BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN CỦA CÔNG TY TNHH SX&TM
MINH NGỌC
Giáo viên hƣớng dẫn
: Th.s Phan Huệ Minh
Sinh viên thực hiện
: Trần Thị Lan Anh
Mã sinh viên
: A16370
Chuyên ngành
: Tài chính – ngân hàng
HÀ NỘI – 2013
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành khóa luận tôi đã nhận được rất nhiều sự trợ giúp
cũng như động viên từ phía thầy cô, Công ty bè, người thân.
Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến giáo viên hướng dẫn – Thạc sĩ
Phan Huệ Minh. Cô đã dốc hết tâm sức, tận tình chỉ bảo, hướng dẫn giúp tôi hoàn
thành bài luận văn này
Tôi cũng xin gửi cảm ơn đến các thấy cố giáo đã giảng dạy tôi tại trường Đại học Thăng Long. Thầy cô đã truyền đạt cho tôi những kiến thức cơ bản trên nhiều lĩnh
vực đặc biệt là lĩnh vực tài chính – ngân hàng để tôi có được nền tảng để có thể hoàn
thành được bài luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các bác, các cô, các chú và các anh chị trong phòng tài chính kế toán TNHH sx&tm Minh Ngọc đã tạo điều kiện thuận lợi cũng như nhiệt tình giúp đỡ và cung cấp các số liệu, thông tin để thực hiện bài luận văn này.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình đã luôn bên cạnh và tạo điều kiện cho tôi
thực hiện bài luận văn. Cảm ơn những người Công ty đã luôn chia sẻ, động viên và
giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận văn.
MỤC LỤC
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP ......................................................................................................... 1
1.1 Cơ sở lý luận về vốn kinh doanh và vai trò của vốn kinh doanh ....................... 1
1.1.1 Khái niệm vốn kinh doanh .................................................................................... 1
1.1.2Đặc trưng cơ bản của vốn ...................................................................................... 2 1.1.3 Phân loại vốn ......................................................................................................... 2 1.1.3.1 Căn cứ theo thời gian ........................................................................................... 3 1.1.3.2 Căn cứ vào nguồn hình thành của vốn ................................................................ 3
1.1.3.3 Căn cứ vào vai trò và tính chất luân chuyển vốn ................................................ 3
1.1.4 Vai trò của vốn đối với các doanh nghiệp ............................................................ 4
1.2 Hệ thống khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp ......................... 5
1.2.1 Cơ cấu phân bổ vốn trong doanh nghiệp ............................................................. 5 1.2.1.1 Khái niệm cơ cấu vốn của doanh nghiệp ............................................................ 5
1.2.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn cơ cấu vốn ........................................ 6 1.2.1.3 Các chiến lược quản lý vốn trong doanh nghiệp ................................................ 6
1.2.1.4 Mục đích phân tích sự biến động và tình hình phân bổ vốn của doanh nghiệp ....... 9
1.2.1.5 Nội dung phân tích sự biến động và cơ cấu phân bổ vốn của doanh nghiệp...... 9
1.2.2 Khái niệm chung và ý nghĩa về hiệu quả và phân tích hiệu quả sử dụng vốn .... 9 1.2.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn ......................................................................... 9
1.2.2.2 Khái niệm phân tích hiệu quả sử dụng vốn ....................................................... 10
1.2.2.3 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp ............... 11
1.3 Một số chỉ tiêu chủ yếu đánh giá hiệu quả quản lý và sử dụng vốn ................. 11
1.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung .................................. 11 1.3.1.1 Hiệu suất sử dụng vốn ....................................................................................... 11
1.3.1.2 Suất hao phí vốn ................................................................................................ 11
1.3.1.3 Tỷ lệ doanh lợi trên tổng vốn ............................................................................ 12
1.3.2 Quản lý và sử dụng vốn cố định ......................................................................... 12 1.3.2.1 Hiệu suất sử dụng vốn cố định .......................................................................... 12 1.3.2.2 Suất hao phí vốn cố định ................................................................................... 12 1.3.2.3 Tỷ lệ doanh lợi trên vốn cố định ........................................................................ 12
1.3.2.4 Mức khấu hao hàng năm của tài sản cố định .................................................... 12
1.3.3 Quản lý và sử dụng vốn lưu động ....................................................................... 15 1.3.3.1 Hiệu suất sử dụng vốn lưu động ........................................................................ 15 1.3.3.2 Suất hao phí vốn lưu động ................................................................................. 15
1.3.3.3 Tỷ lệ doanh lợi trên vốn lưu động ..................................................................... 15
1.3.3.4 Quản lý tiền mặt ................................................................................................ 15
1.3.3.5 Quản lý khoản phải thu ..................................................................................... 17 1.3.3.6 Quản lý hàng tồn kho ........................................................................................ 18
1.3.4 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay ...................................................... 23
1.3.5 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu ........................................ 23 1.3.5.1 Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu .................................................................. 23 1.3.5.2 Phân tích mối quan hệ giữa hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu với đòn bẩy
tài chính ......................................................................................................................... 24
1.3.6 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán...................................................... 24 1.3.6.1 Khả năng thanh toán tổng quát ........................................................................ 25
1.3.6.2 Khả năng thanh toán ngắn hạn ........................................................................ 25
1.3.6.3 Khả năng thanh toán nhanh .............................................................................. 25
1.3.6.4 Khả năng thanh toán tức thời ............................................................................ 25
1.3.7 Chỉ tiêu phản ánh sự độc lập tài chính .............................................................. 26
1.4 Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp ............ 26
1.4.1 Nhóm nhân tố khách quan................................................................................ 26
1.4.2 Nhóm nhân tố chủ quan.................................................................................... 27
CHƢƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÔNG TY TNHH SX&TM MINH NGỌC .............................................................. 28
2.1 Tổng quan về Công ty TNHH sx&tm Minh Ngọc ............................................. 28
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty ................................................... 28
2.1.2 Khái quát về ngành nghề kinh doanh thép ........................................................ 29
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Công ty ................................................................................ 30 2.1.3.1 Giám đốc............................................................................................................ 31
2.1.3.2 Phó giám đốc ..................................................................................................... 31
2.1.3.3 Phòng kinh doanh .............................................................................................. 32
2.1.3.4 Phòng tài chính, kế toán .................................................................................... 32
2.1.3.5 Phòng marketing ............................................................................................... 32
2.1.3.6 Phòng hành chính .............................................................................................. 32 2.1.3.7 Giám đốc nhà máy ............................................................................................. 33 2.1.3.8 Các tổ đội........................................................................................................... 33
2.2 Tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty năm 2010 – 2012 ........................................................................................................... 35 2.2.1 Tình hình tài chính của Công ty năm 2010 – 2012 ........................................... 35 2.2.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty năm 2010 - 2012 ........... 36 2.2.2.1 Tỷ suất sinh lời trên doanh thu .......................................................................... 37
2.2.2.2 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ....................................................................... 37
2.2.2.3 Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ................................................................. 38
2.3 Thực trạng quản lý tài sản và nguồn vốn của Công ty những năm gần đây ... 38
2.3.1 Cơ cấu tài sản của Công ty năm 2010 – 2012 .................................................. 38 2.3.1.1 Cơ cấu tài sản .................................................................................................... 38
2.3.1.2 Kết cấu chi tiết trong tài sản ngắn hạn ............................................................. 40
2.3.1.3 Kết cấu chi tiết trong tài sản dài hạn ................................................................ 42
2.3.2 Cơ cấu nguồn vốn của Công ty năm 2010 – 2012 ............................................. 43 2.3.2.1 Nợ phải trả ......................................................................................................... 44
2.3.2.2 Vốn chủ sở hữu .................................................................................................. 45
2.3.2 Chiến lược quản lý tài sản – nguồn vốn của Công ty TNHH sx&tm Minh
Ngọc ............................................................................................................................ 46 2.3.2.1 Chiến lược quản lý tài sản ................................................................................. 46
2.3.2.2 Chiến lược quản lý nguồn vốn ........................................................................... 46
2.3.2.3 Chiến lược quản lý tài sản - nguồn vốn ............................................................ 46
2.4 Đánh giá hiệu quả quản lí và sử dụng vốn tại Công ty thông qua một số chỉ tiêu .....47
2.4.1 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung ........................................................ 47
2.4.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định ............................................................ 49
2.4.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động ........................................................ 51 2.4.3.1 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động thông qua một vài chỉ tiêu chủ yếu . 51 2.4.3.2 Đánh giá hiệu quả quản lý tiền ......................................................................... 53
2.4.3.3 Đánh giá hiệu quả quản lý các khoản phải thu ................................................. 54
2.4.3.4 Đánh giá hiệu quả quản lý hàng tồn kho .......................................................... 57
2.4.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay ................................................................... 58
2.4.5 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu ...................................................... 59
2.4.6 Đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp ............................................ 60
2.4.7 Đánh giá sự độc lập tài chính ............................................................................. 63
2.5 Đánh giá chung về hiệu quả trong công tác quản lý và sử dụng vốn của
Công ty TNHH sx&tm Minh Ngọc trong thời gian vừa qua ................................... 64
2.5.1 Ưu điểm và những thành tích trong quản lý và sử dụng vốn của Công ty Minh Ngọc trong thời gian vừa qua ............................................................................ 64 2.5.2 Những mặt hạn chế cần khắc phục trong công tác quản lý và sử dụng vốn của Công ty Minh Ngọc trong thời gian vừa qua ....................................................... 65 CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CÂO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY TNHH SX&TM MINH NGỌC ............................................ 67
3.1 Mục tiêu, phương hướng phát triển và định hướng quản lý vốn của Công ty .......67 3.1.1 Mục tiêu phát triển của Công ty ......................................................................... 67 3.1.2 Phương hướng phát triển của Công ty trong thời gian tới ............................... 67
3.1.3 Định hƣớng về quản lý vốn ................................................................................ 68
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty TNHH sx&tm Minh Ngọc . 69
3.2.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định ........................................... 69 3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động ....................................... 72 3.2.2.1 Xác định nhu cầu vốn lưu động ......................................................................... 72
3.2.2.2 Nâng cao hiệu quả quản lý tiền và các khoản tương đương tiền ...................... 72 3.2.2.3 Nâng cao hiệu quả quản lý khoản phải thu khách hàng ................................... 74
3.2.2.4 Nâng cao hiệu quả quản lý hàng tồn kho .......................................................... 76
3.2.3 Giải pháp cho nâng cao tiềm lực tài chính ........................................................ 77
3.2.4 Một số giải pháp khác ......................................................................................... 78 3.2.4.1 Chiến lược quản lý vốn ...................................................................................... 78
3.2.4.2 Giảm chi phí giá vốn hàng bán ......................................................................... 78
3.2.4.3 Áp dụng công nghệ kỹ thuật tiên tiến trong quản lý và sản xuất ...................... 79
3.2.4.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ............................................................... 80
3.3 Một số kiến nghị với nhà nƣớc ............................................................................. 80 KẾT LUẬN .................................................................................................................. 81
DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ
Sx&tm
Sản xuất và thương mại
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
TSCĐ
Tài sản cố định
TSDH
Tài sản dài hạn
TSNH
Tài sản ngắn hạn
VCSH
Vốn chủ sở hữu
VDH
Vốn dài hạn
VNH
Vốn ngắn hạn
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Bảng cân đối kế toán của Công ty năm 2009 – 2012 ................................ 35 Bảng 2.2: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty năm 2010 – 2012 .................. 36
Bảng 2.3: Chỉ tiêu đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh....................................... 36
Bảng 2.4: Cơ cấu giá trị tài sản của Công ty năm 2010 - 2012 .................................. 38
Bảng 2.5: Cơ cấu tỷ trọng tài sản của Công ty năm 2010 – 2012 .............................. 38
Bảng 2.6: Chi tiết tài sản ngắn hạn của Công ty năm 2010 – 2012 ........................... 40 Bảng 2.7: Chi tiết tài sản dài hạn của Công ty năm 2010 – 2012 .............................. 42
Bảng 2.8: Chi tiết nguồn vốn của Công ty Minh Ngọc Steel năm 2010 – 2012 ........ 43 Bảng 2.9: Tỷ lệ nợ trên VCSH ................................................................................... 44
Bảng 2.10: Chi tiết nợ phải trả của Công ty năm 2010 – 2102 .................................... 44 Bảng 2.11: Cơ cấu tỷ trọng tài sản của Công ty năm 2010 – 2012 .............................. 46 Bảng 2.12: Cơ cấu vốn theo thời gian của Công ty Minh Ngọc Steel năm 2010 – 2012 46
Bảng 2.13: Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung của Công ty năm
2010 – 2012 ......................................................................................................... 47
Bảng 2.14: Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định của Công ty
năm 2010 – 2012 ........................................................................................ 49
Bảng 2.15: Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty
năm 2010 – 2012 ........................................................................................ 51
Bảng 2.16 : Tỷ trọng tiền và các khoản tương đương tiền trên vốn lưu động .............. 54
Bảng 2.17: Phân tích kết cấu các khoản phải thu năm 2010 - 2012 ........................... 54
Bảng 2.18: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý các khoản phải thu ....................... 56
Bảng 2.19: Phân tích hệ số vòng quay hàng tồn kho ................................................... 58
Bảng 2.20: Hiệu quả sử dụng vốn vay ......................................................................... 58
Bảng 2.21: Hiệu quả vốn chủ sở hữu .......................................................................... 59
Bảng 2.22: Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp năm
2010 - 2012 ................................................................................................ 60 Bảng 2.23: Sự độc lập tài chính ................................................................................... 63
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu tỷ trọng tài sản ngắn hạn của Công ty .......................................... 41
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu tổng nguồn vốn của Công ty Minh Ngọc Steel giai đoạn 2010
– 2012 ....................................................................................................... 43
Biểu đồ 2.3: Hiệu quả sử dụng vốn nói chung .............................................................. 47 Biểu đồ 2.4: Khả năng thanh toán của Công ty............................................................. 61
DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
Hình 1.1: Mô hình chiến lược quản lý mao hiểm .......................................................... 7
Hình 1.2: Mô hình chiến lược quản lý thận trọng .......................................................... 8
Hình 1.3: Mô hình chiến lược quản lý dung hòa ........................................................... 9
Hình 1.4: Các nhóm hàng tồn kho phân bổ theo biểu đồ Pareto ................................. 19
Hình 1.5: Mô hình EOQ ............................................................................................. 20 Hình 2.1: Mô hình chiến lược quản lý tài sản – nguồn vốn của Công ty .................... 46
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH sx&tm Minh Ngọc ............................. 31
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần phải có các yếu tố cơ bản đó là: Sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Để có được các yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn nhất định phù hợp với quy mô cũng như điều kiện kinh doanh. Vốn là yếu tố không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh, đồng thời cùng là yếu tố quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế. Đối với mỗi doanh nghiệp, vốn là điều kiện để đổi mới thiết bị, công nghệ, tăng quy mô sản xuất và nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của một doanh nghiệp mà nó còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy, trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải quan tâm đến vấn đề tạo lập vốn, và khi đã tạo lập được vốn rồi thì việc khó hơn nữa là phải làm sao để quản lý và sử dụng nó một cách hiệu quả nhất, mang lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp.
