt động của Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc

Việt ................................................................................................................................ 26

Sơ đồ 2.2. Quy trình cho vay DNNVV Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt .. 40

Bảng 1.1. Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam........................................... 1

Bảng 2.1. Tình hình huy động vốn của Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt giai đoạn 2010-2012 ...................................................................................................... 28

Bảng 2.2. Kết quả hoạt động cho vay Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt giai

đoạn 2010-2012 ............................................................................................................. 33

Bảng 2.3. Kết quả kinh doanh của Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt qua các năm 2010-2012 ........................................................................................................ 37

Bảng 2.4. Số lượng DNNVV có quan hệ với Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc

Việt giai đoạn 2010-2012 .............................................................................................. 42 Bảng 2.5. Tình hình doanh số cho vay DNNVV giai đoạn 2010-2012 ........................ 43

Bảng 2.6. Tình hình doanh số thu nợ DNNVV giai đoạn 2010-2012 ........................... 44

Bảng 2.7. Tình hình dư nợ cho vay DNNVV giai đoạn 2010-2012 ............................. 46

Bảng 2.8. Dư nợ cho vay DNNVV phân theo kỳ hạn ................................................... 47

Bảng 2.9. Dư nợ cho vay DNNVV phân theo loại tiền ................................................. 49

Bảng 2.10. Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp ................................................................ 54

Bảng 2.11. Cho điểm các chỉ tiêu .................................................................................. 55

Bảng 2.12. Chỉ tiêu vòng quay của vốn ......................................................................... 55

Bảng 2.13. Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay DNNVV ............................................................. 57

Bảng 2.14. Tỷ lệ nợ xấu cho vay DNNVV ................................................................... 58

Bảng 2.15. Tỷ lệ trích lập DPRR cho vay DNNVV ...................................................... 60

Bảng 2.16. Hệ số khả năng bù đắp rủi ro cho vay DNNVV ......................................... 60

Bảng 2.17. Thu nhập từ cho vay DNNVV .................................................................... 61

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức thương mại

thế giới (WTO), vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng tăng, quá trình đổi

mới ngày càng toàn diện hơn, rõ nét hơn, đầy đủ và tốc độ nhanh hơn. Cùng với sự

phát triển đó, hệ thống ngân hàng cũng có những bước chuyển mình phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh kinh tế mới. Đồng thời với sự phát triển của nền kinh tế, nhiều mô

hình kinh tế khác nhau đã được thử nghiệm và mang lại những thành công đáng ghi

nhận và một trong số các mô hình kinh tế đó phải kể đến sự đóng góp to lớn của các

doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV).

Trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, với tổng số hơn 543.963 doanh nghiệp thì

DNVVV chiếm 97%, đóng góp 40% GDP. Đặc biệt, trong xu thế hội nhập và phát

triển thì vai trò của các DNNVV ngày càng được khẳng định không chỉ ở Việt Nam mà còn ở khắp nơi trên thế giới. Mặc dù đóng vai trò quan trọng như vậy trong nền

kinh tế nhưng từ trước tới nay các DNVVN đã gặp không ít khó khăn, thách thức nhất

là trong thời buổi hội nhập hiện nay với sự cạnh tranh khốc liệt của các doanh nghiệp

lớn trong và ngoài nước. Một trong những lý do quan trọng là khó tiếp cận về nguồn

vốn, khó khăn này càng thể hiển rõ hơn khi khủng hoảng kinh tế xảy ra. Khủng hoảng

kinh tế xảy ra cũng đã tác động to lớn tới hoạt động các Ngân hàng thương mại Việt

Nam. Năm 2012 là một năm thực sự sóng gió và đầy biến động với ngành Tài chính

ngân hàng khi tăng trưởng tín dụng thấp nhất trong 20 năm, nợ xấu tăng vọt, giá vàng

đảo chiều liên tục, lợi nhuận sụt giảm, 9 ngân hàng yếu kém buộc phải tái cơ cấu,..

Thực tế, trong những năm vừa qua Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương

Việt Nam – Chi nhánh Hoàng Quốc Việt đã đáp ứng được khá lớn nhu cầu vốn từ phía

các DNNVV và không ngừng mở rộng cho vay. Tuy nhiên khi mở rộng hoạt động cho

vay, rủi ro cho vay là không thể tránh khỏi. Do đó, Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ

thương Việt Nam – Chi nhánh Hoàng Quốc Việt vẫn còn nhiều e ngại trong cho vay

đối với các DNNVV. Hoạt động cho vay DNNVV chưa tương xứng với tiềm năng của Ngân hàng, còn rất nhiều doanh nghiệp chưa thể tiếp cận nguồn vốn Ngân hàng. Vì vậy, hạn chế rủi ro cho vay DNNVV là một vấn đề cấp thiết, nó liên quan đến kế hoạch mở rộng sản xuất kinh doanh của DNNVV và tác động tới lợi nhuận, sự tăng trưởng, cân đối, an toàn trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Xuất phát từ quan điểm đó và thực trạng cho vay của Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt đối với DNNVV, em đã chọn đề tài: “Giải pháp

hạn chế rủi ro cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt” làm đề tài khóa luận

tốt nghiệp của mình.

2. Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về cho vay DNNVV của các NHTM.

- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động cho vay DNNVV trong tại Ngân hàng

thương mại cổ phần Kỹ thương - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt trong thời gian 2010-

2012, từ đó đưa ra những kết quả đạt được và hạn chế cần khắc phục.

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro cho vay DNNVV nhằm góp phần

vào sự phát triển bền vững của Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương - Chi nhánh

Hoàng Quốc Việt trong thời gian tới.

3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động cho vay DNNVV của NHTM.

Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động cho vay DNNVV tại Ngân hàng thương mại cổ

phần Kỹ thương - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt trong 3 năm: 2010, 2011 và 2012.

4. Phƣơng pháp nghiên cứu Để phù hợp với nội dung, yêu cầu, mục đích của đề tài ra phương pháp được

thực hiện trong quá trình nghiên cứu gồm phương pháp so sánh, thu thập thông tin và

phương pháp phân tích.

5. Kết cấu luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, danh mục bảng, sơ đồ và danh

mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng

thƣơng mại.

Chương 2: Thực trạng hạn chế rủi ro cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và

vừa tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Kỹ thƣơng - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt.

Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro cho vay đối

với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Kỹ thƣơng - Chi

nhánh Hoàng Quốc Việt.

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI

1.1. Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trên thế giới, định nghĩa về doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) được hiểu và

quy định khác nhau tùy theo điều kiện kinh tế xã hội của từng quốc gia và thay đổi theo từng giai đoạn, từng thời kỳ phát triển kinh tế. Khái niệm DNNVV không chỉ đơn

thuần phản ánh quy mô của doanh nghiệp mà nó còn bao trùm nội dung về kinh tế, tổ

chức sản xuất, quản lý và tiến bộ khoa học công nghệ. Mặc dù có nhiều tiêu thức khác

nhau để phân loại DNNVV nhưng trên thực tế thì tiêu thức được sử dụng phổ biến nhất là số lượng lao động trung bình và tổng số vốn của doanh nghiệp.

Đối với Việt Nam, qua nghiên cứu yêu cầu thực tế và học hỏi kinh nghiệm nhiều

nước trên thế giới, ngày 30/06/2009, Chính phủ ban hành Nghị định 56/2009/NĐ-CP, quy định về DNNVV: “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy

định của pháp luật, được chia thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa, theo quy mô tổng nguồn

vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế

toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí

ưu tiên), cụ thể như sau:

Bảng 1.1. Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Doanh

nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa

nhỏ Chỉ tiêu

Tổng số Số lao Tổng số Số lao động Số lao động vốn động vốn

Trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 1.Nông, 10 người trở 20 tỷ đồng người đến tỷ đến 100 người đến lâm nghiệp xuống trở xuống 200 người tỷ đồng 300 người và thủy sản

10 người trở xuống 20 tỷ đồng trở xuống Trên 10 người đến 200 người Từ trên 20 tỷ đến 100 tỷ đồng Từ trên 200 người đến 300 người 2.Công nghiệp và xây dựng

Trên 10 Từ trên 20 Từ trên 50 3.Thƣơng

10 người trở xuống 10 tỷ đồng trở xuống người đến 50 người tỷ đến 50 tỷ đồng người đến 100 người mại và dịch vụ

( Nguồn: Nghị định số 56 /2009/NĐ-CP)

1

1.1.2. Đặc điểm và thực trạng của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam 1.1.2.1. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Những đặc điểm của DNNVV đem lại cho loại hình doanh nghiệp này

những thuận lợi và những khó khăn nhất định trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Đặc điểm thuận lợi DNNVV có lượng vốn đầu tư ban đầu ít, thu hồi vốn nhanh và hiệu quả. Với nguồn vốn đầu tư ban đầu nhỏ (không quá 10 tỷ) để có thể bắt đầu hoạt động sản xuất

kinh doanh, khu vực này đã thu hút được một số lượng lớn các nhà đầu tư khiến chúng

trở thành khu vực sôi động nhất trong nền kinh tế. Chu trình SXKD của doanh nghiệp

ngắn nên khả năng thu hồi vốn nhanh, tăng tốc độ quay vòng để đầu tư vào công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả.

DNNVV có sự năng động, linh hoạt trong kinh doanh. Khi so sánh với các doanh

nghiệp lớn, lợi thế về quy mô nguồn vốn, cơ sở vật chất nhỏ gọn giúp các DNNVV dễ dàng thích ứng với những biến đổi của thị trường hay trước những biến đổi từ phía

người tiêu dùng. Các doanh nghiệp lớn thường tập trung vào nhóm sản phẩm có tính

lâu dài và ổn định trên thị trường. Ngược lại, các DNNVV lại linh hoạt hơn và có thể

nắm bắt những thay đổi nhỏ của sản phẩm, từ đó có thể chuyển hướng kinh doanh và

chuyển đổi mặt hàng nhanh chóng, đồng thời có thể tăng giảm lao động dễ dàng vì có

thể sử dụng nguồn lao động thời vụ.

DNNVV có chi phí tổ chức, sản xuất, quản lý gọn nhẹ, tiết kiệm. Với số lượng

lao động không lớn, việc tổ chức sản xuất cũng như bộ máy quản lý trong các

DNNVV tương đối nhỏ gọn, không có nhiều các khâu trung gian. Từ đó làm tăng hiệu

quả hoạt động của doanh nghiệp, các quyết định, chế độ, chỉ tiêu…đến với người lao

động một cách nhanh chóng. Cũng vì thế công tác kiểm tra giám sát được tiến hành

chặt chẽ, không phải qua nhiều khâu trung gian, tiết kiệm được chi phí cho quản lý doanh nghiệp.

DNNVV có mối quan hệ giữa người quản lý và lao động tương đối chặt chẽ.

Trong một doanh nghiệp mà số lao động không lớn người lãnh đạo có thể nắm bắt và

hiểu được đời sống cũng như tâm tư nguyện vọng của từng thành viên trong doanh nghiệp. Mặt khác trong quá trình sản xuất, kinh doanh người lao động nếu có những ý tưởng sáng kiến góp phần vào hiệu quả kinh doanh có thể trao đổi trực tiếp với lãnh

đạo. Vì thế, lãnh đạo DNNVV có thể xây dựng phương án bố trí công việc cho phù hợp với khả năng và trình độ của từng người nhằm tận dụng được hết khả năng của mỗi công nhân viên tại vị trí công việc được giao.

Những đặc điểm gây khó khăn

Tình trạng thiếu vốn trầm trọng: Các doanh nghiệp lớn thường có ưu thế hơn trong việc thu hút vốn, từ nhiều kênh khác nhau như kênh phát hành trái phiếu công ty,

2

kênh phát hành cổ phiếu, kênh tín dụng ngân hàng…Trong khi đó các DNNVV lại gặp rất nhiều khó khăn trong việc khai thác vốn. Trong quá trình kinh doanh, bên cạnh

nguồn tín dụng thương mại thì các DNNVV gần như chủ yếu trông chờ vào nguồn tín

dụng từ các NHTM. Tuy nhiên, việc khai thác nguồn này đối với DNVVN cũng lại

gặp không ít khó khăn chỉ có khoảng 20% doanh nghiệp là vay được vốn. Bên cạnh đó

là hàng loạt các vấn đề khác như tài sản thế chấp, mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp, chi phí tín dụng…cũng là những nguyên nhân khiến cho khả năng tiếp

cận với nguồn vốn tín dụng của DNNVV gặp không ít khó khăn.

Trình độ công nghệ thiết bị thường yếu kém lạc hậu, chậm đổi mới: Thiếu vốn và năng lực tài chính hạn chế khiến các DNNVV thường đầu tư vào các máy móc có

công nghệ kỹ thuật ở mức trung bình, đơn giản, dẫn đến năng suất lao động thấp, giảm

sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Ngoài ra, DNNVV cũng rất khó để tiếp cận khoản

tín dụng trung dài hạn cần thiết để nâng cấp thiết bị, công nghệ. So với các doanh nghiệp lớn, các DNNVV rất khó tiếp cận với thị trường công nghệ máy móc thiết bị

quốc tế.

Khả năng tiếp cận và xử lý thông tin thị trường hạn chế: Các DNNVV thường

gặp nhiều khó khăn trong việc thu thập và phân tích các thông tin từ thị trường về

nguyên vật liệu, trình độ công nghệ, xu hướng phát triển tới của ngành nghề mình

đang kinh doanh, đối thủ cạnh tranh… ,do quy mô nhỏ lại hoạt động trong phạm vi

hẹp, thiếu mạng lưới thu thập thông tin và các mối quan hệ rộng. Hơn nữa việc xử lý

thông tin của DNNVV còn rất hạn chế, ngay cả khi có những thông tin cần thiết, các

doanh nghiệp cũng gặp khó khăn khi xử lý do những hạn chế trong khả năng phân tích

và đưa ra những dự đoán, những chiến lược kinh doanh cụ thể.

Trình độ kỹ năng quản lý còn hạn chế: Ở loại hình doanh nghiệp này, tỷ lệ chủ doanh nghiệp được đào tạo cơ bản thường không cao, chủ yếu thực hiện tổ chức quản

lý dựa vào kinh nghiệm. Nhiều chủ doanh nghiệp thiếu những kiến thức cơ bản để lập

các chiến lược kinh doanh, định hướng phát triển cho doanh nghiệp…Môi trường kinh

doanh hiện đại, cạnh tranh khốc liệt như hiện nay đòi hỏi không chỉ đòi hỏi kinh

nghiệm mà còn cần trình độ chuyên môn cao, khả năng hiểu biết, nắm bắt, tổng hợp và xử lý thông tin để có thể đưa ra những quyết định kịp thời.

Thị trường tiêu thụ sản phẩm nhỏ bé: Nguyên nhân chủ yếu của khó khăn này là vấn đề về quyền sở hữu công nghiệp chưa được thực hiện nghiêm túc; sản phẩm, dịch vụ của các doanh nghiệp luôn bị tấn công bởi việc xuất hiện các mặt hàng làm giả,

hàng nhái, hàng nhập lậu. Sự độc quyền của một số doanh nghiệp lớn cũng khiến sức

cạnh tranh của DNNVV càng giảm trên thị trường nội địa, chủ yếu là do sự yếu kém của công tác tổ chức quản lý thị trường. Đối với các doanh nghiệp hướng sản phẩm

của mình chủ yếu dành cho xuất khẩu, nhiều vấn đề nảy sinh cần được khắc phục như

3

việc hạn chế về công nghệ dẫn đến mặt hàng xuất khẩu chưa đa dạng, chất lượng và tính cạnh tranh chưa cao cùng với khả năng tiếp cận thị trường kém. Rất ít doanh

nghiệp tham gia thương mại điện tử trên mạng, giới thiệu chào hàng trên mạng, tham

gia hội trợ triển lãm. Khi ký hợp đồng làm ăn thường bị ép giá qua các đối tác trung

gian, việc thiếu am hiểu luật pháp quốc tế và thương mại quốc tế cũng khiến doanh

nghiệp chịu nhiều thua thiệt.

Thiếu chiến lược kinh doanh cụ thể: DNVVN thường bị động trước những biến đổi từ phía thị trường, khách hàng, do thiếu những chiến lược kinh doanh cụ thể. Công tác hoạch định chiến lược kinh doanh tại các DNVVN chưa được coi trọng, một phần

do doanh nghiệp thiếu vốn, do doanh nghiệp chưa nhận thức được tầm quan trọng của

công tác này. 1.1.2.2. Thực trạng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam hiện nay

DNNVV là loại hình doanh nghiệp chủ yếu trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Chính vì vậy, loại hình doanh nghiệp này đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc

làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư

phát triển, xóa đói giảm nghèo. Nắm bắt được tình hình của các DNNVV, các nhu cầu

của doanh nghiệp cần trợ giúp sẽ giúp các cơ quan quản lý có thể xây dựng các chương

trình trợ giúp, đề xuất bổ sung cơ chế chính sách khuyến khích phát triển DNNVV.

DNNVV có quy mô vốn nhỏ khó tiếp cận với vốn vay để phát triển sản xuất kinh

doanh: Theo Thông tin từ Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam số lượng

DNNVV có vốn điều lệ dưới 1 tỉ đồng, chiếm 42%; từ 1 đến 5 tỉ đồng chiếm 37%; từ

5 đến 10 tỉ đồng chiếm 8%; còn lại hơn 10 tỉ đồng. Nhưng đa số các DNNVV có quy

mô SXKD nhỏ luôn trong tình trạng thiếu vốn để mở rộng SXKD, đầu tư cải tiến máy

móc thiết bị mới. Vốn tự có không đủ, thị trường chứng khoán đang trong giai đoạn

khủng hoảng và giảm sút trong thời gian gần đây đã gây rất nhiều khó khăn cho Doanh nghiệp tiếp cận vốn từ những nguồn huy động này. Vốn vay Ngân hàng vẫn là sự lựa

chọn chính của các DNNVV. Tuy nhiên với những rào cản về lãi suất, thủ tục, phương thức, chính sách… đã gây ra rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn của các DNNVV. Theo Viện Chiến lược và Chính sách tài chính dẫn chứng thêm, có tới 48% DNNVV bị ngân hàng từ chối cho vay vốn mà không rõ lý do. Doanh nghiệp thiếu vốn để sản xuất kinh doanh nên rất nhiều DNNVV đã chọn cách sản xuất cầm chừng

để duy trì hoạt động của mình. Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến mục tiêu phát

triển của bản thân DNNVV nói riêng cũng như của nền kinh tế nói chung.

Trình độ sử dụng công nghệ thấp giảm năng lực cạnh tranh của khu vực DNNVV: Kết quả khảo sát của Bộ Khoa học và Công nghệ mới đây cho thấy, trình độ khoa học công nghệ và năng lực đổi mới trong DNNVV của Việt Nam còn thấp. Số

lượng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ còn rất ít. Số

4

lượng nhà khoa học, chuyên gia làm việc trong các DNNVV chỉ chiếm 0,025% trong tổng số lao động làm việc trong khu vực DNNVV. Khoảng 80 – 90% máy móc và

công nghệ sử dụng trong các DNNVV của Việt Nam là nhập khẩu và 76% từ thập niên

1980 – 1990, 75% máy móc và trang thiết bị đã hết khấu hao. Chỉ có khoảng 80% số

doanh nghiệp đạt trình độ công nghệ tiên tiến mà phần lớn lại là các doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài (FDI).

Trình độ tay nghề công nhân và trình độ chuyên môn, năng lực quản lý của

DNVVN còn nhiều hạn chế: Theo thống kê, có tới 55,63% số chủ doanh nghiệp có

trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống, 37,82% đã tốt nghiệp đại học, 2,33% là thạc

sỹ và chỉ có 0,66% số người là tiến sỹ. Bên cạnh đó, đa số các chủ doanh nghiệp lại quản lý kinh doanh dựa trên kinh nghiệm, kinh doanh phi vụ; rất ít người được đào tạo

về kiến thức kinh tế, quản trị doanh nghiệp. Thực tế có đến 75% lực lượng lao động

chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật. Một thực trạng là nhiều doanh nghiệp phải đào tạo lại cho lao động ngay sau khi tuyển dụng, điều này cũng gây khó khăn cho doanh

nghiệp do việc đào tạo lại làm tăng chi phí. Do đó các doanh nghiệp thường phải kết

hợp giữa vừa lao động vừa đào tạo. Việc thực hiện chưa đầy đủ các chính sách bảo

hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động đã làm giảm đi chất lượng công việc

trong khu vực DNNVV, do vậy các DNNVV càng rơi vào vị thế bất lợi. Tất cả các

điều trên đã ảnh hưởng lớn đến việc lập chiến lược phát triển, định hướng kinh doanh

và quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam.

DNNVV chưa tiếp cận các chính sách, chương trình ưu đãi của Chính phủ một

cách hiệu quả: Tỷ lệ DNNVV tham gia vào các chương trình hỗ trợ của Chính phủ

như: Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia, Quỹ đổi mới Khoa học công nghệ…

còn rất khiêm tốn (dưới 10%). Do các DNNVV hoặc có nguồn lực hạn chế, hoặc chưa

chuẩn bị để tiếp cận các nguồn lực phân bổ bởi Chính phủ để phát triển các ngành,

nghề và lĩnh vực ưu tiên. Việc tiếp cận hạn chế này còn bắt nguồn từ nguyên nhân

thiếu thông tin, hoặc thủ tục quá phức tạp.

Trước thực trang đó, Chính phủ đã đưa ra nhiều giải pháp tích cực để tháo gỡ khó khăn cho DNNVV. Đặc biệt, ngay những ngày đầu năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 02/NQ-CP với một loạt các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường và giải quyết nợ xấu, vốn được nhiều chuyên gia nhận định là khá bài bản và toàn diện. Tuy nhiên, cũng còn nhiều khó khăn dẫn đến DNNVV vẫn bị ảnh hưởng và xu hướng phá sản, giải thể trong thời gian tới tiếp tục xảy ra.

1.1.3. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế Việt Nam

Thực tế, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đã và đang trở thành xương sống

trong nền kinh tế của nhiều quốc gia. Với chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều

5

thành phần của Đảng và Nhà nươc ta, DNNVV ở nước ta ngày càng phát triển, đóng góp đáng kể vào sự nghiệp chấn hung kinh tế đất nước.

Góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động: Tuy quy mô

hoạt động nhỏ, gặp nhiều khó khăn trong vấn đề huy động vốn nhưng khu vực này lại

là bộ phận kinh tế tạo ra công ăn việc làm lớn cho xã hội, góp phần giải quyết nhiều

vấn đề về thất nghiệp, xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội. Theo số liệu thống kê tại hầu hết các nước, DNNVV tạo ra công ăn việc làm cho khoảng 40 - 70% lao động các

nước. Với lợi thế hoạt động trong nhiều lĩnh vực của mình, các DNNVV tại Việt Nam

có khả năng thu hút được một số lượng lớn và đa dạng các thành phần lao động từ lao

động có trình độ kĩ thuật cao tới lao động thủ công đơn giản phù hợp với yêu cầu của công việc.

Tham gia tích cực vào hoạt động xuất nhập khẩu: Trong những năm qua, với chính sách về mở rộng và khuyến khích thương mại quốc tế, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham gia vào kinh doanh xuất nhập khẩu, các DNNVV sản xuất

một khối lượng sản phẩm đa dạng phục vụ cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Các

DNNVV nhất là các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ,

như mây tre đan, gốm sứ xuất khẩu, các mặt hàng nông sản, thủy sản đã năng động

đầu tư vào ngành nghề có nhiều lợi thế về nguồn lực có sẵn, chủ động tìm kiếm và

khai thác thị trường quốc tế cộng với lợi thế cạnh tranh về giá thành sức lao động nên

các mặt hàng xuất khẩu của khu vực này có ưu thế và phát triển mạnh mẽ. Vì vậy,

DNNVV đã đóng góp tích cực tăng kim ngạch xuất khẩu, thu ngoại tệ cho đất nước.

DNNVV giữ vai trò ổn địng và góp phần vào quá trình tăng trưởng kinh tế. Từ

khi ra đời, các DNNVV đã khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực kinh tế tiềm ẩn

trong dân cư, hoạt động và sự phát triển của DNNVV thực sự đã góp phần quan trọng

vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Do tính linh hoạt mềm dẻo nên DNNVV có khả năng đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu của xã hội. Theo số liệu

thống kê của Bộ kế hoạch và đầu tư, các DNNVV ở Việt Nam đóng góp khoảng 40% GDP hàng năm, nếu tính cả 133.000 hợp tác xã, trang trại và khoảng 3 triệu hộ kinh doanh cá thể thì khu vực này đã đóng góp tới 60% vào cơ cấu GDP. Thêm vào đó, tốc độ tăng trưởng sản xuất của khu vực DNNVV cũng thường xuyên cao hơn so với khu vực doanh nghiệp khác.

DNNVV góp phần quan trọng vào việc thu hút một lượng vốn lớn trong dân cư

và sử dụng tối ưu các nguồn lực tại địa phương: Với tính chất nhỏ bé, dễ phân tán, dễ đi sâu và số lượng vốn ban đầu không quá lớn của các DNNVV, đông đảo dân cư có thể tham gia đầu tư. DNNVV được xem là mô hình đầu tư phù hợp với những chủ thể có nguồn vốn và trình độ hạn chế muốn tham gia. Cùng với đó, trong quá trình hoạt

động của mình, các chủ DNNVV có khả năng huy động vốn từ họ hàng, bạn bè, người

6

thân đầu tư vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, mà DNNVV được coi là phương tiện có hiệu quả trong việc huy động vốn, sử dụng các khoản tiền

nhàn rỗi trong dân cư và biến nó thành các khỏan đầu tư hiệu quả. Mặt khác, với quy

mô nhỏ và vừa, các DNNVV được phân bố ở hầu hết các địa phương các vùng lãnh

thổ nên có khả năng tận dụng tiềm lực về: lao động, nguyên vật liệu, tài nguyên đất,

rừng, khoáng sản…có sẵn ở địa phương khơi dậy tiềm năng của đất nước tham gia vào phát triển kinh tế.

DNNVV góp phần đảm bảo tính năng động cho nền kinh tế: Với đặc điểm quy

mô kinh doanh gọn nhẹ, vốn nhỏ, các DNNVV dễ dàng chuyển hướng kinh doanh,

thay đổi quy mô sản xuất để có thể đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường mà ít gây biến động lớn, lại có khả năng phục hồi nhanh sau những cuộc khủng hoảng kinh tế trên

góc độ kinh tế quốc gia. Sự phát triển loại hình DNNVV cả về số lượng và chất lượng

sẽ góp phần tạo sự cạnh tranh mạnh mẽ trong nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới công nghệ hiện đại, tiên tiến; phát triển tư tưởng và kỹ năng mới, đẩy mạnh sự đầu tư giữa các

nền kinh tế trong và ngoài nước.

1.2. Tổng quan về hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thƣơng mại 1.2.1. Khái niệm hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa Ngân hàng thương mại

Cho vay là hình thức cấp tín dụng có từ lâu đời, chiếm một vị trí quan trọng trong

chiến lược của ngân hàng.

Theo giáo trình “Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại” của Đại học Thăng Long

xuất bản năm 2009, do PGS. TS Mai Văn Bạn làm chủ biên định nghĩa: “Cho vay là

sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu (NHTM) sang người sử

dụng (người vay), sau một thời gian nhất định lại quay về với lượng giá trị lớn hơn

lượng giá trị ban đầu”.

Theo Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được Quốc hội ban hành:

“Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho

khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.

Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu khát quát về cho vay đối với DNNVV của NHTM như sau: “Cho vay DNNVV của NHTM là một hình thức cấp tín dụng mà

theo đó NHTM giao vốn cho các DNNVV để sử dụng vào mục đích đầu tƣ, phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận giữa ngân hàng và DNNVV với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi theo đúng thời hạn cam kết”.

7

1.2.2. Đặc điểm của cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Nhìn chung hoạt động cho vay của ngân hàng đối với DNNVV cũng mang đặc

điểm chung giống như đối với doanh nghiệp như về quy trình tín dụng, cách thức, và

phương thức cho vay…Bên cạnh đó cũng mang các nét riêng biệt như sau:

Hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi: Ngân hàng là trung gian tài chính nên khoản cho

vay của ngân hàng phải có thời hạn, đảm bảo cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động. Mặt khác, ngân hàng phải có nguồn để bù đắp chi phí hoạt động như trả lương, khấu

hao…Do đó, lượng vốn chuyển nhượng cho người đi vay phải được hoàn trả đúng hạn

về thời gian và giá trị. Giá trị hoàn trả chính là giá trị phải trả cho quyền sử dụng vốn

vay tạm thời, đó là nguồn thu nhập chính của ngân hàng, là cơ sở để ngân hàng tồn tại và phát triển. Các DNNVV có nguồn trả nợ cho ngân hàng từ việc sử dụng hiệu quả

nguồn vốn vay, từ khấu hao tài sản của đơn vị và các nguồn ổn định khác mà DNNVV

cam kết sử dụng để trả nợ ngân hàng.

Tiềm ẩn rủi ro cao: Việc đánh giá độ an toàn của hồ sơ vay vốn DNNVV là rất

khó. Vì luôn tồn tại thông tin bất cân xứng dẫn đến lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo

đức. Ngoài việc thu hồi nợ phụ thuộc vào bản thân DNNVV thì DNNVV gặp rất nhiều

khó khăn ngoài tầm kiểm soát trong tình hình kinh tế kém phát triển, khi mà có sự biến

động lãi suất, giá cả, tỷ giá, lạm phát, thiên tai…Khi DNNVV gặp khó khăn do môi

trường kinh tế thay đổi, dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ, điều này khiến cho ngân

hàng gặp rủi ro cho vay.

Mục đích sử dụng vốn vay: Các DNNVV vay vốn với rất nhiều mục đích khác

nhau, nhưng có một số mục đích chủ yếu sau: Vay để bổ sung vốn lưu động tài trợ cho

hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong ngắn hạn, vay để thực hiện các dự án

đầu tư trong trung - dài hạn…

Thời gian của các khoản vay: Tùy thuộc vào mục đích sử dụng vốn vay nhưng

nhìn chung các DNNVV thường vay vốn để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh

trong ngắn hạn nhiều hơn là cho vay trung - dài hạn bởi chu kỳ kinh doanh của các

DNNVV thường là ngắn hạn và nhu cầu vay vốn của các DNNVV đa số là để đáp ứng cho nhu cầu vốn lưu động, chi trả cho các hoạt động ngắn hạn như mua nguyên liệu sản xuất, trả lương công nhân viên, vay theo hạn mức tín dụng đáp ứng các giao dịch mua bán với nhà cung ứng và khách hàng, các dự án đầu tư trong ngắn hạn.

Quy mô khoản vay: Quy mô các khoản vay thường không lớn, phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nhgiệp, quy mô của các phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư hay quy mô các hợp đồng đã ký kết.

Nguồn trả nợ: Bao gồm các nguồn từ hiệu quả sử dụng vốn vay, khấu hao tài sản của DN và các nguồn khác ổn định mà doanh nghiệp cam kết sử dụng để trả nợ cho

ngân hàng.

8

Tài sản đảm bảo: Đây là điều kiện quan trọng để ngân hàng quyết định cho

doanh nghiệp vay vốn cũng như quyết định quy mô khoản vốn được vay. Giá trị của

TSĐB phụ thuộc vào quy mô khoản vay và mức độ quan hệ giữa ngân hàng với

DNNVV. TSĐB thường có giá trị lớn hơn giá trị của khoản vay; tuy nhiên một thực

trạng phổ biến của các DNNVV Việt Nam hiện nay đó là không có, hay không đủ TSĐB cho việc vay vốn, hoặc nếu có thì cũng không thể đáp ứng đầy đủ quy định về

TSĐB cho vay theo yêu cầu của ngân hàng.

Lợi nhuận trong cho vay DNNVV: Cho vay nói chung và cho vay DNNVV nói

riêng là một trong những nguồn mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng bên cạnh các hoạt động kinh doanh sinh lời khác.

Tóm lại: Để có thể ký kết các hợp đồng vay vốn với điều kiện khắt khe của ngân

hàng, các DNNVV ngay từ đầu đã phải đầu tư công sức, xây dựng chữ tín thật tốt, có chiến lược kinh doanh, phương án, dự án thật tốt. Khi sử dụng vốn vay ngân hàng, các

DNNVV phải chịu áp lực trả nợ (bao gồm cả gốc và lãi) đúng hạn cũng như tôn trọng

các điều khoản của hợp đồng; cho dù DNNVV làm ăn không hiệu quả. Vì vậy khi sử

dụng vốn các DNNVV sẽ phải cân nhắc sử dụng làm sao để nguồn vốn vay đó mang lại

hiệu quả cao, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất ngân hàng thì mới trả được

nợ và kinh doanh có lãi, góp phần tích cực nâng cao hiệu sử dụng vốn của DNNVV.

