
- 1 -
Luận văn
Giải pháp huy động và sử dụng hiệu
quả vốn FDI đáp ứng yêu cầu phát
triển của nền kinh tế

- 2 -
-------------------
Lời nói đầu
Trong những năm qua, nước ta đã đạt được những thành tựu đáng
khích lệ trong công cuộc đổi mới kinh tế. Nền kinh tế Việt Nam từng bước
thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và bước đầu có tích lũy. Nước ta đã ra khỏi
cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng và kéo dài hơn 15 năm. Đến
nay, thế và lực của đất nước đã có sự biến đổi rõ rệt về chất. Chúng ta đã tạo
được những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới: đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Những thành tựu đó có sự
đóng góp rất lớn của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài .
Đối với quá trình phát triển nền kinh tế Việt Nam, từ một điểm xuất
phát thấp, đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò hết sức quan trọng. Nó là
nguồn bổ sung vốn cho đầu tư, là một kênh để chuyển giao công nghệ, là
một giải pháp tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, tạo nguồn thu
cho ngân sách Nhà nước và giúp đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu
nền kinh tế.
Do đó, việc phân tích, đánh giá về hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài ở Việt Nam nhằm thấy rõ hơn tác động của nó đến nền kinh tế, thấy
được những vấn đề đang đặt ra, đồng thời tìm các giải pháp nhằm thu hút và
sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát
triển kinh tế đất nước đang là một yêu cầu cấp bách đặt ra đối với chúng ta.

- 3 -
I. Đầu tư trực tiếp nước ngoài vàtình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài ở
Việt Nam.
1. Khái niệm và các đặc trưng
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) là một
hình thức của đầu tư nước ngoài. Sự ra đời và phát triển của nó là kết quả tất
yếu của quá trình quốc tế hóa và phân công lao động quốc tế. Trên thực tế
có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nhìn
chung đầu tư trực tiếp nước ngoài được xem xét như một hoạt động kinh
doanh ở đó có yếu tố di chuyển vốn quốc tế và kèm theo sự di chuyển vốn là
chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản lý và các ảnh hưởng kinh tế xã hội
khác đối với nước nhận đầu tư.
Theo Luật đầu tư nước ngoài Việt Nam, đầu tư trực tiếp nước ngoài
có thể được hiểu như là việc các tổ chức, các cá nhân nước ngoài trực
tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất cứ tài sản nào được Chính
phủ Việt Nam chấp nhận để hợp tác với bên Việt Nam hoặc tự mình tổ
chức các hoạt động sản xuất kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam.
Dưới góc độ kinh tế có thể hiểu đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình
thức di chuyển vốn quốc tế trong đó người sở hữu đồng thời trực tiếp tham
gia điều hành và quản lý hoạt động sử dụng vốn đầu tư. Về thực chất, đầu tư
trực tiếp nước ngoài là sự đầu tư của các cá nhân, tổ chức nhằm xây dựng
các cơ sở, chi nhánh ở nước ngoài và làm chủ toàn bộ hay từng phần cơ sở
đó.
Tiền đề của việc xuất khẩu tư bản là “tư bản thừa” xuất hiện trong các
nước tiên tiến. Nhưng thực chất vấn đề đó là một hiện tượng kinh tế mang
tính tất yếu khách quan, khi mà quá trình tích tụ và tập trung đã đạt đến một
mức độ nhất định sẽ xuất hiện nhu cầu đầu tư ra nước ngoài. Đó chính là
quá trình phát triển của sức sản xuất xã hội, đến độ đã vượt ra khỏi khuôn

- 4 -
khổ chật hẹp của một quốc gia, hình thành nên quy mô sản xuất trên phạm
vi quốc tế.
Theo Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam, đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào Việt Nam gồm có 4 hình thức sau:
Hợp đồng hợp tác kinh doanh : là văn bản ký kết giữa hai hoặc nhiều
bên để cùng nhau tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh tại Việt
Nam trên cơ sở quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho
mỗi bên mà không thành lập một pháp nhân mới. Hợp đồng hợp tác kinh
doanh phải được đại diện có thẩm quyền của các bên ký kết.
Doanh nghiệp liên doanh : là doanh nghiệp được thành lập tại Việt
Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh được ký kết giữa các bên (bên nước
ngoài và bên Việt Nam). Doanh nghiệp liên doanh có tư cách pháp nhân,
các bên tham gia liên doanh được chia lợi nhuận và chia rủi ro theo tỷ lệ
góp vốn của mỗi bên vào phần vốn pháp định của liên doanh.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài : là doanh nghiệp hoàn toàn
thuộc sở hữu của các cá nhân, tổ chức nước ngoài do họ thành lập và quản
lý. Nó là một pháp nhân mới của Việt Nam dưới hình thức công ty trách
nhiệm hữu hạn.
Đầu tư theo các hình thức BOT, BT, BTO : đây là các hình thức đầu
tư đặc biệt thường áp dụng cho các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng. Sự
ra đời của các phương thức này nhằm tạo thêm nguồn vốn, xúc tiến nhanh
chóng việc ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng, đồng thời san sẻ một phần
gánh nặng đầu tư cho cơ sở hạ tầng của ngân sách Nhà nước.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có một số đặc điểm chủ yếu sau :
- Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự
chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh

- 5 -
tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ
nần cho nền kinh tế.
- Chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu là
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp
liên doanh tùy theo tỷ lệ góp vốn của mình.
- Thông qua hình thức này, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công
nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý...là những mục tiêu mà
các hình thức đầu tư khác không giải quyết được.
- Nguồn vốn này không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư
dưới hình thức vốn pháp định, nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp
để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận
thu được.
2. Đánh giá bản chất và vai trò của FDI đối với các nước đang phát triển
Bản chất của FDI là các hoạt động đầu tư ra nước ngoài trên cơ sở khai
thác lợi thế so sánh trong phân công lao động quốc tế nhằm tìm kiếm lợi
nhuận cao ở phạm vi toàn cầu. Do vậy, FDI là các hoạt động kinh tế và nó
có ảnh hưởng như con dao hai lưỡi đối với nước nhận đầu tư. Nếu Chính
phủ nước chủ nhà mạnh thông qua các chính sách thu hút FDI hợp lý thì
khai thác được tốt mặt tích cực và hạn chế tối đa ảnh hưởng xấu của nó.
Ngược lại FDI sẽ là nhân tố gây trở ngại lớn cho những Chính phủ không
làm chủ được đường lối phát triển đất nước của mình.
Khi phân tích vai trò của FDI thì không những chỉ căn cứ vào mức độ
tham gia của nó vào nền kinh tế mà còn phải đánh giá khả năng tiếp nhận
của nước chủ nhà. Thật vậy, trong nhiều trường hợp mặc dù tỷ lệ FDI trong
tổng vốn đầu tư cao nhưng điều đó không có nghĩa là tác dụng của nó lớn
đối với nước nhận đầu tư. Hiệu quả hoạt động FDI còn phụ thuộc rất nhiều