Trên thực tế, các doanh nghiệp Việt Nam còn có nhiều yếu kém trong công tác quản lý và sử dụng nguồn vốn. Tồn tại tình trạng sử dụng vốn một cách lãng phí, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, chi phí vốn cao mà vẫn không đạt hiệu quả tốt. Chính vì vậy mà lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh chưa cao.
Bài toán đặt ra cho tất cả các doanh nghiệp hiện nay là tìm kiếm nguồn tài trợ từ đâu để có chi phí sử dụng hợp lý nhất và sau đó là phải sử dụng những đồng vốn ấy như thế nào để đem lại hiệu quả tối đa.
Nắm bắt được tầm quan trọng của vấn đề, dựa trên những kiến thức được học tại trường Đại học Thăng Long, kết hợp với thực tế sau khi tìm hiểu về Công ty TNHH sx&tm Minh Ngọc, tôi đã đi sâu để nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty TNHH sx&tm Minh Ngọc” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của để tài
Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận về quản lý vốn và hiệu quả sử dụng vốn
Phạm vi nghiên cứu: Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng và quản lý vốn tại Công ty TNHH sx&tm Minh Ngọc giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2012, nhằm đưa ra một số biện pháp giúp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn tại Công ty.
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong khóa luận là phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát dựa trên cơ sở các số liệu được cung cấp và tình hình thực tế tại Công ty. Ngoài ra con so sánh với các số liệu trung bình của ngành được cung cấp ở một số website.
4. Kết cấu của khóa luận
Khóa luận tốt nghiệp gồm có 3 chương:
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
TRONG DOANH NGHIỆP
CHƢƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN CỦA CÔNG TY TNHH SX&TM MINH NGỌC
CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CÂO HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY TNHH SX&TM MINH NGỌC
Hà Nội, ngày 27 tháng 10 năm 2013 Sinh viên
Trần Thị Lan Anh
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận về vốn kinh doanh và vai trò của vốn kinh doanh 1.1.1 Khái niệm vốn kinh doanh
Khi một doanh nghiệp được thành lập, để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh
doanh thì doanh nghiệp đó cần có một lượng vốn nhất định. Với số vốn này thì doanh nghiệp sẽ đầu tư mua sắm các loại tài sản thiết bị cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh
doanh, chi cho các chiến dịch quản cáo và trả lương cho người lao động… Như vậy vốn là tiền đề vững chắc, là điều kiện tiên quyết để bắt đầu quá trình sản xuất kinh
doanh. Vốn kinh doanh giúp doanh nghiệp hoạt động liên tục và có hiệu quả. Nhưng
để có được điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có nhận thức đúng đắn về vốn. Đó
là tiền đề cho việc quản lí sử dụng vốn một cách có hiệu quả và đem lại lợi nhuận cho
doanh nghiệp. Để có thể đáp ứng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình một
cách tốt nhất đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định và phù hợp với
quy mô của doanh nghiệp. Điều đó giúp doanh nghiệp không bị thiếu hụt nguồn vốn
để đầu tư cũng như nguồn vốn của doanh nghiệp không quá thừa thãi làm mất đi chi
phí cơ hội của đồng vốn.
Vốn là một phạm trù được xem xét, đánh giá theo nhiều định nghĩa, quan niệm
khác nhau tùy thuộc vào từng mục đích, phương diện nghiên cứu của mỗi người. Trên
quan điểm của một nhà nhà kinh tế ta có thể định nghĩa về vốn kinh doanh một cách
khái quát như sau:
Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền, là giá trị của tài sản mà doanh nghiệp
đang nắm giữ. Trong nền kinh tế thị trường, vốn được quan niệm là toàn bộ giá trị ứng
ra ban đầu và trong các quá trình sản suất tiếp theo của doanh nghiệp.
Vốn của doanh nghiệp tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như tiền tệ, các
dạng của cải, nguồn nhân lực, tư liệu sản xuất…Nhưng xét cho cùng ta có thể hiểu
rằng vốn được biểu hiện bằng tiền. Tiền tệ được coi là điểm xuất phát, được ứng ra để
chuyển hóa thành các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa làm tăng giá trị. Nhưng không phải lúc nào tiền cũng được coi là vốn, ví dụ như khi tiền chỉ được sử dụng để mua sản phẩm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của cá nhân và xã hội. Khi và chỉ khi hội tụ ba điều kiện sau thì tiền mới được xem là
nguồn vốn của doanh nghiệp:
- Tiền phải đại diện cho một lượng hàng hóa nhất định, nói cách khác tiền phải
được đảm bảo bằng một lượng hàng hóa có thực.
- Tiền phải được tích tụ và tập hợp đến một lượng nhất định, bởi nếu không có
đủ tiền thì doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất, kinh doanh.
1
- Tiền phải được sử dụng nhằm mục đích sinh lời. Một lượng tiền lớn không
được vận động quay vòng để gia tăng giá trị thì chỉ là những đồng tiền chết. Không những thế giá trị của tiền còn bị giảm theo thời gian nếu không được quay vòng đầu tư
do lạm phát.
1.1.2 Đặc trưng cơ bản của vốn
Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định. Có nghĩa là vốn của doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp đó. Doanh nghiệp có quyền sử dụng nguồn vốn
kinh doanh vào bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào của mình. Tuy nhiên, vốn
được quan niệm như một loại hàng hóa đặc biệt, có thể mua bán quyền sử dụng vốn
trên thị trường.
Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định được biểu hiện bằng giá trị
của tài sản hữu hình như máy móc, thiết bị, sản phẩm… và tài sản vô hình như thương
hiệu, uy tín, bằng phát minh, sáng chế… của doanh nghiệp.
Vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định đủ để bắt đầu một
hoạt động sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp đã có những kế hoạch và tính toán
trước. Trước khi hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra, doanh nghiệp đã phải có
kế hoạch, chiến lược cụ thể về chi phí, doanh thu dự kiến cho từng dự án nhằm giảm
thiểu rủi ro cho doanh nghiệp. Như vậy doanh nghiệp sẽ biết trước được lượng vốn cần
đầu tư vào dự án là bao nhiêu, và khi có đủ lượng vốn đó thì doanh nghiệp mới có thể bắt tay vào thực hiện dự án.
Mục tiêu lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng
hướng tới. Không doanh nghiệp nào muốn mình làm ăn bị thua lỗ. Vốn phải vận động
sinh lời đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Khi bỏ vốn ra đầu tư vào một
dự án hoạt động sản xuất kinh doanh nào doanh nghiệp luôn phải cân nhắc kỹ càng xem
nó có mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp hay không, và lợi nhuận đó là bao nhiêu.
Vốn có giá trị về mặt thời gian. Lạm phát chính là tác nhân tạo nên đặc điểm
này của vốn. Cũng là một đồng vốn nhưng giá trị của nó ở hai thời điểm khác nhau là
khác nhau. Một đồng vốn ở hiện tại có thể mua được một thiết bị phục vụ cho hoạt
động sản xuất kinh doanh. Vẫn là thiết bị đó nhưng vào thời điểm của một năm sau thì một đồng vốn chưa chắc đã mua được nó. Điều này rất có ý nghĩa khi bỏ vốn đầu tư và tính hiệu quả của đồng vốn. Doanh nghiệp luôn phải chú ý đến điều này. Doanh nghiệp phải biết nhìn xa trông rộng, đánh giá được tình hình kinh tế trong tương lai thông qua những biến động kinh tế đang diễn ra ở hiện tại vì nó ảnh hưởng rất lớn đến
kết quả sản xuất kinh doanh và lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.1.3 Phân loại vốn
Vốn kinh doanh có thể được xem xét và phân loại theo các tiêu thức khác nhau. Trong kinh doanh vốn được phân loại một cách rõ ràng để doanh nghiệp có thể theo
2
dõi và sử dụng vốn một cách hiệu quả nhất. Phân loại vốn giúp Công ty nắm được tình
hình cũng như cơ cấu của nguồn vốn hiện tại từ đó đưa ra những điều chỉnh phù hợp và sử dụng vốn một cách đúng đắn và hiệu quả giảm thiểu chi phí vốn cho doanh
nghiệp. Sau đây là một số tiêu thức thông dụng để phân loại vốn kinh doanh:
1.1.3.1 Căn cứ theo thời gian
Phân loại theo thời gian thì vốn được chia làm hai loại đó là: Vốn ngắn hạn và
vốn dài hạn.
- Vốn ngắn hạn: Là các khoản vốn có thời gian chiếm dụng ngắn nhỏ hơn 1
năm bao gồm: Vốn vay ngắn hạn từ các tổ chức tín dụng, nợ phải trả nhà cung cấp,
khách hàng thanh toán trước, nợ phải trả công nhân viên, thuế phải nộp…
- Vốn dài hạn: Là các khoản vốn có thời gian chiếm dụng dài lớn hơn 1 năm
bao gồm: Vốn chủ sở hữu, vốn vay dài hạn từ các tổ chức tín dụng…
Vốn ngắn hạn và vốn dài hạn đều nằm trên phần nguồn vốn trên bảng cân đối kế toán. Khi ta đem nguồn vốn này đầu tư đầu tư vào tài sản, lúc đó mới hình thành
nên tài sản. Thường thì vốn dài hạn đầu tư vào tài sản cố định, còn vốn ngắn hạn
thường đầu tư vào tài sản ngắn hạn.
1.1.3.2 Căn cứ vào nguồn hình thành của vốn
Căn cứ vào nguồn hình thành của vốn thì vốn được chia làm 2 loại: Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Hình thức phân loại này giúp nhà quản trị nhận biết rõ trách nhiệm,
nghĩa vụ của doanh nghiệp với từng khoản vốn khác nhau.
- Vốn chủ sở hữu: Là phần vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh
nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, chi phối và định đoạt. vốn chủ sở hữu có thể
được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như: Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước,
vốn do chủ doanh nghiệp bỏ ra, vốn góp cổ phần, lợi nhuận chưa phân phối…
- Nợ phải trả : Là khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế. Đó là số tiền vốn mà
doanh nghiệp đi vay, chiếm dụng của các đơn vị, tổ chức, cá nhân như: Vốn vay của
ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính khác, vốn vay thông qua phát hành trái phiếu, các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán.
1.1.3.3 Căn cứ vào vai trò và tính chất luân chuyển vốn
Xét về vai trò và tính chất luân chuyển vốn khi tham gia vào quá trình sản suất
kinh doanh có thể phân thành hai loại: Vốn cố định và vốn lưu động.
- Vốn cố định: Là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định mà
đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng.
Vốn cố định là số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng các tài sản cố
3
định nên qui mô của vốn cố định nhiều hay ít sẽ quyết định quy mô của tài sản cố định
ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Song ngược lại những đặc điểm kinh tế của tài sản cố
định trong quá trình sử dụng lại có ảnh hưởng quyết định, chi phối đặc điểm tuần hoàn
và chu chuyển của vốn cố định.
Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, kinh doanh vì tài sản cố định
của doanh nghiệp thường có thời gian luân chuyển dài.
- Vốn lưu động: Là số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư, mua sắm tài sản lưu động của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất, kinh doanh của của doanh nghiệp được tiến hành liên tục. Tài sản lưu động bao gồm tài sản lưu động sản
xuất (bao gồm các loại nguyên nhiên vật liệu, phụ tùng thay thế, bán sản phẩm, sản
phẩm dở dang…đang trong quá trình dự trữ hoặc chế biến) và tài sản lưu động lưu
thông (bao gồm các sản phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các
khoản vốn trong thanh toán, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước…)
Vốn lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình
thái vật chất ban đầu. Vì vậy giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị
sản phẩm. Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, vốn lưu động hoàn thành một vòng luân chuyển.
1.1.4 Vai trò của vốn đối với các doanh nghiệp
Về mặt pháp lý: Vốn là điều kiện không thể thiếu để thành lập một doanh
nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Để doanh nghiệp đươc phép
thành lập, bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải đầu tư một số vốn nhất định không nhỏ
hơn mức vốn pháp định. Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu mà pháp luật quy định
đối với mỗi ngành nghề.
Về mặt kinh tế: Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn đóng vai trò đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp được tiến hành thuận lợi theo mục đích đã định. Nó là
một trong bốn yếu tố đầu vào cơ bản của sản xuất. Quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp được đảm bảo khi hội đủ các yếu tố: Vốn, lao động, tài nguyên và kỹ
thuật công nghệ. Nhưng xét cho cùng thì điều kiện đầu tiên và quyết định là vốn. Khi có vốn, doanh nghiệp có thể sử dụng để thuê lao động, mua tài nguyên và công nghệ. Vì thế, vốn được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu, là điều kiện không thể thiếu để tiến hành sản xuất, tái sản xuất và mở rộng sản xuất kinh doanh.