1.2.3. Vai trò của hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Đáp ứng kịp thời nhu cầu về số lượng và chất lượng vốn cho DNNVV, góp phần

nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho DNNVV: Đối với các DNNVV, việc huy động vốn

từ tín dụng thương mại, phát hành giấy tờ có giá là vô cùng khó khăn, thêm vào đó việc

huy động vốn từ các tổ chức tài chính phi ngân hàng lại đòi hỏi chi phí rất cao nên

nguồn vốn vay NHTM là sự lựa chọn thích hợp nhất đối với các DNNVV. Nguồn vốn

vay này đáng tin cậy, thoả mãn được nhu cầu vốn của DNNVV cả về số lượng chất

lượng và thời hạn, nhanh chóng để tiếp cận. Vì vậy các DNNVV không những tiếp kiệm được chi phí, không làm ảnh hưởng quyền sở hữu của DNNVV mà còn có được khoản tiết kiệm từ thuế, tạo đòn bẩy cho quá trình hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn. Các DNNVV năng động và chủ động hơn trong việc tìm kiếm thị trường, khai thác thông tin để định lượng hoạt động kinh doanh của mình sao cho hiệu quả; điều này cho thấy một lần nữa việc cho vay giúp cho DNNVV tăng hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, đem lại lợi nhuận cho hoạt động sản xuất kinh doanh, giảm thiểu

tối đa rủi ro khi vay vốn.

Góp phần tập trung vốn sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của các

DNNVV: Nền kinh tế thị trường năng động, biến đổi đa dạng theo các chiều hướng khó

9

lường; nhu cầu vốn để cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt hơn. Xu thế hiện nay của các DNNVV là tăng cường liên doanh, liên kết tập trung vốn đầu tư, mở rộng sản xuất, đầu

tư trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, thay đổi mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm để

tăng sức mạnh cạnh tranh. Do đó, các DNNVV tìm đến nguồn vốn vay từ ngân hàng để

có thể đáp ứng kịp thời nhanh chóng giúp DNNVV thực hiện được mục đích mở rộng,

phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường. Mặt khác, việc tăng cường giám sát khoản vay của ngân hàng với DNNVV trong hoạt động vay

vốn sẽ tạo ta sức ép tích cực cho DNNVV phải liên tục tìm kiếm những phương án,

hướng đi, chiến lược phù hợp, sáng suốt, nhạy bén với những thay đổi của thị trường.

Điều này góp phần không nhỏ trong việc gia tăng năng lực cạnh tranh của các DNNVV.

Đối với Ngân hàng thƣơng mại Cho vay đem lại lợi nhuận quan trọng nhất cho ngân hàng. Theo thống kê của

NHNN, cho vay là hoạt động truyền thống, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản có (khoảng 69%) và mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng (70-90%). Trong

đó, cho vay đối với DNNVV chiếm tỷ trọng cao trên tổng doanh số tín dụng của các

NHTM hiện nay, góp phần vào sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Bên cạnh đó,

thông qua hoạt động cho vay đối với DNNVV, ngân hàng có thể mở rộng thị phần,

nâng cao năng lực cạnh tranh, hình ảnh, uy tín của mình trên thị trường, góp phần vào

việc tăng nguồn vốn huy động, phát triển mạnh mẽ trong tương lai, mở rộng được các

loại hình dịch vụ khác như thanh toán, kinh doanh ngoại tệ, tư vấn.

Đối với nền kinh tế Hoạt động cho vay DNNVV của NHTM góp phần tăng trưởng lượng vốn đầu

tư và hiệu quả đầu tư. Việc kinh doanh có hiệu quả của DNNVV sẽ đóng góp một

khoản lợi nhuận lớn, giúp nền kinh tế vận động và phát triển. Ngân hàng và DNNVV

nỗ lực sử dụng vốn hiệu quả để tránh không trả được nợ dẫn đến bị phát mại tài sản,

giải thể hoặc phá sản. Chính sức ép này khiến kinh tế tăng trưởng, tạo công ăn việc

làm, năng suất lao động cao hơn. Hoạt động cho vay của NHTM đối với DNNVV

cũng là một công cụ để nhà nước điều tiết kinh tế xã hội. Thông qua việc đầu tư vốn vay vào DNNVV bằng việc hỗ trợ lãi suất, bảo lãnh sẽ thúc đẩy sự phát triển của các DNNVV, hình thành nên cơ cấu kinh tế hiệu quả, góp phần lưu thông tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền.

1.2.4. Các hình thức cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại

Phân loại theo kỳ hạn cho vay Cho vay ngắn hạn: Cho vay có thời hạn đến 1 năm, được sử dụng để bù đắp sự thiếu

hụt vốn lưu động của doanh nghiệp hoặc nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của doanh nghiệp.

10

Cho vay trung hạn: Là loại hình cho vay trong đó bên thỏa thuận thời hạn sử dụng vốn vay từ 1 – 5 năm. Mục đích của loại vay này nhằm tài trợ cho hoạt động mua

sắm tài sản cố định, phương tiện vận tải, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây

dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh.

Cho vay dài hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn 5 năm trở lên, thời hạn có thể

lên đến 20-30 năm, một số trường hợp lên tới 40 năm. Loại vay này nhằm phục vụ cho các công trình xây dựng cơ bản, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, đầu tư xây dựng xí

nghiệp mới, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.

Phân loại theo xuất xứ Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời

người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.

Cho vay gián tiếp: Là khoản vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế

ước hoặc chứng từ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán. Các NHTM cho vay gián tiếp theo các loại sau đây:

Chiết khấu thương mại: Người hưởng thụ hối phiếu hoặc lệnh phiếu còn trong

thời hạn thanh toán có thể nhượng lại cho NHTM.

Mua các phiếu bán hàng: Các mặt hàng tiêu dùng và máy móc nông nghiệp trả góp.

Phân loại theo tính chất đảm bảo Cho vay có tài sản đảm bảo: Là loại cho vay dựa trên cơ sở bảo đảm như thế

chấp hoặc cầm cố, hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba. Đây là loại hình cho vay đối

với các DNNVV không có uy tín với ngân hàng nên vay vốn cần có sự đảm bảo. Sự

đảm bảo này là căn cứ để ngân hàng có thêm nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn thứ

nhất khi nguồn thu này không được đảm bảo.

Cho vay không có tài sản đảm bảo: Là việc ngân hàng cho doanh nghiệp vay vốn

mà không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba về tài sản. Ngân

hàng cho DNNVV vay chủ yếu dựa vào uy tín của doanh nghiệp. Đối với những

DNNVV có khả năng tài chính mạnh để thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn cả gốc và

lãi, có phương án kinh doanh khả thi thì ngân hàng có thể cung cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân doanh nghiệp mà không cần một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung.

Phân loại theo phƣơng pháp cho vay Cho vay thấu chi: Ngân hàng cho phép khách hàng được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định trong một khoảng thời gian xác định, giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi.

Cho vay theo món (từng lần): Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của các

ngân hàng đối với các DNNVV không có nhu cầu vay thường xuyên, mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn trình ngân hàng phương án sử dụng vốn vay, mỗi món vay

11

được tách biệt nhau thành các hồ sơ khác nhau. Nghiệp vụ này đơn giản, ngân hàng có thể kiểm soát từng món vay tách biệt.

Cho vay theo hạn mức tín dụng: Ngân hàng cấp cho khách hàng một hạn mức tín

dụng cả kỳ hoặc cuối kỳ. Trường hợp hạn mức trong cả kỳ khách hàng có thể vay trả

nhiều lần nhưng dư nợ không được vượt quá hạn mức tín dụng. Đối với hạn mức tín

dụng cuối kỳ thì trong kỳ dư nợ tín dụng có thể lớn hơn hạn mức tín dụng nhưng đến thời điểm cuối kỳ khách hàng bắt buộc phải trả nợ sao cho dư nợ cuối kỳ không vượt

quá hạn mức tín dụng. Đây là phương thức cho vay mà ngân hàng thường chỉ áp dụng

với các khách hàng có mối quan hệ thường xuyên với ngân hàng.

Phân loại theo phƣơng thức trả nợ Cho vay trả góp: Là hình thức cho vay theo đó ngân hàng cho phép khách hàng

trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn cho vay đã được thoả thuận, cho vay trả góp

thường được áp dụng đối với các khoản cho vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc tài sản lâu bền.

Cho vay trả nợ 1 lần khi đáo hạn: Là loại hình cho vay trong đó ngân hàng cho

phép DNNVV hoàn trả gốc một lần khi hết hạn hợp đồng vay vốn.

1.3. Rủi ro cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thƣơng mại 1.3.1. Khái niệm rủi ro cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại

Có nhiều quan điểm khác nhau về rủi ro, đối với ngân hàng thương mại, rủi ro là

một biến cố không mong đợi gây thiệt hại cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.

Theo định nghĩa của Ủy ban Basel: “Rủi ro trong hoạt động cho vay là khả năng

mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo

những điều khoản đã thỏa thuận”.

Theo Quyết định 493/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN, tại khoản 1, điều 2 đề

cập khái niệm rủi ro cho vay: “Rủi ro cho vay của ngân hàng, của tổ chức tín dụng là

khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng, tổ chức cho vay do khách hàng

không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ vủa mình theo cam kết”.

Như vậy có nhiều cách khác nhau để định nghĩa về rủi ro trong hoạt động cho vay, song đều thể hiện bản chất của rủi ro cho vay đó là khả năng xảy ra những thiệt hại về kinh tế mà NHTM phải gánh chịu do khách hàng vay vốn thanh toán nợ không đúng hạn hoặc không hoàn trả được nợ vay bao gồm gốc, lãi hoặc cả gốc và lãi.

Rủi ro cho vay có tính tất yếu tức là luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động cho vay của NHTM. Có thể nói, chấp nhận rủi ro là tính tất yếu trong hoạt động ngân

hàng. Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro ngân hàng gánh chịu là hợp lý, kiểm soát được và nằm trong phạm vi năng lực tài chính và năng lực cho vay của ngân

hàng. Vì vậy, các ngân hàng cần phải thận trọng trong việc đánh giá các cơ hội kinh

12

doanh dựa trên mối quan hệ giữa rủi ro và lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội, những lợi ích xứng đáng với mức rủi ro chấp nhận.

Rủi ro cho vay mang tính đa dạng và phức tạp. Đặc điểm này thể hiện ở sự đa

dạng, phức tạp của nguyên nhân gây ra rủi ro cho vay cũng như diễn biến sự việc, hậu

quả khi rủi ro xảy ra.

Rủi ro cho vay mang tính gián tiếp. Có thể nhận thấy, do tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách

toàn diện và đầy đủ đẩy ngân hàng vào thế bị động nên thường có những ứng phó

chậm trễ. Tính gián tiếp còn thể hiện ở việc ngân hàng giao quyền sử dụng vốn cho

khách hàng và rủi ro cho vay xảy ra nếu khách hàng gặp những tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn.

Trong hoạt động kinh doanh của NHTM, rủi ro cho vay luôn tiềm ẩn trong suốt

quá trình trước, trong và sau khi cho vay, được biểu hiện ra bên ngoài là món vay không thể thu hồi được, nợ khó đòi, nợ quá hạn, nợ mất vốn…đây là loại rủi ro lớn nhất,

thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề nhất, ảnh hưởng rất lớn đến mọi hoạt động

của ngân hàng. Nếu món vay của ngân hàng bị thất thoát, dân chúng sẽ thiếu lòng tin và

tìm cách rút tiền khỏi ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của

NHTM. Khi rủi ro cho vay phát sinh, NHTM không thực hiện được kế hoạch đầu tư

cũng như kế hoạch thanh toán các khoản tiền gửi đến hạn. Rủi ro cho vay lớn sẽ dẫn đến

khó khăn trong việc huy động vốn và phát triển các sản phẩm dịch vụ, khó mở rộng

quan hệ với các bạn hàng và các ngân hàng khác, buộc ngân hàng phải thu hẹp hoạt

động, tất cả thể hiện ở lợi nhuận giảm, ngân hàng phải sử dụng vốn tự có để bù đắp sự

giảm sút đó, uy tín của ngân hàng giảm sút, dẫn đến tình trạng khó khăn, phá sản.

1.3.2. Nguyên nhân gây ra rủi ro cho vay DNNVV 1.3.2.1. Các nguyên nhân khách quan

Môi trƣờng kinh tế Tất cả hoạt động sản xuất kinh doanh đều chịu ảnh hưởng tác động trực tiếp của

môi trường kinh tế - xã hội trong và ngoài nước. Các DNNVV với số lượng lớn, linh hoạt trong các hoạt động, có mặt trong hầu hết tất cả ngành nghề các lĩnh vực và có tầm quan trọng trong nền kinh tế nên các vấn đề của nền kinh tế đều tác động trực tiếp đến hoạt động của các DNNVV. Về phương diện tổng thể, khi nền kinh tế ổn định, tăng trưởng lành mạnh thì nhu cầu đầu tư trong xã hội có xu hướng gia tăng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các DNNVV, hoạt động cho vay cũng vì thế mà phát triển. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, xuất hiện những biến động kinh

tế như lạm phát, thất nghiệp, sốt vàng, đầu tư bất động sản… dẫn đến sức mua giảm sút, khả năng phát triển sản xuất kinh doanh kém, nhiều các DNNVV không thể thích

ứng kịp và vượt qua khó khăn khiến kinh doanh thua lỗ, khả năng trả nợ vốn vay ngân

13

hàng không được đảm bảo. Tất cả điều đó tác động xấu đến khả năng thu hồi vốn của ngân hàng dẫn đến rủi ro cho vay.

Không chỉ chịu sự ảnh hưởng của môi trường kinh tế trong nước mà các biến

động về kinh tế tài chính trên thế giới đều có ảnh hưởng tới hoạt động cho vay của

ngân hàng, nhất là khi quan hệ kinh tế quốc tế được mở rộng giữa các quốc gia trong

khu vực và trên thế giới. Quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt khiến các DNNVV,

những khách hàng thường xuyên nhất của ngân hàng đối mặt với nguy cơ thua lỗ và

quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường. Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh của

các NHTM trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các NHTM trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu

tăng lên bởi rất nhiều DNNVV có khả năng kinh doanh tốt sẽ bị các ngân hàng nước

ngoài thu hút.

Môi trƣờng pháp lý Môi trường pháp lý là một nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ tới rủi ro cho vay.

Đó là sự thiếu đồng bộ trong hệ thống các văn bản pháp luật, các biện pháp thi hành

luật và sự tuân thủ không nghiêm chỉnh pháp luật của các chủ thể tham gia kinh doanh

và các ngành nghề có liên quan. Hoạt động kinh doanh của DNNVV sẽ không ổn định

khi có những thay đổi quy định về thuế, vốn,.. cũng như hoạt động cho vay của ngân

hàng bị tác động nhiều bởi những văn bản luật về tài sản đảm bảo, dự trữ, trích lập…

Chính nhân tố môi trường này đã không đảm bảo tạo ra một trường cạnh tranh lành

mạnh giữa các doanh nghiêp, không tạo ra tính an toàn cho các hoạt động kinh doanh.

Một môi trường pháp lý không hoàn chỉnh vừa gây khó khăn cho các DNNVV về khả

năng trả nợ và ngân hàng trong hoạt động cho vay, vừa tạo ra khe hở để kẻ xấu lợi

dụng gây rủi ro cho cả DNNVV và ngân hàng.

Môi trƣờng tự nhiên Là nhân tố khách quan gây ảnh hưởng lớn đến rủi ro cho vay của ngân hàng.

Thực tế nhân tố này không tác động trực tiếp mà là tác động gián tiếp đến hoạt động của ngân hàng. Trong số những DNNVV quan hệ với ngân hàng có rất nhiều doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp, vì vậy yếu tố môi trường ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả sản xuất, kinh doanh của họ. Nhiều năm vừa qua, các ngân hàng thường xuyên phải giãn nợ hoặc gia hạn nợ cho các cá nhân hoặc các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này vì thời tiết có nhiều biến động bất lợi, thiên tai thường xuyên xảy ra. Như vậy có thể thấy được môi trường tự nhiên có ảnh

hưởng như thế nào đối với chất lượng cho vay của ngân hàng. 1.3.2.2. Các nguyên nhân chủ quan

Các nguyên nhân thuộc về DNNVV

14

Khả năng xảy ra rủi ro cho vay xuất phát từ DNNVV là phổ biến nhất bởi doanh nghiệp là người trực tiếp sử dụng vốn vay. Nhân tố này rất đa dạng, nhưng có thể phân

chia thành hai trường hợp chính sau đây:

Khả năng quản lý kinh doanh yếu kém: Khi các DNNVV vay tiền ngân hàng, đa

phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi

mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực. Khả năng quản lý yếu kém thể hiện ở những chiến lược sai lầm, thiếu tầm nhìn và thiếu kiểm soát. Hơn nữa, DNNVV có tỷ lệ vốn tự có thấp, lại lao theo những cơ hội đầy mạo hiểm dẫn đến rủi ro lớn. Do hạn chế kinh nghiệm, năng lực chuyên môn, nên các DNNVV rất khó khăn đối phó với những biến động lớn của

thị trường, làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ ngân hàng. Ngoài ra, quản trị nhân lực

yếu kém, quản trị yếu tố đầu vào, đầu ra không hiệu quả, công tác Marketing không

được chú trọng…cũng là những biểu hiện sự yếu kém trong quản lý mà ngân hàng cần phải xem xét để tránh rủi ro.

Tình hình tài chính DNNVV yếu kém, thiếu minh bạch: Quy mô tài sản, nguồn vốn

nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểm chung của hầu hết các DNNVV. Ngoài

ra, các DNNVV chưa chấp hành nghiêm chỉnh và trung thực những chuẩn mực kế toán.

Do vậy, sổ sách kế toán mà DNNVV cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính

chất hình thức hơn là thực chất, không phản ánh đầy đủ và chính xác tình hình tài chính

của doanh nghiệp. Điều này gây khó khăn cho cán bộ ngân hàng khi phân tích khách

hàng và đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng. Đây cũng là nguyên nhân vì sao các NHTM luôn xem nặng phần tài sản đảm bảo khi quyết định cho vay DNNVV.

Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay: Khi nước ta

gia nhập WTO, với chính sách phát triển kinh tế, các DNNVV được thành lập một

cách dễ dàng. Đồng thời, các cơ quan chức năng cấp phép thành lập DNNVV mà hầu

như không kiểm tra đến việc các DNNVV đó có vốn đúng như đăng ký hay không,

không kiểm tra xem các DNNVV đó hoạt động như thế nào. Chính vì vậy đây là một khẽ hở để một số kẻ lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ngân hàng. Nhiều trường hợp, DNNVV chủ ý cung cấp các báo cáo tài chính sai lệch, làm cho ngân hàng đánh giá sai về năng lực tài chính của họ, thậm chí có khách hàng đủ năng lực tài chính để thực hiện các điều khoản cam kết trong hợp đồng, làm ăn tốt nhưng lại không có thiện chí trả nợ cho ngân hàng, cố tình chây ỳ, không chịu thực hiện nghĩa vụ điều này trực tiếp gây rủi ro đọng vốn hoặc mất vốn. Việc khiến kiện cũng chỉ là giải pháp bị động, bất đắc dĩ, chi phí tốn kém. Hơn nữa, nếu các cơ quan pháp luật điều tra thiếu khách quan, xét xử thiếu công bằng thì ngân hàng phải chịu thiệt hại cả hữu hình lẫn vô hình.

15

Như vậy DNNVV vừa là đối tượng mang lại thu nhập lớn cho ngân hàng, đồng thời đưa lại cho ngân hàng cả những nguy cơ rủi ro. Cho nên, nếu hạn chế được những nguy cơ đó sẽ làm tăng đáng kể lợi nhuận cho ngân hàng.

Nguyên nhân phía ngân hàng Ngoài nhân tố ảnh hưởng từ phía nhân tố DNNVV, rủi ro cho vay cũng chịu ảnh

hưởng bởi nguyên nhân từ phía ngân hàng, bởi ngân hàng là người quyết định có cho vay hay không. Những ảnh hưởng từ nhân tố này được tổng hợp như sau:

Sự yếu kém của đội ngũ cán bộ: Các cán bộ tín dụng (CBTD) non kém về trình độ về năng lực nghiệp vụ, thiếu kinh nghiệm thì sẽ không có khả năng xử ký thông tin

và thẩm định dự án, đánh giá khách hàng thiếu chính xác, xác định kỳ hạn của các

khoản vay chưa phù hợp, không có khả năng theo dõi các khoản cho vay đã cấp, từ đó

dẫn đến chất lượng cho vay thấp, mức độ rủi ro cao. Gắn liền với hạn chế năng lực là

vấn đề về phẩm chất đạo đức của cán bộ. Tư chất đạo đức kém, thiếu tinh thần trách nhiệm làm cho con người dễ bị lôi cuốn bởi những cám dỗ vật chất, có thể hành động

trái đạo lý, trái pháp luật, gây thiệt hại đáng kể cho ngân hàng.

Thiếu sự giám sát và quản lý khi cho vay: Các ngân hàng thường tập trung nhiều

vào việc thẩm định trước khi cho vay mà nới lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng

vốn khi cho vay DNNVV. Khi ngân hàng cho vay thì khoản vay cần quản lý một cách

chủ động để đảm bảo sẽ hoàn trả. Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm quan

trọng nhất của NHTM nhưng dường như hầu hết các NHTM hiện nay đều chưa thực

hiện tốt công tác này. Điều này do một phần yếu tố tâm lý ngại gây phiền hà cho khách

hàng DNNVV của CBTD, một phần do hệ thống thông tin quản lý phục vụ kinh doanh

của ngân hàng quá lạc hậu, không cũng cấp đầy đủ và kịp thời các thông tin mà ngân

hàng yêu cầu.

Chính sách cho vay của ngân hàng: Nếu chính sách tín dụng không phù hợp và khả năng phân tích tín dụng kém sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng và có

thể tạo ra nhiều rủi ro. Ngân hàng quá đề cao mục tiêu lợi nhuận mà đơn giản hóa việc

phân tích đánh giá DNNVV, hoặc do ngân hàng chủ trương đơn giản hóa việc phân tích đánh giá khách hàng DNNVV đến với ngân hàng nhưng trong số các doanh nghiệp đó có những doanh nghiệp không đủ khả năng thanh toán điều này làm tăng rủi ro cho vay ngân hàng. Hay chính sách cho vay của ngân hàng có thay đổi liên tục

nhưng DNNVV vẫn chưa cập nhập kịp thời những thay đổi đó.

1.3.3. Sự cần thiết của việc hạn chế rủi ro cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại 1.3.3.1. Đối với Ngân hàng

Rủi ro cho vay làm giảm thu nhập, tăng chi phí của ngân hàng. Khi có một khoản nợ bị coi là quá hạn, thu nhập của ngân hàng bị giảm sút do không thu được lãi

16

hoặc nợ gốc như cam kết, trong khi vẫn phải trả lãi cho nguồn huy động, cho các chi phí quản lý, giám sát phát sinh. Mặt khác, nếu các khoản nợ quá hạn chuyển thành khó

thu hoặc không thu được, ngân hàng có thể sử dụng quỹ dự phòng, vốn tự có để bù

đắp không những làm giảm lợi nhuận mà việc xử lý tài sản đảm bảo luôn gặp rất nhiều

khó khăn về pháp lý và định giá nên trường hợp ngân hàng có thể thu hồi được nợ khi

phát mại tài sản là rất khó xảy ra. Rủi ro cho vay làm giảm khả năng thanh toán uy tín và năng lực cạnh tranh của

ngân hàng của ngân hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cao không những làm

giảm thu nhập của ngân hàng mà còn làm giảm nguồn vốn, đồng thời làm giảm khả

năng thanh toán của ngân hàng. Khi đó, ngân hàng sẽ phải đi vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao, bởi huy động từ tiền gửi dân cư thường mất rất nhiều thời

gian. Hơn nữa tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cao cũng là một chỉ tiêu quan trọng để

đánh giá không tốt về tình hình hoạt động kinh doanh, hiệu quả quản lý , uy tín của ngân hàng. Điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến tâm lý đối tác của ngân hàng, dẫn đến việc

huy động vốn trở nên khó khăn hơn và gặp nhiều trở ngại trong việc cạnh tranh với các

ngân hàng khác. Nếu tình trạng này kéo dài với việc hàng loạt người gửi tiền rút tiền,

ngân hàng sẽ buộc phải đóng cửa và tuyên bố phá sản. 1.3.3.2. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Cho vay là công cụ tích tụ tập trung vốn hỗ trợ cho các DNNVV tái sản xuất mở

rộng theo chiều rộng và theo chiều sâu. Một khi có rủi ro xảy ra, ngân hàng không thu

hồi được số vốn và lãi như đã dự kiến, mất cơ hội tìm kiếm thiết lập quan hệ tín dụng

với các DNNVV mới có chất lượng cho vay tốt. Do đó các doanh nghiệp đó không có

được nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài một cách kịp thời gây chậm trễ khó khăn trong

việc mở rộng sản xuất. Điều đó cho thấy, rủi ro cho vay kìm hãm sự phát triển của các

DNNVV có tiềm năng. Các DNNVV không có vốn cho mua sắm máy móc thiết bị đổi

mới công nghệ dẫn tới chất lượng sản phẩm không được cải thiện, không có vốn cho

mở rộng các kênh phân phối làm cho sức cạnh tranh của sản phẩm của doanh nghiệp

trên thị trường giảm, sức cạnh tranh của DNNVV vì thế cũng đi xuống. Trong nền kinh tế, các doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau liên hệ mật thiết với nhau, trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến hoạt động của nhau. Chính vì vậy mà rủi ro cho vay tác động tới tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế. 1.3.3.3. Đối với nền kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của ngân hàng liên quan đến rất nhiều thành phần kinh tế từ cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức kinh tế cho tới các

TCTD khác. Vì vậy, kết quả kinh doanh của ngân hàng phản ánh kết quả kinh doanh của nền kinh tế và đương nhiên nó phụ thuộc rất lớn vào tình hình tổ chức sản xuất

kinh doanh của các doanh nghiệp. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng không thể có

17

kết quả tốt khi hoạt động của nền kinh tế chưa tốt hay nói cách khác hoạt động kinh doanh của ngân hàng sẽ có nhiều rủi ro khi hoạt động kinh tế có nhiều rủi ro.

NHTM có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế, nó được coi là mạch máu

của nền kinh tế. Rủi ro cho vay gây hậu quả nghiêm trọng cho hoạt động của ngân

hàng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả các ngành nghề trong nền kinh tế, làm suy yếu

nền kinh tế. Do vậy, khi một ngân hàng bị phá sản, nó sẽ gây ảnh hưởng đến các bộ phận còn lại trong xã hội. Trước tiên là các ngân hàng khác, bởi có quan hệ mật thiết

với nhau trong hoạt động nên một ngân hàng sụp đổ rất có thể dẫn đến sự sụp đổ của

các ngân hàng còn lại. Những hậu quả này còn làm giảm lòng tin của công chúng vào

sự vững chắc và lành mạnh của hệ thống tài chính, cũng như hiệu lực của các chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ. Rủi ro cho vay xảy ra càng nhiều, với quy mô lớn

trong hệ thống ngân hàng của một nước sẽ làm giảm đi uy tín, lòng tin vào hệ thống

ngân hàng đó trên trường quốc tế, gây nên những khó khăn trong việc mua bán, đầu tư, thanh toán quốc tế, làm yếu thế khi giao dịch, mua bán với nước ngoài.

DNNVV có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, do các DNNVV chiếm tới trên

97% các doanh nghiệp trong nền kinh tế, hoạt động trong hầu hết các ngành nghề các

lĩnh vực. Khi rủi ro cho vay ảnh hưởng không tốt tới hoạt động của các DNNVV, việc

sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp bị gián đoạn do thiếu vốn, thu nhập của

doanh nghiệp giảm, thu nhập của người lao động cũng giảm làm giảm sức tiêu thụ của

xã hội. Mặt khác, phản ứng dây chuyền giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế là rất

nguy hiểm dễ dẫn đến tình trạng suy thoái nền kinh tế.

1.3.4. Các tiêu chí đánh giá rủi ro cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại 1.3.4.1. Chỉ tiêu định tính

Mô hình chất lƣợng 6C Trọng tâm của mô hình này là xem xét liệu người vay có thiện chí và khả năng

thanh toán các khoản vay khi đến hạn hay không. Cụ thể gồm 6 yếu tố sau:

Tư các người vay (Character): Cán bộ tín dụng phải làm rõ mục đích xin vay của DNNVV, mục đính vay của doanh nghiệp có phù hợp với chính sách cho vay hiện hành của ngân hàng hay không, đồng thời xem xét về lịch sử đi vay và trả nợ đối với doanh nghiệp cũ, còn doanh nghiệp mới thì cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như: trung tâm phòng ngừa rủi ro, từ ngân hàng khác, hoặc các cơ quan thông tin đại chúng,….

Năng lực của người vay (Capacity): tùy thuộc vào quy định luật pháp của quốc gia,

người vay phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự; mô tả quá trình hoạt động của doanh nghiệp đến thời điểm hiện tại, cơ cấu sở hữu, chủ sở hữu, tính chất

hoạt động, sản phẩm, khách hàng chính, người cung cấp chính của doanh nghiệp.

18

Thu nhập của người vay (Cash): Trước hết, ngân hàng phải kiểm soát chi phí và xác định được nguồn trả nợ của người vay như: luồng tiền từ doanh số thu bán hàng

hay từ thu nhập, tiền từ thanh lý tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán…sau đó

cần phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp vay vốn thông qua các chỉ số tài

chính. Cụ thể, ngân hàng phải phân tích: khả năng thanh toản của tài sản lưu động,

vòng quay nợ phải thu, phải trả và tồn kho, cơ cấu nguồn vốn, tình trạng vay nơ, các tỷ lệ về khả năng trả lãi, khả năng và chất lượng quản lý, những thay đổi gần đây trong

phương pháp hạch toán kế toàn.

Bảo đảm tiền vay (Colleteral): Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng và là

nguồn trả nợ thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng. Ngân hàng cần phải xác định số lượng, loại, giá tri tài sản, tình trạng cầm cố, thế chấp của tài sản; tình trạng

bảo hiểm, tình trạng đã được dùng để bảo lãnh cho người khác của tài sản, vị thế ngân

hàng đối với việc đòi cầm cố/ thế chấp đối với tài sản, nhu cầu vay vốn tương lai.

Kiểm soát (Control): Đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của luật pháp,

quy chế hoạt động đến khả năng doanh nghiệp đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân

hang. Ngân hàng có thể xem xét các vấn đề như: Các luật, các qui định, quy chế hiện

hành liên quan đến khỏan cho vay, hồ sơ giấy tờ phục vụ cho công việc kiểm soát, hồ

sơ giấy tờ cho vay, giải ngân phải có đầy đủ và phải được ký bởi các bên; mức độ phù

hợp của khoản vay đối với qui chế, quy định của ngân hàng; ý kiến của các chuyên gia

kinh tế, kỹ thuật về môi trường của ngành, về sản phẩm, về ác yếu tố khác ảnh hưởng

đến khoản vay.

Các điều kiện khác (Conditions): Ngân hàng quy định các điều kiện tùy thuộc vào

chính sách tín dụng từng thời kỳ. Đó có thể là: địa vị cạnh tranh hiện tại của doanh nghiệp

trong ngành và thị phần dự kiến; kết quả hoạt động của doanh nghiệp so với các đối thủ

cạnh tranh khác trong ngành; tình hình cạnh tranh sản phẩm, mức độ nhạy cảm của khách

hàng đối với chu kỳ kinh doanh và những thay đổi về công nghệ; điều kiện, tình trạng thị

trường lao động trong ngành hay trong khu vực thị trường mà doanh nghiệp đang hoạt

động; ảnh hưởng của lạm phát đối với bảng cân đối kế toàn và với dòng tiền của khách hàng; tương lai của ngành, các yếu tố chính trị, pháp lý, xã hội, công nghệ, môi trường ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, ngành nghề của doanh nghiệp.

Việc chấp hành các bƣớc cụ thể trong quy trình cho vay: Một khoản cho vay có rủi ro thấp trước tiên phải là khoản cho vay mà ngân hàng thực hiện đầy đủ và đúng các bước trong quy trình cho vay. Nó là cơ sở pháp lý đảm bảo cho món vay được an toàn, hiệu quả. Hiện nay, một quy trình cho vay thường gồm năm bước cơ bản: Tiếp

nhận và lập hồ sơ, phân tích tín dụng, quyết định tín dụng, giải ngân và cuối cùng là giám sát và thanh lý tín dụng.

19

Quy mô của hoạt động cho vay: Ngân hàng không nên chỉ quan hệ với các công ty lớn, các doanh nghiệp lớn mà quên đi thị trường tiềm năng là các DNNVV.

Một ngân hàng có rủi ro cho vay thấp là phải có được một đội ngũ khách hàng đông

đảo, đa dạng. Ngân hàng cần mở rộng hơn nữa hoạt động cho vay với các đối tượng

DNNVV trong những lĩnh vực như sản xuất, dịch vụ, xuất nhập khẩu… Tuy nhiên,

việc mở rộng quy mô của hoạt động cho vay còn phải phù hợp với lĩnh vực hoạt động của từng ngân hàng; tỷ lệ dư nợ trên một khách hàng cũng không nên quá cao, vì như

vậy sẽ dẫn đến tốc độ quay vòng vốn của ngân hàng sẽ giảm, rủi ro tiềm ẩn cao.

Sự đa dạng các nguồn cho vay: Một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kinh

doanh của ngân hàng đó là phân tán rủi ro. Như vậy, có thể thấy việc đa dạng hóa các nguồn cho vay là rất quan trọng trong việc hạn chế rủi ro cho ngân hàng. Để thực hiện

được yêu cầu này ngân hàng cần phải đa dạng hoá các đối tượng khách hàng của mình,

như vậy ngân hàng vừa tránh được rủi ro lại vừa góp phần thúc đẩy sự phát triển của một nền kinh tế đa dạng.

Chất lƣợng nguồn nhân sự của ngân hàng: Khi cho vay, nếu cán bộ tín dụng

có tinh thần thái độ, đạo đức nghề nghiệp tốt thì trong quá trình tiếp cận phục vụ khách

hàng sẽ tạo cho khách hàng niềm tin và tạo một hình ảnh tốt trong mỗi khách hàng.

Thêm vào đó, năng lực trình độ chuyên môn, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng cũng có

ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng món vay. Với năng lực trình độ chuyên môn và kinh

nghiệm cao thì khi thẩm định cho vay, cán bộ tín dụng sẽ đưa ra được những kết quả

thẩm định đúng đắn, có hiệu quả, giúp giảm thiểu rủi ro trong cho vay.

Hoạt động thanh tra và kiểm soát nội bộ ngân hàng: Hoạt động cho vay của

ngân hàng rất nhạy cảm và phải đối mặt với rất nhiều rủi ro. Chính vì vậy, công tác

kiểm soát nội bộ ra đời với các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định cụ thể giúp

nhận dạng, đo lường, đánh giá thường xuyên, liên tục để kịp thời phát hiện, ngăn ngừa

các rủi ro sẽ xảy ra trong hoạt động cho vay, qua đó đề xuất những biện pháp quản lý

rủi ro thích hợp, nâng cao chất lượng cho vay của ngân hàng. Hoạt động kiểm soát nội

bộ được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc và hiệu quả sẽ tác động rất lớn đến chất lượng cho vay, hạn chế rủi ro cho vay của ngân hàng.

Có thể nói những chỉ tiêu định tính phán ánh rủi ro cho vay DNNVV tại NHTM là căn cứ để đánh giá rủi ro cho vay DNNVV một cách khái quát. Tuy nhiên, để có được những kết luận chính xác hơn nữa thì phải dựa trên một hệ thống các chỉ tiêu định lượng cụ thể bao gồm các chỉ tiêu liên quan đến hoạt động cho vay đối với DNNVV của ngân hàng. 1.3.4.2. Các chỉ tiêu định lượng

Chỉ tiêu vòng quay vốn cho vay DNNVV

20

Doanh số thu nợ DNNVV Vòng quay vốn cho vay DNNVV = Dư nợ cho vay DNNVV

Chỉ tiêu quay vòng vốn cho vay phản ánh số vòng chu chuyển vốn vay của ngân

hàng đối với DNNVV. Vòng quay vốn co vay DNNVV càng cao chứng tỏ nguồn vốn

vay ngân hàng đã luân chuyển nhanh, hay nói cách khác là đồng vốn ngân hàng cho DNNVV vay đã tham gia nhiều vào chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh

tình hình ngân hàng quản lý vốn vay đối với các DNNVV tốt, chất lượng cho vay cao.

Ngược lại, chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ có những bất ổn có thể xảy ra trong quá

trình thu hồi vốn. Thông qua đó ngân hàng sớm có biện pháp nhắc nhở, đôn đốc khách hàng, để kịp thời hạn chế rủi ro có thể xảy ra. Đây cũng là căn cứ để ngân hàng đưa ra

quyết định có cho vay trong những lần tiếp theo hay không.

Chỉ tiêu nợ quá hạn, nợ xấu đối với cho vay DNNVV

Tỷ lệ nợ quá hạn DNNVV

Nợ quá hạn (NQH) là khoản nợ gốc hay lãi mà doanh nghiệp không trả được khi

đến hạn thỏa thuận ghi trên hợp đồng tín dụng. Đối với ngân hàng, việc khách hàng

không trả đúng hạn ảnh hưởng đến tính thanh khoản cũng như hoạt động kinh doanh của ngân hàng, là lời cảnh báo cho ngân hàng, hy vọng thu lại tiền vay trở nên mong

manh. Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa NQH và tổng dư nợ của NHTM ở một

thời điểm nhất định, thường cuối tháng, cuối quý, cuối năm. Tỷ lệ này cho biết tại thời

điểm xác định cứ 100 đồng ngân hàng cho vay thì có bao nhiêu đồng là nợ quá hạn.

Nợ quá hạn DNNVV

Tỷ lệ nợ quá hạn DNNVV = x 100%

Tổng dư nợ DNNVV

Đây là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng cho vay của ngân hàng, nó phản

ánh những rủi ro cho vay mà ngân hàng phải đối mặt. Đối với ngân hàng, việc

DNNVV không trả đúng hạn có thể ảnh hưởng đến tính thanh khoản cũng như hoạt

động kinh doanh của ngân hàng, là lời cảnh báo cho ngân hàng , hy vọng thu lại tiền

vay trở nên mong manh. Do đó, điều quan trọng là ngân hàng cần duy trì tỷ lệ NQH ở

mức càng thấp càng tốt. Ngân hàng cần có những biện pháp hữu hiệu để giảm thiểu thiệt hại kịp thời như tăng cường công tác đôn đốc doanh nghiệp trả nợ khi đến hạn, tích cực đòi nợ đã quá hạn cũng như giám sát chặt chẽ hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp nhằm giảm thiểu những rủi ro trong cho vay có thể đến. Tỷ lệ nợ xấu DNNVV

Nợ xấu là những khoản nợ mà khả năng thu hồi rất thấp. Đây là những khoản nợ mà ngân hàng không hề mong muốn.Tỷ lệ nợ xấu cho biết, trong 100 đồng tổng dư nợ thì có bao nhiêu đồng là nợ xấu chính vì vậy tỷ lệ nợ xấu là một chỉ tiêu cơ bản đánh

giá chất lượng tín dụng của ngân hàng.

21

Tỷ lệ nợ xấu DNNVV= Nợ xấu DNNVV x 100%

Tổng dư nợ DNNVV

Nợ xấu là những khoản nợ mà khả năng thu hồi rất thấp. Đây là những khoản nợ

mà ngân hàng không hề mong muốn. Tỷ lệ nợ xấu DNNVV trên tổng dư nợ DNNVV

phản ánh tỷ trọng của nợ xấu DNNVV trong tổng dư nợ cho vay DNNVV của ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu càng cao càng phản ánh những rủi ro trong cho vay của ngân hàng

càng lớn. Vì vậy, ngân hàng phải luôn tìm cách giảm tỷ lệ ngày đến mức thấp nhất có

thể bằng những biện pháp khác nhau từ gia hạn nợ đến phát mại tài sản đảm bảo…

Tỷ lệ nợ xấu trên nợ quá hạn Nợ xấu DNNVV

Tỷ lệ nợ xấu trên nợ quá hạn DNNVV =

Nợ quá hạn DNNVV

Tỷ lệ này cho biết 1 đồng nợ quá hạn cho vay DNNVV thì có bao nhiêu đồng

nợ xấu. Tỷ lệ này phản ánh chi tiết nhất tình hình nợ xấu có nguy cơ mang lại rủi ro

cao cho ngân hàng, nó chiếm bao nhiêu trong nợ quá hạn, từ đó ngân hàng có thể đưa

ra các phương án xử lý nợ xấu hợp lý và nhanh chóng.

Trích lập dự phòng rủi roc ho vay đối với DNNVV

Theo điều 2 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN quy định: “Dự phòng rủi ro là

khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng

của TCTD không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết”. Do đó các ngân hàng sử dụng quỹ

dự phòng nhằm bù đắp khoản NQH của DNNVV khi rủi ro xảy ra để không làm ảnh

hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng.

Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro (DPRR) DNNVV cho biết DPRR trong cho vay

DNNVV được trích so với dư nợ cho vay DNNVV. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ chất

lượng cho vay đối với DNNVV chưa tốt, vẫn phải trích lập dự phòng nhiều.

DPRR tín dụng DNNVV

x 100%

Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro DNNVV= Dư nợ DNNVV

Khă năng bù đắp rủi ro cho vay DNNVV Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp cũng như các NHTM phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt, chịu sự chi phối lớn của các quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh… nên phải thường xuyên đối mặt với rủi ro từ mọi phía. Khi giá cả thay đổi, công nghệ lạc hậu, khả năng quản lý và điểu hành kém, khủng hoảng

tài chính… gây phản ứng dây truyền khiến các doanh nghiệp gặp khó khăn, thua lỗ trong kinh doanh, thậm chí vỡ nợ dẫn đến phá sản. Mặt khác, do thông tin tín dụng

không đầy đủ, nếu một bên không nắm vững tình hình tài chính, uy tín khả năng thanh

22

toán của đối phương, không am hiểu, không kiểm tra thông số kỹ thuật và hiệu quả của dự án mà mình tài trợ thì rủi ro cho vay là điểu khó tránh khỏi.

Hệ số khả năng bù đắp DPRR cho vay DNNVV được trích

khoản cho vay DNNVV =

Nợ đã xử lý rủi ro

Sự tồn tại và phát triển của ngân hàng phụ thuộc và khả năng bù đắp rủi ro nói

chung và rủi ro cho vay DNNVV nói riêng.

- Nếu hệ số này >1, tức là số trích lập DPRR lớn hơn số dư nợ cho vay

DNNVV đã xử lý rủi ro.

- Nếu hệ số này <1 cho biết ngân hàng không đủ khả năng bù đắp rủi ro. - Nếu hệ số này =1, ngân hàng đủ khả năng bù đắp rủi ro cho vay DNNVV

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 Chương 1 của khóa luận đã đề cập đến một số lý luận chung về DNNVV, từ khái

niệm, đặc điểm, vai trò, nhu cầu vốn cũng như những khó khăn của DNNVV trong

hoạt động sản xuất kinh doanh khi tiếp cận nguồn vốn ngân hàng. Chương 1 cũng đã

đề cập đến những tiêu chí đánh giá rủi ro cho vay cũng như những nguyên nhân chủ

quan và khách quan gây ra rủi ro cho vay DNNVV, sự cần thiết của việc hạn chế rủi ro

cho vay DNNVV. Từ những lý luận cơ bản về rủi ro trong hoạt động cho vay

DNNVV, chương 2 sẽ tập trung vào việc phân tích thực trạng rủi ro cho vay và việc

hạn chế rủi ro cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam - Chi

nhánh Hoàng Quốc Việt .

23

CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HẠN CHẾ RỦI RO CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ

THƢƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH HOÀNG QUỐC VIỆT 2.1. Khái quát về hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Kỹ Thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt 2.1.1. Quá trình hình thành và phát trển của Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

Kể từ cải cách năm 1986, nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch

hóa tập trung sang cơ chế thị trường. Song song với sự phát triển của nền kinh tế thì hệ

thống ngân hàng ở nước ta đã có những bước tiến rõ rệt, đặc biệt là các NHTM. Số lượng các NHTM tăng lên đáng kể, cho đến nay ở nước ta đã có gần 40 ngân hàng

thương mại cổ phần. Không chỉ tăng lên về số lượng mà quy mô và chất lượng dịch vụ

của các ngân hàng cũng được nâng cao, đáp ứng tốt nhu cầu về vốn và các dịch vụ tài chính cho nền kinh tế. Đón đầu xu thế đó, Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương

Việt Nam (Techcombank) được thành lập vào ngày 27/09/1993 là một trong những

Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) đầu tiên của Việt Nam được thành lập trong

bối cảnh đất nước đang chuyển dần sang nền kinh tế thị trường, với số vốn điều lệ ban

đầu 20 (tỷ đồng). Trong quá trình hình thành và phát triển, Techcombank được biết

đến như một ngân hàng luôn đi đầu về công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt

Nam. Techcombank đã thành lập và phát triển không ngừng trở thành một trong những

Ngân hàng TMCP lớn nhất Việt Nam hiện nay.

Trước xu thế mở rộng phạm vi, tiếp cận đến mọi bộ phận khách hàng, Ngân

hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam đã thành lập Chi nhánh Hoàng Quốc

Việt – Hà Nội theo Quyết định số 126/QĐ/HĐQT- TCCB của Chủ tịch HĐQT Ngân

hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam ngày 15/2/2006. Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt

Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt (Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt) đặt

tại tầng 1 Tòa nhà Thời báo Việt Nam, 98 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội với

tổng tài sản ban đầu là 500 tỷ đồng.

Ban đầu, Chi nhánh là một đơn vị có quy mô nhỏ nhưng qua 6 năm hoạt động Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt đã phát triển thành một Chi nhánh lớn, với mạng lưới 8 phòng giao dịch và 2 quỹ tiết kiệm trực thuộc. Số lượng nhân sự tại Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt hiện lên tới hơn 160 người với chuyên môn và kỹ năng được đào tạo trên tinh thần phục vụ khách hàng chuyên nghiệp, trung thực và thân thiện. Với mục tiêu ngày càng mở rộng về quy mô cũng như chất lượng

nguồn vốn huy động và các khoản tín dụng, không chỉ mở rộng đối tượng khách hàng, Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt còn không ngừng duy trì mối quan hệ,

trợ giúp các khách hàng truyền thống đang giao dịch với khách hàng. Vì vậy,

24

Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt luôn được khách hàng, nhất là những khách hàng doanh nghiệp đánh giá cao cả về chất lượng phục vụ cũng như sự nhiệt

tình, thái độ của nhân viên.

2.1.2. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt đã đào tạo được một đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ chuyên môn cao, có

kiến thức, nghiệp vụ vững vàng, đáp ứng tốt yêu cầu trong tình hình cạnh tranh gay

gắt. Hiện nay, Chi nhánh được tổ chức theo mô hình chuẩn của hệ thống

Techcombank.

25

Sơ đồ 2.1. Tổ chức bộ máy hoạt động của Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

Ban giám đốc Chi nhánh

Phòng Phòng hành Phòng dịch Phòng Phòng tài khách hàng chính tổng vụ khách khách hàng chính - kế doanh hợp hàng cá nhân toán nghiệp

Bộ phận kiểm soát Bộ phận giao dịch Bộ phận kho quỹ Chuyên viên thanh toán Chuyên viên hỗ trợ tín dụng Chuyên viên quan hệ khách hang doanh Chuyên viên quan hệ khách hàng VIP Chuyên viên quan hệ khách hàng cá nhân nghiệp

(Nguồn: Phòng hành chính tổng hợp Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt)

26

2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt giai đoạn 2010-2012 2.1.3.1. Hoạt động huy động vốn

Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, huy động vốn và sử dụng vốn là hai mặt

luôn có sự gắn bó chặt chẽ với nhau, do đó để đánh giá tình hình hoạt động tín dụng

trước hết cần có một cái nhìn khái quát về công tác huy động vốn của Chi nhánh trong thời gian qua. Huy động vốn là hoạt động được Techcombank hết sức chú trọng với

mục tiêu đảm bảo nguồn vốn kinh doanh, an toàn thanh khoản và nâng cao vị thế của

Techcombank trong hệ thống ngân hàng, đồng thời cung cấp đến khách hàng những

sản phẩm, dịch vụ tốt nhất. Để tăng thị phần huy động, trong năm 2012, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam nói chung và Chi nhánh Hoàng Quốc Việt nói riêng đã

triển khai nhiều hoạt động như: phối hợp tổ chức các sự kiện Tuần lễ tri ân khách

hàng, tặng bảo hiểm, coupon, du lịch cho khách hàng sử dụng dịch vụ tại Techcombank, triển khai thành công dịch vụ SMS Banking, nâng cấp hệ thống Core

Banking và rất nhiều hoạt động khuyến mại, tri ân khác. Tình hình huy động vốn của

Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt qua các năm được thể hiện tại bảng dưới

đây:

27

Bảng 2.1. Tình hình huy động vốn của Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt giai đoạn 2010-2012

Đơn vị: Triệu đồng

Chênh Lệch

Tỷ trọng Tỷ trọng Chỉ tiêu Tỷ trọng Năm Năm 2011/2010 2012/2011 Năm 2010 (%) (%) (%) 2011 2012 Tuyệt Tƣơng Tuyệt Tƣơng

đối đối (%) đối đối (%)

I. Theo kỳ hạn 995.671 100 1.039.723 100 1.398.245 100 44.052 4,42 358.522 34,48

1. Không kỳ hạn 705.234 70,83 621.131 59,74 727.087 52,00 (84.103) (11.93) 105.956 17,06

2. Có kỳ hạn 290.437 29,17 418.592 40,26 671.158 48,00 128.155 44,12 252.566 60,34

II. Theo loại tiền 995.671 100 1.039.723 100 1.398.245 100 44.052 44,42 358.522 34,48

1. Nội tệ 846.320 85,00 852.573 82,00 1.120.273 80,12 6.252 0,74 267.700 31,4

2. Ngoại tệ 149.351 15,00 187.150 18,00 277.972 19,88 37.799 25,31 90.822 48,53

III. Theo đối tƣợng 995.671 100 1.039.723 100 1.398.245 100 44.052 44,42 358.522 34,48

1. Tiền gửi các TCKT 211.978 21,29 190.269 18,3 267.765 19,15 (21.709) (10.24) 77.496 40,73

2. Tiền gửi dân cư 659.134 66,20 693.496 66,7 916.269 65,53 34.362 5,21 222.773 32,12

3. Nguồn khác 124.558 12,51 155.958 15,00 214.211 15,32 31.400 25,21 58.253 37,35

(Nguồn: Báo cáo tài chính của Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt)

28

Xét về quy mô Qua bảng trên, ta thấy tình hình huy động vốn của Chi nhánh đã có những bước

phát triển đáng ghi nhận. Năm 2010, do diễn biến bất thường của nền kinh tế thế giới và ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kép, hoạt động của ngân hàng cũng chịu nhiều

ảnh hưởng, tổng vốn huy động của Chi nhánh chỉ đạt 995.671 triệu đồng. Sang năm

2011, con số này đã tăng lên là 1.039.723 triệu đồng, tăng 4,42%, đây chưa phải là một

kết quả cao nhưng cũng đáng khích lệ. Giai đoạn này nền kinh tế chịu sự tăng trưởng

lạm phát quá cao, cả năm 2011 lên tới 18,6% bắt buộc Ngân hàng nhà nước phải thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, chuyển hướng trong năm 2011 sang ưu tiên ổn định vĩ

mô và kiểm soát lạm phát. Đến 2012, chỉ tiêu này có mức tăng trưởng vượt bậc

34,48% so với 2011 đạt mức 1.398.245 triệu đồng và được vinh danh là một trong

những Chi nhánh có tốc độ tăng trưởng vốn huy động cao nhất trong hệ thống của Techcombank trên cả nước. Để làm được điều này Chi nhánh đã có những chính sách

cạnh tranh hiệu quả trong việc thu hút vốn từ các tổ chức và cá nhân, Chi nhánh đã áp

dụng các cơ chế ưu đãi về lãi suất nhằm đảm bảo tối ưu hóa lợi ích cho khách hàng gửi

tiền, đồng thời duy trì các chính sách chăm sóc khách hàng cũng như chú trọng công

tác quảng cáo, truyền thông và khuyến mại. Phòng khách hàng doanh nghiệp, phòng

khách hàng cá nhân đã tích cực hoạt động nhằm tìm kiếm và xây dựng các mối quan

hệ, tạo dựng uy tín với khách hàng. Đồng thời việc mở rộng mạng lưới các phòng giao dịch trên địa bàn thủ đô cũng góp phần to lớn trong việc thu hút khách hàng đến với

Techcombank.

Xét về cơ cấu Cơ cấu theo kỳ hạn

Qua bảng số liệu ta thấy nguồn tiền gửi không kỳ hạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn

những đã có sự biến động đáng kể từ năm 2010 đến 2012. Năm 2010 số tiền gửi không

kỳ hạn là 705.234 triệu đồng tương ứng với tỷ trọng 70,83%; năm 2011 con số này là

621.131 triệu đồng tương ứng với tỷ trọng 59,74% giảm 84.103 triệu đồng tức 11.93%

so với năm 2010. Sang đến năm 2012, tiền gửi không kỳ hạn đạt 727.087 triệu đồng;

tăng 17,06% so với năm 2011 nhưng xét về tỷ trọng thì chỉ đạt 52% giảm so với tỷ trọng năm 2011. Việc tiền gửi không kỳ hạn luôn chiếm tỷ trọng cao trong 3 năm qua là do Chi nhánh đã tích cực trong việc tìm kiếm các khách hàng mới, đặc biệt là các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có nhu cầu gửi tiền vào ngân hàng nhằm mục đích giao dịch thanh toán chi trả các hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ. Ngân hàng rất tích cực trong việc tiếp cận các doanh nghiệp liên kết với ngân hàng để trả lương cho nhân viên qua tài khoản ATM, tiếp thị đến nhiều khách hàng cá nhân mở thẻ thanh toán với chi phí ưu đãi và dịch vụ nhanh chóng. Nguồn vốn không kỳ hạn xét về mặt tài chính

29

có nhiều lợi thế do lãi suất huy động thấp tuy nhiên tính ổn định của loại nguồn này

không cao, tăng giảm thất thường phụ thuộc vào sử dụng vốn của người gửi.

Có thể dễ dàng nhận thấy cơ cấu đang có sự chuyển dịch từ nguồn không kỳ hạn sang nguồn có kỳ hạn. Năm 2010 tiền gửi có kỳ hạn là 290.437 triệu đồng chiếm tỷ

trọng 29,17%, sang đến năm 2011 con số này đã tăng lên đạt 418.592 triệu đồng với tỷ

trọng 40,26%; tăng trưởng 44,12%. Nguyên nhân của việc tăng cao này là năm 2010

cùng với cơn sốt vàng, cơn sốt đất khiến việc khách hàng không mặn mà lắm với việc

gửi tiền vào ngân hàng. Nhưng sang đến năm 2011, với cuộc chạy đua lãi suất huy động giữa các NHTM đẩy lãi suất huy động có thời điểm lên đến 17%, vượt quy định

về trần lãi suất của NHNN (14%), điều này đã làm gia tăng tiền gửi có kỳ hạn. Năm

2012, tiền gửi có kỳ hạn tiếp tục tăng 252.566 triệu đồng, tăng 60,34% so với năm

2011 và đạt 671.158 triệu đồng. Để có được điều này là do ngân hàng đã xây dựng được uy tín ngày càng tốt đối với khách hàng. Trong giai đoạn này, cùng với các

chương trình khuyến mại liên tục giúp duy trì ổn định thanh khoản toàn hệ thống, Chi

nhánh cũng xây dựng được một chính sách dịch vụ khách hàng VIP và khách hàng

thân thiết nhằm tăng cường độ trung thành của khách hàng với ngân hàng. Tuy nhiên,

do định hướng hoạt động tín dụng của Chi nhánh là tập trung cho vay ngắn hạn. Do đó

nếu duy trì một tỉ trọng cao của nguồn vốn huy động trung, dài hạn sẽ làm tăng chi phí

trả lãi của ngân hàng cho loại tiền gửi này mà chưa chắc đã tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng vì còn phụ thuộc vào việc có giải ngân được không. Song việc duy trì một tỉ lệ

nhất định nguồn vốn trung dài hạn là cần thiết, vì nếu tỉ lệ này quá thấp sẽ dẫn tới trình

trạng thiếu cân đối trong cơ cấu huy động – cho vay. Bởi nếu có rủi ro xảy ra, tức là

nguồn vốn huy động trung, dài hạn không đủ đáp ứng nhu cầu cho vay trung dài hạn

thì Chi nhánh phải sử dụng đến nguồn vốn ngắn hạn có chi phí cao để bù đắp. Vì vậy,

Chi nhánh cần có biện pháp để điều chỉnh tỷ lệ nguồn vốn huy động theo kì hạn sao

cho hợp lý.

Theo loại tiền

Trong cơ cấu nguồn vốn huy động theo loại tiền của Chi nhánh, nguồn vốn nội tệ

luôn chiếm một tỉ trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn của Chi nhánh cụ thể: năm 2010 85%; 82% năm 2011 và 80,12% năm 2012 và tăng trưởng liên tục trong 3 năm 2010 – 2012. Việc nguồn vốn nội tệ chiếm tỷ trọng cao là hiển nhiên vì khách hàng của Chi nhánh hầu hết là khách hàng trong nước. Năm 2011 nguồn vốn từ nội tệ là 852.273 triệu đồng, tăng trưởng 0,74 % ứng với 6.252 triệu đồng so với năm 2010 (846.320 triệu đồng). Sang năm 2012 là 1.120.273 triệu đồng tăng 267.700 triệu đồng tương ứng với 31.4% so với năm 2011. Tuy có sự tăng trưởng về quy mô nhưng nhận thấy đã có sự chuyển dịch cơ cấu từ nội tệ sang ngoại tệ. Tỷ trọng nội tệ liên tục giảm trong 3 năm trong khi đó đồng ngoại tệ lại tăng cả về quy mô và cơ cấu; năm 2010 Chi nhánh

30

huy động được 149.351 triệu đồng chiếm 15% tổng nguồn, năm 2011 là 187.150 triệu

đồng chiếm 18% tổng nguồn tăng 37.799 triệu đồng tương ứng 25,31% so với năm

2010. Năm 2012 đã có sự tăng trưởng vượt bậc khi mà Chi nhánh huy động được 277.972 triệu đồng ngoại tệ tăng 48,53% so với năm 2011. Nguyên nhân là năm 2011

lạm phát cao, nội tệ mất giá dẫn đến việc giảm gửi tiền bằng nội tệ thay vào đó chuyển

sang các loại ngoại tệ có giá trị cao, ổn định hơn. Hơn nữa, Chi nhánh đã tích cực thu

hút nguồn vốn ngoại tệ bằng việc đưa ra những mức lãi suất hấp dẫn (phổ biến ở mức

4-5%/năm đối với USD). Năm 2012, cùng với thị trường bất động sản đóng băng, kênh đầu tư vàng không còn hấp dẫn, tâm lý lo lắng nội tệ mất giá, trong khi nhu cầu

về ngoại tệ của các doanh nghiệp XNK lại càng tăng lên, tỷ trọng vốn ngoại tệ của Chi

nhánh đã đạt cao nhất trong 3 năm là 19,88%. Tỷ lệ tăng của nguồn ngoại tệ qua các

năm đã cho thấy Chi nhánh có khả năng đáp ứng nhu cầu về ngoại tệ cho các tổ chức trong thời kỳ hội nhập ngày càng nâng cao.

Tuy nhiên sự chuyển dịch tỉ trọng huy động giữa nội tệ và ngoại tệ là không

nhiều. Ngân hàng cần tiếp tục phát triển một cơ cấu vốn ổn định trong thời gian sắp tới

để có thể tiếp cận nguồn vốn ngoại tệ đặc biệt nguồn ngoại tệ từ kiều hối chuyển về

dân cư để đáp ứng nhu cầu kinh doanh ngoại tê, tài trợ xuất – nhập khẩu và cho vay

ngoại tệ của Chi nhánh tăng trong tương lại.

Theo đối tượng Nguồn vốn huy động của Chi nhánh chủ yếu từ tiền gửi của dân cư chiếm tỷ

trọng cao trong tổng nguồn vốn huy động đều trên 60%, nguyên nhân là do địa bàn

hoạt động của Chi nhánh nằm trong khu vực dân cư đông đúc, Chi nhánh cũng rất nỗ

lực trong công tác tiếp thị thu hút người dân đến gửi tiền. Năm 2011 vốn huy động từ

dân cư đạt 693.496 triệu đồng chiếm 66,2% tổng nguồn vốn và tăng 5,21% so với năm

2010 nguồn vốn này đạt 659.124 triệu đồng chiếm 66,7%. Tuy nhiên sang năm 2012,

tỷ trọng huy động vốn từ dân cư là 65.53% có sự giảm nhẹ so với năm 2011 nhưng về

số tuyệt đối thì năm 2012 huy động nguồn dân cư đạt 916,269 triệu đồng, tăng 32,12%

so với năm 2011. Do tình hình kinh tế khó khăn, người dân có xu hướng tiêu dùng ít

hơn, tiết kiệm nhiều hơn khiến dòng tiền đổ vào ngân hàng tăng lên. Đến năm 2012, khi thị trường bất động sản gần như đóng băng, thị trường vàng không còn “sốt” nữa, các kênh đầu tư đều không còn có lợi nhuận cao khi mà rủi ro lớn, người dân đã lựa chọn kênh đầu tư an toàn hơn chính là ngân hàng. Sự gia tăng này đã thể hiện sự tin tưởng của dân cư vào Chi nhánh, đồng thời cho thấy Chi nhánh đã làm tốt các hoạt động quảng bá thương hiệu, nâng cao uy tín chất lượng trên thị trường.

Việc huy động vốn từ các TCKT chiếm tỷ trọng nhỏ hơn so với huy động vốn từ dân cư. Tỷ trọng năm 2011 là 18,3 % giảm so với năm 2010 (21,29%) nhưng sang năm 2012 tỷ trọng lại tăng đạt 19,15%. Xét về số tuyệt đối tiền gửi từ các TCKT năm

31

2011 đạt 190.269 triệu đồng, giảm 21.709 triệu đồng tức giảm 10.24% so với năm

2010. Năm 2010 tỷ trọng vốn từ các TCKT cao nhất trong 3 năm là do nền kinh tế

Việt Nam có dấu hiệu phục hồi, việc làm ăn của các TCKT tương đối thuận lợi, Chi nhánh đã cố gắng trong việc tiếp cận nguồn vốn nhàn rỗi của các TCKT bằng các hình

thức huy động tiền gửi như: Tiết kiệm dự thưởng, trả lãi trước…Năm 2011, nền kinh

tế có nhiều sự bất ổn, các doanh nghiệp đều gặp khó khăn về vốn, các TCKT rơi vào

tình trạng sản xuất trì trệ, lợi nhuận giảm, nên cũng không có nguồn vốn dư thừa gửi

vào ngân hàng. Đến năm 2012, khi tình hình kinh tế khó khăn, bất ổn tạm thời được giữ ổn định bởi có sự can thiệp của Chính phủ trên thị trường nhằm vực khu vực đầu

tư cơ bản, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh ổn định trở lại,

nguồn huy động từ các TCKT đã tăng 40,73% so với năm 2011 và đạt 267.765 triệu

đồng. Vốn huy động từ nguồn khác chiếm tỷ trọng rất nhỏ, đều tăng nhẹ cả quy mô và tỷ trọng trong 3 năm 2010-2012.