Vai trò của vốn chỉ có thể được phát huy trên cơ sở thực hiện các chức năng tài chính. Điều đó có nghĩa là trên cơ sở tự chủ về tài chính, doanh nghiệp phải sử dụng hợp lí, đúng mức đồng vốn bỏ ra. Phải làm sao để với số vốn nhất định có thể thực hiện được nhiều việc một cách hiệu quả nhất.
4
1.2 Hệ thống khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp
1.2.1 Cơ cấu phân bổ vốn trong doanh nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm cơ cấu vốn của doanh nghiệp
Khi một doanh nghiệp được thành lập thì mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh
của doanh nghiệp đó diễn ra đều phải sử dụng đến vốn. Một doanh nghiệp tùy vào
từng thời kì có thể sử dụng một hay nhiều nguồn vốn để tài trợ cho hoạt động sản xuất,
kinh doanh. Có thể dùng vốn ngắn hạn hay dài hạn, vốn chủ sở hữu hay vốn vay…nó tùy thuộc vào các yếu tố như ngành nghề kinh doanh, khả năng của doanh nghiệp,
nhận thức chủ quan của chủ doanh nghiệp bằng cách vận dụng các lý thuyết về cơ cấu vốn, các tính toán của chủ doanh nghiệp.
Như vậy, theo một cách tổng quát cơ cấu vốn của doanh nghiệp là mối tương
quan tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu, bao gồm vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần
thường trong tổng số nguồn vốn của Công ty.
Tỷ lệ nợ trên Nợ phải trả = VCSH Vốn chủ sở hữu
Các đặc trưng cơ bản của cơ cấu vốn của doanh nghiệp:
Cơ cấu vốn của doanh nghiệp được cấu thành bởi vốn dài hạn, ổn định, thường
xuyên trong doanh nghiệp vì cơ cấu vốn được doanh nghiệp hoạch định cho cả một kỳ
hoặc nhiều kỳ và nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau của doanh nghiệp. Vốn
ngắn hạn có thời gian chiếm dụng ngắn, nhỏ hơn một năm vì vậy mà loại vốn này
thường không tham gia cấu thành nên cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Còn vốn dài hạn
có thời gian chiếm dụng lớn, một kỳ hay nhiều kỳ sản xuất kinh doanh nên đây là số
vốn chủ yếu được dùng để tài trợ cho các quyết định đầu tư dài hạn.
Có rất nhiều yếu tố tác động đến cơ cấu vốn như loại hình sản xuất kinh doanh,
khả năng tự chủ vốn của doanh nghiệp, chiến lược cũng như mục tiêu của doanh
nghiệp… do đó không có một cơ cấu vốn tối ưu cho mọi doanh nghiệp hay trong mọi
chu kì sản xuất kinh doanh vì tại mỗi chu kỳ kinh doanh khác nhau thì doanh nghiệp sẽ có chiến lược cũng như mục tiêu khác nhau. Khả năng tự chủ về vốn của doanh nghiệp cũng khác nhau ở mỗi thời điểm.Để hoạt động sản xuất kinh doanh của doah nghiệp được tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả cao thì doanh nghiệp cần có một cơ cấu vốn phù hợp.Với một cơ cấu vốn hợp lí cho từng thời kỳ sản xuất kinh doanh thì các hoạt động của doanh nghiệp sẽ diễn ra một cách suôn sẻ, giảm thiểu rủi ro đồng thời còn
giảm thiểu được chi phí. Thế nên việc lựa chọn cơ cấu vốn hợp lý có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
5
Cơ cấu vốn tối ưu cho một doanh nghiệp là cơ cấu vốn cân đối được giữa rủi ro
và lợi nhuận do đó tối đa hóa được giá cả cổ phiếu Công ty. Có nghĩa là chi phí sử dụng vốn thấp nhất, đồng thời khi đó, giá thị trường của cổ phiếu của doanh nghiệp
cũng là cao nhất. Tuy nhiên doanh nghiệp rất khó có thể đạt được điểm cơ cấu vốn tối
ưu mà chỉ có thể tiến gấn tới điểm cơ cấu vốn tối ưu đó.
1.2.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn cơ cấu vốn
Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp thường thường phụ thuộc vào đặc điểm
của hoạt động kinh doanh, hình thức sở hữu vốn, cơ chế quản lý và phân cấp tài chính
trong các doanh nghiệp. Trong thực tế các doanh nghiệp khác nhau thì cơ cấu nguồn
vốn cũng khác nhau. Cơ cấu nguồn vốn tác động đến nội dung phân tích hiệu quả sử
dụng vốn cũng như hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Rủi ro doanh nghiệp: Rủi ro phát sinh đối với tài sản của Công ty ngay cả khi
Công ty không sử dụng nợ. Công ty nào có rủi ro doanh nghiệp càng lớn thì càng hạ
thấp tỉ lệ nợ tối ưu.
Thuế thu nhập Công ty: Do lãi vay là yếu tố chi phí trước thuế nên sử dụng nợ
giúp Công ty tiết kiệm thuế. Tuy nhiên điều này sẽ không còn ý nghĩa nữa đối với
những Công ty nào được ưu đãi hay vì lý do gì đó mà thuế suất thuế thu nhập ở mức
thấp hoặc bằng 0.
Sự chủ động về tài chính: Sử dụng nợ nhiều làm giảm đi sự chủ động về tài chính đồng thời làm xấu đi tình hình bảng cân đối tài sản khiến cho những nhà cung
cấp vốn ngần ngại cho vay hay đầu tư vốn vào Công ty.
Phong cách và thái độ của ban quản lí Công ty: Một số ban giám đốc thận
trọng hơn những người khác, do đó ít sử dụng nợ hơn trong tổng nguồn vốn của Công
ty.
1.2.1.3 Các chiến lược quản lý vốn trong doanh nghiệp
Nguyên tắc tài trợ: Huy động nguồn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn,
huy động nguồn dài hạn để tài trợ cho nguồn dài hạn.
Tài sản ngắn hạn, dài hạn:
- Tài sản ngắn hạn: Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển thu hồi vốn trong một kỳ kinh doanh hoặc một năm. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền tệ, hiện vật (vật tư, hàng hóa) dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu.
- Tài sản dài hạn: Bao gồm tài sản cố định, các khoản đầu tư tài chính dài hạn… Nguồn vốn tài trợ: - Nguồn tài trợ ngắn hạn: Nguồn tài trợ ngắn hạn có thời hạn hoàn trả dưới một
năm. Công ty không phải trả lãi cho những nguồn tài trợ từ khoản nợ tích lũy và các
6
hình thức tín dụng thương mại. Nguồn tài trợ ngắn hạn bao gồm các khoản nợ ngắn
hạn (nợ tích lũy và các khoản vay ngắn hạn).
- Nguồn tài trợ dài hạn: Nguồn tài trợ dài hạn có thời hạn hoàn trả lớn hơn hoặc
bằng một năm. Công ty phải trả lãi cho tất cả các khoản nợ dài hạn từ hình thức vay
ngân hàng và phát hành trái phiếu. Lãi suất các khoản nợ dài hạn thường cao hơn vay
ngắn hạn. Nguồn tài trợ dài hạn bao gồm các khoản nợ dài hạn, vay dài hạn, vốn chủ sở hữu (vốn điều lệ và lợi nhuận không chia).
Các chiến lược quản lý vốn trong doanh nghiệp: Có ba cách thức quản lý vốn
đó là: Chiến lược quản lý mạo hiểm, chiến lược quản lý thận trọng và chiến lược quản
lý dung hòa.
Chiến lược quản lý mạo hiểm: Dùng một phần nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho
tài sản dài hạn. Khi đó tài sản ngắn hạn được duy trì ở mức thấp, tương đương với điều
đó là tiền, hàng tồn kho, phải thu khách hàng ở mức thấp nên các khoản chi phí về lưu
kho, chi phí duy trì chính sách tín dụng và chi phí cơ hội được giảm tối đa kéo theo lợi
nhuận thu được sẽ gia tăng. Tuy nhiên lợi nhuận gia tăng đồng nghĩa với việc rủi ro
cũng tăng theo (Dự trữ hàng tồn kho ở mức thấp có thể dẫn tới tình trạng không đủ
hàng để cung cấp từ đó làm mất thị phần đồng thời có khi còn mất đi những cơ hội làm
ăn lớn…). Bên cạnh đó, khi Công ty sử dụng chiến lược quản lý mạo hiểm thì nguồn
vốn ngắn hạn ở mức cao. Chi phí của nguồn vốn ngắn hạn thường thấp hơn so với nguồn vốn dài hạn nhưng Công ty sẽ luôn phải chịu áp lực về ciệc thanh toán các
khoản nợ ngắn hạn vào mỗi kỳ. Rủi ro mà Công ty có thể gặp phải đó là Công ty chưa
kịp thu hồi vốn để hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn khi đến hạn.
Hình 1.1: Mô hình chiến lƣợc quản lý mao hiểm
VNH
TSNH TSDH
VDH
Chiến lược quản lý thận trọng: Dùng một phần nguồn vốn dài hạn tài trợ cho
tài sản ngắn hạn. Chiến lược này là sự kết hợp giữa chính sách quản lý tài sản thận
7
trọng và quản lý nguồn vốn thận trọng. Khi đó tài sản ngắn hạn và nợ dài hạn sẽ ở mức
cao. Chính sách này có tính an toàn cao vì Công ty sử dụng vốn trong dài hạn có mức độ ổn định cao để tài trợ cho những tài sản ngắn hạn có thời gian thu hồi vốn nhanh.
Các khoản tài trợ này có thời hạn hoàn trả trong thời gian dài, vì vậy mà Công ty
không phải chịu áp lực về vấn đề trả nợ trong kỳ đồng thời Công ty có thể có lợi nhuận
và thu hồi được vốn trước khi phải thanh toán cho các khoản nợ nên những khoản lợi nhuận và vốn đã thu hồi được Công ty có thể tiếp tục đem tái đầu tư. Tuy nhiên, chi
phí sử dụng vốn của nguồn tài trợ dài hạn này lại cao hơn và Công ty cũng phải ghánh
chịu thêm những chi phí khác như chi phí lưu kho, chi phí cơ hội do dự trữ lượng lớn
tiền mặt…làm giảm lợi nhuận thu được của Công ty.
Hình 1.2: Mô hình chiến lƣợc quản lý thận trọng
VNH TSNH
VDH
TSDH
Chiến lược quản lý dung hòa: Dùng nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho tài sản
ngắn hạn, dùng nguồn vốn dài hạn tài trợ cho tài sản dài hạn. Đây là chiến được coi là
nguyên tắc chủ đạo áp dụng trong chính sách quản lý vốn vì khi đó Công ty sử dụng
đúng nguồn tài trợ cho các loại tài sản. Nhờ đó chi phí sẽ giảm mà vẫn đảm bảo được
tính an toàn cho Công ty, giảm thiểu các rủi ro có thể xảy ra.
8
Hình 1.3: Mô hình chiến lƣợc quản lý dung hòa
TSNH VNH
TSDH VDH
1.2.1.4 Mục đích phân tích sự biến động và tình hình phân bổ vốn của doanh nghiệp
Phân tích sự biến động và tình hình phân bổ vốn là để đánh giá tình hình tăng
giảm vốn, phân bổ vốn như thế nào từ đó đánh giá việc sử dụng vốn của doanh nghiệp
có hợp lý hay không? Để rồi đề ra các kiến nghị đối với công tác quản lý sử dụng vốn
trong doanh nghiệp nhằm giúp Công ty ngày một phát triển hơn.
1.2.1.5 Nội dung phân tích sự biến động và cơ cấu phân bổ vốn của doanh nghiệp
Phân tích sự biến động của vốn: Xem xét sự biến động của tổng tài sản (vốn) cũng
như từng loại tài sản thông qua việc so sánh giữa cuối kì với đầu kì cả về số tuyệt đối lẫn
số tương đối của tổng số tài sản cũng như chi tiết đối với từng loại tài sản. Qua đó thấy
được sự biến động về quy mô kinh doanh, năng lực kinh doanh của doanh nghiệp.
Phân tích cơ cấu phân bổ vốn: Xác định tỷ trọng từng loại vốn trong quy mô
chung, đồng thời so sánh tỉ trọng từng loại tài sản (vốn) giữa cuối kì với đầu kì.
Khi Phân tích cần lưu ý đến tính chất và ngành nghề kinh doanh của doanh
nghiệp, xem xét tác động của từng loại tài sản đến quá trình kinh doanh và hiệu quả
kinh doanh đạt được trong kì. Có như vậy mới đưa ra được quyết định hợp lí về việc phân bổ vốn cho từng giai đoạn, từng loại tài sản của doanh nghiệp. Hoạch định chính sách cơ cấu vốn còn liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro, vì sử dụng nhiều nợ làm gia tăng rủi ro Công ty, nhưng tỷ lệ nợ cao nói chung đưa đến lợi nhuận kì vọng cao.
1.2.2 Khái niệm chung và ý nghĩa về hiệu quả và phân tích hiệu quả sử dụng vốn 1.2.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn
Trong bất kì một hoạt động kinh doanh nào, doanh nghiệp cũng luôn xác định
một mục tiêu rõ ràng và cố gắng đạt được mục tiêu đã đề ra. Trong sản xuất kinh
9
doanh, nguồn lực chính giúp doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu đã xác định của
mình là vốn. Nếu trình độ quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp tốt có nghĩa là doanh nghiệp đạt được mục tiêu với chi phí bỏ ra là thấp nhất. Bất kỳ doanh nghiệp
nào cũng đều quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn. Đó là nhân tố quyết định cho sự tồn
tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp.
Như vậy hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là mối tương quan giữa kết quả đạt được theo mục tiêu đã xác định trong một thời kỳ nhất định với số vốn bỏ ra
để đạt được kết quả đó. Kết quả đạt được theo mục tiêu càng cao với chi phí càng thấp
thì doanh nghiệp đạt được hiệu quả sử dụng vốn càng cao và ngược lại, kết quả đạt
được thấp so với mục tiêu đề ra mà lại tiêu tốn một lượng chi phí lớn thì doanh nghiệp
được coi là có hiệu quả sử dụng vốn thấp. Như vậy, hiệu quả sử dụng vốn phản ánh
trình độ quản lý và sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp trong việc tối đa hóa lợi
ích, tối thiểu hóa vốn kinh doanh bỏ ra và thời gian sử dụng nó theo các điều kiện về
nguồn lực xác định phù hợp với mục tiêu kinh doanh.
Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng vốn không chỉ thể hiện đơn thuần ở kết quả kinh
doanh, mà nó còn thể hiện ở nhiều mặt chỉ tiêu về kinh tế thanh toán, số vòng quay của
vốn. Để đánh giá một cách toàn diện về hiệu quả sử dụng vốn cũng như hiệu quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì ta đồng thời phải xem xét những khó
khăn, thuận lợi cũng như các lợi thế, nguy cơ tiềm năng của doanh nghiệp trong tương lai. Hiệu quả sử dụng vốn thật sự tốt khi doanh nghiệp đạt được mục tiêu đề ra ở hiện
tại đồng thời không làm ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh trong tương lai,
mà hơn thế nữa cần tạo được các lợi thế cũng như thời cơ tốt cho doanh nghiệp trong
tương lai.
Việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp phụ thuộc vào mục tiêu
của doanh nghiệp qua các thời kỳ. Mỗi thời kỳ doanh nghiệp có các mục tiêu khác
nhau, nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn là hiệu quả kinh tế, là lợi nhuận và sự ổn định để
phát triển.
1.2.2.2 Khái niệm phân tích hiệu quả sử dụng vốn
Phân tích hiệu quả sử dụng vốn có nghĩa là thông qua các yếu tố, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp để đưa ra kết luận về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là cao hay thấp, có đạt chỉ tiêu doanh nghiệp đã đề ra hay không. Sử dụng các phương pháp phân tích như thống kê, so sánh với các kỳ trước đó xem có sự chênh lệch như thế nào và sự thay đổi đó theo chiều hướng tốt hay xấu. Đồng thời
phân tích được nguyên nhân và các yếu tố đã tác động đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Cuối cùng đưa ra nhận xét và các giải pháp để khắc phục các nhược điểm và phương hướng để củng cố và phát huy các thành tích đã đạt được nhằm làm
tăng hiệu quả sử dụng vốn giúp Công ty ngày càng phát triển bền vững hơn. Vậy làm
10
thế nào để có thể sử dụng nguồn vốn doanh nghiệp một cách hợp lý và hiệu quả nhất?
Ngoài ra, vấn đề làm thế nào để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại các doanh nghiệp Việt Nam đang là vấn đề bức xúc mà các nhà quản lý doanh nghiệp quan tâm.
1.2.2.3 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Đánh giá chính xác được tình hình phát triển của doanh nghiệp đặc biệt là hiệu
quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Đó là việc vô cùng quan trọng và cần thiết. Từ kết quả đánh giá đó, doanh nghiệp sẽ thấy được những thành tựu đã đạt được và những hạn
chế còn tồn tại. Giúp nhà quản trị nhận biết được đâu là điểm mạnh, lợi thế để tận dụng
và phát huy, đâu là điểm yếu để khắc phục. Đồng thời doanh nghiệp còn tránh được
những rủi ro trong thanh toán đảm bảo tính an toàn về tài chính. Điều này ảnh hưởng
tương đối lớn đến uy tín của doanh nghiệp, có tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp. Việc đánh giá một cách chính xác hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp
doanh nghiệp đưa ra được những giải pháp đúng đắn, kịp thời, nâng cao được hiệu quả
sử dụng vốn. Giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí sử dụng vốn, tối đa hóa được lợi ích
và đạt được mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp đó là tối đa hóa lợi nhuận.
1.3 Một số chỉ tiêu chủ yếu đánh giá hiệu quả quản lý và sử dụng vốn 1.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp được đánh giá thông qua một hệ thống
các chỉ tiêu. Để đánh giá doanh nghiệp có hiệu quả sử dụng vốn tốt hay không ta cần căn cứ vào các mục tiêu của doanh nghiệp trong mỗi chu kì kinh doanh như: Doanh
thu bán hàng, lợi nhuận, thị phần, nâng cao uy tín, chất lượng phục vụ, duy trì sự tồn
tại, ổn định của doanh nghiệp…Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn giúp doanh nghiệp
nắm bắt được tình hình thực tế của doanh nghiệp, thấy được những tích cực và hạn chế
trong công tác quản lí sử dụng vốn. Từ đó đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn
1.3.1.1 Hiệu suất sử dụng vốn
Vòng quay toàn bộ vốn Doanh thu thuần trong kỳ = trong kỳ vốn bình quântrong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh vốn của doanh nghiệp trong một kỳ quay được bao nhiêu vòng. Qua chỉ tiêu này ta có thể đánh giá được khả năng sử dụng vốn hay tài sản của doanh nghiệp thể hiện qua doanh thu thuần được sinh ra từ tài sản doanh nghiệp đã đầu tư. Vòng quay càng lớn thì hiệu quả càng cao.
1.3.1.2 Suất hao phí vốn
= Suất hao phí vốn trong kỳ Vốn bình quân trong kỳ Doanh thu thuần trong kỳ
11
Suất hao phí vốn là chỉ tiêu nghịch đảo chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn, phản ánh
một đồng doanh thu cần có bao nhiều đồng vốn.
1.3.1.3 Tỷ lệ doanh lợi trên tổng vốn Tỷ lệ doanh lợi trên Lợi nhuận thuần = tổng vốn Vốn kinh doanh bình quân
Tỷ lệ doanh lợi trên tổng vốn là chỉ tiêu đo lường mức sinh lời của đồng vốn.
Chỉ tiêu này còn thể hiện tính hiệu quả của quá trình tổ chức, quản lí hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cho biết bình quân cứ 1 đồng vốn
được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi
nhuận.Chỉ tiêu này càng cao, càng biểu hiện xu hướng tích cực, tức là doanh nghiệp
hoạt động có hiệu quả cao.
1.3.2 Quản lý và sử dụng vốn cố định 1.3.2.1 Hiệu suất sử dụng vốn cố định
Hiệu suất sử dụng Doanh thu thuần trong kỳ = vốn cố định Vốn cố định bình quân trong kỳ
Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định, nó giúp cho các nhà phân
tích biết được đầu từ một đồng vốn cố định có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.
1.3.2.2 Suất hao phí vốn cố định
Suất hao phí Vốn cố định bình quân trong kỳ = vốn cố định Doanh thu thuần trong kỳ
Là đại lượng nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định. Chỉ tiêu
này phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu cần phải bỏ vào sản xuất bao nhiêu đồng
vốn cố định.
1.3.2.3 Tỷ lệ doanh lợi trên vốn cố định
Tỷ lệ doanh lợi trên Lợi nhuận thuần = vốn cố định Vốn cố định bình quân
Chỉ tiêu này phản ảnh khả năng sinh lời của vốn cố định. Chỉ tiêu này thể hiện một đồng vốn cố định bỏ vào sản xuất đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Khả năng sinh lời của vốn cố định càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn càng tốt
1.3.2.4 Mức khấu hao hàng năm của tài sản cố định
Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, do chịu tác động của nhiều nguyên nhân như nhiệt độ, thời gian, cường độ sử dụng, tiến bộ khoa học
nên TSCĐ bị hao mòn dần. Sự hao mòn này có thể chia thành hao mòn hữu hình và
12
hao mòn vô hình. Hao mòn hữu hình là sự giảm dần về giá trị sử dụng và theo đó giá
trị của TSCĐ giảm dần. Hao mòn vô hình là sự giảm thuần túy về mặt giá trị của TSCĐ mà nguyên nhân chủ yếu là do sự tiến bộ của khoa học và công nghệ. Do vậy,
để thu hồi lại giá trị của TSCĐ do sự hao mòn trên, cần phải tiến hành khấu hao
TSCĐ. Khấu hao TSCĐ là sự phân bổ dần giá trị TSCĐ vào giá thành sản phẩm nhằm
tái sản xuất TSCĐ sau khi hết thời gian sử dụng. Để thực hiện khấu hao TSCĐ, người ta thường áp dụng một số phương pháp chủ yếu sau:
Phương pháp khấu hao đường thẳng:
Theo phương pháp này, mức khấu hao cơ bản hàng năm của TSCĐ là đều nhau
trong suốt thời gian sử dụng TSCĐ và được xác định như sau:
Trong đó:
MK : Mức khấu hao cơ bản bình quân hàng năm của TSCĐ NG: Nguyên giá TSCĐ
T: Thời gian sử dụng TSCĐ
Tỷ lệ khấu hao hàng năm (TK) được xác định như sau:
hoặc
- Nguyên giá TSCĐ bao gồm: Giá mua thực tế phải trả (giá ghi trên hóa đơn trừ
đi các khoản giảm giá, chiết khấu mua hàng nếu có), các chi phí vận chuyển, bốc dỡ,
lắp đặt, chạy thử, các khoản lãi vay đầu tư cho TSCĐ khi chưa bàn giao và đưa vào sử
dụng, các khoản thuế và lệ phí trước bạ (nếu có).
- Thời gian sử dụng TSCĐ: Là thời gian doanh nghiệp dự kiến sử dụng TSCĐ.
Nó được xác định căn cứ vào tuổi thọ kỹ thuật và tuổi thọ kinh tế của TSCĐ có tính
đến sự lạc hậu, lỗi thời của TSCĐ do sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, mục đích
sử dụng và hiệu quả sử dụng.
Phương pháp khấu hao này có ưu điểm là việc tính toán đơn giản, tổng mức khấu hao của TSCĐ được phân bổ đều đặn trong các năm sử dụng TSCĐ và không gây ra sự đột biến trong giá thành sản phẩm hàng năm. Nhưng phương pháp này có nhược điểm là trong nhiều trường hợp không thu hồi vốn kịp thời do không tính hết được sự hao mòn vô hình của TSCĐ.
Trong thực tế, để tính khấu hao cho toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp, người ta thường xác định tỷ lệ khấu hao tổng hợp bình quân chung. Có nhiều cách xác định tỷ lệ khấu hao tổng hợp bình quân của doanh nghiệp nhưng cách xác định thông dụng nhất là theo phương pháp bình quân gia quyền:
13
Trong đó:
f: tỷ trọng của từng loại TSCĐ Ti : Tỷ lệ khấu hao của từng loại TSCĐ
i : Loại TSCĐ
Do đó, mức khấu hao trong kỳ của doanh nghiệp (M) được xác định:
M = X Nguyên giá bình quân TSCĐ phải tính khấu hao Tỷ lệ khấu hao tổng hợp bình quân chung
Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần:
Theo phương pháp này số tiền khấu hao hàng năm được xác định như sau:
Mki = Gdi x Tkh
Trong đó:
Mki: Mức khấu hao TSCĐ năm thứ i
Gdi: giá trị còn lại của TSCĐ đầu năm thứ i
Tkh: Tỷ lệ khấu hao cố định hàng năm của TSCĐ
i: Thứ tự của các năm sử dụng TSCĐ ( i = 1,n )
Tkh = Tk x Hs
Trong đó:
Tk: Tỷ lệ khấu hao theo phương pháp tuyến tính Hs: Hệ số điều chỉnh
Hệ số điều chỉnh được sử dụng ở các nước như sau:
- Hệ số 1,5 đối với TSCĐ có thời gian sử dụng từ 3 đến 4 năm
- Hệ số 2,0 đối với TSCĐ có thời gian sử dụng từ 5 đến 6 năm
Phương pháp khấu hao theo tổng số:
- Hệ số 2,5 đối với TSCĐ có thời gian sử dụng trên 6 năm
Theo phương pháp này, mức khấu hao năm được xác đinh như sau:
Mkt = NG x Tkt
Trong đó: Mkt: số tiền khấu hao TSCĐ ở năm thứ t NG: Nguyên giá TSCĐ Tkt: tỷ lệ khấu hao TSCĐ của năm thứ t T: Thứ tự năm sử dụng TSCĐ
Tkt =
Số năm sử dụng còn lại của TSCĐ theo thứ tự năm sử dụng ------------------------------------------------------------------------------ Tổng số các số năm sử dụng còn lại của TSCĐ tính theo thứ tự năm sử dụng
14
1.3.3 Quản lý và sử dụng vốn lưu động 1.3.3.1 Hiệu suất sử dụng vốn lưu động
Vòng quay vốn lưu Doanh thu thuần = động trong kỳ Vốn lưu động bình quân
Hiệu suất sử dụng vốn lưu động được đánh giá thông qua chỉ tiêu vòng quay
vốn lưu động trong kỳ. Vòng quay vốn lưu động trong kỳ phản ánh trong kỳ vốn lưu
động quay được mấy vòng. Qua đó biết được rằng một đồng vốn lưu động bỏ vào sản
xuất kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng doanh thu. Số vòng quay vốn lưu động trong
kỳ càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao.
1.3.3.2 Suất hao phí vốn lưu động
Suất hao phí Vốn lưu động bình quân = vốn lưu động Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra được một đồng doanh thu thì phải đầu tư vào sản
xuất kinh doanh bao nhiêu đồng vốn lưu động. Chỉ tiêu này càng thấp càng có lợi cho
doanh nghiệp vì khi đó doanh nghiệp sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn.
1.3.3.3 Tỷ lệ doanh lợi trên vốn lưu động
Tỷ lệ doanh lợi trên vốn Lợi nhuận thuần = lưu động Vốn lưu động bình quân
Chỉ tiêu này cho biết lợi nhuận thu lại được của doanh nghiệp là bao nhiêu khi
bỏ ra một đồng vốn lưu động. Lợi nhuận cao có nghĩa là hiệu quả sử dụng vốn cao.