Tóm lại, tình hình huy động vốn của Chi nhánh qua các năm đều tăng trưởng ổn

định. Năm 2011, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, tình hình huy động vốn

tuy gặp chút khó khăn nhưng vẫn giữ được mức tăng trưởng dương. Sang năm 2012,

cùng với những dấu hiệu tích cực của nền kinh tế, Chi nhánh đã có những bước tăng

trưởng đáng kể, lấy lại mức gần với trước khủng hoảng. Điều này thể hiện ở cả quy mô

và cơ cấu của nguồn vốn huy động, đáp ứng yêu cầu thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngân hàng. Tuy nhiên Chi nhánh mới chỉ dừng lại ở khách hàng truyền

thống còn việc phát triển thêm nguồn khác chưa cao, chưa hiệu quả, chưa khai thác

được nguồn vốn từ các TCKT. Điều này đòi hỏi Chi nhánh cần nỗ lực hơn nữa để đưa

ra nhiều biện pháp hiệu quả để đáp ứng được nhu vầu vốn, duy trì cơ cấu vốn tăng

trưởng và ổn định. 2.1.3.2. Hoạt động sử dụng vốn

Trên cơ sở, nguồn vốn huy động tương đối ổn định và tăng trưởng trong 3 năm

2010-2012, Chi nhánh cũng đã tích cực mở rộng hoạt động tín dụng. Chi nhánh luôn

coi trọng nghiệp vụ cho vay, đặt công tác cho vay lên làm mặt trận hàng đầu do đó

hoạt động sử dụng vốn của Chi nhánh trong 3 năm 2010-2012 đã đạt được những kết quả khả quan với việc tăng trưởng dư nợ vững vàng. Cụ thể tình hình sử dụng vốn (chủ yếu là hoạt động cho vay) của Chi nhánh đã đạt được kết quả như sau:

32

Bảng 2.2. Kết quả hoạt động cho vay Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt giai đoạn 2010-2012

Đơn vị: Triệu đồng

Chênh lệch Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 2011/2010 2012/2011

Chỉ tiêu Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ Tỷ Tỷ Tuyệt Tƣơng Tuyệt Tƣơng trọng trọng trọng đối đối (%) đối đối (%) (%) (%) (%)

Tổng dƣ nợ cho vay 267.219 100 304.549 100 371.489 100 37.330 13,97 66.940 21,98

I. Phân loại theo thời hạn

1. Ngắn hạn 186.679 69,86 216.604 71,12 289.873 78,03 29.925 16,03 73.269 33,83

2. Trung và dài hạn 80.540 30,14 87.945 28,88 81.616 21,97 7.405 9,2 (6.329) (7,2)

II. Phân loại theo thành phần kinh tế

1. Các TCKT 179.304 67,10 207.796 68,23 285.824 76,94 28.492 15,89 78.028 37,55

2. Dân cư 41.820 15,65 53.409 17,54 53.643 14,44 11.589 27,71 234 0,44

3. TCTD 46.095 17,25 43.344 14,23 32.022 8,62 (2.751) (5,97) (11.322) (26.12)

III. Phân loại theo đơn vị tiền tệ

1. Nội tệ 224.464 84,00 262.286 86,12 319.963 86,13 37.822 16,85 57.677 21,99

2. Ngoại tệ 42.755 16,00 42.263 13,88 51.526 13,87 (492) (1,15) 9.263 21,92

(Nguồn: Báo cáo tài chính của Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt)

33

Từ bảng trên cho thấy tổng dư nợ cho vay của Chi nhánh tăng đều qua các năm.

Năm 2010 hoạt động cho vay của toàn ngân hàng đã đạt được những kết quả khả quan

nhất định, trong đó Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt đã đóng góp quan trọng vào việc tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận. Việc tăng trưởng dư nợ cho vay của

Chi nhánh đều dựa trên cơ sơ áp dụng và tuân thủ đầy đủ các thông lệ, chuẩn mực quốc

tế và các quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam về an toàn tín dụng. Tổng dư nợ

của Chi nhánh năm 2010 đạt 267.219 triệu đồng, năm 2011 là 304.549 triệu đồng, tăng

37.330 triệu đồng tức tăng trưởng 13,97 % so với năm 2010. Tính đến ngày 31/12/2012 đạt 371.489 triệu đồng tăng 21,98% so với năm 2011 và 39,02% so với 2010. Nhìn vào

bảng số liệu trên ta thấy, tốc độ tăng tổng dư nợ tín dụng của Chi nhánh qua những năm

gần đây khá cao và ổn định. Nếu như năm 2010, do ảnh hưởng trực tiếp của khủng

hoảng kinh tế và những khó khăn chung của toàn ngân hàng, tổng dư nợ chỉ đạt 267.219 triệu đồng. Những tháng đầu năm 2010, tốc độ tăng dư nợ tín dụng chậm chỉ đạt khoảng

0.26%/ tháng do chính sách thắt chặt tín dụng, hạn chế cho vay của ngân hàng và Chi

nhánh. Tuy nhiên, bước sang quý II và III, tốc độ tăng dư nợ tín dụng khá cao, trung

bình khoảng 1,2%/ tháng do Chi nhánh đã tăng cường tìm kiếm khách hàng, mở rộng

cho vay, đón đầu sự phục hồi mạnh mẽ của kinh tế trong. Nỗ lực đó đã được chứng

minh bằng việc tốc độ tăng của tổng dư nợ đạt xấp xỉ 13,97% so với năm 2010 trong

năm 2011 và tăng trưởng rõ nét trong 2012 với mức hơn 21,98% so với 2011. Đó là một thành công không nhỏ trong việc mở rộng cho vay của Chi nhánh trong giai đoạn nền

kinh tế khó khăn đầy biến động như năm 2011. Tuy nhiên, Chi nhánh vẫn cần chú trọng

quản lý chặt chẽ dư nợ cho vay để rủi ro cho vay ở mức cho phép.

Cơ cấu dƣ nợ theo kỳ hạn Qua các năm 2010-2012 cho thấy cho vay ngắn hạn vẫn chiếm ưu thế và đang có

xu hướng tăng về tỷ trọng và quy mô trong tổng dư nợ. Cho vay ngắn hạn chiếm

69,86% năm 2010, 71,12% năm 2011 và 78,03% năm 2012. Dư nợ cho vay ngắn hạn

chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ cho vay của Chi nhánh có ưu điểm giúp Chi

nhánh đẩy nhanh vòng quay vốn tín dụng, hạn chế bớt rủi ro trong cho vay. Năm 2011

cho vay ngắn hạn là 216.604 triệu đồng, tăng 29.925 triệu đồng ứng với tỷ lệ tăng 16,03% so với năm 2010. Năm 2012 cho vay ngắn hạn tăng 73.269 triệu đồng ứng với tỷ lệ tăng 33,83% so với năm 2011 và đạt 289.873 triệu đồng. Nguyên nhân là do Chi nhánh đã nới lỏng các điều kiện cho vay để đáp ứng nhu vầu về vốn của khách hàng khi doanh nghiệp cần vốn lưu động tài trợ cho các dự án ngắn hạn, mua sắm nguyên vật liệu sản xuất cũng như nhu cầu chi tiêu, mua sắm của cá nhân, hộ gia đình. Hơn nữa, do NHNN thay đổi trần lãi suất huy động khá thường xuyên nên khách hàng vay vốn trung và dài hạn đã chủ động chuyển sang vay ngắn hạn để hạn chế rủi ro trả nợ do lãi suất biến động. Vì vậy, cho vay trung và dài hạn của Chi nhánh có tỷ trọng giảm

34

dần và có những biến động tăng giảm số tuyệt đối không ổn định trong 3 năm. Năm

2010 dư nợ cho vay trung và dài hạn đạt 80.540 triệu đồng, chiếm 30,14% tổng dư nợ,

năm 2011 tăng nhẹ 9,2% so với năm 2010, chiếm tỷ trọng 28,88%. Năm 2012 tỷ trọng cho vay trung và dài hạn giảm còn 21,97% tổng dư nợ và đạt 81.616 triệu đồng, giảm

6.329 triệu đồng so với năm 2011. Do tính chất rủi ro của khoản vay này cùng với điều

kiện cho vay ngặt nghèo, tình hình kinh tế khó khăn, các dự án trung, dài hạn rơi vào

tình trạng nợ quá hạn, hàng loạt các doanh nghiệp phá sản giải thể nên các khách hàng

rất khó có thể đáp ứng được điều kiện để vay vốn.

Cơ cấu dƣ nợ theo thành phần kinh tế Từ số liệu có thể thấy cho vay đối với các TCKT luôn chiếm tỷ trọng cao hơn

hẳn so với các khu vực khác vì những năm gần đây khu vực kinh tế này có sự phát

triển mạnh mẽ về số lượng cũng như quy mô. Bên cạnh đó, khu vực này còn rất nămg động, giàu tiềm năng phát triển song hiện đang thiếu vốn. Tỷ trọng cho vay các TCKT

tăng qua các năm cụ thể: là 67,10% năm 2010, 68,23% năm 2011, 76,94% năm 2012.

Điều này khẳng định khách hàng mục tiêu của Chi nhánh trong 3 năm qua vẫn là các

DNNVV, các công ty lớn, doanh nghiệp nhà nước. Trước ảnh hưởng chung của môi

trường kinh tế thế giới năm 2011, 2012 cũng như nhiều biến động về các thị trường tài

chính, thị trường vàng, bất động sản dẫn đến hoạt động của các doanh nghiệp, các tổ

chức kinh tế kém hiệu quả, nhu cầu về vốn không còn được cao như trước nhưng với nỗ lực thu hút khách hàng bằng ưu đãi về lãi suất, thủ tục Chi nhánh vẫn đạt được

những thành công đáng kể. Cụ thể: cho vay TCKT năm 2011 đạt 207.796 triệu đồng,

tăng 15,89% so với năm 2010, năm 2012 tăng 78.028 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ

tăng trưởng 37,55% so với năm 2011. Đây là thành quả của sự cố gắng rất đáng khen

ngợi của Chi nhánh trong công tác thu hút các đối tượng vay cũng như tạo được uy tín

tốt đẹp với những đối tượng này.

Cho vay đối với khu vực dân cư và TCTD chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nhiều trong cơ

cấu cho vay của Chi nhánh và có sự biến đổi tăng, giảm nhẹ trong 3 năm. Cho vay dân

cư có xu hướng tăng về quy mô; năm 2010 đạt 41.820 triệu đồng, năm 2011 tăng 27,

72% so với năm 2010. Nguyên nhân là do năm 2011, thị trường nhà đất “sôi sục” giá cả tăng liên tục, nhiều người muốn tham gia đầu tư, buôn bán, môi giới nhà đất nhằm ăn chênh lệch giá, do đó nhu cầu vay vốn ngân hàng của các cá nhân tăng cao. Nhưng đến năm 2012, thị trường nhà đất cũng như bất động sản bị đóng băng, nhu cầu vay vốn của các cá nhân theo đó cũng giảm đi, tuy nhiên nhu cầu thật về vay vốn để phục mua nhà, mua đất của dân cư vẫn có nên năm 2012 cho vay dân cư đạt 53.643 triệu đồng, tăng nhẹ 0,44% so với năm 2011. Cho vay các TCTD có xu hướng giảm đều; năm 2011 đạt 43.344 triệu đồng giảm 2.751 triệu đồng tương ứng mức giảm 5,97% so với năm 2010, năm 2012 chỉ tiêu cho vay này tiếp tục giảm 11.322 triệu đồng tương

35

ứng tỷ lệ giảm 26,12% so với năm 2011. Với tình hình khó khăn của các doanh

nghiệp, việc chú trọng đến cho vay khu vực dân cư và đạt được mức tăng trưởng nhẹ

cũng đã chứng tỏ Chi nhánh đã có những bước đi đúng đắn, tạo được uy tín với khách hàng cá nhân. Cho vay các TCTD có xu hướng giảm đều; năm 2011 đạt 43.344 triệu

đồng giảm 2.751 triệu đồng tương ứng mức giảm 5,97% so với năm 2010, năm 2012

chỉ tiêu cho vay này tiếp tục giảm 11.322 triệu đồng tương ứng tỷ lệ giảm 26,12% so

với năm 2011.

Cơ cấu dƣ nợ theo loại tiền tệ Khách hàng có quan hệ với Chi nhánh chủ yếu là các doanh nghiệp hoạt động

trong nước do đó ngân hàng chủ yếu cho vay bằng đồng nội tệ. Dư nợ cho vay nội tệ

luôn chiếm tỷ trọng lớn (trên 80%) và tăng dần qua các năm: năm 2011 tăng 26,85%

so với năm 2010, năm 2012 tăng 21,99% so với năm 2011. Tỷ lệ và tốc độ tăng này cũng tương đương với mức tăng của nguồn vốn huy động bằng nội tệ chứng tỏ Chi

nhánh đã sử dụng nguồn vốn của mình một cách hợp lý và hiệu quả. Hoạt động ngoại

tệ của Chi nhánh chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng dư nợ cho vay. Năm 2011 cho vay

ngoại tệ giảm 492 triệu đồng tương ứng giảm 1,15% so với năm 2010; sau đó đã tăng

lên đạt 51.526 triệu đồng, tăng 21,92% so với năm 2012. Năm 2011 tình hình kinh tế

trong và ngoài nước đầy bất ổn, vì vậy Chi nhánh đã thận trọng hơn trong việc cho vay

ngoại tệ cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Tuy nhiên, sang năm 2012 Chi nhánh đã có tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, công ty liên doanh nước ngoài,

công ty có vốn đầu tư nước ngoài… vay vốn, mở tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ để

phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời căn cứ vào khả năng khai thác

nguồn vốn ngoại tệ của mình để giúp các doanh nghiệp nhập khẩu có nguồn ngoại tệ

để thanh toán.

Tóm lại, hoạt động cho vay của Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

những năm gần đây đều tăng trưởng ổn định. Mức tăng 21,98% của tổng dư nợ và mức

tăng 63,78% của tổng vốn huy động năm 2012 được xem là khá hợp lý, đảm bảo cho

hoạt động của Chi nhánh hiệu quả và hạn chế rủi ro cho vay. Các hoạt động kinh

doanh khác như: hoạt động bảo lãnh, hoạt động kinh doanh vàng và ngoại tệ, hoạt động thanh toán chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong hoạt động kinh doanh của Chi nhánh và không có nhiều biến động đáng kể trong giai đoạn 2010-2012. 2.1.3.3. Kết quả kinh doanh

Bất cứ một hoạt động kinh doanh nào đều hướng tới mục tiêu lợi nhuận cao và tăng trưởng lợi nhuận tốt. Trong hoàn cảnh nền kinh tế thế giới vẫn còn suy thoái, nền

kinh tế trong nước biến động phức tạp, mức độ cạnh tranh trong kinh doanh ngân hàng ngày càng gay gắt, khốc liệt, để đạt được kết quả kinh doanh khả quan thì ngân hàng

phải quan tâm tới doanh thu và chi phí, hai yếu tố cấu thành nên lợi nhuận. Việc quản 36

lý chặt chẽ, giảm thiểu chi phí có ý nghĩa quyết định không kém việc tăng nguồn thu.

Vì vậy, việc đảm bảo cân đối và hiệu quả giữa hai hoạt động huy động vốn và sử dụng

vốn là hết sức quan trọng. Tình hình doanh thu và chi phí của Chi nhánh được thể hiện cụ thể qua bảng sau:

Bảng 2.3. Kết quả kinh doanh của Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt qua các năm 2010-2012

Đơn vị: Triệu đồng

Chênh lệch

2010/ 2011 2011/ 2012 Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Tuyệt Tƣơng Tuyệt Tƣơng

đối đối (%) đối đối (%)

45.445 60.425 87.267 14.980 32,96 26.842 44,42 Tổng doanh thu

25.219 28.127 40.126 2.908 11,53 11.999 42,66 Tổng chi phí

20.126 32.298 47.141 12.172 60,48 14.843 45,96 Lợi nhuận trƣớc thuế

14.212 23.908 38.735 9.696 68,23 14.827 62,02 Lợi nhuận sau thuế

(Nguồn: Báo cáo tài chính của Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt)

Qua bảng số liệu đã cho thấy doanh thu của Chi nhánh tăng trưởng đều và tốt qua

các năm: năm 2010 doanh thu đạt 45.445 triệu đồng, năm 2011 đạt 60.425 triệu đồng

tăng 14.980 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 32,96% so với năm 2010; đến năm

2012 doanh thu đã đạt 87.267 triệu đồng, tăng 44,42% so với năm 2011. Mức tăng lên

của doanh thu qua các năm đã phán ánh chính sách sử dụng vốn, thu nợ khá hiệu quả

của Chi nhánh trong giai đoạn khó khăn của nền kinh tế. Để thấy được Chi nhánh đã

làm ăn thực sự có hiệu quả thì xét về tổng chi phí: năm 2010 tổng chi phí của Chi

nhánh là 25.219 triệu đồng, năm 2011, tổng chi phí là 28.127 triệu đồng tăng 11,53%

so với năm 2010, đến năm 2012 tổng chi phí đã tăng mạnh 42,66% so với năm 2011.

Tổng chi của ngân hàng ở mức thấp trong năm 2010 là do các hoạt động của Chi

nhánh đều bị thu hẹp, ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế. Năm 2011 và 2012, mặc dù kinh tế còn nhiều khó khăn nhưng Chi nhánh vẫn mở rộng mạng lưới hoạt động của

mình, tìm kiếm các khách hàng chất lượng tốt hơn, phát triển sản phẩm mới do vậy các khoản chi phí trong quá trình kinh doanh cũng tăng lên.

Tuy tốc độ tăng của tổng chi phí nhỏ hơn tốc độ tăng của tổng doanh thu nhưng việc tăng lên quá nhanh của tổng chi phí trong năm 2012 cho thấy Chi nhánh đã chưa thực hiện tốt công tác quản lý chi phí do chi phí vốn và lãi suất tiền gửi huy động quá cao. Vì vậy tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế trong năm 2012 thấp hơn so với năm 2011; năm 2011 lợi nhuận sau thuế là 23.908 triệu đồng tăng 68,23% so với năm 2010, năm 2012 tăng 62,02% so với năm 2011. Song việc lợi nhuận năm sau cao hơn năm

37

trước đã cho thấy nỗ lực của Chi nhánh trong việc đảm bảo hoạt động kinh doanh có

lãi, khích lệ Chi nhánh tiếp tục phát huy năng lực, nâng cao uy tín của mình cũng như

toàn hệ thống Techcombank.

Nhìn chung hoạt động kinh doanh của Chi nhánh trong những năm qua đã

mang lại lợi nhuận cao, đảm bảo đời sống cho cán bộ nhân viên và làm tròn nghĩa vụ

đối với Nhà nước. Hoạt động chính đem lại lợi nhuận cho Chi nhánh là hoạt động cho

vay. Điều này cho thấy hoạt động cho vay của Chi nhánh không những đã góp phần

vào phát triển kinh tế xã hội địa phương mà còn tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Vì vậy, Chi nhánh cần nỗ lực hơn nữa, có những biện pháp cụ thể để khắc phục rủi ro cho

vay trong thời gian tới.

2.2. Thực trạng hạn chế rủi ro cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Kỹ thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt 2.2.1. Một số quy định chung về hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc

Việt

Cũng giống với các NHTM khác, Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương

Việt Nam nói chung và Ngân hàng Ngân hàng thương mại cổ phần - Chi nhánh Hoàng

Quốc Việt nói riêng đều tuân thủ các quy định chung về quy chế cho vay của NHNN,

bao gồm Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ban hành ngày 31/12/2001, Quyết định sửa đổi bổ sung số 127/2005/QĐ-NHNN ban hành ngày 03/02/2005 của NHNN và

Luật các Tổ chức tín dụng 2010. Các quyết định này quy định cụ thể về đối tượng cho

vay, các điều kiện cho vay, hình thức vay và những quy định chung về lãi suất, đảm

bảo tiền vay. Cụ thể như sau:

Đối tƣợng và điều kiện cho vay Đối tượng cho vay của Chi nhánh là các: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp

tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có đủ điều kiện quy định tại Bộ luật

Dân sự. Tất cả các khách hàng là doanh nghiệp đều được Chi nhánh xem xét về nhu

cầu vay vốn đối với các lĩnh vực không bị pháp luật cấm. Theo Quyết định số 1627

của NHNN đã chỉ rõ các điều kiện cần có của một khách hàng khi vay vốn tại ngân hàng. - Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật

hiện hành.

- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết - Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp - Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả. Trường hợp khách hàng đề nghị cấp tín dụng để thực hiện các dự án đầu tư, phương án SXKD, dịch vụ ở nước ngoài phải thực hiện đúng theo quy định của pháp luật

38

hiện hành và có phê duyệt của Tổng Giám đốc. Khách hàng phải mở tài khoản tại

Chi nhánh để hạch toán số tiền giải ngân, thu nợ gốc, nợ lãi theo đúng hợp đồng tín

dụng đã kí kết.

- Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng

dẫn của NHNN Việt Nam.

Các hình thức cho vay hiện nay đang đƣợc áp dụng tại Chi nhánh

- Cho vay từng lần - Cho vay theo hạn mức tín dụng - Cho vay theo dự án đầu tư - Cho vay theo hạn mức thấu chi

Thời gian cho vay DNNVV Chi nhánh xem xét quyết định cho khách hàng vay theo các thể loại ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời

sống và các dự án đầu tư phát triển.

Chi nhánh và doanh nghiệp căn cứ vào chu kỳ sản xuất, kinh doanh, thời hạn thu

hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của doanh nghiệp và nguồn vốn cho vay của

Chi nhánh để thỏa thuận về thời hạn cho vay. Đối với các pháp nhân Việt Nam và nước

ngoài, thời hạn cho vay không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập

hoặc giấy phép hoạt động tại Việt Nam; đối với cá nhân nước ngoài, thời hạn cho vay không được phép vượt quá thời hạn được phép sinh sống, hoạt động tại Việt Nam.

Mức cho vay DNNVV Số vốn vay mà Chi nhánh cho khách hàng vay được xác định căn cứ trên 5 yếu tố sau: - Nhu cầu vay vốn của khách hàng: căn cứ vào phương án kinh doanh mà khách hàng

gửi đến và đã qua thẩm định.

- Căn cứ vào khả năng trả nợ, uy tín của khách hàng và của bên bão lãnh. - Căn cứ vào quy định hiện hành của Techcombank về TSĐB, về mức cho vay tối đa

trên tổng giá trị TSĐB (do Techcombank quy định) - Căn cứ vào khả năng về nguồn vốn của Chi nhánh. - Căn cứ vào quy định của Chi nhánh về mức cho vay tối đa trên từng sản phẩm cho

vay.

Lãi suất cho vay Lãi suất cho vay của Chi nhánh được quy định trên cơ sở phù hợp với quy định của Techcombank, quy định của NHNN, lãi suất thị trường, thể loại vay và thông lệ quốc tế. Chi nhánh và khách hàng sẽ thỏa thuận mức lãi suất cho vay với từng khoản vay, thời gian điểu chỉnh (tối đa 3 tháng hoặc tối thiểu 6 tháng 1 lần) phù hợp với sự biến động của lãi suất thị trường từng thời kỳ và quy định của Techcombank.

Quy trình cho vay DNNVV tại Chi nhánh

39

Quy trình cho vay DNNVV cũng tuân thủ theo quy trình cho vay chung của

Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam.

Sơ đồ 2.2. Quy trình cho vay DNNVV Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

Bước 2: Kiểm tra

Bước 1: Bước 3: Bước 5: Bước 6:

Tiếp Quyết Bước 4: Giám sát Thanh lí xác nhận Giải ngân nhận hồ định tín thu hồi hợp đồng

sơ dụng nợ tín dụng lại thông tin

(Nguồn: Phòng khách hàng doanh nghiệp Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt)

Bước 1: Tiếp nhận, thu thập hồ sơ khách hàng và xử lý kết quả Cán bộ tín dụng có nhiệm vụ tìm kiếm, tiếp thị khách hàng, nắm bắt nhu cầu vay

vốn của khách hàng trên nguyên tắc đôi bên cùng có lợi. Đồng thời, CBTD phải hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn ngân hàng, kiểm tra hồ sơ vay vốn và giao dịch với

khách hàng, đối tác. Bộ hồ sơ vay vốn gồm: Hồ sơ pháp lý (đăng kí kinh doanh, điều

lệ, bảng thông tin…); hồ sơ tài chính (báo cáo tài chính, chi tiết các khoản mục…); hồ

sơ hoạt động kinh doanh (các hợp đồng đầu vào, đầu ra đã và đang thực hiện); hồ sơ

vay vốn (phương án, hợp đồng kinh doanh, dự án đầu tư lần này); hồ sơ tài sản đảm

bảo (sổ đỏ, đăng kí xe, CMND chủ sở hữu…)

Bước 2: Kiểm tra xác nhận lại thông tin tín dụng mà khách hàng cung cấp

Sau khi thực hiện xong bước một thì chuyên viên hỗ trợ tín dụng của Chi nhánh

sẽ xác nhận lại thông tin mà khách hàng cung cấp. Trong bước này, các chuyên viên

hỗ trợ tín dụng cần kiểm tra tính đầy đủ về số lượng và tính pháp lý của hồ sơ vay vốn

theo những quy định của Techcombank. Sau đó, cần báo cáo Trưởng phòng xin ý kiến

chỉ đạo tiếp theo.

Bước 3: Quyết định cho vay

Sau khi hồ sơ đã qua bước 1 và 2, chuyên viên hỗ trợ tín dụng sẽ gửi hồ sơ lên

Trung tâm phê duyệt (RCC) để thẩm định và ra quyết định có cấp tín dụng cho khách

hàng vay không. Nếu Trung tâm phê duyệt đồng ý, Trung tâm kiểm soát tín dụng và hỗ trợ kinh doanh (CCA) sẽ tiến hành soạn thảo hồ sơ giải ngân để gửi tới Chi nhánh.

Bước 4: Giải ngân Chi nhánh tiến hàng giải ngân bằng cách để khách hàng rút tiền mặt hoặc ủy

nhiệm chi từ tài khoản tiền vay của khách hàng. Đồng thời Trung tâm kiểm soát tín dụng và hỗ trợ kinh doanh CCA hạch toán tài khoản giải ngân. Cán bộ tín dụng phối hợp với các bộ phận có liên quan bao gồm phòng hỗ trợ, kế toán, thanh toán quốc tế để giải ngân hoặc thanh toán theo yêu cầu của khách hàng.

40

Hiện nay, đối với việc giải ngân cho khách hàng là DNNVV, Chi nhánh khuyến

khích sử dụng phương thức giải ngân bằng chuyển khoản trực tiếp đến người thụ

hưởng, đảm bảo khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, hạn chế tối đa các khoản giải ngân bằng tiền mặt.

Bước 5: Giám sát, thu hồi nợ

Việc theo dõi, quản lý và thu hồi nợ được thực hiện thông qua hệ thông

Collection của Trung tâm Quản lý tín dụng doanh nghiệp. CBTD, Chuyên viên quản lý

nợ có trách nhiệm theo dõi và kiểm tra quá trình trả nợ của người vay theo lịch trả nợ đã được thỏa thuận. Mục đích của việc thực hiện kiểm tra sử dụng vốn vay là kịp thời

phát hiện các hành vi sử dụng vốn vay sai mục đích, không đúng đối tượng cho vay đã

cam kết để ngân hàng có các biện pháp xử lý thích hợp. Có thể kiểm tra qua hồ sơ

chứng từ giải ngân, kiểm tra sổ sách kế toán, kiểm tra tại hiện trường (nơi khách hàng đang triển khai phương án, dự án vay vốn để xem xét kiểm tra tình hình. Cần phải theo

dõi chặt chẽ về việc khách hàng có trả nợ gốc và lãi đầy đủ theo quy định trong hợp

đồng tín dụng đã kí kết hay không.

Bước 6: Thanh lý hợp đồng cho vay

Hết thời hạn vay, CBTD cùng với doanh nghiệp vay vốn thanh lý hợp đồng cho

vay. Cụ thể, CBTD tính toán và báo cho khách hàng số tiền phải nộp, làm các giấy tờ

liên quan, xuất kho tài sản đảm bảo cho khách hàng lập biên bản giao trả TSĐB nợ vay. Sau đó, CCA thu nợ và kiểm tra việc doanh nghiệp đã trả hết dư nợ hay chưa. Sau

mỗi hợp đồng vay vốn, ngân hàng cần đánh giá mức độ hài lòng hay không của khách

hàng đối với các hợp đồng đã dược thanh lý và cần rút kinh nghiệm những điểm thực

hiện chưa tốt để hoàn thiện và chỉnh sửa cho các hợp đồng cho vay tiếp theo.

Quy trình cho vay tại Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt về cơ bản

giống với các quy trình cho vay đang được áp dụng tại những ngân hàng khác. Đáp

ứng được những yêu cầu cơ bản của một quy trình cho vay. Tuy nhiên, ở đây có một

điểm đặc biệt đó là ở Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt nói riêng và trong

toàn hệ thống Techcombank nói chung đang áp dụng hệ thông phê duyệt cho vay tập

trung. Cụ thể, ở bước 3 mọi khoản vay đều phải được thông qua RCC và CCA không có sự phân cấp ra quyết định cho vay như ở các ngân hàng Agribank, BIDV…Việc xây dựng được một hệ thống ra quyết định cho vay tập trung sẽ giúp Techcombank quản lý các khoản vay tốt hơn, hạn chế rủi ro, và tận dụng được thế mạnh về công nghệ kĩ thuật của mình.

2.2.2. Tình hình hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

Thành lập đúng vào giai đoạn khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, tuy nhiên Chi nhánh đã nỗ lực hoạt động không ngừng và đạt được nhiều thành quả đáng kể, đáp ứng

41

được nhu cầu khách hàng trong địa bàn. Khách hàng doanh nghiệp chủ yếu của Chi

nhánh là các DNNVV, số lượng doanh nghiệp đến Chi nhánh ngày càng tăng. Sau đây

là một số chỉ tiêu phản ánh tình hình cho vay các DNNVV tại Chi nhánh: 2.2.2.1. Số doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

Năm 2010, Chi nhánh vẫn duy trì được số lượng khách hàng DNNVV tiềm năng

và đã có quan hệ tín dụng với ngân hàng trong nhiều năm, đồng thời tìm kiếm và mở

rộng quan hệ với những khách hàng mới như: Công ty cổ phần Nhà Việt, Công ty cổ phần thương mại GAMA, Công ty Kỹ thuật thiết bị môi trường HCD…trong số đó đa

phần là các DNNVV.

Bảng 2.4. Số lƣợng DNNVV có quan hệ với Techcombank - Chi nhánh Hoàng

Quốc Việt giai đoạn 2010-2012

Đơn vị: Doanh nghiệp

Chênh lệch Chênh lệch

2011/2010 2012/2011 Năm Năm Năm Chỉ tiêu 2010 2011 2012 Tuyệt Tƣơng Tuyệt Tƣơng

đối đối (%) đối đối (%)

283 31,82 151 31,59 478 629 912 Tổng số doanh nghiệp

15 19,48 0 0 77 92 92 Doanh nghiệp lớn

- - - - 16,11 14,63 10.09 Tỷ trọng (%)

401 537 820 136 33,92 283 52,70 DNNVV

83,89 85,37 89,91 Tỷ trọng (%)

(Nguồn: Phòng khách hàng doanh nghiệp Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt)

Nhìn vào bảng trên ta thấy, khách hàng doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói

riêng luôn được ngân hàng coi là những khách hàng then chốt, chủ lực của Chi nhánh

cũng như toàn ngân hàng; trong đó tỷ trọng khách hàng DNNVV chiếm tỷ trọng lớn

nhất (trên 80%) và đang có xu hướng ngày càng gia tăng. Điều này hoàn toàn phù hợp

với tình hình chung của nền kinh tế tại Việt Nam. Giai đoạn từ 2010 đến nay, nhờ việc

triển khai thành công hàng loạt các sản phẩm dịch vụ dành riêng cho đối tượng này mà số lượng khách hàng DNNVV vẫn tăng lên hàng năm bất chấp suy thoái kinh tế. Nếu như 2010, số lượng DNNVV của Chi nhánh là 401 doanh nghiệp, thì sang 2011, con số đã tăng lên 537 doanh nghiệp tương ứng với mức tăng trưởng 33,92%; năm 2012 là 820 doanh nghiệp, ứng với mức tăng trưởng 52,7% so với năm 2011. Đây quả thực là con số đáng ghi nhận trong hệ thống Chi nhánh của Techcombank cũng là nỗ lực lớn của toàn thể nhân viên Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt trong việc tìm kiếm và quan hệ với DNNVV trong tình hình lãi suất luôn biến động. Hiện nay, Ban

42

lãnh đạo Chi nhánh vẫn tiếp tục đẩy mạnh các chuyên viên tín dụng cũng như toàn thể

nhân viên trong việc tìm kiếm khách hàng, xúc tiến việc chào sản phẩm cho các

DNNVV trên địa bàn và các vùng lân cận. 2.2.2.2. Tình hình doanh số cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

Bảng 2.5. Tình hình doanh số cho vay DNNVV giai đoạn 2010-2012

Đơn vị: Triệu đồng

Chênh lệch năm Chênh lệch năm

2010-2011 2011-2012 Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Tuyệt Tƣơng Tuyệt Tƣơng

đối đối (%) đối đối (%)

Tổng DSCV 295.234 364.873 427.126 105.639 35,78 62.253 17,06

Doanh số cho 126.951 198.126 240.045 71.175 56,06 41.919 21,16 vay DNNVV

Tỷ trọng doanh

43 54,3 56,2 - - - - số cho vay

DNNVV (%)

(Nguồn: Phòng khách hàng doanh nghiệp Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt)

Nhìn vào bảng 2.5 ta thấy, doanh số cho vay đối với DNNVV của Chi nhánh

trong những năm vừa qua đều có sự tăng trưởng tương đối ổn định về tỷ trọng và quy

mô. Xét về mặt tỷ trọng cho vay, Chi nhánh cho vay đối với DNNVV với tỷ trọng khá cao, năm 2010 tỷ trọng doanh số cho vay DNNVV là 43%, năm 2011 là 54,3%, năm

2012 là 56,2%. Mức tăng lên đáng kể về tỷ trọng doanh số cho vay DNNVV của Chi

nhánh trong 2 năm 2011 và 2012 đã cho thấy định hướng phát triển và định hướng

kinh doanh của Ban lãnh đạo Chi nhánh trong những năm tới, đó chính là việc tập

trung cấp tín dụng cho các DNNVV. Nhưng mức tỷ trọng này vẫn chưa tương xứng

với số lượng DNNVV của Chi nhánh (chiếm trên 80%) cũng như nhu cầu vay vốn của DNNVV. Một phần vì quy mô tín dụng cho các đối tượng này nhỏ hơn nhiều so với

các doanh nghiệp lớn. Bên cạnh đó, Chi nhánh vẫn ưu tiên cho vay các doanh nghiệp có quan hệ làm ăn truyền thống với Chi nhánh, các doanh nghiệp lớn có uy tín trên thị trường để hạn chế được rủi ro và tổn thất. Vì vậy trong những năm tới, Chi nhánh đã có hướng kinh doanh theo đúng chính sách của Chính phủ, đó là tạo điều kiện giúp đỡ các DNNVV tiếp cận được vốn ngân hàng trong lúc tình hình kinh tế còn rất phức tạp.

Tổng doanh số cho vay DNNVV năm 2011 đạt 198.126 triệu đồng, tăng 56,06% so với năm trước, năm 2012 tăng 41.919 triệu đồng, tương ứng mức tăng 21,16% so

với năm 2011. Điều này hoàn toàn phù hợp với định hướng phát triển hiện nay của

43

toàn hệ thống Techcombank nói chung cũng như Chi nhánh nói riêng. Năm 2012,

trong điều kiện khó khăn chung, nhiều ngân hàng thương mại trong cả nước phải thực

hiện tái cơ cấu và hạn chế đầu tư trong khi các DNNVV thì đang hoạt động ở mức cầm chừng thì Chi nhánh vẫn giữ được mức độ tăng trưởng như vậy là một nỗ lực không

nhỏ. Điều này là do chính sách nới lỏng cho vay, mở rộng cho vay để phục vụ nhu cầu

vốn của doanh nghiệp phát triển lại sản xuất sau khủng hoảng. Tuy nhiên, do đặc điểm

của tín dụng DNNVV có tính rủi ro cao nên nếu không chú trọng khâu quản trị rủi ro,

thẩm định chặt chẽ thì dễ dẫn tới nguy cơ làm tăng tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn, ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động của Chi nhánh.

Nhìn chung, trước những khó khăn và trở ngại rất lớn của nền kinh tế trong thời

gian gần đây, mức tăng về doanh số cho vay của Chi nhánh là tương đối tốt; đây là kết

quả của sự gia tăng số lượng và quy mô các khoản cho vay mà Chi nhánh cung cấp cho DNNVV trong 3 năm trở lại đây. Cho thấy nhu cầu vốn của các DNNVV ngày

càng tăng lên và chính sách mở rộng hoạt động tín dụng cho loại hình doanh nghiệp

này của Chi nhánh trong giai đoạn 2010 – 2012 là hoàn toàn hợp lý. Nếu như việc

quản trị rủi ro và thẩm định khách hàng vận hành một cách hiệu quả thì rõ ràng việc

mở rộng này sẽ đạt kết quả tốt, mang lại nguồn lợi nhuận cao cho ngân hàng trong thời

gian tiếp theo. Ngược lại, nếu công tác thẩm định trước khi cho vay và quản trị rủi ro

không tốt thì Chi nhánh sẽ phải đối mặt với những khó khăn nhất định trong tương lại. Vì vây, điều quan trọng cần xem xét tiếp theo đó chính là việc thu nợ các khoản giải

ngân, nó ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận thu được và đánh giá chất lượng cho vay

của Chi nhánh. 2.2.2.3. Tình hình doanh số thu nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

Doanh số thu nợ là toàn bộ số tiền vốn và lãi mà ngân hàng đã thu về từ khoản

cho vay, thể hiện khả năng thu nợ của ngân hàng qua các thời kỳ có thể là theo quý,

tháng hoặc theo năm, qua đó phản ánh một phần chất lượng cho vay tại ngân hàng.

Bảng 2.6. Tình hình doanh số thu nợ DNNVV giai đoạn 2010-2012

Đơn vị: Triệu đồng

Chênh lệch năm 2010-2011 Chênh lệch năm 2011-2012 Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Tuyệt đối Tƣơng đối (%) Tuyệt đối Tƣơng đối (%)

131.778 216.192 250.935 84.414 64,05 34.743 16,07

28,6 59.763 - 73,65 76,95 - 21,27 -

Doanh số thu nợ DNNVV Tổng doanh số thu nợ 218.462 280.950 340.713 62.488 - 60,32 Tỷ trọng (%) (Nguồn: Phòng khách hàng doanh nghiệp Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt)

44

Nhìn vào bảng số liệu 2.6 trên ta có thể thấy, doanh số thu nợ DNNVV của Chi

nhánh đều tăng qua các năm và doanh số thu nợ của Chi nhánh chủ yếu là thu nợ từ

các DNNVV. Nguyên nhân là do doanh số cho vay DNNVV chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng doanh số cho vay. Bên cạnh đó, các DNNVV có quy mô nhỏ nên dễ thích

ứng với những biến động và khó khăn của thị trường. Đồng thời đa phần các DNNVV

mà ngân hàng cho vay đều hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ nên thời gian

thu hồi vốn nhanh, vòng quanh vốn ngắn. Đây chính là những lí do giải thích cho việc

thu nợ của các DNNVV tương đối tốt, với mức tăng 84.414 triệu đồng vào năm 2011, tương đương 64,05% so với năm 2010. So với tình hình thực tế vào thời điểm những

năm 2010, 2011 thì mức tăng về thu nợ của các DNNVV của Chi nhánh là khá tốt, nó

phản ánh chất lượng cho vay ngay từ bước đánh giá khách hàng và phương án trả nợ

của khách hàng, đảm bảo khả năng thanh toán khoản vay cho ngân hàng dù trong lúc tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn.

Sang đến năm 2012, hệ thống NHTM Việt Nam ghi nhận con số nợ xấu lên đến

202.000 tỷ đồng, trong đó chủ yếu là nợ xấu từ các doanh nghiệp bất động sản. Chỉ

tính riêng Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tồn kho bất động sản vào

khoảng 70.000 tỷ đồng. Trước tình hình chung của toàn hệ thống, Ban Giám đốc Chi

nhánh đã định hướng hoạt động kinh doanh cụ thể ngay từ đầu năm, chỉ rõ các ngành

nghề lĩnh vực ưu tiên cho vay và các ngành nghề hạn chế cho vay (đặc biệt là các doanh nghiệp bất động sản). Đồng thời, giám sát chặt chẽ quy trình cho vay và thẩm

định các khoản vay để tìm kiếm các khách hàng có uy tín và khoản vay có chất lượng,

cố gắng đảm bảo rủi ro cho vay ở mức thấp nhất có thể. Ngoài ra, các khoản vay cũ mà

Chi nhánh đã gia hạn nợ cho khách hàng được giám sát chặt chẽ và liên tục được cán

bộ tín dụng đốc thúc, nên đến năm 2012, các khoản nợ trên đã thu hồi được một phần

nợ. Chính những định hướng đúng đắn của Ban Lãnh đạo Chi nhánh cùng sự cố gắng

trong quá trình tìm kiếm khách hàng, thẩm định và thu hồi nợ đã giúp cho Chi nhánh

nâng cao doanh số thu nợ từ các DNNVV tăng 34.743 triệu đồng, tăng 16,07% so với

năm 2011. Mặc dù con số này tăng ít hơn năm 2011 nhưng không có nghĩa là chất

lượng cho vay với các DNNVV giảm xuống. Trong tổng doanh số thu nợ năm 2012 có đến 73,65% là doanh số thu nợ của các DNNVV và mức tăng của doanh số thu nợ khá tương đương với mức tăng của doanh số cho vay (năm 2012, mức tăng của doanh số cho vay là 21,16%). Điều đó cho thấy với các chính sách và biện pháp tiến hành thu hồi nợ được tiếp tục thực hiện, công tác thu hồi nợ của Chi nhánh vẫn diễn ra tương đối tốt. Việc mức tăng thấp hơn so với năm 2011 chủ yếu là do mức tăng về doanh số cho vay của năm 2012 thấp hơn so với mức tăng về doanh số cho vay của năm 2011, kéo theo mức tăng về doanh số thu nợ của năm 2012 thấp hơn năm 2011. Ngoài ra, một số khoản vay được giải ngân vào thời điểm cuối năm, Chi nhánh cho khách hàng

45

vay ngắn hạn dưới một năm nên chưa thu hồi được nợ ngay mà kì hạn trả nợ vào năm

2013. Một số khoản vay khác hàng không trả đúng kì hạn để xảy ra tình trạng nợ quá

hạn, tập trung chủ yếu ở nhóm các doanh nghiệp sản xuất gặp phải khó khăn trong việc bán thành phẩm, làm tăng giá trị hàng tồn kho và khó thu hồi vốn khiến ngân

hàng chưa thu hồi được nợ khiến tỉ trọng doanh số thu nợ của năm 2012 thấp hơn năm

2011 tuy nhiên sự chênh lệch này không quá nhiều. 2.2.2.4. Tình hình dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

Kinh tế vẫn chìm sâu trong suy thoái, môi trường kinh tế trở nên cạnh tranh gay

gắt hơn bao giờ hết giữa các ngân hàng, tuy nhiên dư nợ cho vay của Chi nhánh vẫn

đạt được mức tăng trưởng, đặc biệt là đối với khu vực khách hàng DNNVV.

Bảng 2.7. Tình hình dƣ nợ cho vay DNNVV giai đoạn 2010-2012

Đơn vị: Triệu đồng

Chênh lệch Chênh lệch

2011/2010 2012/2011 Năm Năm Năm Chỉ tiêu 2010 2011 2012 Tuyệt Tƣơng Tuyệt Tƣơng

đối đối (%) đối đối (%)

Dƣ nợ cho vay 113.301 137.352 171.628 24.051 21,23 34.276 24,95 DNNVV

267.219 304.549 371.489 37.330 13,97 66.940 21,98 Tổng dƣ nợ cho vay

Tỷ trọng dƣ nợ 42,4 45,1 46,2 - - - - DNNVV (%)

(Nguồn: Phòng khách hàng doanh nghiệp Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt)

Qua bảng số liệu trên, ta thấy dư nợ cho vay đối với DNNVV của Chi nhánh

chiếm tỷ trọng khá cao trong cơ cấu và có xu hướng tăng cả về quy mô và cơ cấu trong

những năm gần đây. Rõ ràng việc xác định DNNVV là khách hàng chiến lược của Chi

nhánh đã được triển khai trong những năm qua và đạt được những kết quả đáng khích

lệ. Chi nhánh đã có hướng kinh doanh theo đúng chính sách của Chính phủ, đó là tạo

điều kiện giúp đỡ các DNNVV tiếp cận được vốn ngân hàng trong lúc tình hình kinh tế khó khăn. Tuy nhiên, tỷ trọng dư nợ cho vay DNNVV của Chi nhánh trong 3 năm 2010 – 2012 vẫn thấp hơn 50% và không hề có sự tăng trưởng đột biến trong khi số lượng DNNVV của Chi nhánh tăng trưởng mạnh và đều chiếm trên 80%; cho thấy Chi nhánh vẫn còn e ngại trong việc giải ngân cho các DNNVV, còn các DNNVV chưa đáp ứng được các điều kiện cho vay của Chi nhánh. Doanh số cho vay và dư nợ cho vay của Chi nhánh phần nhiều từ những thành phần kinh tế khác như cho vay cá nhân, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp lớn.

46

Cùng với xu thế tăng của tổng dư nợ, tốc độ tăng trưởng của dư nợ cho vay

DNNVV cũng rất nhanh, năm 2011 dư nợ cho vay DNNVV đạt 137.352 triệu đồng

tăng 24.051 triệu đồng, tương ứng với mức tăng 21,23% so với 2010. Nguyên nhân của việc tăng trưởng này là do chiến lược mở rộng cho vay DNNVV và theo đó Chi

nhánh đã cố gắng trong việc triển khai nhiều biện pháp hỗ trợ cho vay đối với

DNNVV sát cánh cùng DNNVV trong giai đoạn khó khăn của nền kinh tế. Đến năm

2012 tăng 34.276 triệu đồng, tức 24,95% so với năm 2011; sự tăng trưởng không có

chênh lệch quá lớn và không quá cao so với năm 2011 thể hiện một sự ổn định, chưa có dấu hiệu của sự tăng trưởng nóng và sự vượt quá khả năng về vốn cũng như hoạt

động kiểm soát rủi ro của ngân hàng.

Như vậy, có thể thấy DNNVV đang dần trở thành đối tượng khách hàng chủ đạo

và nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chi nhánh. Việc doanh số cho vay tăng trưởng mạnh hơn dư nợ cho vay phản ánh phần nào chất lượng cho vay của Chi nhánh khá

tốt. Bên cạnh đó, Chi nhánh vẫn cần tích cực hơn nữa để có biện pháp kiểm soát cho

vay DNNVV hợp lý, hạn chế rủi ro trong cho vay. 2.2.2.5. Cơ cấu dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

Cơ cấu dƣ nợ theo kỳ hạn

Bảng 2.8. Dƣ nợ cho vay DNNVV phân theo kỳ hạn

Đơn vị: Triệu đồng

Chện lệch Chênh lệch

2011/2010 2012/2011 Năm Năm Năm Chỉ tiêu 2010 2011 2012 Tuyệt Tƣơng Tuyệt Tƣơng

đối đối (%) đối đối (%)

113.301 137.352 171.628 24.051 21,23 34.276 24,95 Dƣ nợ cho vay

DNNVV

89.735 93.674 126.318 3.939 4,39 32.644 34.85 Ngắn hạn

Tỷ trọng (%) 79,2 68,2 73.6 - - - -

23.566 43.678 45.310 20.112 85,34 1.632 3,74 Trung, dài hạn

Tỷ trọng (%) 20,8 31,8 26,4 - - - -

(Nguồn: Phòng khách hàng doanh nghiệp Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt) Theo bảng số liệu, tỷ trọng dư nợ cho vay DNNVV ngắn hạn giai đoạn 2010 - 2012 đều chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ cho vay DNNVV. Điều này là hợp lý vì

Chi nhánh huy động phần lớn là nguồn vốn ngắn hạn. Năm 2010, cho vay ngắn hạn

chiếm 79,2% tổng dư nợ cho vay DNNVV, năm 2011 chiếm 68,2% và năm 2012 chiếm 73,6%. Dư nợ cho vay ngắn hạn DNNVV năm 2011 là 89.735 triệu đồng, tăng

47

3.939 triệu đồng, tương ứng 4,39% so với năm 2010. Đến năm 2012, chỉ tiêu dư nợ

cho vay ngắn hạn DNNVV vẫn tiếp tục tăng mạnh, đạt 126.318 triệu đồng, tăng

32.644 triệu đồng, tương ứng 34,85% so với năm 2011. Từ cơ cấu và mức tăng về dư nợ cho vay ngắn hạn DNNVV đã chỉ ra ở trên có thể thấy Chi nhánh rất chú trọng vào

việc phát triển cho vay đối với loại hình DNNVV, đặc biệt là hình thức cho vay ngắn

hạn. Chi nhánh cho các DNNVV vay ngắn hạn để doanh nghiệp bổ sung nguồn vốn

lưu động đã hao hụt trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc để đáp ứng yêu cầu cung

ứng dịch vụ, thanh toán hàng hóa theo các hợp đồng, thanh toán tiền nguyên vật liệu, tiền lương của cán bộ công nhân viên…các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực

phân phối, có vòng quay vốn lưu động nhanh, có dòng tiền luân chuyển thực qua hệ

thống ngân hàng như các công ty lương thực thực phẩm, điện tử, giáo dục, thuốc, thiết

bị y tế,…Việc cho vay các đối tượng này sẽ giúp Chi nhánh giảm thiểu được rủi ro, do có hàng hóa thực tế và kinh doanh thật, nhu cầu không quá lớn, ngân hàng có thể nắm

bắt và giám sát việc sử dụng vốn vay của các đối tượng này. Hơn nữa các khách hàng

này chủ yếu kinh doanh các mặt hàng, dịch vụ thiết yếu nên ít chịu ảnh hưởng từ

khủng hoảng kinh tế hơn, nên mức độ đảm bảo về nghĩa vụ trả nợ cao hơn các đối

tượng khác.

Ngược lại với mức tăng về tỷ trọng dư nợ ngắn hạn thì cho vay trung và dài hạn

DNNVV có tỷ trọng nhỏ hơn nhưng có xu hướng tăng trong 3 năm gần đây. Năm 2010 tỷ trọng cho vay trung và dài hạn DNNVV chỉ chiếm 20,08%; điều này là do

chính sách tín dụng thắt chặt trong năm 2010, mà các khoản cho vay trung, dài hạn

thường có mức độ rủi ro cao hơn, khả năng thu hồi vốn chậm hơn nên Chi nhánh càng

hạn chế cho vay trung và dài hạn năm 2010. Sang đến năm 2011, khi nhu cầu cho vay

trung, dài hạn của năm trước vẫn còn, đồng thời Chi nhánh đã mạnh dạn mở rộng cấp

các khoản tín dụng trung và dài hạn cho DNNVV với mục đích thu được lợi nhuận cao

hơn nên tỷ trọng năm 2011 đã tăng lên đạt 31,8%. Xét về mặt quy mô, dư nợ cho vay

trung và dài hạn DNNVV năm 2011 là 43.678 triệu đồng, tăng 20.112 triệu đồng,

tương đương 85,34% so với năm 2010. Sự tăng lên mạnh về dư nợ cho vay trung và

dài hạn DNNVV cho thấy Chi nhánh không chỉ cấp vốn vay cho DNNVV phục vụ vốn lưu động nữa mà đã mở rộng phục vụ cho cả hoạt động đầu tư thiết bị, máy móc; đổi mới dây chuyền công nghệ, nâng cao nhà xưởng mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, tăng cho vay trung và dài hạn đối với Chi nhánh cũng đồng nghĩa với gia tăng rủi ro vì thời gian cho vay càng dài thì rủi ro càng cao. Do đó, khi cho vay trung và dài hạn Chi nhánh phải thận trọng, đối tượng cho vay phải là những khách hàng có quan hệ lâu dài, có uy tín với Chi nhánh. Sang năm 2012, lãi suất biến động không ngừng, kinh tế khó khăn tác động rõ rệt vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNVV khiến rất nhiều DNNVV sa vào làm ăn trì trệ, thậm chí dẫn đến phá sản, không trả được nợ. Với

48

tình hình chung như vậy cùng với đặc điểm của cho vay trung và dài hạn, thì năm

2012 có thể thấy các DNNVV chủ yếu tiếp cận được nguồn vốn vay ngắn hạn, cho vay

trung và dài hạn chủ yếu tập trung vào doanh nghiệp lớn, các công ty có uy tín, có năng lực tài chính, có nguồn vốn và giá trị TSĐB lớn. Vì vậy, để hạn chế rủi ro trong

cho vay DNNVV, cho vay cho vay trung và dài hạn năm 2012 là 45.310 triệu đồng,

tăng nhẹ 3,74% so với năm 2011, chiếm tỷ trọng 26,4%.

Phân theo loại tiền Trong năm 2010 và 2012, do chênh lệch lãi suất lớn giữa việc vay vốn bằng ngoại tệ và VND nên các doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng (nếu có thể sử

dụng nguồn vốn ngoại tệ) đều tích cực vay bằng ngoại tệ.

Bảng 2.9. Dƣ nợ cho vay DNNVV phân theo loại tiền

Đơn vị: Triệu đồng

Chênh lệch Chênh lệch

2011/2010 2012/2011 Năm Năm Năm Chỉ tiêu 2010 2011 2012 Tuyệt Tƣơng Tuyệt Tƣơng

đối đối (%) đối đối (%)

Dƣ nợ cho vay 113.301 137.352 171.628 24.051 21,23 34.276 24,95 DNNVV

101.971 119.496 145.026 17.525 17,19 25.530 21,36 VND

Tỷ trọng 90% 87% 84.5% - - - -

11.330 17.856 26.602 6.526 57,60 8.750 48,98 Ngoại tệ

Tỷ trọng 10% 13% 15.5% - - - -

(Nguồn: Phòng khách hàng doanh nghiệp Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt) Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy, dư nợ cho vay DNNVV của Chi nhánh 3 năm

qua luôn chiếm tới trên 80% là cho vay bằng đồng nội tệ. Với mục tiêu chống “đô la

hóa”, khuyến khích người dân sử dụng đồng Việt Nam, Chi nhánh đã tập trung huy

động nội tệ và giữ một tỉ trọng cao hơn rất nhiều so với đồng ngoại tệ. Chính sách này

của NHNN nói chung và của Chi nhánh nói riêng đã tác động tích cực vào việc nâng

giá đồng nội tệ, tránh tình trạng mất giá trước ngoại tệ mạnh. Chi nhánh ít cho vay bằng ngoại tệ vì khó huy động và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Ngày 1/6/2011, NHNN ban hành Thông tư số 14/2011/TT-NHNN quy định giảm trần lãi suất huy động USD của các nhân xuống 2%/năm, tổ chức xuống còn 0,5%/năm. Chính vì lãi suất huy động ở mức thấp nên rất khó thu hút khách hàng gửi tiền. Bên cạnh đó, những tác động của

lạm phát, sự biến đổi thất thường của tỷ giá, giá vàng đã tạo ra tâm lý lo ngại cho

khách hàng, họ chọn những kênh đầu tư an toàn và có khả năng sinh lời cao hơn thay vì gửi tiền vào ngân hàng. Hoạt động cho vay bằng ngoại tệ cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro

49

về chênh lệch tỷ giá, ngân hàng sẽ bị thiệt hại nếu tỷ giá giảm và khả năng thu hồi vốn

sẽ bị ảnh hưởng nếu nguồn thu ngoại tệ của khách hàng không ổn định để trả các

khoản nợ vay ngân hàng. Khi các khoản vay bằng ngoại tệ đáo hạn, nếu không có nguồn thu bằng ngoại tệ, doanh nghiệp phải mua ngoại tệ ngoài thị trường để trả nợ

ngân hàng, làm cho sự ổn định tỷ giá bị phá vỡ, mất cân đối cung cầu ngoại tệ, làm

ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế, công cuộc chống đô la hóa bị ảnh hưởng nghiêm

trọng. Bởi vậy, Chi nhánh luôn đảm bảo giữ mức cho vay ngoại tệ ở mức thấp, dao

động trong khoảng từ 10% -15%.

Mặc dù có sự hạn chế nhất định trong cho vay ngoại tệ, nhưng trong 3 năm qua,

Chi nhánh vẫn có sự gia tăng về tỷ trọng (10% năm 2010 tăng lên 15,5% năm 2012)

và mức dư nợ dành cho các DNNVV vay ngoại tệ. Cụ thể, năm 2011, dư nợ cho vay

ngoại tệ là 11.330 triệu đồng, tăng 6.526 triệu đồng, tương ứng tăng 57,6% so với năm 2010. Năm 2012, dư nợ cho vay ngoại tệ là 26.602 triệu đồng, tăng 8.750 triệu đồng,

tương ứng tăng 48,98% so với năm 2011. Sự gia tăng về dư nợ cho vay ngoại tệ của

Chi nhánh như trên là do Chi nhánh hiểu rõ tín dụng ngoại tệ được xem là một nguồn

vốn rẻ, một giải pháp giúp nhiều doanh nghiệp xuất khẩu phòng thân trong bối cảnh

kinh tế khó khăn. Vay ngoại tệ lãi suất chỉ khoảng 5%- 8%/năm, trong khi vay VNĐ

suốt một thời gian dài là trên 15%/năm. Chính nguồn tín dụng ngoại tệ này đã giúp các

doanh nghiệp có chi phí thấp hơn, có thêm sức cạnh tranh tốt hơn trong xuất khẩu.

Ngày 8/3/2012, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 03/2012/TT-NHNN

quy định về cho vay ngoại tệ theo hướng siết lại. Tại thời điểm đó, bất ngờ khi đối

tượng bị siết lại chính là các doanh nghiệp xuất khẩu - những đối tượng có nguồn thu

ngoại tệ, nguồn lực chính của nền kinh tế hiện nay. Tuy nhiên, ngay sau đó, Ngân hàng

Nhà nước đã có Quyết định số 857, gia hạn cho vay ngoại tệ ngắn hạn đối với các

doanh nghiệp xuất khẩu đến ngày 31/12/2012. Và nay, với dự thảo nghị quyết trên của

Chính phủ, cơ hội dự kiến sẽ được nới tiếp đến 31/12/2013. Điều này cũng đã cho thấy

sự quan tâm của Chính phủ trong việc trợ giúp các doanh nghiệp xuất khẩu có được

nguồn tín dụng tốt để tham gia vào các hoạt động kinh tế. Trong thời gian vừa qua, với

định hướng của chính sách Nhà nước, Chi nhánh cũng đã dành ưu tiên về tín dụng ngoại tệ đối với các doanh nghiệp xuất khẩu có nguồn thu ổn định bằng ngoại tệ, hạn chế cấp tín dụng ngoại tệ cho các doanh nghiệp nhập khẩu hàng tiêu dùng, các mặt hàng trong nước sản xuất được như xe hơi, phân bón,…Dự kiến trong năm 2013, Chi nhánh vẫn tiếp tục cho vay bằng ngoại tệ đối với các doanh nghiệp xuất khẩu có nhu cầu chính đáng nhằm trợ giúp các doanh nghiệp đồng thời nỗ lực tìm kiếm những khách hàng DNNVV mới hoạt động trong lĩnh vực xuất – nhập khẩu, mang lại mức tăng trưởng tín dụng ổn định cho Chi nhánh. Bên cạnh đó, vẫn cần khẳng định cho vay

50

bằng nội tệ vẫn là loại hình cho vay chủ yếu của Chi nhánh, Chi nhánh cần tiếp tục

phát triển một cơ cấu cho vay ổn định trong thời gian sắp tới.

2.2.3. Tình hình rủi ro cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt 2.2.3.1. Trích lập dự phòng rủi ro

Căn cứ vào Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 và Quyết định số

18/2007/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì các khoản nợ được Chi

- Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn + Các khoản nợ trong hạn mà Chi nhánh đánh giá là có đủ khả năng thu hồi

đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn...

+ Các khoản nợ dưới 10 ngày và Chi nhánh đánh giá là có khả năng thu hồi

đầy đủ cả gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lai.

+ Các khoản nợ được phân vào nhóm 1 theo quy định. - Nhóm 2: Nợ cần chú ý + Các khoản nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày. + Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ

cấu lại.

+ Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 2 theo quy định. - Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn + Các khoản nợ quá hạn từ 90-180 ngày. + Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời

hạn đã cơ cấu lại.

+ Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 3 theo quy định. - Nhóm 4: Nợ nghi ngờ + Các khoản nợ quá hạn từ 180-360 ngày. + Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90-180 ngày theo thời

hạn đã cơ cấu lại.

+ Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 4 theo quy định. - Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn + Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày. + Các khoản nợ khoanh chờ chính phủ xử lý. + Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời

hạn đã được cơ cấu lại.

Theo Quyết định này, nợ quá hạn bao gồm nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5 và nợ xấu là các khoản nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5. Việc phân loại này nhằm mục đích để 51

nhánh phân thành 5 nhóm nợ khác nhau để thuận tiện công tác phân tích và quản lý.

các NHTM kiểm soát chất lượng các khoản cho vay, từ đó trích lập dự phòng rủi ro và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro cho khoản vay.

Hiện tại, Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt ngoài việc đánh giá nhóm

nợ theo quy định trên còn trích lập dự phòng RRTD cho phù hợp với quy định của NHNN. Trên cơ sở đó, tình hình trích lập dự phòng RRTD của Chi nhánh đối với

DNVVN qua các năm như sau:

Dự phòng chung: Chi nhánh thực hiện trích lập dự phòng chung với tỷ lệ 0,75%

tổng dư nợ từ nhóm 1 tới nhóm 4.

Dự phòng cụ thể:

Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): 0%,

Nhóm 2 (Nợ cần chú ý): 5%, Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): 20%,

Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): 50%

Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): 100%.

Việc trích lập dự phòng rủi ro của Chi nhánh đã tuân thủ theo đúng quy định của

NHNN – căn cứ vào mức độ nợ xấu đã được phân loại theo các nhóm. Tuy nhiên, tiến

bộ hơn, dựa trên nhận biết và phân tích rủi ro. Chi nhánh cũng bắt đầu quan tâm đến

áp dụng quan điểm mới về trích lập dự phòng, căn cứ vào xác suất gặp phải rủi ro của

món vay được xác định trước khi cho vay hơn là dự phòng cho những món nợ xấu xảy

ra trên thực tế. 2.2.3.2. Xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

Công tác phân tích tín dụng Phân tích tín dụng có tầm quan trọng đặc biệt trong mọi nỗ lực nhằm hạn chế rủi

ro một cách hiệu quả. Chức năng cơ bản của phân tích tín dụng là xác định và đánh giá

mức độ rủi ro liên quan đến việc cung cấp tín dụng. Để làm được điều này, phân tích

tín dụng đòi hỏi phải chỉ ra tất cả các loại rủi ro đối với khách hàng và ngân hàng, bao gồm rủi ro tiềm ẩn và rủi ro hiện hữu trong mối liên quan đến tín dụng được cung cấp.

Mục tiêu của công tác phân tích tín dụng của Chi nhánh trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa là xác định các yếu tố hình thành rủi ro trong hoạt động của doanh nghiệp, nghành nghề hoạt động của doanh nghiệp, thực trạng tài chính của doanh nghiệp…Xác định và làm rõ các vấn đề liên quan nếu quyết định cho vay DNNVV. Đề xuất cấu trúc khoản vay và các điều kiện liên quan có tính đến yếu tố như: nhu cầu, khả năng trả nợ của doanh nghiệp, khả năng kiểm soát rủi ro. Phân tích tín dụng đòi hỏi phải xử lý (kiểm tra, thẩm định, phân tích) thông tin do khách hàng cung cấp chứ không phải đơn thuần là thực hiện việc thẩm nhận thông tin. Phải thực hiện việc thẩm định, phân tích, đánh giá đối với tất cả các yếu tố hình thành rủi ro có liên quan đến khoản vay.

52

Techcombank đã lựa chọn Experian, công ty dịch vụ thông tin toàn cầu là đối tác

cung cấp dịch vụ quản trị và phân tích rủi ro tín dụng nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu

của danh mục khách hàng đang ngày càng phát triển của Techcombank. Ngày 11/5/2011, Techcombank đã áp dụng hệ thống xử lý và đưa ra quyết định của Experian

nhằm thiết lập nền tảng cơ sở dữ liệu vững chắc và đáng tin cậy. Hệ thống này có khả

năng phê chuẩn hồ sơ tiêu dùng tín dụng từ các kênh khác nhau, đồng thời củng cố hồ

sơ dữ liệu để góp phần xây dựng và cung cấp những sản phẩm phù hợp nhất cho các

khách hàng.