1.3.3.4 Quản lý tiền mặt Xác định tồn quỹ tiền mặt tối ưu:
Quyết định tồn quỹ tiền mặt theo mô hình Baumol
Những giả định của mô hình:
- Công ty áp dụng tỷ lệ bù đắp tiền mặt không đổi - Không có số thặng dư tiền mặt trong kỳ hoạch định - Không có dự trữ tiền mặt cho mục đích an toàn - Dòng tiền tệ rời rạc chứ không phải liên tục Các biến số liên quan
F: chi phí cố định phát sinh khi giao dịch chứng khoán ngắn hạn T: Tổng số tiền mặt cần bù đắp cho giao dịch trong năm K: Chi phí cơ hội do giữ tiền mặt
C: Tồn quỹ tiền mặt đầu kỳ
15
Suy ra:
C/2: Tồn quỹ tiền mặt bình quân (C/2).K: Chi phí cơ hội
T/C: Số lần Công ty bán chứng khoán để bù đắp tiền mặt đã chi tiêu.
(T/C).F: Chi phí giao dịch
Tổng chi phí TC= (C/2).K + (T/C).F Tồn quỹ tiền mặt tối ưu khi TC tối thiểu có nghĩa là:
=>
Xác định tồn quỹ tiền mặt theo mô hình Miller – Orr:
Những giả định của mô hình - Thu chi tiền mặt biến động ngẫu nhiên
- Luồng tiền mặt ròng biến động theo phân phối chuẩn
Các biến số liên quan: F: Chi phí cố định phát sinh khi giao dịch chứng khoán ngắn hạn
K: Chi phí cơ hội do giữ tiền mặt
C: Tồn quỹ tiền mặt ở thời điểm nào đó
L: Tồn quỹ tiền mặt tối thiểu
H: Tồn quỹ tiền mặt tối đa
Z: Tồn quỹ tiền mặt mục tiêu
H*.Z*: Số dư tiền mặt tối ưu
Tồn quỹ tiền mặt mục tiêu (Z*):
trong đó : Phương sai của dòng tiền mặt ròng hàng ngày
Tồn quỹ tiền mặt tối đa (H): H*=3Z* - 2L
Tồn quỹ tiền mặt trung bình :
Để đánh giá hiệu quả quản lý tiền mặt ta sẽ đánh giá, phân tích giá trị dự trữ
tiền và tỷ trọng của lượng tiền mặt trên vốn lưu động để xem Công ty dự trữ lượng tiền như vậy đã hợp lý chưa, đã đáp ứng được nhu cầu của Công ty như thế nào. Tiền là tài khoản có tính thanh khoản cao nhất. Chỉ số tiền trên vốn lưu động cho biết cứ một đồng vốn lưu động sẽ tài trợ vào khoản tiền dự trữ là bao nhiêu.
= Tiền/ Vốn lưu động Tiền và các khoản tương đương tiền Vốn lưu động
16
Ngoài tỷ số trên khả năng thanh khoản cũng phản ánh được tình trạng quản lý
tiền của công ty như thế nào
Một Công ty được coi là có tính thanh khoản tốt nếu có đủ nguồn tài chính để
trang trải các nghĩa vụ tài chính đúng hạn với chi phí thấp nhất. Tính thanh khoản của
Công ty còn được nhìn nhận trong khả năng mở rộng đầu tư, trang trải các nhu cầu đột
xuất, đáp ứng kịp thời các cơ hội kinh doanh bằng dòng ngân lưu của Công ty.
Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh khoản: Phân tích dòng tiền có vai trò quan
trọng bậc nhất trong đánh giá tính thanh khoản của Công ty, vấn đề là xem xét khả
năng tạo ra ngân lưu cần thiết và mức độ dự trữ thanh khoản của Công ty đó.
Số dư thanh khoản =Tiền mặt và các khoản tương đương tiền -Vay ngắn hạn và
nợ dài hạn đến hạn
1.3.3.5 Quản lý khoản phải thu
Các khoản phải thu là một loại tài sản của Công ty tính dựa trên tất cả các
khoản nợ, các giao dịch chưa thanh toán hoặc bất cứ nghĩa vụ tiền tệ nào mà các con
nợ hay khách hàng chưa thanh toán cho Công ty. Các khoản phải thu được kế toán của
Công ty ghi lại và phản ánh trên bảng cân đối kế toán, bao gồm tất cả các khoản nợ
Công ty chưa đòi được, tính cả các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán.
Quản lý khoản phải thu ta sẽ phân tích về kết cấu của nó. Bên cạnh những đánh
giá về chất ta còn có những đánh giá về lượng thông qua một số chỉ tiêu cụ thể đó là: Hệ số vòng quay các khoản phải thu và ngày thu tiền bình quân.
Hệ số vòng quay Doanh thu thuần = các khoản phải thu Bình quân các khoản phải thu
Hệ số quay vòng các khoản phải thu là một trong những tỷ số tài chính để đánh
giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nó cho biết các khoản phải thu phải quay
bao nhiêu vòng trong một năm hay một kỳ nhất định để đạt được doanh thu trong kỳ
đó. Hệ số vòng quay các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh
nghiệp càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao, điều
này giúp cho doanh nghiệp nâng cao luồng tiền mặt tạo ra sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất. Ngược lại, nếu hệ số này càng thấp thì số tiền của doanh nghiệp bị chiếm dụng ngày càng nhiều, lượng tiền mặt sẽ ngày càng giảm, làm giảm sự chủ động của doanh nghiệp trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất và có thể doanh nghiệp sẽ phải đi vay ngân hàng để tài trợ thêm cho nguồn
vốn lưu động này. Nhưng nếu vòng quay thấp thì hiệu quả sử dụng vốn kém do vốn bị chiếm dụng nhiều, nhưng nếu quá cao thì sẽ giảm sức cạnh tranh dẫn đến giảm doanh thu bán hàng. Quan sát số vòng quay khoản phải thu sẽ cho biết chính sách bán hàng
trả chậm của doanh nghiệp hay tình hình thu hồi nợ của doanh nghiệp như thế nào.
17
= Ngày thu tiền bình quân 365 Hệ số vòng quay các khoản phải thu
Ngày thu tiền bình quân cho biết một trung bình các khoản nợ sẽ được thanh
toán trong vòng bao nhiêu ngày. Qua ngày thu tiền bình quân ta có thể biết được chính sách quản lý của Công ty như thế nào, đã chặt chẽ chưa.
1.3.3.6 Quản lý hàng tồn kho
Hàng tồn kho là những tài sản được giữ để bán trong kỳ sản xuất kinh doanh bình
thường, đang trong quá trình sản xuất kinh doanh dở dang (nguyên liệu, vật liệu, công cụ,
dụng cụ) để sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ.
Khi đánh giá hiệu quả quản lý hàng tồn kho người ta thường đánh giá thông qua
hai chỉ tiêu đó là: Hệ số vòng quay hàng tồn kho và số ngày chu chuyển hàng tồn kho.
Hệ số vòng quay Giá vốn hàng bán = hàng tồn kho Bình quân hàng tồn kho
Để đánh giá tốc độ luân chuyển hàng tồn kho, người ta thường sử dụng hệ số
vòng quay hàng tồn kho. Hệ số này được xác định bằng giá vốn hàng bán chia cho
hàng tồn kho trung bình. Hệ số này thường được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản trị hàng tồn kho là tốt hay xấu qua từng năm. Hệ số này lớn cho thấy tốc
độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh. Ngược lại, nếu hệ số này nhỏ thì tốc
độ quay vòng hàng tồn kho thấp. Hàng tồn kho mang đậm tính chất ngành nghề kinh
doanh nên không phải cứ mức tồn kho thấp là tốt, mức tồn kho cao là xấu. Vậy nên khi
đánh giá hệ số vòng quay hàng tồn kho ta phải xét cả về lĩnh vực, ngành nghề của
doanh nghiệp đó.
Số ngày chu chuyển 365 = hàng tồn kho Hệ số vòng quay hàng tồn kho
Số ngày chu chuyển hàng tồn kho cho biết trung bình cứ bao nhiêu ngày thì hàng tồn kho quay được một vòng. Người ta có thể dùng chỉ số này để so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành khác xem tốc độ quay vòng của hàng tồn kho nhanh hay chậm và nhanh chậm hơn bao nhiêu ngày.
Dưới đây là một số mô hình để giúp doanh nghiệp quản lý hàng tồn kho từ đó
nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp:
Mô hình quản lý hàng tồn kho A - B - C Trong rất nhiều loại hàng hóa tồn kho, không phải loại hàng hóa nào cũng có
vai trò như nhau trong việc bảo quản trong kho hàng. Để quản lý tồn kho hiệu quả
18
người ta phải phân loại hàng hóa dự trữ thành các nhóm theo mức độ quan trọng của
chúng trong dự trữ và bảo quản. Phương pháp được sử dụng để phân loại hàng tồn kho là phương pháp A-B-C. Phương pháp này được phát triển dựa trên một nguyên lý do
một nhà kinh tế học Italia vào thế kỷ 19 là Pareto tìm ra. Ông đã quan sát thấy rằng
trong một tập hợp có nhiều chủng loại khác nhau thì chỉ có một số nhỏ chủng loại lại
chiếm giá trị đáng kể trong cả tập hợp. Giá trị hàng tồn kho hàng năm được xác định bằng cách lấy nhu cầu hàng năm của từng loại hàng tồn kho nhân với chi phí tồn kho
đơn vị. Tiêu chuẩn để xếp các loại hàng tồn kho vào các nhóm là:
- Nhóm A: Bao gồm các loại hàng có giá trị hàng năm từ 70 - 80% tổng giá trị
tồn kho, nhưng về số lượng chỉ chiếm 15 - 20% tổng số hàng tồn kho.
- Nhóm B: Gồm các loại hàng có giá trị hàng năm từ 25 - 30% tổng giá trị hàng
tồn kho, nhưng về số lượng chúng chiếm từ 30 - 35% tổng số hàng tồn kho.
- Nhóm C: gồm những loại hàng có giá trị hàng năm nhỏ, giá trị hàng năm chỉ
chiếm 5 -10% tổng giá trị tồn kho. Tuy nhiên về số lượng chúng lại chiếm khoảng 50 –
55% tổng số hàng tồn kho.
Hình 1.4: Các nhóm hàng tồn kho phân bổ theo biểu đồ Pareto
% Giá trị hàng năm Nhóm A
Nhóm B
Nhóm C
% Tổng số hàng tồn kho
Tác dụng của kỹ thuật phân tích ABC đó là đầu tư có trọng tâm khi mua hàng. Chẳng hạn, ta phải dành các nguồn tiềm lực để mua hàng nhóm A nhiều hơn so với nhóm C. Ngoài ra ta còn xác định các chu kỳ kiểm toán khác nhau cho các nhóm khác nhau:
- Đối với loại hàng tồn kho thuộc nhóm A, việc tính toán phải được thực hiện
thường xuyên, thường là mỗi tháng một lần.
- Đối với loại hàng tồn kho thuộc nhóm B sẽ tính toán trong chu kỳ dài hơn,
thường là mỗi quý một lần.
- Đối với loại hàng tồn kho thuộc nhóm C thường tính toán 6 tháng 1 lần.
19
Mô hình lƣợng đặt hàng kinh tế cơ bản EOQ Mô hình này là một trong những kỹ thuật kiểm soát tồn kho phổ biến và lâu đời nhất, nó được nghiên cứu và đề xuất từ năm 1915 do ông Ford. W. Harris đề xuất,
nhưng đến nay nó vẫn được hầu hết các doanh nghiệp sử dụng. Khi sử dụng mô hình
này, người ta phải tuân theo các giả định quan trọng sau đây:
- Nhu cầu vật tư trong 1 năm được biết trước và ổn định (không đổi). - Thời gian chờ hàng (kể từ khi đặt hàng cho tới khi nhận hàng) không thay đổi
và phải được biết trước.
- Sự thiếu hụt dự trữ hoàn toàn không xảy ra nếu đơn hàng được thực hiện
đúng.
- Toàn bộ số lượng đặt mua hàng được nhận cùng một lúc.
- Không có chiết khấu theo số lượng.
Với những giả thiết trên đây, sơ đồ biểu diễn mô hình EOQ được thể hiện trong
sơ đồ sau:
Hình 1.5: Mô hình EOQ
Theo mô hình này có 2 loại chi phí thay đổi theo lượng đặt hàng đó là chi phí
lưu kho và chi phí đặt hàng (Do trong mô hình này không cho phép thiếu hàng nên không tính chi phí do thiếu hàng, còn chi phí mua hàng cũng không ảnh hưởng đến sự thay đổi lượng hàng lưu kho trong mô hình này vậy nên chúng ta không xét đến 2 loại chi phí này). Như vậy, mục tiêu của mô hình này là làm tối thiểu hóa tổng chi phí đặt
hàng và chi phí lưu kho. Hai chi phí này phản ứng ngược chiều nhau. Khi quy mô đơn hàng tăng lên, ít đơn hàng hơn được yêu cầu làm cho chi phí đặt hàng giảm, mức dự trữ bình quân sẽ tăng lên, dẫn đến tăng chi phí lưu kho. Do đó mà trên thực tế số lượng đặt hàng tối ưu là kết quả của một sự dung hòa giữa hai chi phí có liên hệ đối nghịch
nhau này.
20
Để quá trình phân tích đơn giản hơn ta qui ước các ký hiệu như sau:
D: Nhu cầu hàng năm. S: Chi phí đặt hàng cho 1 đơn hàng.
H: Chi phí lưu kho cho 1 đơn vị hàng hoá.
Q: Lượng hàng đặt mua trong 1 đơn đặt hàng (Qui mô đơn hàng).
Cđh : Chi phí đặt hàng hàng năm. Clk : Chi phí lưu kho hàng năm.
TC: Tổng chi phí tồn kho.
Q*: Lượng đặt hàng tối ưu.
T: Khoảng cách giữa hai lần đặt hàng.
OP: Điểm đặt hàng.
d: Nhu cầu hàng ngày.
L: Thời gian chờ hàng.