Việc chấp hành các bước cụ thể trong quy trình cho vay: Về cơ bản các công

đoạn trong quy trình cho vay DNNVV được Chi nhánh áp dụng theo đúng quy chế của

hệ thống Techcombank. Đặc biệt với công tác thẩm định được Chi nhánh chú trọng

bởi đây là bước quan trọng nhất để xem xét quyết định có cho khách hàng vay hay không. Quy trình thẩm định của Chi nhánh tuân thủ theo nguyên tắc: Nhanh chóng,

minh bạch, chính xác và hiệu quả.

Quy mô của hoạt động cho vay: Nhận thấy DNNVV là thị trường đầy tiềm năng

cho ngân hàng bởi số lượng các doanh nghiệp này chiếm phần lớn trong tổng số các

doanh nghiệp có mặt trên địa bàn Hà Nội và ngày càng tăng lên, hầu hết các doanh

nghiệp này đang trong tình trạng thiếu vốn để sản xuất kinh doanh. Vì vậy, trong cơ

cấu cho vay của Chi nhánh vẫn luôn coi trọng loại hình doanh nghiệp này. Chi nhánh cũng tập trung mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có năng lực

tài chính, có điểm xếp hạng tín dụng cao, có tín nhiệm trong quan hệ vay vốn với ngân

hàng. Trong những năm gần đây Chi nhánh đã không ngừng cải thiện và nâng cao uy

tín, duy trì tốt mối quan hệ và coi các DNNVV là khách hàng tiềm năng, thường xuyên

của Chi nhánh; tăng cường mở rộng đồng thời hạn chế rủi ro cho vay DNNVV. Số

lượng các DNNVV là khách hàng của Chi nhánh ngày càng tăng qua các năm.

Hoạt động kiểm soát nội bộ: Nhận thức được tầm quan trọng của của vấn đề

kiểm soát nội bộ, trong thời gian qua, Chi nhánh đã ngày càng tích cực hơn trong việc

thu thập thông tin, phát hiện và kiểm soát rủi ro trong quá trình cho vay. Không chỉ

dựa vào thông tin mà khách hàng cung cấp, các cán bộ của ngân hàng đã xuống tận nơi SXKD của các DNNVV để nắm tình hình. Các cán bộ của Chi nhánh còn tiến hành nắm thông tin khách hàng từ nhiều nguồn khác nhau như từ mối quan hệ hợp tác làm ăn của khách hàng với các đối tác của chính họ, uy tín của khách hàng với các ngân hàng mà trước đây khách hàng từng có quan hệ tín dụng. Tất cả các hành động trên đều hướng tới mục đích hạn chế tới mức tối đa các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Chi nhánh.

Chất lượng nhân sự của Chi nhánh: Chi nhánh đặc biệt quan tâm tới công tác đào tạo lại, nâng cao tư cách, phẩm chất đạo đức của cán bộ tín dụng. Hàng kỳ tại Chi

53

nhánh luôn có các buổi nâng cao chất lượng thẩm định hoặc tín dụng cho nhân viên

nhằm duy trì và phát triển hiệu quả thu được. Ban lãnh đạo chú trọng nhiều chương

trình đầu tư tập trung cho củng cố, phát triển nguồn nhân lực, thực hiện cải cách đồng bộ từ mô hình tổ chức, phát triển, đào tạo, quy hoạch, bồi dưỡng cán bộ.

Phân tán rủi ro cho vay Thực hiện theo nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng đó

là dàn trải rủi ro nên Chi nhánh thực hiện đa dạng kết cấu nguồn cho vay đối với

DNNVV với các hình thức vay ngắn hạn, trung - dài hạn kết hợp đa dạng hoá các đối tượng khách hàng của mình. Đa dạng hóa đối tượng DNNVV vay, không tập trung cho

vay vào một doanh nghiệp, một nhóm doanh nghiệp mà tiến hành cho vay nhiều đối

tượng DNNVV, nhiều ngành nghề kinh tế….Đội ngũ cán bộ của Chi nhánh đã chủ

động tìm kiếm những khách hàng tiềm năng, các dự án/ phương án sản xuất kinh doanh khả thi và Chi nhánh cũng luôn quan tâm duy trì, củng cố mối quan hệ với

khách hàng truyền thống. Từ đó, tạo cơ sở để phòng tránh được rủi ro, góp phần thúc

đẩy sự phát triển của một nền kinh tế đa dạng.

Công tác chấm điểm tín dụng Chấm điểm tín dụng là phương pháp lượng hóa để đo lường mức độ rủi ro trong

cho vay của khách hàng thông qua quy trình đánh giá bằng thang điểm thống nhất dựa

vào các thông tin tài chính và phi tài chính của khách hàng tại thời điểm phân loại. Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ được NHNN cho phép chính thức triển khai đã giúp

Techcombank phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo tiêu chuẩn quốc tế, hỗ trợ

ngân hàng trong việc phân loại để chọn lọc khách hàng, ra quyết định cho vay, giám

sát và đánh giá khách hàng khi khoản cho vay còn dư nợ, lường trước được chất lượng

khoản vay, nâng cao năng lực xử lý của ngân hàng khi cho vay, thu nợ và xử lý rủi ro.

Nội dung chấm điểm của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ cho doanh nghiệp của

Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt:

Bảng 2.10. Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp

Tổng số điểm dưới 30 Khách hàng đạt hạng C

Tổng số điểm từ 30 đến 49 Khách hàng đạt hạng B

Tổng số điểm từ 50 đến 69 Khách hàng đạt hạng BB

Tổng số điểm từ 70 đến 79 Khách hàng đạt hạng A

Tổng số điểm từ 80 đến 100 Khách hàng đạt hạng AA

(Nguồn: Sổ tay tín dụng của Techcombank)

Việc xác định điểm số của doanh nghiệp được tiến hành theo 10 chỉ tiêu sau:

54

Bảng 2.11. Cho điểm các chỉ tiêu

STT Chỉ tiêu Thang điểm

1 Ngành Từ 1 đến 5 điểm

2 Quy mô Từ 1 đến 5 điểm

3 Vị trí địa lý Từ 1 đến 5 điểm

4 Thương hiệu sản phẩm Từ 1 đến 5 điểm

5 Khả năng ban lãnh đạo Từ 1 đến 5 điểm

6 Tỷ số thanh toán Từ 1 đến 5 điểm

7 Tỷ số đòn bẩy Từ 1 đến 5 điểm

8 Khả năng sinh lời Từ 1 đến 5 điểm

9 Từ 1 đến 5 điểm Quan hệ với Techcombank

Từ 1 đến 5 điểm 10 Quan hệ với tổ chức khác

(Nguồn: Sổ tay tín dụng của Techcombank)

2.2.3.3. Phân tích các chỉ tiêu

Qua phân tích số liệu về tình hình cho vay tại Techcombank - Chi nhánh Hoàng

Quốc Việt có thể thấy, dư nợ cho vay DNNVV tăng trưởng tương đối tốt qua các năm.

Tốc độ tăng trưởng cho vay DNNVV và cơ cấu cho vay ngày càng hợp lý hơn. Tuy nhiên

để đánh giá tình hình tăng trưởng cho vay có thực sự tốt, chất lượng cho vay có thực sự

cao thì cần phải xem xét đến mức độ rủi ro trong hoạt động cho vay của Chi nhánh.

Chỉ tiêu quay vòng vốn

Bảng 2.12. Chỉ tiêu vòng quay của vốn

Đơn vị: Triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

131.778 216.192 250.935 Doanh số thu nợ DNNVV

98.342 125.327 154.490 Dƣ nợ bình quân DNNVV

1,34 1,73 1,63 Vòng quay vốn tín dụng

(Nguồn: Phòng khách hàng doanh nghiệp Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt) Chỉ tiêu vòng quay của vốn phản ánh sự quay vòng vốn nhanh hay chậm trong cho vay DNNVV. Thông thường vòng quay càng lớn thể hiện việc thu hồi nợ càng tốt và ngược lại. Nhìn vào bảng có thể thấy vòng quay vốn cho vay DNNVV của Chi nhánh là tương đối ổn định, không có sự thay đổi quá lớn. Năm 2011 vòng quay vốn đạt 1,73 vòng; tăng 0,39 vòng so với năm 2010. Sang đến năm 2012, vòng quay vốn

tín dụng tuy có giảm 0,1 nhưng vẫn duy trì được vòng quay vốn là 1,63 vòng, mức giảm này nhỏ không đáng kể, vòng quay vốn của Chi nhánh vào năm 2010 tương đối thấp, chỉ đạt 1,34 vòng. Chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế, các DNNVV gặp 55

nhiều khó khăn không lường trước nên các phương án trả nợ theo dự kiến ban đầu

không được thực thi. Điều này đã kéo ngân hàng vào tình thế bị giảm sự luân chuyển

của dòng vốn, thu hồi nợ chậm, làm giảm kết quả kinh doanh của ngân hàng. Đặc biệt là vào giai đoạn cuối năm, khi nhu cầu chi tiền của các doanh nghiệp tăng cao, ngân

hàng đã tiến hành giải ngân cho các doanh nghiệp mà chưa kịp thu hồi, các món nợ

quá hạn thời gian chưa lâu nên chưa được xét vào nhóm nợ xấu nhưng đã làm vòng

quay vốn của ngân hàng thấp.

Sang đến năm 2011, nhờ có những chính sách và biện pháp hợp lý, Chi nhánh đã làm tăng vòng quay vốn của mình lên mức 1,73 vòng, tăng đáng kể so với năm 2010

và được duy trì sang đến năm 2012. Điều này có được là do doanh số thu nợ DNNVV

trong 2 năm tương đối cao, đặc biệt là doanh số thu nợ năm 2011 đã tăng 64,05% so

với năm 2010 và tăng cao hơn so với tốc độ tăng của dư nợ bình quân trong kì (dư nợ bình quân trong kì năm 2011 tăng 27,44% so với năm 2010). Chính sự cẩn trọng trong

quá trình xét duyệt cấp cho vay và sát sao hơn trong việc giám sát sử dụng vốn, thu hồi

nợ đã giúp Chi nhánh tăng được doanh số thu hồi nợ của mình. Chất lượng tín dụng tốt

hơn, các doanh nghiệp có kết quả SXKD tốt, tạo ra được lợi nhuận giúp cho công tác

thu hồi nợ của ngân hàng thuận lợi và dễ dàng hơn rất nhiều. Với vòng quay vốn tương

đối cao, nó đã cho thấy khả năng thu hồi nợ đúng hạn của ngân hàng tương đối nhanh,

giúp Chi nhánh đảm bảo khả năng thanh khoản, giảm thiểu rủi ro và có vốn để tái cho vay. Đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn năm 2011, nhiều DNNVV gặp

khủng hoảng làm ăn kém hiệu quả dẫn đến giải thể và phá sản nhưng vòng quay vốn

của Chi nhánh không bị sụt giảm mà lại có chiều hướng gia tăng, đây là một dấu hiệu

tích cực trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Năm 2012, mặc dù vòng quay vốn

của Chi nhánh có giảm xuống còn 1,63 nhưng mức giảm không đáng kể, nguyên nhân

chủ yếu là do doanh số thu nợ và dư nợ bình quân tăng thấp hơn năm 2011 và khoảng

cách giữa mức tăng của doanh số thu nợ và dư nợ bình quân không cao như năm 2011

khiến cho vòng quay vốn tín dụng có bị sụt giảm ít. Tuy nhiên, trước tình hình khó

khăn chung thì đây là một vòng quay vốn có thể chấp nhận được. Để tiếp tục duy trì và

có thể tăng vòng quay vốn tín dụng trong thời gian tới, Chi nhánh cần áp dụng các biện pháp tốt, có hiệu quả đã làm trong thời gian qua để nâng cao chất lượng khoản vay giảm thiểu rủi ro cho vay và đẩy mạnh công tác thu hồi nợ, đặc biệt tăng cường công tác thu hồi nợ quá hạn,.

56

Tỷ lệ nợ quá hạn

Bảng 2.13. Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay DNNVV

Đơn vị: Triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

113.301 137.352 171.628 Dƣ nợ cho vay DNNVV

3.852 6.387 6.642 NQH cho vay DNNVV

3,4 4,65 3,87 Tỷ lệ NQH DNNVV (%)

30,16 42,97 39,21 Tỷ lệ NQH DNNVV/ tổng NQH (%)

(Nguồn: Phòng khách hàng doanh nghiệp Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt)

Những khó khăn chung của nền kinh tế năm 2011-2012 khiến hoạt động sản xuất

kinh doanh của DNNVV vốn chứa đựng rủi ro cao lại càng khó khăn hơn. Nhiều

doanh nghiệp không có khả năng trả nợ ngân hàng, dẫn tới tình trạng ngừng sản xuất hay phải tuyên bố giải thể. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới công tác hạn chế rủi ro

cho vay của Chi nhánh. Nhìn vào bảng trên ta có thể thấy, tỷ lệ nợ quá hạn của

DNNVV 2010-2012 tại Chi nhánh có sự biến động qua từng năm. Năm 2010, nợ quá

hạn cho vay DNNVV của Chi nhánh là 3.852 triệu đồng chiếm 3,4% tổng dư nợ cho

vay DNNVV. Sang năm 2011, nợ quá hạn là 137.352 triệu đồng đã lên 6.387 triệu

đồng, chiếm tới 4,65% tổng dư nợ cho vay DNNVV (tăng 65,81% so với năm 2010).

Tuy vẫn năm trong mức có thể chấp nhận được (2%-5%) nhưng đây là một dấu hiệu đáng báo động. Nguyên nhân khách quan cho thấy 2011 là một năm đầy khó khăn của

nền kinh tế khi mà sản xuất kinh doanh khó khăn, lãi suất chưa điều chỉnh linh hoạt,

lạm phát tăng làm các doanh nghiệp gặp khó khăn khi hàng hóa sản xuất ra không tiêu

thụ được, sản xuất đình trệ đã khiến các doanh nghiệp không còn đảm bảo thời gian trả

nợ cho ngân hàng theo hợp đồng kí kết ban đầu. Có một số lượng lớn các doanh

nghiệp làm ăn thua lỗ, phá sản, không trả được nợ, chủ yếu nằm trong khối DNNVV.

Ngoài nguyên nhân khách quan từ phía khách hàng, còn có nguyên nhân chủ quan từ

phía ngân hàng. Đó chính là việc phân tích đánh giá phương án/ dự án vay vốn hay

xem xét, theo dõi thực trạng SXKD của khách hàng chưa sát với thực tế, kiểm soát

mục đích vay và quá trình sử dụng vốn vay một cách lỏng lẻo đã dẫn tới hệ quả là khách hàng sử dụng vốn vay kém hiệu quả, làm ảnh hưởng tới chất lượng các khoản vay, gia tăng nợ quá hạn. Việc Chi nhánh mở rộng cho vay DNNVV tuy không thể tránh khỏi sự tăng lên của nợ quá hạn nhưng việc tăng lên quá nhanh phản ánh phần lơ là trong công tác giám sát tín dụng, phát hiện và phòng ngừa rủi ro. Tuy nhiên sang năm 2012, với việc hạn chế các khoản vay nợ xấu, quản trị rủi ro hiệu quả, tình hình đã được cải thiện rõ rệt tỷ lệ nợ quá hạn giảm xuống 3,87% tương ứng với nợ quá hạn là 6.642 triệu đồng. Có được kết quả trên là do Chi nhánh đã thắt chặt tín dụng, giải ngân ít hơn, kiểm soát chặt chẽ hơn trong cho vay các lĩnh vực nhiều rủi ro như: Kinh 57

doanh bất động sản, kinh doanh chứng khoán, xây dựng,…, cán bộ tín dụng đã tích

cực hơn trong việc giám sát các khoản vay, thu hồi nợ. Chi nhánh cần tiếp tục phát huy

và duy trì để tỷ lệ nợ quá hạn được ổn định ở mức thấp nhất có thể.

Tỷ trọng nợ quá hạn cho vay DNNVV trong tổng nợ quá hạn của Chi nhánh năm

2010 là 30,16%, năm 2011 tăng lên đến 42,97%, sang năm 2012 giảm xuống còn

30,21%. Tỷ trọng nợ quá hạn cho vay DNNVV trong tổng nợ quá hạn cho biết cứ 100

đồng nợ quá hạn của Chi nhánh thì nợ quá hạn cho vay DNNVV chiếm bao nhiêu

đồng. Từ số liệu cho thấy, sự tăng giảm của tỷ trọng này qua các năm vẫn còn biến động, tuy nhiên xét về tỷ trọng dư nợ cho vay DNNVV trên tổng dư nợ (chiếm hơn

40%) cũng như tỷ lệ nợ quá hạn thì sợ tăng giảm này là hợp lý.

Tỷ lệ nợ xấu

Bảng 2.14. Tỷ lệ nợ xấu cho vay DNNVV

Đơn vị: Triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

113.301 137.352 171.628 Dƣ nợ cho vay DNNVV

1.246 2.060 1.785 Nợ xấu cho vay DNNVV

1,1 1,5 1,04 Tỷ lệ nợ xấu DNNVV (%)

32,35 32,25 26,87 Nợ xấu DNNVV/ NQH DNNVV (%)

9,76 13,86 10,54 Nợ xấu DNNVV/ tổng NQH (%)

(Nguồn: Phòng khách hàng doanh nghiệp Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt)

Tỷ lệ nợ xấu phản ánh rõ nét tình hình rủi ro, mức độ trong hoạt động cho

vay của Chi nhánh. Từ bảng trên cho thấy trong năm 2010 tỷ lệ nợ xấu cho vay

DNNVV của Chi nhánh là 1,1% tương ứng với 1.246 triệu đồng tỷ lệ này thấp hơn

nhiều so với tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống Techcombank (2,29%). Tuy nhiên, sang

đến năm 2011 tỷ lệ nợ xấu tăng lên đến 1,5% do trong năm 2011 tình hình kinh tế biến

động, lạm phát, lãi suất tăng cao, sức mua giảm sút ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp đặc biệt DNNVV; nhiều doanh nghiệp rơi vào tình

trạng thua lỗ không trả được vốn và lãi đúng hạn dẫn đến nợ xấu tăng cao. Bên cạnh

đó, Chi nhánh đã có phần chủ quan trong công tác đánh giá nhận định rủi ro của các khoản vay, xử lý chưa triệt để nợ nhóm 2 đã dẫn đến phát sinh thêm nợ xấu. Đến năm

2012 kinh tế vẫn đầy khó khăn nhưng Chi nhánh đã có nhiều công tác hạn chế nợ xấu, giám sát tín dụng, bám sát khách hàng vay vốn, thúc giục doanh nghiệp trả nợ đến hạn tỷ lệ nợ xấu đã cải thiện đáng kể chiếm 1,04% tương ứng mức giảm. Với nỗ lực trên Chi nhánh đã thu hồi được các khoản nợ cả gốc và lãi, không để xảy ra tình trạng mất trắng. Bên cạnh đó, hoạt động SXKD của các DNNVV trên địa bàn cũng có nhiều tín hiệu tích cực, khả năng trả nợ đúng hạn cho Chi nhánh được đảm bảo ở mức cao hơn.

58

Nhìn chung tỷ lệ nợ xấu của Chi nhánh trong cho vay DNNVV tuy có sự tăng giảm

nhưng cũng khá an toàn và phù hợp so với toàn hệ thống Techcombank (năm 2010 là

2,29%, năm 2011: 2,83%, năm 2012: 2,66%) và nhỏ hơn rất nhiều so với các NHTM khác trong 3 năm 2010, 2011, 2012 kinh tế biến đầy biến động. Nếu xét sự tương quan

giữa tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn cho vay DNNVV so với tỷ trọng DNNVV và doanh số

cho vay, dư nợ cho vay DNNVV ta thấy tỷ lệ này là khá phù hợp. Tỷ trọng DNNVV

luôn chiếm trên 80% tổng số doanh nghiệp, doanh số cho vay trong 2 năm 2011, 2012

đều ở mức trên 50%, năm 2010 là 43%; dư nợ cho vay DNNVV trên 40% trong 3 năm. Có thể nói, nợ xấu cho vay DNNVV không phải là nguyên nhân chính trong tổng

nợ xấu của Chi nhánh. Trong tương lai, Chi nhánh cần luôn chú ý đến khoản mục này

vì gia tăng nợ xấu gây bất lợi lớn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Tỷ lệ nợ xấu DNNVV trên nợ quá hạn DNNVV của Chi nhánh năm 2010 là 32,35% nghĩa là trong 100 đồng nợ quá hạn có 32,35 đồng nợ xấu. Sang năm 2011 tỷ

lệ này giảm nhẹ còn 32,25 %, năm 2012 tiếp tục giảm đến 26,87%. Điều này cho thấy

tỷ lệ nợ xấu đang có xu hướng chiếm tỷ trọng giảm bớt trong nợ quá hạn. Tuy đã có

chuyển hướng tích cực trong việc giảm tỷ lệ nợ xấu trên nợ quá hạn, giảm bớt áp lực

rủi ro trong hoạt động cho vay của Chi nhánh nhưng Chi nhánh vẫn không được chủ

quan vì vấn đề giám sát, thu hồi nợ vẫn đang gặp nhiều khó khăn trong thời gian hiện

nay. Chi nhánh phải tăng cường trong công tác giám sát tín dụng và sử dụng mọi biện pháp tận thu như: liên tục đôn đốc nhắn nhở khách hàng trong việc trả nợ, đề nghị các

cơ quan phát luật tại địa phương can thiệp và cưỡng chế đối với các DNNVV cố tình

chậm trả nợ vay. Khi mọi giải pháp mềm dẻo và cứng rắn không có tác dụng, ngân

hàng buộc phải tiến hành khởi kiện nếu khách hàng có dấu hiệu vi phạm hình sự.

Ngoài các giải pháp trên, Chi nhánh cũng đã chủ động trong việc cơ cấu lại nợ cho các

doanh nghiệp có uy tín nhưng gặp khó khăn tạm thời, có hướng SXKD tốt, có biện

pháp khắc phục những khó khăn hiện tại.

Tỷ lệ nợ xấu DNNVV trên tổng NQH của Chi nhánh năm 2010 là 9,76%, tức là

cứ 100 đồng NQH thì có 9,76 đồng là nợ xấu thuộc về cho vay DNNVV. Tỷ lệ này

tăng lên 13,86% trong năm 2011 và 10,54% năm 2012. Nguyên nhân là do các khoản nợ quá hạn đã chuyển thành nợ xấu phần lớn là các doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, phá sản, do vậy việc thu hồi nợ là rất khó khăn. Ngoài những nguyên nhân khách quan và tình hình khó khăn thực tế từ thị trường, đặc biệt là thị trường bất động sản và biến động về lãi suất, còn tồn tại các nguyên nhân chủ quan từ phía Chi nhánh mà đặc biệt nghiêm trọng là trường hợp rủi ro đạo đức, vi phạm nguyên tắc nghề nghiệp trong đội ngũ cán bộ nhân viên của Chi nhánh trong năm 2011. Nó đã gây ảnh hưởng xấu tới hình ảnh, uy tín của ngân hàng, tạo ra tác động tâm lý xấu cho các cán bộ nhân viên khác. Tuy nhiên, so với tỷ lệ NQH cho vay DNNVV trên tổng NQH của Chi nhánh

59

trong 3 năm (đều trên 30%) thì tỷ lệ này khá thấp. Nhưng không vì thế mà Chi nhánh

chủ quan, vẫn cần chú ý hơn đến chỉ tiêu này vì sự gia tăng của nợ xấu sẽ gây bất lợi

cho hoạt động kinh doanh trong những năm tới. Chi nhánh cần phân tích, dự đoán tình hình kinh tế trong thời gian tới để đưa ra các phương án điều chỉnh cho công tác quản

lý nợ xấu, từ đó có thể thành lập một ban chỉ đạo và tổ xử lý, thu hồi nợ xấu độc lập để

tăng cường kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay, đẩy mạnh công tác thu hồi nợ tồn

đọng giảm thiểu nguy cơ nợ xấu xuất hiện.

Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro

Bảng 2.15. Tỷ lệ trích lập DPRR cho vay DNNVV

Đơn vị: Triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

1.286 2.067 1.988 DPRR cho vay DNNVV đƣợc trích

113.301 137.352 171.628 Dƣ nợ cho vay DNNVV

1,14 1,50 1,16 Tỷ lệ trích (%)

(Nguồn: phòng khách hàng doanh nghiệp Techcombank-Chi nhánh Hoàng Quốc Việt)

Tỷ lệ này cho biết DPRR trong cho vay DNNVV được trích so với tổng dư nợ

cho vay DNNVV là bao nhiêu. Tỷ lệ này cao chứng tỏ chất lượng cho vay DNNVV là

chưa tốt, vẫn phải trích lập dự phòng nhiều. Trong năm 2010, Chi nhánh trích lập

DPRR là 1,14%, đây là tỷ lệ trích lập dự phòng thấp nhất trong 3 năm từ 2010 đến

năm 2012. Đến năm 2011, tỷ lệ này tăng thêm 0,36% lên 1,50%. Tỷ lệ trích lập dự phòng năm 2011 cao nguyên nhân chính là do Chi nhánh nâng cao tỷ trọng cho vay

DNNVV, cùng với ảnh hưởng khó khăn chung của nền kinh tế, lạm phát tăng cao ảnh

hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của các doanh nghiệp, tỷ

lệ nợ quá hạn và nợ xấu tăng nên trích lập dự phòng của Chi nhánh tăng lên 2.067 triệu

đồng (năm 2011). Năm 2012, nợ xấu của Chi nhánh đã giảm so với năm 2011 nên tỷ lệ

DPRR giảm còn 1,16%. Sự gia tăng của DPRR sẽ làm giảm thu nhập của ngân hàng,

thể hiện chất lượng cho vay chưa tốt; vì vậy Chi nhánh cần chú ý hơn đến chỉ tiêu này

làm sao để giảm tỷ lệ trích lập DPRR xuống mức thấp nhất có thể.

Hệ số khả năng bù đắp rủi ro

Bảng 2.16. Hệ số khả năng bù đắp rủi ro cho vay DNNVV

Đơn vị: Triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

1.286 2.067 1.988 DPRR cho vay DNNVV đƣợc trích

816 1.471 1.541 Nợ đã xử lý

1,58 1,41 1,29 Hệ số khả năng bù đắp (lần)

(Nguồn: Phòng khách hàng doanh nghiệp Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt)

60

Khi các khoản vay đã được xử lý, tức là đã xảy ra thất thoát trong ngân hàng thì hệ

số khả năng bù đắp rủi ro này sẽ cho biết ngân hàng có đủ khả năng bù đắp cho số dư nợ

đã mất đi bằng dự phòng rủi ro tín dụng hay không. Nhìn vào bảng số liệu trên ta có thể thấy, năm 2010, hệ số khả năng bù đắp rủi ro đối với DNNVV là 1,58 lần. Sang đến

năm 2011, số dư nợ đã xử lý là 1.471 triệu đồng, DPRR được trích là 2.067 triệu đồng

nên hệ số khả năng bù đắp rủi ro là 1,41 lần, giảm so với năm 2010. Hệ số này của Chi

nhánh trong 2 năm khá tốt (đều >1) vì số dư nợ đã xử lí không quá nhiều, nhiều khoản

vay ngân hàng tiến hành cơ cấu lại nợ để tạo cơ hội cho khách hàng trả nợ thay vì sử dụng dự phòng để xử lí. Đây là một hành động đúng đắn và kịp thời của Chi nhánh

trước tình hình nợ xấu của ngân hàng gia tăng. Với chính sách xử lí nợ xấu như vậy,

nhưng sang đến năm 2012, hệ số này ở mức 1,29, giảm so với năm 2011 là vì đã có

những khoản nợ xấu năm 2011 để lại được xử lý trong năm 2012. Mặt khác, do tăng của khoản nợ đã xử lí trong năm 2012 nhưng dự phòng rủi ro được trích lập lại thấp hơn

năm 2011. Như vậy, 1 đồng dư nợ bị mất đi chỉ được bù lại bằng 1,29 đồng dự phòng.

Chỉ tiêu này giảm tuy không nhiều nhưng Chi nhánh cần hết sức lưu ý vì nó phản ánh

trực tiếp sự an toàn, ổn định về vốn cũng như chất lượng cho vay của Chi nhánh.

Thu nhập từ cho vay DNNVV

Bảng 2.17. Thu nhập từ cho vay DNNVV

Đơn vị: Triệu đồng

Chênh lệch năm 2010-2011 Chênh lệch năm 2011- 2012

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Tuyệt đối Tƣơng đối Tƣơng đối (%) Tƣơng đối (%)

4.486 2.636 6.273 1.850 1.787 70,18 39,84

13.853 4.993 2.396 6.464 8.860 37,07 56,35

40,78 50,63 - - - -

Thu lãi từ cho vay DNNVV Thu lãi từ cho vay 45,28 Tỷ trọng (%) (Nguồn: Phòng khách hàng doanh nghiệp Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt) Cùng với sự gia tăng của doanh số cho vay và dư nợ cho vay DNNVV, thu lãi từ cho vay của Chi nhánh cũng liên tục tăng qua các năm: Năm 2011, thu lãi cho vay

DNNVV là 4.486 triệu đồng, tăng 1.850 triệu đồng so với năm 2010, tương đương mức tăng là 70,18%; đến năm 2012, lãi thu là 6.273 triệu đồng, tăng 1.787 triệu đồng, tương ứng 39,84% so với năm 2011. Chỉ tiêu thu lãi từ cho vay DNNVV cho biết thu nhập từ hoạt động cho vay DNNVV chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng thu nhập cho vay của ngân hàng. Mức tăng về thu lãi cho vay lãi DNNVV đã cho thấy những hiệu quả trong

công tác thu hồi nợ cũng như chất lượng các khoản vay ngày càng được nâng cao. Đặc

61

biệt, nó cũng cho thấy chất lượng làm việc của cán bộ nhân viên trong Chi nhánh và

hoạt động cho vay DNNVV thực sự là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việc

mang lại nguồn thu ổn định và chủ yếu cho ngân hàng. Năm 2012 có mức tăng thấp hơn năm 2011, nguyên nhân là do chưa đến kỳ hạn trả nợ, một phần khác là do khách hàng

gặp khó khăn về tài chính và trong kinh doanh nên không trả nợ được đúng hạn cho Chi

nhánh. Tỷ trọng lãi thu được từ cho vay DNNVV (trên 40%) phù hợp với doanh số cho

vay và dư nợ cho vay DNNVV của Chi nhánh. Tỷ trọng này tăng lên trong năm 2011

(50,63%) và năm 2012 (45,28%) so với năm 2010 (40,78%) cho thấy vai trò cho vay DNNVV của Chi nhánh ngày càng được coi trọng, thể hiện chính sách hỗ trợ cho vay

DNNVV đã gặt hái được khá nhiều thành công. Tỷ trọng năm 2012 có phần giảm sút so

với năm 2011 (5,35%) trong khi thu lãi từ cho vay DNNVV vẫn tăng do khoản thu từ

các đối tượng khác tăng cao hơn. Chi nhánh cần chú trọng cân đối giữa các đối tượng vay khác để nâng cao được doanh thu trong thời gian tới.

2.3. Đánh giá về thực trạng hạn chế rủi ro cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Kỹ thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Hoàng

Quốc Việt 2.3.1. Những kết quả đạt được

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, rất nhiều thuận lợi và khó khăn cùng xuất hiện và tồn tại đối với ngành ngân hàng nói riêng và tất cả các thành phần kinh tế nói chung,

Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam cùng với Chi nhánh Hoàng Quốc

Việt đã không ngừng nỗ lực hoạt động và đổi mới để giữ vững vị thế, lớn mạnh hơn

nữa. Việc cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng và mục tiêu trở thành “Ngân hàng tốt

nhất Việt Nam về mọi mặt” chính là động lực để Chi nhánh không ngừng cải thiện,

nâng cao chất lượng, dịch vụ, đa dạng hóa các sản phẩm và các hình thức kinh doanh,

đồng thời mở rộng mạng lưới nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của người dân và các

doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội, cũng như mang lại lợi nhuận cao nhất

cho chính Chi nhánh và toàn ngân hàng.