Xác định các thông số cơ bản của mô hình EOQ:
Chi phí đặt hàng hàng năm được tính bằng cách nhân chi phí đặt hàng
cho 1 đơn hàng (S) với số đơn hàng mỗi năm. Mà số đơn hàng mỗi năm được tính
bằng cách lấy nhu cầu hàng năm (D) chia cho số lượng hàng đặt mua trong 1 đơn hàng
(Q). Như vậy, ta sẽ có được:
Như vậy, tổng chi phí tồn kho tối thiểu được xác định bằng cách thay giá trị quy
mô đơn hàng tối ưu (Q*) vào phương trình tổng chi phí:
Biến số duy nhất trong phương trình này là Q. Cả S và D đều là các tham số
không đổi. Do đó, độ lớn tương đối của chi phí đặt hàng phụ thuộc vào số lượng hàng
đặt mua trong 1 đơn hàng.
Tổng chi phí lưu kho hàng năm được tính bằng cách nhân chi phí lưu kho
cho 1 đơn vị hàng hoá (H) với mức dự trữ bình quân (mức dự trữ bình quân được xác định bằng cách chia số lượng hàng đặt mua trong một đơn hàng (Q) cho 2). Ta sẽ được:
Tổng chi phí tồn kho trong năm (CT) là tổng của chi phí đặt hàng và chi phí lưu kho: CT = Cdh + Clk
lượng đặt hàng tối ưu sẽ được xác định như sau:
21
Xác định điểm đặt hàng lại (ROP – Re-order Point)
Thời gian chờ hàng (L) là thời gian cần thiết từ lúc đặt hàng đến khi nhận được
hàng. Thời gian này có thể ngắn vài giờ hoặc có thể dài tới vài tháng. Do đó phải tính toán được thời gian chờ hàng chính xác để Công ty tiến hành đặt hàng. Thời điểm đặt
hàng được xác định tại thời điểm có mức tồn kho đủ cho nhu cầu sử dụng trong thời
gian chờ hàng. Mức tồn kho đó gọi là điểm đặt hàng lại (OP).
OP = Nhu cầu hàng ngày (d) x Thời gian chờ hàng (L)
Trong đó:
Mô hình lƣợng đặt hàng theo lô sản xuất POQ: Trong mô hình EOQ, chúng ta đã giả định toàn bộ lượng hàng của một đơn hàng được nhận ngay trong một chuyến hàng. Tuy nhiên, có những trường hợp doanh
nghiệp nhận hàng dần dần trong một thời gian nhất định. Trong trường hợp như thế
chúng ta không sử dụng được mô hình EOQ. Vì vậy ta phải tìm kiếm một mô hình đặt
hàng khác với EOQ.
Một biến thể của mô hình EOQ cơ bản là mô hình lượng đặt hàng theo lô sản
xuất (POQ). Mô hình lượng đặt hàng theo lô sản xuất được áp dụng trong trường hợp
lượng hàng được đưa đến một cách liên tục, hàng được tích luỹ dần cho đến khi lượng
đặt hàng được tập kết hết. Mô hình này cũng được áp dụng trong trường hợp doanh
nghiệp vừa sản xuất, vừa bán hoặc doanh nghiệp tự sản xuất lấy vật liệu để dùng.
Trong những trường hợp này cần phải quan tâm đến mức sản xuất hàng ngày của nhà
sản xuất hoặc mức cung ứng của nhà cung ứng.
Trong mô hình POQ, cơ bản giống như mô hình EOQ, điểm khác biệt duy nhất là hàng được đưa đến nhiều chuyến. Bằng phương pháp giống như EOQ ta có thể tính
được lượng hàng tối ưu Q*.
Nếu ta gọi:
p: Mức cung ứng (hay mức sản xuất ) hàng ngày d : Nhu cầu sử dụng hàng ngày t : Thời gian cung ứng
Ta có:
Mặt khác:
Thay vào công thức ta tính được mức tồn kho tối đa là:
22
Hàm tổng chi phí trong trường hợp này được viết lại là:
Như vậy quy mô đơn hàng tối ưu được xác định như sau:
1.3.4 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay
= Hiệu suất sử dụng vốn vay Lợi nhuận trước thuế Tổng vốn vay trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ doanh nghiệp sử dụng 1 đồng tiền vay phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận kế toán
trước thuế. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả kinh doanh tốt. Đó là nhân tố hấp
dẫn nhà quản trị đưa ra quyết định vay tiền đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Chỉ tiêu này cũng chứng tỏ tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp.
1.3.5 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu 1.3.5.1 Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu
Các nhà đầu tư thường coi trọng đến chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu
vì họ quan tâm đến khả năng thu được lợi nhuận từ đồng vốn mà họ bỏ ra. Mặt khác
chỉ tiêu này giúp cho nhà quản trị tăng cường kiểm soát và bảo toàn vốn, góp phần
giúp cho doanh nghiệp tăng trưởng bền vững. Khi phân tích hiệu quả sử dụng vốn chủ
sở hữu, ta thường sử dụng thông qua chỉ tiêu sau:
Tỷ suất sinh lời của Lợi nhuận sau thuế = vốn chủ sở hữu (ROE) Tồng vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này cho biết, cứ 1 đồng vốn chủ sở hữu đầu tư thì tạo ra được bao
nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao, càng biểu hiện xu hướng tích cực. Chỉ tiêu này cao thường giúp cho các nhà quản trị có thể huy động vốn mới trên thị trường tài chính để tài trợ cho sự tăng trưởng của doanh nghiệp. Ngược lại nếu chỉ tiêu này nhỏ và vốn chủ sở hữu dưới mức vốn điều lệ thì hiệu quả kinh doanh thấp, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thu hút vốn. Tuy nhiên, mức sinh lời của vốn chủ sở hữu cao không phải lúc nào cũng thuận lợi vì có thể do ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính, khi đó mức độ mạo hiểm càng lớn. Do vậy khi phân tích chỉ tiêu này cần kết hợp với cơ cấu vốn chủ sở hữu trong từng doanh
nghiệp cụ thể.
23
1.3.5.2 Phân tích mối quan hệ giữa hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu với đòn bẩy tài chính
Đòn bẩy tài chính (đòn cân nợ) đó là tỷ số giữa vốn chủ sở hữu và vốn vay (nợ
phải trả) của doanh nghiệp. Nghiên cứu ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính đến tỷ suất
sinh lời của vốn chủ sở hữu và rủi ro trong kinh doanh nhằm giúp cho doanh nghiệp có
sự tăng trưởng nhanh và bền vững. Qua đó, doanh nghiệp sẽ đánh giá được mức độ rủi ro trong kinh doanh và tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu từ đòn bẩy tài chính mang lại.
Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu đối với doanh nghiệp vay nợ cao hơn đối
với doanh nghiệp không vay nợ. Khi tỷ suất lợi nhuận so với vốn cao hơn lãi suất tiền
vay thì doanh nghiệp cần vay tiền để đầu tư tài sản góp phần nâng cao lợi nhuận.Tác
động đòn bẩy tài chính mang tính tích cực khi tỷ suất lợi nhuận trước thuế so với vốn
cao hơn lãi suất tiền vay và tiêu cực trong trường hợp ngược lại.
Ta có thể đo lường đòn cân nợ bằng chỉ tiêu sau:
Chỉ số đòn Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu = cân nợ Tỷ suất sinh lời của vốn
Chỉ tiêu này thực chất là tỷ số giữa tổng nguồn vốn và vốn chủ sở hữu của
doanh nghiệp. Do vậy trị số của chỉ tiêu này bao giờ cũng thỏa mãn lớn hơn 1. Về mặt
lý thuyết, doanh nghiệp có thể sử dụng nợ khi nào chỉ số này cao hơn 1, vì tiền vay đã giúp nâng cao chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận so với vốn chủ sở hữu. Cách sử dụng nợ để
thúc đẩy sự tác động vào sự thay đổi tỷ suất lợi nhuận so với tổng nguồn vốn và gia
tăng tỷ suất lợi nhuận so với vốn chủ sở hữu. Sự ảnh hưởng này có vai trò quan trọng
trong việc tăng, giảm lợi nhuận.
1.3.6 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là năng lực về tài chính mà doanh
nghiệp có được để đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ cho các cá nhân, tổ chức
có quan hệ cho doanh nghiệp vay hoặc nợ. Năng lực tài chính đó tồn tại dưới dạng tiền
tệ, các khoản phải thu từ các cá nhân, tổ chức mắc nợ doanh nghiệp. Các tài sản có thể
chuyển đổi thành tiền như: Hàng hóa, thành phẩm, hàng gửi bán…Các khoản nợ của doanh nghiệp có thể là các khoản vay ngân hàng, khoản nợ tiền hàng do xuất phát từ quan hệ mua bán các yếu tố đầu vào hoặc sản phẩm hàng hóa doanh nghiệp phải trả cho người bán, các khoản thuế chưa nộp nhà nước, lương phải trả cho người lao động... Khả năng thanh toán phản ánh rõ nét chất lượng công tác tài chính của doanh
nghiệp. Ngoài ra khả năng thanh toán còn có ảnh hưởng lớn đến uy tín của doanh nghiệp.Nhóm chỉ tiêu này được các nhà đầu tư, nhà cung cấp, người cho vay, đối tác…đặc biệt quan tâm.
24
1.3.6.1 Khả năng thanh toán tổng quát
= Khả năng thanh toán tổng quát Tổng tài sản Tồng nợ phải trả
Chỉ tiêu này phản ánh mối quan hệ giữa tổng tài sản hiện tại mà doanh nghiệp
đang quản lý so với tổng nợ phải trả. Có nghĩa là một đồng nợ phải trả được đảm bảo
bằng bao nhiêu đồng tài sản của doanh nghiệp.
1.3.6.2 Khả năng thanh toán ngắn hạn
Khả năng thanh Tài sản ngắn hạn = toán hiện thời Nợ ngắn hạn
Tỷ số thanh khoản hiện thời cho biết cứ mỗi đồng nợ ngắn hạn mà doanh
nghiệp đang giữ, thì doanh nghiệp có bao nhiêu đồng tài sản lưu động có thể sử dụng
để thanh toán. Nếu tỷ số này nhỏ hơn 1 thì có nghĩa là doanh nghiệp không đủ tài sản
có thể sử dụng ngay để thanh toán khoản nợ ngắn hạn sắp đáo hạn. Khi đánh giá tình
hình thanh khoản của doanh nghiệp, người phân tích thường so sánh tỷ số thanh khoản
của một doanh nghiệp với tỷ số thanh khoản bình quân của toàn ngành mà doanh
nghiệp đó tham gia.
1.3.6.3 Khả năng thanh toán nhanh Tỷ số khả năng thanh Tổng tài sản lưu động – tồn kho = toán nhanh Nợ ngắn hạn
Tỷ số khả năng thanh toán nhanh cho biết khả năng thanh toán của doanh
nghiệp đến từ các tài sản có thanh khoản cao sau khi đã loại trừ hàng tồn kho, một
khoản mục có mức độ chuyển thành tiền mặt thấp. Nói cách khác, tỷ số này đo lường
mối quan hệ của các tài sản ngắn hạn có khả năng chuyển đổi thành tiền nhanh so với
nợ ngắn hạn. Tỷ số khả năng thanh toán nhanh cho thấy một đồng nợ ngắn hạn được
đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn có khả năng chuyển đổi thành tiền
nhanh của doanh nghiệp. Tỷ số này cao cho thấy tình hình tài chính của doanh nghiệp
tốt. Tỷ số khả năng thanh toán nhanh nhỏ hơn 1 cho thấy tài chính của doanh nghiệp
đang trong tình trạng suy yếu nghiêm trọng, có khả năng không thể đáp ứng các nhu cầu thanh toán các khoản nợ trong ngắn hạn.
= 1.3.6.4 Khả năng thanh toán tức thời Hệ số khả năng thanh toán tức thời tiền và các khoản tương đương tiền Nợ ngắn hạn
Ý nghĩa của chỉ tiêu này là đánh giá việc thanh toán đối với các khoản nợ đến hạn ngay tức thời. Chỉ tiêu này cao doanh nghiệp sẽ có được uy tín hơn, được các nhà
cung cấp và các nhà đầu tư tin cậy hơn. Tuy nhiên chỉ tiêu này cao không phải lúc nào
25
cũng tốt vì chỉ tiêu này càng cao thì chi phí cơ hội của doanh nghiệp càng cao. Vì vậy
doanh nghiệp nên cân nhắc xem tỷ số này là bao nhiêu là phù hợp ở từng thời kỳ khác nhau để vừa đảm bảo được khả năng thanh toán vừa giảm thiểu chi phí cơ hội cho
doanh nghiệp.
1.3.7 Chỉ tiêu phản ánh sự độc lập tài chính
Tỷ lệ VSCH trên Vốn chủ sở hữu = tổng nguồn vốn Tồng nguồn vốn
Tỷ lệ vốn chủ sở hữu so với tổng nguồn vốn giúp nhà đầu tư có một cái nhìn
khái quát về sức mạnh tài chính, cấu trúc tài chính của doanh nghiệp. Tỷ số này cho
biết vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiêu phần trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Hệ
số này càng lớn có nghĩa là tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi nguồn
vốn chủ sở hữu. Như vậy doanh nghiệp sẽ ít gặp khó khăn hơn trong tài chính. Các
chủ nợ hay ngân hàng cũng thường xem xét, đánh giá sự độc lập về tài chính của
doanh nghiệp để quyết định có cho doanh nghiệp vay hay không.
1.4 Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp 1.4.1 Nhóm nhân tố khách quan
Thị trường: Thị trường là nhân tố quan trọng quyết định tới hiệu quả sử dụng vốn cũng như kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong đó có thị trường
vốn và thị trường hàng hóa. Đây là hai thị trường quyết định yếu tố đầu vào và yếu tố
đầu ra của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp đảm bảo được yếu tố đầu vào và yếu tố
đầu ra có nghĩa là có thị trường tốt thì doanh nghiệp đã nắm trong tay chìa khóa của sự
thành công.
Trạng thái nền kinh tế, xã hội: Trạng thái nền kinh tế có ảnh hưởng gián tiếp tới
tình hình phát triển của Công ty. Khi nền kinh tế ổn định và phát triển bền vững sẽ tạo
cho doanh nghiệp nhiều cơ hội kinh doanh như: Huy động vốn, đầu tư vào các dự án
lớn, có cơ hội lựa chọn khách hàng cũng như nhà cung cấp, không bị ảnh hưởng xấu
bởi các cuộc khủng hoảng kinh tế…Ngược lại, nếu nền kinh tế cũng như chính trị gặp bất ổn doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với rất nhiều rủi ro trong việc đầu tư, đặc biệt trong các kế hoạch dài hạn, khó khăn trong việc huy động vốn…
Cơ chế chính sách quản lí của nhà nước: Nhà nước tạo ra môi trường và hành lang pháp lí thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh và định
hướng cho các hoạt động thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô như: Chính sách thuế, chính sách lãi suất, chính sách tỷ giá... Bất kì sự thay đổi nào trong cơ chế quản lí và chính sách kinh tế của Nhà nước cũng có thể gây ra những ảnh hưởng nhất định tới
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
26
Những rủi ro phát sinh: Trong quá trình sản xuất kinh doanh có những rủi ro
làm thiệt hại tới nguồn vốn của doanh nghiệp mà doanh nghiệp không lường trước được như thiên tai, hỏa hoạn, bão lụt…
1.4.2 Nhóm nhân tố chủ quan
Quy mô, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp: Doanh nghiệp có quy mô càng lớn
thì việc quản lí hoạt động của doanh nghiệp càng phức tạp. Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp càng chặt chẽ thì việc quản lí hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
càng hiệu quả. Khi việc quản lí được chặt chẽ sẽ tiết kiệm được đáng kể chi phí cho
các hoạt động của doanh nghiệp làm tăng hiệu quả sử dụng vốn.
Trình độ đội ngũ cán bộ, công nhân viên: Trình độ tổ chức quản lí của lãnh đạo
đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh. Nếu người
lãnh đạo biết cách tổ chức quản lí tốt thì sẽ giảm được những chi phí không cần thiết,
đồng thời còn nắm bắt được cơ hội kinh doanh, đem lại sự phát triển cho doanh
nghiệp. Ngoài ra trình độ tay nghề của đội ngũ lao động cũng trực tiếp ảnh hưởng đến
hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu công nhân sản xuất có trình độ
tay nghề cao, có hiểu biết về những kỹ thuật công nghệ tiên tiến mà doanh nghiệp sử
dụng thì sẽ làm tăng năng suất lao động, tạo ra chất lượng sản phẩm cao. Điều này sẽ
làm cho doanh nghiệp phát triển tốt và có uy tín hơn trên thị trường.
Chiến lược phát triển đầu tư của doanh nghiệp: Bất cứ một doanh nghiệp nào khi kinh doanh cũng đều đặt ra cho mình kế hoạch để phát triển thông qua các chiến
lược đầu tư. Các chiến lược kinh doanh phải đúng hướng, phải được cân nhắc thiệt
hơn một cách kỹ càng vì các chiến lược này có thể làm biến động lớn tới lượng vốn
của doanh nghiệp.
Công nghệ kỹ thuật: Đối với doanh nghiệp có công nghệ kỹ thuật hiện đại tiên
tiến sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí sản xuất, tiết kiệm được thời gian và nguồn lực mà
vẫn cho ra được những sản phẩm có chất lượng tốt và giá thành hợp lí làm tăng sức
cạnh tranh trên thị trường. Và ngược lại nếu công nghệ kỹ thuật, máy móc lạc hậu sẽ
làm giảm năng suất, giảm doanh thu , ảnh hưởng đến tài chính của doanh nghiệp.
27
CHƢƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÔNG TY TNHH SX&TM MINH NGỌC
2.1 Tổng quan về Công ty TNHH sx&tm Minh Ngọc
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
Tên Công ty: Công ty TNHH sx&tm Minh Ngọc
Tên viết tắt: Minh Ngọc steel
Địa chỉ: Khu D khu công nghiệp Phố Nối A - Văn Lâm - Hưng Yên
Mã số thuế: 0900237146 Điện thoại: 04-9843816
Fax: 04-9843826
Email: sunsco@hcm.vnn.vn Lĩnh vực hoạt động: Thép xây dựng, thép hình (H, I, U, V), thép ống và phụ
kiện, gia công, sản phẩm thép, dịch vụ ngành thép.
Công ty TNHH sx&tm Minh Ngọc được thành lập vào năm 2005 với số vốn
ban đầu là 10 tỷ đồng. Nhà máy sản xuất ống thép được xây dựng với diện tích 200.000m2 và công suất ban đầu là 150.000 tấn/năm. Khi mới bắt đầu đi vào hoạt động, Công ty có số lượng lao động là 50 người. Với đội ngũ lao động tốt, yêu nghề
cùng với những điều kiện thuận lợi khác đã giúp Công ty ngày càng phát triển mạnh
mẽ và khẳng định được vị thế của mình trên thị trường ống thép Việt Nam. Năm 2011,
Công ty TNHH sx&tm Minh Ngọc đứng trong top 10 doanh nghiệp có thị phần bán
ống thép lớn nhất nước ta trong 5 tháng đầu năm (5,2%). Đến nay Công ty đã và đang
tồn tại và phát triển mạnh mẽ với quy mô ngày càng lớn. Tổng số vốn điều lệ của
Công ty hiện nay là 107 tỷ đồng. Công ty sở hữu đội ngũ lao động hiện tại là 245
người có tay nghề và kinh nghiệm trong lĩnh vực ống thép.
Công ty đã hình thành và phát triển đến ngày nay không chỉ nhờ vào sự sáng
suốt của ban lãnh đạo, đội ngũ lao động tốt mà còn nhờ vào những thuận lợi về nhiều mặt mà Công ty có được mà đặc biệt là sự thuận lợi về vị trí địa lý. Công ty Minh Ngọc steel có trụ sở đặt tại khu công nghiệp Phố Nối – Hưng Yên. Đây là cửa ngõ phía Bắc của tỉnh Hưng Yên, là trung tâm kinh tế trọng điểm của tỉnh Hưng Yên quy tụ những điều kiện vô cùng thuận lợi. Khu công nghiệp Phố Nối nằm trên quốc lộ 5, cách
thủ đô Hà Nội 28km về phía Bắc. Khu đô thị mới Phố Nối nằm trên trục quốc lộ 5, cách thủ đô Hà Nội 28 km về phía Đông theo đường 5 cũ, 17 km theo đường 5 mới (qua cầu Thanh Trì), cách Hải Dương 28 km, cách Hài Phòng 70 km về phía Tây và cách thị xã Hưng Yên 34 km về phía Bắc. Khu đô thị mới Phố Nối có nhiều điều kiện
thuận lợi để phát triển công nghiệp, thương mại và dịch vụ: Nằm trong khu vực ảnh
28
hưởng trực tiếp của vùng tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, tiếp
giáp thủ đô Hà Nội và chịu sự tác động trực tiếp của 5 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ (Bắc Ninh, Hải Dương, Thái Bình, Hà Nam, Hà Nội 2).
Công ty hoạt động trên lĩnh vực thép ống hộp. Sản phẩm của Công ty là các loại
thép xây dựng, thép hình (H, I, U, V), thép ống và phụ kiện, gia công, sản phẩm thép,
dịch vụ ngành thép nên Công ty đã đầu tư quy trình sản xuất hiện đại khép kín bởi các
máy móc thiết bị tiên tiến, chuyên dùng và đồng bộ. Tại mỗi khâu của quá trình sản xuất đều phải được kiểm tra các tiêu chuẩn kỹ thuật nguyên vật liệu, tiêu chuẩn vận
hành máy móc thiết bị, chất lượng bán thành phẩm cũng như thành phẩm. Sản phẩm làm ra phải có hình thức, mẫu mã đẹp, đáp ứng được yêu cầu khắt khe về kỹ thuật của
khách hàng, thép định hình phải chuẩn về kích thước, liên kết hàn phải bền chắc và giá
thành sản phẩm phải có tính cạnh tranh cao. Chính vì lẽ đó công nghệ lựa chọn cho dự
án phải là dây chuyền công nghệ tiên tiến, hiện đại, chuyên dùng, phù hợp với quy mô
đã lựa chon, sử dụng hợp lý các nguyên vật liệu, năng lượng, nhân lực, thay đổi chủng
loại sản phẩm một cách dễ dàng, thân thiện với môi trường, chất lượng sản phẩm làm
ra được khẳng định trong suốt quá trình sản xuất. Sản phẩm của Công ty được tiêu thụ
trên toàn quốc và rất được ưa chuộng vì sản phẩm có chất lượng tốt và giá cả cạnh
tranh cao.
2.1.2 Khái quát về ngành nghề kinh doanh thép
Có thể nói ngành thép Việt Nam còn khá non trẻ, bắt đầu được xây dựng vào đầu những năm 60. Ngành thép gặp rất nhiều khó khăn do nền kinh tế đất nước lâm
vào khủng hoảng ở giai đoạn từ 1976 đến 1989. Giai đoạn từ 1989 đến 1995, do thực
hiện chủ trương đổi mới, mở cửa của Đảng và Nhà nước, ngành thép bắt đầu có tăng
trưởng. Sự ra đời của Công ty thép Việt Nam năm 1990 đã góp phần quan trọng vào sự
bình ổn và phát triển của ngành. Năm 1996 là năm đánh dấu sự chuyển mình của
ngành thép với sự ra đời của bốn Công ty liên doanh sản xuất thép là: Liên doanh thép
Việt Nhật (Vinakyoei), Việt Úc (Vinausteel), Việt Hàn (VPS) và Việt Nam –
Singapore (Nasteel) với tổng công suất khoảng 840.000 tấn/năm. Từ 2002 - 2005 nhiều doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài được thành lập, ngành thép Việt Nam thực sự phát triển mạnh mẽ với tổng công suất lên tới trên 6 triệu tấn/năm.
Hiện nay ngành thép Việt Nam mới chỉ sản xuất được các loại thép tròn trơn, tròn vằn ( 10 - 40mm, thép dây cuộn, 6 - 10 và thép hình cỡ nhỏ, cỡ vừa ,gọi chung là
sản phẩm dài) phục vụ cho xây dựng và gia công, sản xuất ống hàn, tôn mạ, hình uốn
nguội, cắt xẻ... từ sản phẩm dẹt nhập khẩu. Các sản phẩm dài sản xuất trong nước cũng phần lớn được cán từ phôi thép nhập khẩu, khả năng tự sản xuất phôi thép trong nước
còn nhỏ bé, chỉ đáp ứng được khoảng 28%, còn lại 72% nhu cầu phôi thép cho các nhà
29
máy cần phải nhập khẩu từ bên ngoài.
Theo dự báo của Bộ Công thương và Tổng Công ty Thép Việt Nam, nhu cầu tiêu thụ thép tăng trưởng bình quân từ 2008 đến 2025 là 8%. Tuy nhiên, theo nhận định của
các chuyên gia trong ngành thì nhu cầu tiêu thụ thép cả nước trong năm 2008 sẽ tăng
trưởng không thấp hơn 20%. Theo số liệu thống kê của Hiệp hội thép Việt Nam, sản
lượng sản xuất trong nước chỉ mới đáp ứng được khoảng 40% - 50% nhu cầu tiêu thụ trong nước. Về thép cán nóng mạ kẽm, hiện trong nước vẫn chưa có doanh nghiệp nào
sản xuất sản phẩm này, toàn bộ đều phải nhập khẩu. Về tôn mạ, hiện nay chỉ có một số
ít Công ty sản xuất được tôn lạnh như: Bluescope, Sunsteel, và Hoasen Group. Từ đó,
dẫn đến cung không đủ cầu và thực tế rằng Việt Nam đang phải nhập khẩu Tôn lạnh từ
nước ngoài. Về sản phẩm thép cán nguội, hiện tại cả nước chỉ có 2 nhà máy sản xuất
thép cán nguội là Công ty Thép tấm lá Phú Mỹ và nhà máy thép cán nguội tại Khu Công
nghiệp Sóng Thần II của Hoasen Group. Tổng sản lượng thép cán nguội của cả 2 Công
ty là 520.000 tấn, chỉ mới đáp ứng được 40% nhu cầu trong nước, phần còn lại được các
doanh nghiệp trong nước nhập khẩu từ các quốc gia khác.
Nhìn một cách tổng quát, ngành thép Việt Nam vẫn ở trong tình trạng sản xuất
nhỏ, phân tán, nặng vềgia công chế biến từ phôi và bán thành phẩm nhập khẩu. Trình
độ công nghệ thấp, chưa có nhiều thiết bị hiện đại tự động hóa cao, cần phải đầu tư cải
tạo phát triển, thay thế dần các thiết bị cũ, lạc hậu, mới có thể bảo đản tính cạnh tranh trong thời gian tới.
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Công ty
30
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH sx&tm Minh Ngọc
Giám đốc
Phó giám đốc
Phòng hành chính phòng marketi ng Phòng kế toán
Phòng kinh doanh Giám đốc nhà máy
Tổ đội mạ Tổ đội kỹ thuật Tổ đội cẩu hàng Tổ đội cơ điện Tổ đội đóng gói Tổ đội tẩy rửa
Tổ đội cán, ủ, xả băng,
2.1.3.1 Giám đốc
Là người đại diện trước pháp luật đối với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
của Công ty. Giám đốc là người điều hành cấp cao nhất, là người đưa ra quyết định về
các kế hoạch dài hạn, chiến lược hàng năm, phương án hợp tác kinh doanh giữa các
đơn vị, đề án tổ chức quản lý và quy hoạch đào tạo cán bộ, lao động của Công ty.
Giám đốc cũng đồng thời là người chịu toàn bộ trách nhiệm trong việc quản lý, điều hành, tổ chức các phòng ban nghiệp vụ để thực hiện các mục tiêu đề ra nhằm mang lại lợi nhuận tối đa cho Công ty.
2.1.3.2 Phó giám đốc
Là người trợ giúp cho giám đốc về công tác kinh doanh, công tác phát huy nguồn lực tài chính và quản lý các hoạt động của Công ty. Ngoài ra, phó giám đốc sẽ thay giám đốc điều hành mọi công việc của Công ty trong trường hợp giám đốc đi vắng hoặc nghỉ phép.