Mặc dù mới bước sang năm thứ 7 hoạt động nhưng Chi nhánh đã đạt được những

kết quả tốt trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ. Chi nhánh đã phát huy được những thế mạnh của mình, mặt khác xác định được những mục tiêu phát triển phù hợp với quy mô, chiến lược chung của toàn ngân hàng. Chi nhánh xác định phương hướng tăng doanh thu từ các hoạt động dịch vụ nhưng hoạt động tín dụng vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất và mang lại lợi nhuận cao cho Chi nhánh. Đồng thời là định hướng phát triển hoạt động cho vay tới mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề và mọi đối tượng khách hàng, đặc biệt

là các DNNVV với phương châm an toàn và sinh lời. Nhận thấy được tầm quan trọng của DNNVV trong nền kinh tế thị trường, những năm qua Chi nhánh đã chú ý đến việc

mở rộng và hỗ trợ cho vay DNNVV. Bên cạnh đó Chi nhánh cũng tích cực đẩy mạnh 62

công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong cho vay DNNVV để đảm bảo hoạt động

kinh doanh an toàn, hiệu quả trong bố cảnh nền kinh kinh tế có nhiều biến động không

thuận lợi. Những thành tựu mà Chi nhánh đạt được trong cho vay DNNVV như sau:

Quy mô doanh số cho vay và dư nợ cho vay đối với DNNVV luôn chiếm tỷ trọng

lớn với tốc độ tăng trưởng cao và ổn định. Sau giai đoạn khó khăn chung của nền kinh

tế năm 2008 - 2010, hoạt động cho vay đối với DNNVV của Chi nhánh vẫn đạt được

những kết quả tương đối khả quan. Năm 2011 và 2012 chứng kiến bước phát triển

vững chắc khi doanh số cho vay DNNVV tăng từ con số 1.073 triệu đồng năm 2008 lên 126.951 triệu đồng năm 2010 và dư nợ cho vay cũng tăng từ 1.052 triệu đồng năm

2008 lên đến 113.301 triệu đồng năm 2010, 137.352 năm 2011, 171.628 triệu đồng

năm 2012. Tốc độ tăng của dư nợ cho vay duy trì ở mức 67%/năm. Đồng thời xu

hướng tăng của tỷ trọng dư nợ và doanh số cho vay đối với DNNVV những năm qua cũng chứng tỏ việc mở rộng hoạt động cho vay với loại hình doanh nghiệp này đã

được Chi nhánh chú trọng phát triển. Số lượng khách hàng là các DNNVV có quan hệ

tín dụng với Chi nhánh ngày càng tăng lên. Chi nhánh đã kết hợp giữa việc duy trì và

củng cố quan hệ hợp tác với các khách hàng cũ, khách hàng chiến lược với việc mở

rộng, tìm kiếm những khách hàng mới. Đây là những thành công bước đầu của Chi

nhánh trong việc thu hút khách hàng và mở rộng thị phần. Kết quả thu được là doanh

thu và lợi nhuận của Chi nhánh trong 3 năm trở lại đây đều tăng trưởng và khá cao, đóng góp tích cực vào thành công chung của toàn NH TMCP Kỹ thương Việt Nam.

Cơ cấu cho vay của khối DNNVV có xu hướng giảm tỷ trọng cho vay trung và

dài hạn, tăng tỷ trọng cho vay ngắn hạn. Đối với cơ cấu tài trợ cho vay theo lĩnh vực

hoạt động, tín dụng dành cho các doanh nghiệp thương mại – dịch vụ chiếm tỷ trọng

lớn nhất, tiếp đến là các doanh nghiệp thuộc ngành nông lâm thủy sản. Cơ cấu này là

dựa vào việc phát huy năng lực và thế mạnh của Chi nhánh kết hợp với việc thích ứng

với những biến động của nền kinh tế.

Hoạt động cho vay đối với DNNVV của Chi nhánh có tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu

có sự tăng lên qua các năm nhưng tốc độ tăng này nhỏ hơn nhiều so với tốc độ tăng

của tổng dư nợ và luôn thấp hơn mặt bằng chung của Techcombank cũng như toàn ngành ngân hàng.

Việc trích lập dự phòng rủi ro và dùng dự phòng xử lý nợ xấu được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ theo đúng quy định của NHNN góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng nợ, giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra trong cho vay.

Khối tín dụng và quản trị rủi ro được hình thành từ cuối năm 2007 đã phát huy tốt vai trò của mình, khả năng quản trị rủi ro của Chi nhánh ngày càng được nâng cao, Chi nhánh tuân thủ những kế hoạch, định hướng liên quan đến các tiêu chuẩn về rủi ro cũng như chiến lược quản trị rủi ro của Ngân hàng. Techcombank hiện là một trong

63

những ngân hàng áp dụng hệ thống quản trị và kiểm soát rủi ro tiên tiến. Hệ thống

quản trị được xây dựng trên các yếu tố nền tảng như hài hòa quyền lợi của các bên

tham gia, sự tham gia tích cực của ban lãnh đạo, mô hình tổ chức hợp lý và kiểm soát lẫn nhau, hệ thống thông tin quản trị kịp thời và chính sách nhân sự tiên tiến. Quy trình

và các công cụ quản trị rủi ro bao gồm các hình thức tiên tiến như chính sách và sổ tay

tín dụng, hệ thống thông tin theo dõi ngành, hệ thống đánh giá chấm điểm khách hàng,

các hệ thống cảnh báo và theo dõi sớm nợ xấu… Chi nhánh đang từng bước hoàn thiện

hệ thống quản lý, giám sát rủi ro chuyên sâu của mình. Tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu của DNNVV trong năm 2012 đã giảm đã chứng tỏ Chi nhánh tích cực kiểm soát và thu hồi

các khoản nợ xấu đảm bảo ở mức an toàn theo quy định của Techcombank.

Chi nhánh đã áp dụng chính sách cho vay riêng dành cho DNNVV với các sản

phẩm cho vay tương đối đa dạng. Trên cơ sở chiến lược khách hàng của Techcombank đã xác định, các DNNVV là khách hàng chủ yếu, các khách hàng doanh nghiệp lớn là

những thách thức cần chinh phục và là dấu mốc để chứng minh năng lực cũng như uy

tín của Chi nhánh trên thị trường. Chi nhánh luôn có chủ trương đồng hành cùng

doanh nghiệp, chia sẻ cơ hội, hợp tác thành công. Đối với các DNNVV là khách hàng

truyền thống, nếu có dư nợ còn đang trong thời kì phải trả lãi cao, Chi nhánh đã chủ

động điều chỉnh giảm lãi suất trước hạn. Đối với các DNNVV có nhu cầu vay vốn

chưa đủ điều kiện vay vốn thì ngân hàng tư vấn cho DNNVV trong việc lành mạnh hóa tình hình tài chính, quản lý dòng tiền, xây dựng phương án sản xuất khả

thi…Chính sách tín dụng linh hoạt đã giúp Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc

Việt thu hút thêm nhiều khách hàng DNNVV cũng như giữ chân các DNNVV cũ và

tăng trưởng quy mô tín dụng đối với DNNVV.

2.3.2. Những tồn tại cần khắc phục

Bên cạnh đó công tác hạn chế rủi ro trong cho vay DNVVN tại Techcombank -

Chi nhánh Hoàng Quốc Việt còn tồn tại những vấn đề sau .

Tỷ lệ nợ xấu của Chi nhánh có xu hướng tăng từ 2010 đến 2011. Năm 2010 tỷ lệ

nợ xấu là 1,1%, năm 2011 là 1,5%, năm 2012 tỷ lệ nợ xấu của Chi nhánh giảm còn

1,04%, tuy đã nhỏ hơn so với nhiều Chi nhánh khác của Techcombank và cao như nhiều NHTM gặp phải trong năm 2011 nhưng điều này cho thấy công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro cho vay DNNVV ở Chi nhánh còn nhiều bất cập trong điều kiện kinh tế diễn biến phức tạp như những năm vừa qua. Chi nhánh vẫn còn nhiều khoản nợ xử lý chậm; dù doanh số thu nợ khả quan nhưng hiện tại Chi nhánh vẫn còn nhiều khoản nợ tồn đọng, nợ quá hạn của DNNVV tiến độ xử lý chậm, chất lượng chưa cao.

Về việc chấp hành cơ chế, quy chế cho vay và thẩm định nhu cầu vay vốn của khách hàng còn hạn chế. Việc chấp hành quy trình cho vay đôi khi chưa được coi trọng. Công tác đánh giá năng lực tài chính khách hàng vẫn dựa nhiều vào các tài liệu

64

sổ sách mà khách hàng cung cấp, làm giảm đi tính thực tế của việc đánh giá khách

hàng. Trong quá trình xét duyệt và phán quyết cho vay cũng như quá trình kiểm ra

trước, trong và sau khi cho vay còn sao nhãng, chưa thực sự đi sâu, đi sát với tình hình SXKD của doanh nghiệp nên nhiều khi có dấu hiệu rủi ro, hoặc những khó khăn mà

doanh nghiệp gặp phải chưa được phát hiện, xử lý, giúp đỡ kịp thời. Hoặc trong quá

trình thẩm định, với những khách hàng truyền thống, cán bộ thẩm định lơ là, không

tuân thủ nguyên tắc làm tăng rủi ro của khoản vay. Bên cạnh đó, các yếu tố phi tài

chính như cơ cấu bộ máy nhân sự của doanh nghiệp, trình độ và kinh nghiệm quản lý của người lãnh đạo doanh nghiệp, thị phần hay quan hệ của doanh nghiệp với các đối

tác, các tổ chức tài chính…chưa được đề cao và thẩm định một cách kỹ lưỡng trong

quá trình đánh giá chất lượng khách hàng.

Chi nhánh chưa xây dựng phương pháp nhận diện và phân loại rủi ro cho vay thống nhất. Việc nhận diện và phân loại chủ yếu dựa trên kinh nghiệm của cán bộ

thẩm định và cán bộ tín dụng. Bên cạnh đó, công tác dự báo rủi ro chưa kịp thời, hệ

thống thông tin toàn ngân hàng còn chưa thống nhất, dẫn đến các công văn chỉ đạo

hạn chế tín dụng khi đã phát sinh nợ xấu hoặc khi tỷ trọng cho vay quá lớn, vượt quá

mức giới hạn cho phép, gây lúng túng trong việc quản lý rủi ro, trong đó có phòng

ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng.

Nguồn thông tin để phân tích và thẩm định tín dụng còn hạn chế. Thiếu nguồn thông tin chính xác, đáng tin cậy dẫn đến sự hạn chế trong công tác thẩm định, giám

sát tín dụng và đánh giá rủi ro cho vay của Chi nhánh. Hệ thống thông tin chi tiết

khoản vay chưa đầy đủ, chưa có thông tin về người bảo lãnh, số lần nhắc nợ, chưa

nhận biết được nhóm khách hàng liên quan.

Việc kiểm tra đôn đốc, thu hồi nợ chưa thực hiện triệt để. Mặc dù công tác thu

hồi nợ của Chi nhánh đã dần được cải thiện qua từng năm những vẫn còn tồn tại một

số hạn chế nhất định. Đôi khi, trách nhiệm của từng khâu, từng bộ phận trong việc

kiểm tra, đôn đốc thu hồi nợ còn chưa rõ ràng và bị chồng chéo. Các bộ phận, phòng

ban còn thiếu sự liên kết trong việc rà soát, đối chiếu, điều chỉnh và xử lí triệt để các

khoản nợ. Công tác tổ chức xác minh khách hàng, nghiên cứu, đánh giá hồ sơ và thực trạng để lập kế hoạch, phương án xử lý nợ, khai thác đối với từng tài sản thu nợ đôi khi còn thiếu sót.

Sự chênh lệch trình độ của cán bộ và quy trình tuyển nhân viên mới còn chưa hiệu quả. Tuy trình độ cán bộ của Chi nhánh là khác cao nhưng vẫn có sự chênh lệch đáng kể về trình độ cán bộ của một phòng, giữa các phòng...Các cán bộ phụ trách quản lý rủi ro cho vay phần lớn là các cán bộ tín dụng, chưa được đào tạo chuyên môn về quản trị rủi ro. Bên cạnh đó, đặc trưng đội ngũ cán bộ mà Chi nhánh hướng tới và tuyển dụng đa số là trẻ, nên thiếu kinh nghiệm trong công tác tín dụng, chưa nắm bắt

65

được tất cả nội dung của quy trình tín dụng mới và điều này sẽ có thể dẫn đến rủi ro

cho Chi nhánh.

Chi nhánh chưa thực hiện bắt buộc DNNVV phải mua bảo hiểm từ chỗ tổ chức bảo hiểm chuyên nghiệp để đảm bảo cho sợ an toàn vốn vay từ ngân hàng. Vấn đề xác

định tài sản bảo đảm, các điều kiện cho vay không cần tài sản bảo đảm và có tài sản

bảo đảm còn nhiều quy định không rõ ràng, phụ thuộc nhiều vào quyết định chủ quan

của cán bộ tín dụng. Hệ quả là đánh giá sai giá trị tài sản bảo đảm, tăng nguy cơ gây

rủi ro cho vay.

2.3.3. Nguyên nhân của những tồn tại 2.3.3.1. Nguyên nhân khách quan

Môi trƣờng pháp lý chƣa đầy đủ, đồng bộ Khuôn khổ pháp lý cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNVV chưa đầy đủ và đồng bộ. Quản lý nhà nước đối với DNNVV còn lỏng lẻo. Khuôn khổ pháp lý liên

quan đến hoạt động cho vay giữa NHTM với doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói

riêng còn bất cập đã gây bó buộc hoạt động của các DNNVV, vừa tạo khe hở để các

DNNVV lợi dụng. Đặc biệt là môi trường pháp lý trong việc xác định quyền sở hữu

các tài sản dùng làm thế chấp chưa thực sự xử lý nghiêm minh các doanh nghiệp vi

phạm pháp lệnh. Thủ tục khởi kiện của ngân hàng còn rườm rà, tốn nhiều thời gian.

Mặt khác, cũng giống các NHTM khác ngân hàng chưa quen trao đổi thông tin về tình hình khách hàng cho các ngân hàng bạn bởi lý do cạnh tranh nên đến nay hệ thống

thông tin tại Trung tâm thông tin NHNN ( CIC) chưa đáp ứng được nhu cầu của ngân

hàng. Nghị định 90/2001/NĐ-CP về hỗ trợ hoạt động của DNNVV được triển khai và

đưa vào thực tế còn gặp nhiều khó khăn và hiệu quả chưa cao. Hiện nay, Quỹ bảo lãnh

tín dụng DNNVV do Bộ tài chính chủ trì và xây dựng cũng chưa đáp ứng được yêu

cầu đặt ra về trợ giúp DNNVV như một chính sách hiệu quả.

Môi trƣờng kinh tế thiếu ổn định Tình hình kinh tế trong những năm vừa qua của thế giới nói chung và Việt Nam

nói riêng hết sức ảm đạm. Suy thoái kinh tế vẫn có tác động không nhỏ do những diễn

biến bất ổn của nền kinh tế thế giới cũng đã gián tiếp ảnh hưởng bất lợi đến Việt Nam. Thị trường bất động sản, chứng khoán chưa thực sự hồi phục, cùng với biến động bất thường của giá vàng, tỷ giá USD đã gây ra những khó khăn nhất định tới hoạt động của các ngân hàng. Năm 2012 là một năm thực sự khó khăn với doanh nghiệp Việt Nam. Những biến động kinh tế toàn cầu khiến cho thị trường bị thu hẹp, hàng tồn kho tăng cao… Các chương trình trọng tâm của hệ thống ngân hàng như tái cơ cấu và xử lý nợ xấu có tiến triển nhưng còn chậm, chưa tạo chuyển biến tích cực.

Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra nhiều quy định mới về tiêu chuẩn năng lực tài chính của ngân hàng và một số chỉ tiêu an toàn trong hoạt động tín dụng đã được áp

66

dụng theo hướng đảm bảo an toàn hơn, đáp ứng được các chuẩn mực quốc tế. Để đáp

ứng các tiêu chuẩn mới này, các ngân hàng cũng phải điều chỉnh cơ cấu tài sản, nâng

cao năng lực tài chính, cơ chế quản trị rủi ro, thay đổi chính sách kinh doanh… Đây là thách thức không nhỏ đối với các NHTM nói chung và Techcombank - Chi nhánh

Hoàng Quốc Việt nói riêng. 2.3.3.2. Nguyên nhân chủ quan

Nguyên nhân từ phía ngân hàng NH thiếu thông tin tín dụng về các DNNVV Thực tế, việc thu thập, khai thác và sử dụng thông tin từ các nguồn tại Chi nhánh

còn hạn chế. Chi nhánh chủ yếu sử dụng nguồn thông tin do thu thập được từ khách

hàng như: hồ sơ vay vốn, báo cáo tài chính, phỏng vấn khách hàng. Đối với thông tin

từ bên ngoài thì chủ yếu là thông tin từ CIC. Ngoài ra, việc thu thập thông tin về DNNVV thông qua các kênh khác như: từ nhà cung cấp của doanh nghiệp, từ khách

hàng của doanh nghiệp, từ sự hợp tác giữa các NHTM, từ cơ quan thuế, từ thông tin

đại chúng và từ các NHTM khác còn rất hạn chế. Do đó, vẫn chưa có sự xác minh các

thông tin bằng việc so sánh, đối chiếu các nguồn thông tin khác nhau. Chất lượng

thông tin thu thập được chưa thực sự đáng tin cậy.

Chất lượng đội ngũ cán bộ tín dụng chưa cao

CBTD là người chịu trách nhiệm thu thập các thông tin cần thiết, vì vậy chất lượng CBTD ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng khoản vay. Tuy hầu hết CBTD đều có

trình độ đại học, nhưng ngoài kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, cán bộ tín dụng cần

am hiểu các lĩnh vực khác. Mặt khác, hầu hết CBTD còn rất trẻ, do vậy thiếu thực tiễn

kinh nghiệm và hiểu biết về khách hàng, về các ngành nghề kinh doanh của doanh

nghiệp vay tiền, trong khi đó, môi trường kinh doanh ngày càng biến động phức tạp,

đòi hỏi CBTD có khả năng phân tích tổng hợp rất rộng, dẫn đến hạn chế trong việc

thẩm định khách hàng, làm giảm chất lượng thẩm định cho vay. Điều này ảnh hưởng

phần nào đến hoạt động cho vay của Chi nhánh, tăng rủi ro cho vay cho Chi nhánh.

Chưa thực hiện nghiêm túc quy trình cho vay

Trong quá trình cấp cho khách hàng vay vốn, bước phân tích tín dụng tiềm ẩn rủi ro rất lớn. Những tài liệu của khách hàng cung cấp như giấy tờ pháp lý, phương án sản xuất kinh doanh và kế hoạch trả nợ, hợp đồng thế chấp, các báo cáo tài chính của công ty mang tính chất đối phó và không minh bạch. CBTD đôi khi hoàn toàn dựa trên tài liệu do khách hàng cung cấp, thiếu sự xác minh lại thông tin hoặc thiếu sự phân tích tính hợp lý thông tin. Do hoàn toàn dựa trên tài liệu của khách hàng nên tờ trình thẩm định khách hàng thường được trình bày rất suôn sẻ theo các khuôn mẫu có sẵn và chứa đựng các thông tin có lợi cho khách hàng nhưng không nêu được những điểm mấu

67

chốt có thể dẫn đến quyết định cho vay hay không cho vay. CBTD nếu như không

nhạy bén và kiểm tra cụ thể kỹ lưỡng dẫn đến gây tổn thất cho NH.

Sự phân công CBTD còn thiếu hợp lý: Hiện nay, tại Chi nhánh, mỗi CBTD được phân công một lượng khách hàng cụ

thể, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, phụ thuộc vào năng lực và kinh nghiệm của từng

CBTD. Tuy nhiên để đảm bảo chất lượng thẩm định, giám sát tín dụng, thì CBTD cần

phải thực sự am hiểu sâu sắc về lĩnh vực kinh doanh và đặc điểm hoạt động của từng

loại hình doanh nghiệp. Việc một CBTD phụ trách nhiều đối tượng khách hàng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau có thể dẫn đến sự hạn chế trong kết quả thẩm định cho vay.

Hơn nữa, do khối lượng hồ sơ vay phải xét duyệt quá nhiều và không có thời gian đọc

kỹ tờ thẩm định của nhân viên tín dụng nên người xét duyệt dễ bị chấp nhận điều kiện

nhân viên tín dụng đã chỉ ra mà quyết định xét duyệt cho vay. Mặt khác, người xét duyệt cũng dễ rơi và sai lầm do quá tin tưởng vào giá trị tài sản thế chấp đảm bảo, các

thông tin do nhân viên tín dụng đưa ra và sự kiểm tra trước đó của cấp dưới.

Công nghệ thông tin Chi nhánh và trình độ cán bộ còn hạn chế. Mặc dù, trong

năm 2011-2012 Techcombank dưới sự tư vẫn của McKinsery đã triển khai và áp dụng

các hệ thống mới tiên tiến như: Quy trình luân chuyển hồ sơ tín dụng tự động (ECM),

Hệ thống cảnh báo sớm EWS, hệ thống quản lý tín nhiệm định tính QCA, đo lường rủi

ro định lượng PV01. Tuy nhiên, Chi nhánh chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu thống nhất, nhân viên có trình độ xử lý để áp dụng hiệu quả các phương pháp định lượng

hiện đại.

Nguyên nhân từ phía khách hàng Hạn chế trong lập dự án của DNNVV

Khi các DNNVV vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh đa phần là

tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất, ít doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi mới cung

cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính , kế toán theo đúng

chuẩn dẫn đến khả năng quản lý và sử dụng khoản vay của DNNVV còn thấp. Mặt

khác, các DNNVV hầu hết trình độ cán bộ quản lý còn thấp, kinh nghiệm còn hạn chế.

Do đó nhiều dự án lập ra tưởng khả thi nhưng không lường hết những khó khăn phát sinh trong quá trình thực hiện nên thất bại dẫn đến thua lỗ, không trả được nợ. Trong thực tế, hầu hết các DNNVV không thể trực tiếp xây dựng được một dự án đầu tư trong dài hạn, thậm chí ngắn hạn. Trước tình hình đó, cán bộ tín dụng phải tư vấn cho doanh nghiệp về thủ tục và cách lập kế hoạch dự án cũng như các phương án vay vốn. Do đó tính khả thi của dự án không thực sự sát với thực tế.

Nhiều DNNVV đã sử dụng vốn sai mục đích Trong thực tế không ít các DNNVV sử dụng vốn vay vào các mục đích trục lợi cá nhân hoặc đầu tư vào những ngành nghề bất hợp pháp không phù hợp với những

68

điều kiện trong hợp đồng tín dụng đã ký hay không trả nợ đúng hạn cho Chi nhánh

gây nên khoản nợ quá hạn.. Những khoản vay đó nếu không được kiểm tra giám sát

thường xuyên và có những biện pháp kịp thời của CBTD. Nhiều DNNVV có hiện tượng dây dưa, chần trừ trong việc trả nợ cho Chi nhánh, gây nên ảnh hưởng không tốt

với Chi nhánh, làm tăng rủi ro cho vay. Các DNVVN Việt Nam có uy tín không cao

trên thị trường, chủ yếu là làm ăn nhỏ lẻ khó tạo lòng tin với cán bộ ngân hàng. Các

DNNVV tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn khi đăng ký kinh doanh một đằng

nhưng trên thực tế lại không thực hiện đúng như trên giấy đăng ký kinh doanh. Một số doanh nghiệp có tình trạng làm ăn không ổn định gây khó khăn cho ngân hàng.

KẾT LUẬN CHƢƠNG 2

Chương 2 đã giới thiệu sơ qua về lịch sử hình thành và phát triển, cơ cấu tổ chức

của Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt. Bên cạnh đó, chương 2 đã nêu lên những số liệu, thông tin tổng quan về tình hình

hoạt động kinh doanh của Chi nhánh về công tác huy động vốn, công tác sử dụng vốn

và kết quả kinh doanh qua ba năm 2010, 2011 và 2012. Từ việc dẫn chứng những cơ

sở lý luận, các cơ chế, chương này đã nêu lên những thông tin, góc nhìn khái quát về

tình hình cho vay đối với DNNVV tại Việt Nam hiện nay và tập trung phân tích thực

trạng hoạt động cho vay đối với DNNVV của Chi nhánh qua một số chỉ tiêu căn bản

như: Chỉ tiêu về doanh số cho vay, doanh số thu nợ và hệ số thu nợ, dư nợ cho vay, vòng quay vốn cho vay đối với DNNVV hay các chỉ tiêu nợ xấu, nợ quá hạn. Qua việc

phân tích đó, ta có thể thấy được một phần thực trạng hoạt động cho vay của Chi

nhánh và tìm ra những hạn chế còn tồn tại cũng như những nguyên nhân gây ra hạn

chế ấy. Đó cũng là cơ sở để có thể đưa ra một số giải pháp, kiến nghị với hy vọng hạn

chế rủi ro trong cho vay đối với doanh nghiệp DNNVV tại Ngân hàng thương mại cổ

phần Kỹ Thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt trong chương 3.

69

CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ

THƢƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH HOÀNG QUỐC VIỆT 3.1. Định hƣớng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Kỹ thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt 3.1.1. Định hướng phát triển chung hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

Nhất quán với mục tiêu trở thành “Ngân hàng tốt nhất và doanh nghiệp hàng đầu của Việt Nam” và là ngân hàng đầu tiên của Việt Nam áp dụng đầy đủ các chuẩn mực

quốc tế, Chi nhánh Hoàng Quốc Việt đã đề ra các định hướng trong thời gian sắp tới

theo định hướng phát triển chung của toàn Ngân hàng ngân hàng thương mại cổ phần

Kỹ Thương Việt Nam.

Để thực hiện tốt những chỉ tiêu mà NHNN cũng như những nhiệm vụ kinh doanh

mà Techcombank tin tưởng giao phó, Ban lãnh đạo Techcombank - Chi nhánh Hoàng

Quốc Việt đã đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ và phương hướng hoạt động trong năm 2013 như sau:

Mục tiêu: Tập trung, đốc thúc chỉ đạo các hoạt động kinh doanh của Chi nhánh

Tăng trưởng dư nợ tín dụng: 25%/năm trong đó dư nợ tín dụng ngắn hạn tăng 30%

Huy động vốn tăng trưởng 40%/năm Tỷ lệ nợ quá hạn duy trì dưới 1%, tỷ lệ nợ xấu duy trì dưới 0.5%

Để đạt được mục tiêu này, những nhiệm vụ chủ yếu cần thực hiện:

Theo dõi các chỉ thị về lãi suất huy động của NHNN để có sự điều chỉnh khung

lãi suất phù hợp với từng sản phẩm, với mục tiêu của Chi nhánh mà vẫn đảm bảo tuân

thủ đúng chỉ thị. Bên cạnh đó cần mở rộng mạng lưới các phòng giao dịch, hoặc quỹ

tiết kiệm trực thuộc, đa dạng thêm các hình thức huy động vốn, cải thiện phong cách

chăm sóc khách hàng nhằm thu hút nhiều hơn lượng tiền gửi vào Chi nhánh.

Cải thiện chất lượng tín dụng bằng việc giải quyết dứt điểm tình trạng nợ quá hạn

và nợ xấu hiện có. Đốc thúc các chuyên viên tín dụng kiểm tra các hồ sơ, rà soát lại dư

nợ cho vay đối với từng khách hàng, đặc biệt là khách hàng nợ quá hạn để nhanh chóng có các biện pháp thu hồi vốn về cho Chi nhánh.

Tăng trưởng thêm dư nợ tín dụng, đặc biệt là dư nợ tín dụng ngắn hạn mà vẫn đảm bảo một hoạt động tín dụng lành mạnh, an toàn và có hiệu quả. Mở rộng phạm vi cho vay đến mọi thành phần kinh tế trong xã hội, tăng thị phần cho vay đối với những khách hàng sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng có tình hình tài chính lành mạnh, có lịch sử vay nợ tốt, tạo được tín nhiệm đối với Chi nhánh.

70

Nâng cao chất lượng thẩm định đối với những khách hàng mới, tái thẩm định lại

những khách hàng truyền thống nếu khách hàng đó có nhu cầu vay lại, kiên quyết từ chối

những khoản vay không có dấu hiệu an toàn, dù là khách hàng thân thiết của Chi nhánh.

Thường xuyên giáo dục phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, kiểm tra giám sát các

hoạt động, nghiệp vụ để đẩy mạnh sự tuân thủ an toàn trong hoạt động Chi nhánh. Mặt

khác, tập trung đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ theo hướng nâng cao, chuyên

nghiệp, chuyên sâu theo nguyên tắc mọi cán bộ ngoài nhiệm vụ chính để phải nắm bắt

về cơ bản các nghiệp vụ khác để có thể tự tin giới thiệu sản phẩm, dịch vụ tới khách hàng, nhạy bén với các cơ hội thị trường.

Xây dựng chiến lược khách hàng, có chính sách cụ thể với từng nhóm khách

hàng nhằm tiếp cận khách hàng tiềm năng, có phương án sản xuất kinh doanh tốt, đảm

bảo về năng lực tài chính. Thêm vào đó, tăng cường công tác tuyên truyền, quảng cáo, hướng dẫn thực hiện nghiệp vụ cho vay DNNVV đến các doanh nghiệp.

3.1.2. Định hướng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

Hướng tới mục tiêu trở thành một trong những Chi nhánh hàng đầu trong hệ

thống, hoạt động cho vay DNNVV được xem là một trong những hoạt động quan

trọng hàng đầu của Techcombank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt hiện nay. Vì vậy, Chi

nhánh đã đề ra một số định hướng cụ thể đối với hoạt động cho vay DNNVV đầy tiềm năng như sau:

- Huy động tối đa nguồn vốn địa phương, tận dụng nguồn vốn ưu đãi từ các tổ

chức tài chính quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn của các DNNVV.

- Phấn đấu không ngừng tăng trưởng dư nợ cho vay đối với các DNNVV, mức

tăng trưởng trung bình mỗi năm tối thiểu 30%.

- Đẩy mạnh tăng trưởng đi đôi với kiểm soát, nâng cao chất lượng cho vay, đảm

bảo an toàn vốn vay, tăng cường giám sát khoản vay sau khi giải ngân, tư vấn, hỗ trợ

khách hàng trong trường hợp cần thiết. Phấn đấu tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn trong năm

tới không quá 1%.

- Chi nhánh sẽ phát triển các gói sản phẩm, dịch vụ mới phù hợp với đặc điểm và nhu cầu của các DNNVV tại Việt Nam hiện nay, thực hiện tốt công tác giới thiệu, quảng cáo để đưa các sản phẩm đến gần hơn với DNNVV.

- Các DNNVV có đủ điều kiện vay vốn, có uy tín, không có nợ cần chú ý, không có lãi treo sẽ được Chi nhánh - Hoàng Quốc Việt đáp ứng nhu cầu cho vay nhanh chóng với những ưu đãi về thời hạn cho vay, thu nợ, lãi suất. Ngoài ra, Chi nhánh thực hiện nới lỏng dần các điều kiện về tài sản đảm bảo, giúp cho các DNNVV có phương án sản xuất kinh doanh khả thi có điều kiện tiếp cận vốn vay.

71

- Thực hiện chuyển dịch cơ cấu khách hàng theo hướng giảm tỷ trọng doanh

nghiệp Nhà nước, tăng cho vay đối với khách hàng là doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Đặc biệt trong cho vay DNNVV, chuyển dịch cơ cấu từ giảm dần cho vay đối với các doanh nghiệp xây dựng, mở rộng cho vay đối với các doanh nghiệp xất nhập khẩu,

thương mại và dịch vụ.

- Đẩy mạnh cho vay trung và dài hạn đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, phấn

đấu nâng tỷ trọng cho vay lên mức 40%, dư nợ cho vay DNNVV vào năm tới.

- Đổi mới phương thức hoạt động cho vay theo hướng chủ động tìm kiếm và hỗ trợ DNNVV trong việc lập dự án đầu tư, lấy tính khả thi của dự án là cơ sở để quyết

định cho vay. Bên cạnh đó, thực hiện đơn giản hóa các thủ tục, rà soát các cơ chế

nghiệp vụ, rút ngắn thời gian giải quyết các món vay nhất là quá trình thẩm định, tạo

điều kiện thuận lợi cho các DNNVV có thể dễ dàng tiếp cận vay vốn.

- Thực hiện đánh giá năng lực, trình độ hiệu quả của cán bộ tín dụng qua chất

lượng cho vay; chú trọng công tác đào tạo lại, giáo dục chính trị tư tưởng…Đồng thời,

Chi nhánh sẽ chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn có khả năng

phân tích, thẩm định tốt, từ đó đưa ra những phương pháp, cách thức thẩm định cho

vay phù hợp với DNNVV.

Nhìn chung định hướng nâng cao chất lượng, hạn chế rủi ro trong hoạt động cho

vay DNNVV của Chi nhánh là phù hợp với khả năng thực tế và xu hướng chung, cũng như đáp ứng được nhu cầu về vốn của các DNNVV trên địa bàn.

3.2. Một số giải pháp hạn chế rủi ro đối với cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Kỹ Thƣơng - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt 3.2.1. Xây dựng chiến lược cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Chi nhánh trong thời gian tới

DNNVV là khu vực then chốt trong tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam và đang

phát triển rất nhanh chóng. Nhu cầu của DNNVV về các dịch vụ của ngân hàng trong

thời gian tới là rất lớn. Do vậy, việc xây dựng chiến lược cho vay đối với đối tượng

này là hết sức cần thiết. Chi nhánh sẽ đón bắt kịp thời khi DNNVV có nhu cầu về vốn

và sẽ chủ động hơn trong việc cấp tín dụng doanh nghiệp. Ngay từ bây giờ, Chi nhánh cần đưa ra các định hướng tiếp cận DNNVV trong danh mục khách hàng.

- Bám sát các DNNVV đang có quan hệ tín dụng để chủ động nắm bắt nhu cầu vốn, đầu tư cho vay đảm bảo an toàn, hiệu quả. Tập trung phân tích tài chính doanh nghiệp để phân loại khách hàng, tạo điều kiện mở rộng cho vay.

- Đẩy mạnh phát triển các sản phẩm dịch vụ của Chi nhánh đến các DNNVV sản xuất kinh doanh ổn định, có hiệu quả; cải thiện quy trình thủ thục, giấy tờ vay vốn; hỗ trợ DNNVV trong công tác chuẩn bị hồ sơ vay vốn.

72

- Chia tách danh mục và hệ thống báo cáo quản lí để theo dõi được các DNNVV,

thiết lập hệ thống quản lý thông tin về DNNVV vừa để hỗ trợ cán bộ tín dụng trong

công tác thẩm định vừa để giúp đỡ các DNNVV ngay khi gặp khó khăn.

3.2.2. Xây dựng một chính sách cho vay hợp lý trong cho vay DNNVV

Xây dựng một cơ chế lãi suất linh hoạt

Trong khoảng thời gian 2010-2012 nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn, và

còn có thể còn tiếp tục diễn biến xấu vào năm 2013, 2014; các DNNVV hầu như hoạt

động không đủ vốn cần thiết, hoạt động sản xuất kinh doanh ở mức cầm chừng, khả năng cạnh tranh thấp kém. Trong khi đó, việc lãi suất cho vay tăng cao và biến động

thất thường đã góp phần làm cho giá thành sản phẩm của các doanh nghiệp tăng lên,

các mặt hàng xuất khẩu giảm khả năng cạnh tranh.

Mức lãi suất cho vay luôn là một công cụ cạnh tranh giữa các NHTM với nhau. Lãi suất cho vay được xây dựng trên cơ sở lãi suất huy động bình quân cộng với tỷ lệ

chi phí khác, tỷ lệ lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng, tỷ lệ lạm phát ước tính. Thêm vào

đó, lãi suất cho vay còn phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của Nhà nước; từng loại thời

hạn khác nhau, khối lượng vay, thời kỳ khác nhau. Việc xác định mức lãi suất cho vay

hợp lý đối với các DNNVV là vô cùng quan trọng. Nếu ngân hàng cho vay với mức lãi

suất thấp thì các doanh nghiệp sẽ giảm đi được một phần chi phí, giảm gánh nặng trong

việc trả nợ nhưng ngân hàng thì thu được lợi nhuận không cao. Ngược lại, nếu cho vay với lãi suất quá cao làm cho doanh nghiệp khó khăn trong việc trả nợ vay dẫn đến phát

sinh nợ quá hạn, nợ xấu…ảnh hưởng xấu đến cả ngân hàng và DNNVV. Vì vậy, để thu

hút khách hàng DNNVV, và nâng cao hiệu quả cho vay, Techcombank - Chi nhánh

Hoàng Quốc Việt cần áp dụng một chính sách lãi suất linh hoạt theo từng đối tượng

DNNVV, từng lĩnh vực kinh doanh, từng thời kì cụ thể. Mức lãi suất hợp lý, hình thành

trên cơ sở thỏa thuận với doanh nghiệp, hài lòng với lợi ích giữa doanh nghiêp và ngân

hàng, vừa đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao, vừa

đảm bảo khả năng trả nợ đúng hạn, giảm thiểu rủi ro trong cho vay của ngân hàng.

Những DNNVV có quan hệ truyền thống lâu năm, có uy tín, có thông tin tài

chính minh bạch thì có thể được hưởng một mức lãi suất ưu đãi thấp hơn. Điều này một mặt cũng có mối quan hệ lâu dài với khách hàng, mặt khác khuyến khích cho các khách hàng tích cực làm ăn hiệu quả, trả nợ gốc và lãi đúng hạn cho ngân hàng.

Đối với doanh nghiệp vay vốn đầu tiên, Chi nhánh có thể giảm lãi suất và có nhiều ưu đã khác về thời hạn vay hoặc tổng hạn mức tín dụng để ưu đãi khách hàng. Để mở rộng đối tượng DNNVV vay vốn, Chi nhánh cần có chính sách lãi suất theo hướng lấy tăng dư nợ để bù đắp cho lãi suất thấp. Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp mà có những ưu đãi về lãi suất, vừa thực hiện theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước, vừa kích thích doanh nghiệp trong

73

ngành nghề đó phát triển. Đối với những khoản vay, những khách hàng được đánh giá

có mức độ rủi ro cao, Chi nhánh nên đưa ra mức lãi suất cao để phòng ngừa rủi ro, bù

đắp chi phí giám sát Cho vay.

Điều chỉnh tỷ lệ, tỷ trọng cho vay hợp lý

Để hoạt động cho vay của Chi nhánh đem lại lợi nhuận cao, Chi nhánh nên điều

chỉnh lại tỷ lệ cho vay hợp lý theo đối tượng khách hàng. Đối với những DNNVV có

khả năng trả nợ tốt, có uy tín, có nhu cầu tài trợ cho các dự án khả thi để mở rộng

SXKD hay mua sắm tài sản nhưng chỉ được cho vay 70% giá trị phương án xin vay thì chưa đủ đáp ứng nhu cầu của họ. Vì vậy Chi nhánh nên xem xét đẩy tỷ lệ này lên mức

75%-85% đối với DNNVV có khả năng trả nợ tốt. Điều này không những đáp ứng đủ

nhu cầu của DNNVV mà còn giúp Chi nhánh tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Hiện nay, lực lượng DNNVV ngày càng gia tăng, đặc biệt là các công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, tỷ trọng doanh nghiệp nhà nước ngày càng giảm. Tuy nhiên, tỷ

trọng cho vay đối với doanh nghiệp nhà nước còn tương đối cao; Chi nhánh cần giảm

dần tỷ lệ này, thu hẹp đối với các doanh nghiệp nhà nước làm ăn không hiệu quả và

đẩy mạnh cho vay đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động tốt.

Cơ chế đối với đảm bảo tiền vay

Đảm bảo tiền vay không phải là yếu tố hàng đầu nhưng có ý nghĩa rất quan trọng,

góp phần đảm bảo an toàn, hạn chế rủi ro cho vay. Để thực hiện tốt vấn đề đảm bảo tiền vay, Chi nhánh cần lựa chọn để áp dụng các hình thức bảo đảm thích hợp với từng

khoản vay, từng loại DNNVV và phù hợp với điều kiện kinh doanh của mình. Để triển

khai có hiệu quả công tác đảm bảo tiền vay, Chi nhánh cần chú ý một số vấn đề như sau:

+ Thế chấp cầm cố tài sản: trong giai đoạn hiện nay cần áp dụng phổ biến với cả

cho vay ngắn hạn và trung dài hạn, đặc biệt đối với các doanh nghiệp chưa đủ tín

nhiệm với ngân hàng.

+ Bảo lãnh của bên thứ ba: được áp dụng khi doanh nghiệp vay không đủ điều

kiện thực hiện các biện pháp đảm bảo khác.

+ Phân loại kỹ thuật về doanh nghiệp và loại tài sản đảm bảo để quy định mức

đảm bảo, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động cho vay, vừa đảm bảo an toàn.

+ Khi thực hiện các hình thức đảm bảo tiền vay, cần đặc biệt chú ý về điều kiện của tài sản đảm bảo, định giá tài sản phải hợp lý để tính toán mức có thể cho vay, xác định rõ phạm vi đảm bảo, quyền và trách nhiệm của mỗi bên, trách nhiệm chuyển giao tài sản, giấy tờ, năng lực tài chính, năng lục pháp lý, mức trách nhiệm của người bảo lãnh… tính pháp lý và trách nhiệm của tổ chức chính trị - xã hội bảo lãnh bằng tín chấp. + Về thủ tục trong đảm bảo tiền vay cần lập hội đồng rõ ràng, đầy đủ nội dung trên đồng thời phải xác định rõ về việc xử lý tài sản đảm bảo. Ngoài ra cần lưu ý việc xác đăng ký các hợp đồng bảo đảm theo quy định.

74

3.2.3. Nâng cao hiệu quả công tác thu thập và xử lý thông tin khách hàng DNNVV

Hệ thống thông tin, đặc biệt là hệ thống thông tin tín dụng có vai trò quan trọng

và ảnh hưởng lớn đến hạn chế rủi ro cho vay. Thông tin tín được thu thập thông qua việc khách hàng cung cấp, cán bộ tín dụng điều tra qua hệ thống thông tin liên ngân

hàng, hoặc từ các nguồn khác. Một quyết định cho vay thường được dựa trên cơ sở

tổng hợp các thông tin pháp lý, hoạt động SXKD, năng lực tài chính của doanh nghiệp,

tình hình thị trường đối với sản phẩm của khách hàng, tình hình nền kinh tế và uy tín

của doanh nghiệp trong quan hệ tín dụng đối với các TCTD cũng như với các đối tác kinh doanh. Để nâng cao chất lượng thông tin, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cho

vay DNNVV Chi nhánh cần thực hiện những biện pháp sau:

Xây dựng và tổ chức tốt quá trình thu thập, xử lý, tổng hợp, khai thác và cung

cấp thông tin nhằm góp phần hạn chế rủi ro cho vay.

Việc hình thành một bộ phận chuyên trách trong việc tổng hợp, phân tích, lữu trữ

thông tin khách hàng và thông tin kinh tế khác có liên quan là cần thiết, trong đó cần

bố trí những cán bộ có kinh nghiệm hoạt động thực tế, tư duy tốt.

Chi nhánh cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống thông tin trong hệ thống

Techcombank cũng như với các NHTM nói chung qua đó có thể chia sẻ, sử dụng

thông tin, trao đổi thông tin với nhau một cách nhanh chóng, thuận tiện. Từ đó sẽ thu

thập được những thông tin cần thiết cho hoạt động của Chi nhánh mình một cách dễ dàng và kịp thời, tránh tình trạng thiếu thông tin về khách hàng. Ngoài khai thác nguồn

thông tin ở trung tâm thông tin tín dụng (CIC), các NHTM khác, Chi nhánh cần khai

thác thêm kênh thông tin về DNNVV qua các bạn hàng, khách hàng của DNNVV,

thậm chí có thể phỏng vấn cá công nhân hoặc những người sống xung quanh doanh

nghiệp…

3.2.4. Nâng cao chất lượng phân tích, thẩm định dự án, phương án khi xem xét cho vay

Thẩm định dự án đầu tư, phương án kinh doanh được coi là một khâu quan trọng

trước khi quyết định cho vay. Việc nâng cao chất lượng phân tích, thẩm định không

chỉ có ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của ngân hàng mà còn góp phần tiết kiệm vốn cho toàn xã hội, thúc đẩy mở rộng, phát triển hiệu quả, an toàn cho nền kinh tế và định hướng hạn chế rủi ro cho vay DNNVV.

- Thẩm định năng lực pháp lý của DNNVV; hồ sơ, thủ tục vay vốn phải hợp lệ, hợp pháp theo chế độ quy định. Chi nhánh cần chủ động tìm đến DNNVV vay vốn và thẩm định trước về doanh nghiệp để lựa chọn, nhờ đó Chi nhánh tránh được sự phân tán vào các thông tin do doanh nghiệp chủ động cung cấp và không bị giới hạn về thời gian thẩm định theo yêu cầu của doanh nghiệp. Tiếp đó, đánh giá năng lực tài chính dựa trên báo cáo tài chính, các thông tin thu thập từ bên ngoài và phân tích các chỉ tiêu

75

tài chính. Xem xét mục đích sử dụng vốn vay có hợp lý, thiết thực hay không và khả

năng thành công như thế nào. Đây cũng là căn cứ để ngân hàng theo dõi, đánh giá

khách hàng sau này, đồng thời là cơ sở để giải quyết các khúc mắc giữa ngân hàng và doanh nghiệp trong quá trình giải ngân và thu hồi.

- Thẩm định tính khả thi, hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh: Phương

án vay vốn phải đầy đủ các điều kiện cho vay, nguyên tắc cho vay theo thể lệ chế độ

quy định với khoản vay đó. Dự án đầu tư phải thể hiện tính khả thi, đảm bảo khả năng

trả nợ ngân hàng. Để nâng cao được công tác thẩm định Chi nhánh cần phải hoàn thiện quy trình thẩm định một cách khoa học, cụ thể hóa các bước và nội dung tiến hành phù

hợp với hoạt động của Chi nhánh hiện nay. Đảm bảo tính khách quan, chính xác trong

công tác tổ chức thẩm định; cần tách biệt thẩm định tín dụng nói chung và thẩm định

dự án nói riêng khỏi chức năng cho vay và quản lý khoản vay theo dự án của DNNVV. Hoàn thiện nội dung thẩm định về mặt chặt chẽ tính pháp lý của khoản vay, phân tích

đánh giá chính xác năng lực tài chính, năng lực kinh doanh của DNNVV, thực trạng về

triển vọng và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.

Trong công tác thẩm định dự án dù có tài giỏi mấy cũng chỉ là những phán quyết

mang tính dự đoán mà thôi. Do đó, khi cho vay phải chú ý đến chất lượng an toàn tín

dụng. Trong khi cho vay ngắn hạn, ngân hàng cần chú ý kiểm tra khả năng thanh toán

nhanh của khách hàng để đảm bảo an toàn nguồn này phải chiếm ít nhất 30%- 40% vốn vay còn khi cho vay dài hạn thì khả năng thanh toán nhanh lại bị xếp xuống hàng

thứ yếu. Phải xem xét tính tiên tiến của thiết bị, làm sao để sản phẩm là ra có sức cạnh

tranh cao. Khấu hao tài sản và lợi nhuận dành ra phải đủ để trả nợ ngân hàng trước

thời gian thiết bị bước vào giai đoạn lạc hậu về công nghệ. Việc phân tích và dự báo

ảnh hưởng của môi trường kinh doanh đến phương án vay vốn của khách hàng cũng là

một bước đi không kém phần quan trọng trong khâu thẩm định. Để thực hiện công tác

này, các cán bộ tín dụng cần phân tích các vấn đề sau: Các chỉ tiêu như tốc độ tăng

trưởng kinh tế GDP, GNP, tỷ giá hối đối, tỷ lệ lạm pháp…, thực trạng đang diễn ra

trong các ngành hàng, lĩnh vực kinh doanh mà ngân hàng cho vay, sự thay đổi của hệ

thống pháp luật, chính sách trong thời gian cho vay.

3.2.5. Tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Để hạn chế việc DNNVV sử dụng vốn vay không đúng mục đích và nâng cao hiệu quả sử dụng. Chi nhánh cần phải dựa vào kế hoạch vay vốn của doanh nghiệp để từ đó đưa ra quyết định cho vay và thực hiện kiểm tra, giám sát thường xuyên quá trình sử dụng vốn của khách hàng sau khi vay. Chi nhánh cần phải tổ chức theo dõi chặt chẽ tiến độ hoàn thành từng hạn mục dự án đầu tư, quá trình nhập vật tư, hàng hóa thông qua các báo cáo định kỳ do khách hàng cung cấp. Theo dõi việc sử dụng

76

hiệu quả chặt chẽ các nguồn tiền của doanh nghiệp trên cơ sở xây dựng cơ chế tra soát

đối với từng loại vay. Nếu phát hiện khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích cán bộ

giám sát có thể kiến nghị thu hồi nợ trước hạn hoặc chuyển nợ quá hạn. Ngoài ra cán bộ tín dụng phải luôn quan tâm đến việc nhận diện rủi ro thông qua các dấu hiệu cảnh

báo như khách hàng gặp khó khăn trong việc trả nợ, sự thay đổi của môi trường kinh

doanh, tình hình thị trường ảnh hưởng xấu đến phương án kinh doanh, dấu hiệu vi

phạm pháp luật…dựa trên hệ thống tín hiệu cảnh bảo sớm về rủi ro cho vay để nắm bắt

khả năng xử lý chủ động kịp thời các rủi ro có nguy cơ xảy ra.

Như vậy, kiểm tra giám sát hoạt động cho vay DNNVV được thực hiện trước,

trong và sau để xác định xem doanh nghiệp có khả năng trả nợ hay không, có thực

hiện đúng hợp đồng cho vay hay không, là cơ sở để đánh giá chất lượng khoản vay,

trích lập dự phòng và xử lý rủi ro cho vay.

3.2.6. Thực hiện phân tán rủi ro

Đa dạng hóa danh mục cho vay: Để hạn chế rủi ro, Chi nhánh không nên tập

trung vốn quá nhiều cho một loại hình kinh doanh. Trong môi trường cạnh tranh hiện

nay, ngân hàng cần chủ động tìm kiếm khách hàng tiềm năng bằng cách kết hợp các

hình thức tiếp thị, phổ biến thông tin cần thiết về ngân hàng và thiết lập mối quan hệ

bền vững với khách hàng.

Đa dạng hóa phương thức: Hiện nay, việc lựa chọn phương thức cho vay, giải ngân là không cứng nhắc và cố định. Giữa khách hàng với Chi nhánh có thể thỏa thuận

với nhau để áp dụng phương thức phù hợp nhất. Các DNNVV ở Việt Nam hoạt động

trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau nên các khoản vay phù hợp với chu kỳ sản

xuất, vòng quay vốn, các thời điểm ra vào của dòng tiền … sẽ giúp doanh nghiệp chủ

động hơn trong hoạt động kinh doanh và ổn định để phát triển, Chi nhánh cũng hạn

chế được rủi ro khi cho vay.

Thực hiện bảo hiểm các khoản cho vay: Để san sẻ rủi ro cho vay, Chi nhánh có

thể thực hiện chứng khoán hóa các khoản vay. Việc này cho phép thực hiện những yêu

cầu đầu tư hay chi tiêu mới của Chi nhánh, đảm bảo tính thanh toán cho khoản vay

đóng băng; đồng thời Chi nhánh có thể thu thêm khoản lệ phí qua việc quản lý những khoản vay được chứng khoán hóa. Trong khi quản lý các khoản vay được chứng khoán hóa, Chi nhánh có thể đưa những khoản cho vay này ra khỏi bảng cân đối kế toán, giúp loại trừ được rủi ro cho vay có thể xảy ra.

3.2.7. Nâng cao công tác xử lý và giải quyết dứt điểm nợ xấu

Xử lý và giải quyết dứt điểm nợ xấu nhằm lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng, Chi nhánh cần có những biện pháp để phát hiện những khoản vay có vấn đề và đưa ra phương án thích hợp giải quyết dứt điểm.

77

- Miễn giảm tiền vay đối với doanh nghiệp bị tổn thất tài sản hình thành từ vốn

vay do các nguyên nhân khách quan nhằm giảm bớt khó khăn về tài chính cho khách

hàng có điều kiện lập lại quan hệ tín dụng bình thường.

- Các doanh nghiệp có nợ xấu do nguyên nhân bất khả kháng có khả năng trả nợ

và cần vốn để khôi phục SXKD, Chi nhánh có thể xem xét tạm khoanh nợ cũ.

- Các doanh nghiệp có khả năng trả nợ mà cố tình không trả nợ Chi nhánh phải

phối hợp với chính quyền, các cơ quan pháp luật để có biện pháp xử lý nghiêm minh

làm gương cho các doanh nghiệp khác.

- Đối với các doanh nghiệp có hàng tồn đọng nhiều chưa bán được để có tiền trả

nợ thì Chi nhánh có thể giới thiệu đơn vị mua hàng giúp doanh nghiệp giải quyết số

hàng tồn đọng này, sớm thu hồi vốn để trả nợ Chi nhánh.

- Đối với nợ xấu, nhân viên Chi nhánh cần phân tích thực trạng dư nợ một cách thường xuyên, theo dõi và xử lý nợ xấu tiềm ẩn, nợ xấu phát sinh mới nên phân tích

tình hình nợ xấu qua đó xác định được CBTD nào có vấn đề, xác định được nợ xấu

tiềm ẩn thuộc khách hàng và đơn vị nào.

- Khai thác các tài sản đảm bảo nợ vay: Trước hết phải rà soát lại toàn bộ hồ sơ

thủ tục đảm bảo tiền vay của các khản nợ xấu, từ đó có biện pháp bổ sung, hoàn chỉnh,

đảm bảo hợp lệ, đầy đủ để tạo điều kiện cho việc xử lý. Tiến hành các bước và biện

pháp xử ký tài sản phù hợp với thực trạng từng trường hợp cụ thể.

3.2.8. Tăng cường và nâng cao chất lượng cán bộ cho vay

Trong bất kỳ hoạt động nào của NHTM thì yếu tố con người vẫn đóng vai trò then

chốt. Do trình chuyên môn nghiệp vụ và hiểu biết về pháp luật còn hạn chế hoặc do ý

thức trách nhiệm không cao, do thiếu đạo đức nghề nghiệp đã vi phạm các quy trình

nghiệp vụ, cơ chế chính sách, pháp luật dẫn đến những thất thoát tài sản của ngân hàng.

Bởi vậy, nếu đội ngũ cán bộ công nhân viên đáp ứng được những yêu cầu hoạt động

kinh doanh ngân hàng sẽ giảm thiểu phần lớn những tổn thất rủi ro do chủ quan gây ra:

- Sử dụng những chuyên gia nghiên cứu về rủi ro và quản trị rủi ro làm hạt nhân

trong việc tham mưu cho lãnh đạo ngân hàng và trong việc phổ cập kiến thức, kinh

nhiệm của cán bộ công nhân viên về rui ro và quản trị rủi ro. Mỗi khi ban hành quy định mới hay bổ sung, sửa đổi các cơ chế về quản trị rui ro cho vay. Ban lãnh đạo ngân hàng cần thiết lắng nghe ý kiến của các chuyên gia coi trọng những đề xuất khách quan và khoa học. Đầu tư kinh phí đề cử một số cán bộ có năng lực lựa chọn qua thi tuyển đi học tập ngắn hạn ở các nước, ngân hàng đi đầu trong quản trị rủi ro, hoặc tổ chức bồi dưỡng nghiệp tại chỗ do các chuyên gia giàu kinh nghiệm đảm nhiệm. Sau đó, Chi nhánh sử dụng chính những cán bộ đã được đào tạo vào việc giảng dạy nâng cao kiến thức về rủi ro và hạn chế rủi ro cho vay DNNVV.

78

- Bố trí sắp xếp có hiệu quả đội ngũ cán bộ nghiệp vụ theo nguyên tắc đúng

người đúng việc, bố trí sắp xếp công tác phù hợp với khả năng trình độ và sở trường

của mỗi người sẽ tránh được những rủi ro trong hoạt động kinh doanh.

- Mỗi cán bộ cũng cần phải được đặt trong môi trường cạnh tranh, tạo thêm ưu

đãi hay thưởng phạt và được quy định rõ rành về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi

tạo động lực thúc đẩy tinh thần trách nhiệm, tính năng động sáng tạo của mỗi cán bộ.

3.2.9. Tăng cường đầu tư công nghệ hiện đại vào hoạt động cho vay

Công nghệ chính là chìa hóa giúp cho Chi nhánh hội nhập với cộng đồng ngân hàng quốc tế, nâng cao hiệu quả phân loại khách hàng. Đổi mới công nghệ, mạng tin học giúp

ngân hàng nâng cao chất lượng phục vụ, tăng tính cạnh tranh , giảm chi phí lao động. Để

làm được điều này ngân hàng cần phải thực hiện một số biên pháp như:

Techcombank đã thực hiện dự án hiện đại hóa Ngân hàng tập trung cơ sở dữ liệu tại Hội sở vì thế cần phát triển và phát huy khả năng giám sát cho vay tức thời của hệ

thống, quản lý danh mục cho vay theo ngành, vùng kinh tế, quản lý hạn mức vay của

từng doanh nghiệp. Ngoài ra việc tập trung cơ sở dữ liệu là điều kiện thuận lợi cho việc

phân loại doanh nghiệp, tính toán rủi ro cho vay…một cách nhanh chóng và chính xác.

Đẩy mạnh nghiên cứu, đổi mới các chương trình phần mềm hiện đại trong công

tác quản lý tài sản nợ - có (quản trị rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối),

huy động vốn. Đăc biệt cần chú ý nâng cấp phần mềm thẩm định dự án cho vay giúp cán bộ thẩm định khách hàng một cách nhanh chóng và chính xác. Hiện đại hóa các

nghiệp vụ ngân hàng, giúp ngân hàng hội nhập vào cộng đồng ngân hàng quốc tế về

cung cấp và xử lý thông tin.

3.3. Một số kiến nghị 3.3.1. Kiến nghị với ngân hàng nhà nước

Cần đẩy nhanh tiến trình cơ cấu lại và lành mạnh hóa tài chính: các ngân hàng

quốc doanh và cổ phần nhằm xây dựng một hệ thống ngân hàng vững mạnh, tăng

cường tính minh bạch, hiệu quả cạnh tranh và đảm nhận tốt vai trò trung gian trong

việc huy động và phân bổ vốn. Tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, tranh

giành khách hàng vay vốn giữa các ngân hàng, hạ thấp các tiêu chuẩn, điều kiện vay vốn khiến cho nguy cơ rủi ro tăng cao. Do đó NHNN cần có sự kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh của NHTM đảm bảo sự phát triển bền vững và an toàn.

- Nghiên cứu và triển khai các công cụ bảo hiểm tín dụng như: Hoán đổi tín dụng (credit swap)...Đây là các công cụ của một thị trường tài chính phát triển cao giúp các NHTM phòng ngừa và bảo hiểm rủi ro, san sẻ rủi ro và tạo tính linh hoạt trong quản lý danh mục các khoản cho vay của mỗi ngân hàng.

- Chỉ đạo hoạt động hiệu quả của công ty xử lý nợ xấu

79

- Đưa ra hệ thống văn bản pháp luật hoàn thiện phù hợp với thông lệ quốc tế.

NHNN cần chú trọng trong việc rà soát, sửa đổi bổ sung hoặc ban hành mới các văn

bản liên quan đến hoạt động cho vay của NHTM theo hướng thông thoáng, linh hoạt, đơn giản như thật hiệu quả những thủ tục, điều kiện, quy trình cho vay DNVVN, đưa

ra cơ chế cho vay DNVVN khác với các loại hình doanh nghiệp khác, giảm thiểu thời

gian thẩm định cho vay hợp lý.

- Tăng cường hiệu quả của Trung tâm thông tin tín dụng (CIC). Phát huy vai trò

tích cực của trung tâm thông tin cho vay trong công tác đánh giá rủi ro cho vay là việc thiết thực mà NHNN có thể hỗ trợ cho NHTM trong việc hạn chế rủi ro cho vay.

3.3.2. Kiến nghị với Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

Tăng cường thêm số lượng và chất lượng đội ngũ cán vộ, công nhân viên để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của DNNVV. Chi nhánh nên thường xuyên tạo điều kiện cho

nhân viên có thêm điều kiện để tham gia vào khóa học về nghiệp vụ, nâng cao hiệu

quả công việc

Ban quản lý, lãnh đạo của Chi nhánh phải thường xuyên phổ biến các văn bản có

liên quan đến hoạt động cho vay, bảo đảm tiền vay, các văn bản của NHNN, Ngân

hàng Kỹ thương, thường xuyên tổ chức họp phòng để nắm bắt kịp thời những khó

khăn vướng mắc trong hoạt động cho vay, bảo đảm tiền vay để từ đó có những điều chỉnh kịp thời.

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chấm điểm và xếp hạng doanh nghiệp trên cơ sở

đánh giá kết quả áp dụng trong thời gian vừa qua, nghiên cứu nhằm bổ sung và hoàn

thiện hệ thống các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính. Từ đó có thể áp dụng phương

pháp phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo tiêu chuẩn quốc tế.

Chi nhánh cần sớm nghiên cứu và xây dựng mô hình lượng hóa cụ thể mức độ

rủi ro của doanh nghiệp cũng như mô hình định lượng để xác định giới hạn cho vay

trên cơ sở mức độ rủi ro của doanh nghiệp, xây dựng mô hình đánh giá và cảnh báo

sớm rủi ro để áp dụng cho toàn hệ thống.

KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 Toàn bộ chương 3 đã nêu lên định hướng hoạt động kinh doanh cũng như mục tiêu cụ thể của Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt trong những năm tới. Từ đó, chương 3 nêu lên sự cần thiết phải hạn chế rủi ro cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi nhánh và nêu lên các giải pháp cụ thể. Đồng thời chương 3 cũng nêu lên một số kiến nghị đối với sự quản lý vĩ mô đối với Ngân hàng Nhà nước và đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt với mong muốn có thể góp phần nâng cao chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi nhánh.

80

KẾT LUẬN

Như mọi loại hình doanh nghiệp khác, DNNVV đang ngày càng khẳng định

được vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, các DNNVV thường gặp nhiều khó khăn về tài chính, mức vốn tự có đạt tỷ trọng nhỏ

trong tổng số vốn mà họ huy động được trong quá trình tiến hành sản xuất kinh doanh.

Sự giúp đỡ của ngân hàng trong việc cung cấp vốn là hết sức cần thiết bởi nguồn vốn

của ngân hàng là nguồn vốn rẻ nhất, an toàn và ổn định nhất đối với các doanh nghiệp

này. Vì thế, việc tìm ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay DNNVV tại ngân hàng là một vấn đề vô cùng cần thiết. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn tại

Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

khóa luận đã hoàn thành một số nội dung sau:

Thứ nhất, hệ thống hóa những lý luận cơ bản về DNNVV cũng như cho vay

DNNVV, rủi ro cho vay đối với các NHTM.

Thứ hai, áp dụng vào thực tiễn cho vay DNNVV tại Ngân hàng thương mại cổ

phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt: phân tích đánh giá rủi ro

cho vay DNNVV tại Chi nhánh, những mặt đạt được và chưa đạt được, những nguyên

nhân gây ảnh hưởng đến việc hạn chế rủi ro cho vay DNNVV tại Chi nhánh.

Thứ ba, khóa luận đã đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hạn chế rủi ro

cho vay đối với các DNNVV tại Chi nhánh này.

Do sự hiểu biết và thời gian nghiên cứu có hạn, khóa luận chắc hẳn còn rất

nhiều thiếu sót, còn nhiều vấn đề phải đi sâu xem xét lại. Em rất mong nhận được sự

góp ý, nhận xét của các Thầy Cô giáo trong Hội đồng chấm khóa luận của nhà trường

để khóa luận của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và

chỉ bảo nhiệt tình của các Thầy Cô đặc biệt là sự giúp đỡ của Cô giáo Th.s Lê Thị Hà

Thu đã giúp em hoàn thành khóa luận này.

Em xin chân thành cảm ơn!

Danh mục tài liệu tham khảo

1. PGS. TS. MAI VĂN BẠN (2009), Giáo trình nghiệp vụ ngân hàng thương mại,

NXB Tài chính. 2. TS. Nguyễn Minh Kiều (2009), Giáo trình nghiệp vụ ngân hàng thương mại, NXB

Thống kê

3. Học viện ngân hàng (2010), Giáo trình tiền tệ ngân hàng, NXB Thống kê

4. Ngân hàng Nhà nước (2001), Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN về việc ban hành

Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng. 5. Ngân hàng Nhà nước (2005), Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ban hành Quy định

về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt

động ngân hàng của tổ chức tín dụng.

6. Ngân hàng Nhà nước (2007), Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý

rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết

định số 493/2005/QĐ-NHNN.

7. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1999), Nghị định

178/1999/NĐ-CP về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng

8. Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

(2010, 2011, 2012), Báo cáo tài chính. 9. Các website

- http://laodong.com.vn/Thong-tin-doanh-nghiep/Doanh-nghiep-nho-va-vua-Vat-lon-

trong-kho-khan/44826.bld