31
2.1.3.3 Phòng kinh doanh
Phòng kinh doanh trực tiếp chịu trách nhiệm thực hiện các hoạt động tiếp thị và bán hàng tới các khách hàng, khách hàng tiềm năng của Công ty nhằm đạt mục tiêu về
doanh số, thị phần. Chức năng của phòng kinh doanh là lập các kế hoạch kinh doanh
và triển khai các kế hoạch đó, thực hiện các giao dịch trực tiếp với hệ thống khách
hàng và hệ thống nhà phân phối nhằm mang lại doanh thu cho doanh nghiệp. Ngoài ra phòng kinh doanh còn phải phối hợp với các bộ phận liên quan như kế toán, hành
chính, marketing…nhằm mang đến các dịch vụ đầy đủ nhất cho khách hàng.
2.1.3.4 Phòng tài chính, kế toán
Phòng tài chính, kế toán tham mưu giúp giám đốc trong việc thực hiện chức
năng quản lý Nhà nước về tài chính kế toán, hạch toán kế toán, thông tin kinh tế, phân
tích hoạt động kinh tế, kiểm soát tài chính kế toán tại Công ty. Thực hiện chức năng
kiểm soát viên nhà nước tại Công ty. Quản lý và sử dụng vốn ngân sách và các nguồn
vốn do Công ty huy động. phòng tài chính, kế toán có nhiệm vụ tổng hợp báo cáo
quyết toán tài chính và các báo cáo tài chính khác của Công ty theo quy định trình
giám đốc duyệt. Xây dựng dự toán và lập báo cáo quyết toán tài chính. Tổ chức hạch
toán theo chế độ kế toán hoàn thành đúng tiến độ, bảo đảm đúng quy định của pháp
luật. Bên cạnh đó, phòng phải có trách nhiệm trong việc lưu trữ, bảo quản chứng từ, sổ
sách kế toán, bảo mật số liệu kế toán tài chính theo quy định và điều lệ Công ty.
2.1.3.5 Phòng marketing
Phòng marketing là cầu nối giữa bên trong và bên ngoài, giữa sản phẩm và
khách hàng, giữa thuộc tính của sản phẩm và nhu cầu khách hàng. Chức năng của
phòng marketing là nghiên cứu tiếp thị và thông tin, tìm hiểu sự thật ngầm hiểu của
khách hàng, khảo sát hành vi ứng xử của khách hàng tiềm năng để phát triển sản
phẩm, hoàn thiện sản phẩm với các thuộc tính mà thị trường mong muốn. Ngoài ra
phòng marketing còn có chức năng phân khúc thị trường, xác định mục tiêu và định vị
thương hiệu. Chức năng quan trọng không thể thiếu khi làm marketing đó là xây dựng
và thực hiện chiến lược marketing như marketing 4P (sản phẩm, giá cả, phân phối,
chiêu thị) và marketing 4C (nhu cầu, mong muốn, tiện lợi và thông tin).
2.1.3.6 Phòng hành chính
Phòng hành chính tham mưu giúp việc cho giám đốc Công ty thực hiện các công việc trong lĩnh vực tổ chức lao động, quản lí và bố trí nhân lực, bảo hộ lao động, chế độ chính sách, chăm sóc sức khỏe cho người lao động. Phòng hành chính còn có
chức năng kiểm tra, đôn đốc các bộ phận trong Công ty thực hiện nghiêm túc nội quy, quy chế Công ty. Phòng hành chính làm đầu mối liên lạc cho mọi thông tin của giám đốc Công ty. Nhiệm vụ chính của phòng hành chính đó là các công tác nội vụ của cơ
quan, tiếp nhận, tổng hợp thông tin nội bộ và các thông tin bên ngoài. Xử lí các thông
32
tin theo chức năng, quyền hạn của phòng. Phát hành, lưu trữ, bảo mật con dấu cũng
như các tài liệu đảm bảo chính xác, kịp thời, an toàn cũng là trách nhiệm của phòng.
2.1.3.7 Giám đốc nhà máy
Giám đốc nhà máy tham mưu cho tổng giám đốc trong việc tổ chức, sắp xếp bộ
máy tổ chức đảm bảo nâng cao năng suất, hiệu quả hoạt động. Giám đóc nhà máy còn có
chức năng đánh giá thực trạng tổ chức sản xuất kinh doanh của nhà máy trước yêu cầu và mục tiêu chiến lược phát triển, đề xuất các biện pháp cải tiến, đổi mới phương pháp, mô
hình tổ chức quản lý sản xuất. Tổ chức gia công, sản xuất theo quy trình công nghệ, đảm
bảo đúng tiến độ và chất lượng sản phẩm. Giám đốc nhà máy quản lý tất cả các tổ đội lao
động trong nhà máy và là người chịu trách nhiệm về các hoạt động sản xuất tại nhà máy.
Ngoài ra giám đốc nhà máy có nhiệm vụ tổ chức quản lý kho, xuất nhập hàng hóa, vật tư,
nguyên vật liệu theo đúng quy trình, quy định của Công ty. Giám đốc nhà máy phải tham
gia nghiên cứu, đề xuất các giải pháp kỹ thuật, sáng kiến cải tiến nhằm nâng cao năng
suất, chất lượng sản phẩm, quản lý chỉ đạo công tác tổ chức nhân sự, đánh giá hoàn thành
công việc ở các phân xưởng, bộ phận. Lập báo cáo tháng về công việc của nhà máy và cá
nhân theo mẫu là nhiệm vụ không thể thiếu của giám đốc nhà máy để giám đốc có thể
theo dõi tình hình hoạt động của nhà máy một cách dễ dàng.
2.1.3.8 Các tổ đội
Quy trình sản xuất sản phẩm của Công ty bao gồm nhiều công đoạn khác nhau. Để thực hiện việc sản xuất một cách hiệu quả thì ở mỗi công đoạn Công ty có một tổ
đội khác nhau thực hiện công việc theo chuyên môn và mỗi tổ đội chỉ tập chung vào
công việc của mình. Như vậy năng suất của nhà máy sẽ tăng đồng thời chất lượng sản
phẩm cũng được đảm bảo hơn. Nhà máy được tổ chức với 8 tổ đội sản xuất dưới sự
quản lý của giám đốc nhà máy: - Tổ đội kỹ thuật Đây là tổ đội phụ trách về kỹ thuật và khuôn mẫu của các chủng loại sản phẩm
ống, hộp khi có kế hoạch sản xuất chuyển xuống từ giám đốc nhà máy. Sản phẩm của
Công ty có nhiều chủng loại (thép xây dựng, thép hình, thép ống, phụ kiện, gia
công…), kích cỡ (khác nhau về trọng lượng, độ dày, bán kính và kích thước của sản phẩm), hình dạng (H, U, I, V) khác nhau. Sản phẩm của Công ty yêu cầu độ chính xác cao về các thông số kỹ thuật vì vậy mà tổ đội kỹ thuật đóng vai trò hết sức quan trọng quyết định chất lượng sản phẩm. Chức năng chính của tổ đội này là thiết kế, triển khai giám sát về chất lượng, kỹ thuật các sản phẩm trong suốt quá trình sản xuất. Ngoài ra
tổ kỹ thuật phải theo dõi, kiểm tra số lượng, chất lượng hàng hóa, vật tư khi mua vào hoặc xuất ra. Tổ đội kỹ thuật có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch bảo dưỡng, sửa chữa lớn thiết bị của nhà máy theo định kỳ. Họ là người quản lí lưu trữ hồ sơ kỹ thuật các sản
phẩm đã sản xuất, giữ gìn bí mật công nghệ.
33
Tổ đội tẩy rửa
- Tẩy rửa là công đoạn đơn giản nhưng không thể thiếu của quy trình sản xuất. Tôn cuộn là nguyên liệu đầu vào của sản xuất. Tẩy rửa tôn cuộn chính là chức năng
của tổ đội này. Họ phải làm sạch tôn cuộn, đảm bảo theo đúng tiêu chuẩn đề ra của
Công ty. Vì công đoạn này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của công đoạn sau thế
nên rất cần được chú trọng.
- Tổ đội cán, ủ, xả băng Tổ đội cán phải kết hợp với tổ đội kỹ thuật để định mức đúng tiêu chuẩn về độ
dày của sản phẩm đang sản xuất. Tổ đội này phải thường xuyên kiểm tra thông số của
bán thành phẩm sau khi cán. Cán xong, tôn tiếp tục được đưa vào máy để xả băng
thành những cuộn tôn có kích thước chiều rộng nhỏ hơn. Sau đó tôn được đem đi ủ
hóa chất để được đẹp và mềm hơn.
- Tổ đội mạ Tổ đội mạ dùng hóa chất để mạ tôn. Công đoạn này giúp tôn nhìn đẹp hơn,
ngoài ra còn chống gỉ cho sản phẩm. Đội này chịu trách nhiệm về việc mạ tôn, về chất
lượng bán thành phẩm sau khi mạ. Tổ đội mạ phải đảm bảo yêu cầu về tiêu chuẩn mạ
của Công ty đề ra. Mạ quyết định mẫu mã của sản phẩm Công ty có đẹp hay không.
Mẫu mã là yếu tố quan trọng góp phần vào quyết định lựa chọn của khách hàng. Vì thế
nó ảnh hưởng trực tiếp tới doanh số bán hàng của Công ty. Thế nên tổ đội mạ cần phải có những kỹ năng, kinh nghiệm nhất định để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
- Tổ đội cơ điện Đây là tổ đội thực hiện công đoạn quan trọng nhất của quy trình sản xuất đó là
hàn cơ điện để biến bán thành phẩm thành sản phẩm hoàn chỉnh. Ở công đoạn này, đòi
hỏi lao động phải có kỹ thuật cao vì hàn cơ điện cũng đòi hỏi tính thẩm mỹ và chắc
chắn của sản phẩm. Đội phải theo dõi thường xuyên về chất lượng hàn cơ điện để
tránh tổn thất đáng tiếc cho Công ty. Nếu phát hiện sai sót thì tổ đội này phải liên hệ
ngay với tổ đội kỹ thuật để sửa chữa nhằm theo kịp tiến độ đề ra.
- Tổ đội đóng gói Sau khi sản phẩm được hoàn thành thì tổ đội này sẽ chịu trách nhiệm đóng gói và nhập kho sản phẩm. Công đoạn đóng gói được sử dụng bằng máy móc hiện đại và theo quy chuẩn của Công ty. Tổ đội này phụ trách về quy chuẩn đóng gói (số lượng mỗi bó, kiện hàng). Họ phải thường xuyên kiểm tra để phát hiện kịp thời về sự sai sót của máy móc vì điều này ảnh hưởng lớn đến lợi ích cũng như uy tín của Công ty. Nếu
có sai sót đội đóng gói phải hoàn toàn chịu trách nhiệm.
- Tổ đội cẩu hàng Tổ đội này chịu trách nhiệm về việc xuất hàng bán cho khách hàng. Tổ đội cẩu
hàng có một thủ kho. Thủ kho sẽ tiếp nhận đơn hàng từ trên xuống có xác nhận của
34
cấp trên để chấp nhận việc giao xuất hàng. Thủ kho phải chịu trách nhiệm về hàng
xuất và hàng tồn kho. Cuối mỗi tháng, thủ kho có nhiệm vụ kiểm kê lại hàng tồn kho và đối chiếu với bộ phận kế toán. Việc làm này sẽ giúp cho Công ty dễ dàng theo dõi
số lượng hàng tồn trong kho và phát hiện nhanh về sự thất thoát hàng hóa nếu có. Bên
cạnh đó là một đội ngũ lao động trực tiếp thực hiện việc cẩu hàng giao cho khách dưới
sự chỉ đạo, quản lý của thủ kho.
2.2 Tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
năm 2010 – 2012 2.2.1 Tình hình tài chính của Công ty năm 2010 – 2012
Bảng 2.1: Bảng cân đối kế toán của Công ty năm 2009 – 2012
Đơn vị tính: Triệu đồng
TÀI SẢN
Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
150.441
A.Tài sản ngắn hạn
188.051
175.234
222.344
I. Tiền và các khoản tương đương tiền
5.149
29.754
41.421
4.119
II. Các khoản phải thu ngắn hạn
38.323
45.625
72.989
30.658
III. Hàng tồn kho
136.452
99.304
106.362
109.161
IV. Tài sản ngắn hạn khác
8.128
552
1.572
6.502
41.984
37.966
39.432
33.587
B. Tài sản dài hạn
I. Tài sản cố định
41.906
37.953
34.869
II. Các khoản đầu tư TC dài hạn
0
0
4.560
0 63
III. Tài sản dài hạn khác
78
13
3
33.525
184.028
Tổng cộng tài sản
230.035
213.200
261.776
NGUỒN VỐN
104.922
139.896
118.557
163.150
A.Nợ phải trả
I. Nợ ngắn hạn
104.922
136.732
118.557
163.150
0
II. Nợ dài hạn
0
0
3.164
79.106
90.140
94.643
98.626
B. Vốn chủ sở hữu
I. Vốn chủ sở hữu
79.096
90.128
94.632
98.626
II. Quỹ khen thưởng, phúc lợi
10
11
11
11
Tổng cộng nguồn vốn
184.028
230.035
213.200
261.776
(Nguồn: Phòng tài chính, kế toán của Công ty )
35
2.2.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty năm 2010 - 2012
Bảng 2.2 : Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty năm 2010 – 2012
Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Chỉ tiêu
1. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 533.013 761.448 928.352
2. Các khoản giảm trừ doanh thu 0 0
3. Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ 533.013 761.448 928.352
4. Giá vốn hàng bán 516.399 743.020 917.676
5. Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ 16.614 18.427 10.676
6. Doanh thu hoạt động tài chính 212 283 3.593
7. Chi phí tài chính 8.351 9.278 8.119
8. Chi phí bán hàng
9. Chi phí quản lý doanh nghiệp 4.482 4.482 4.085
10. Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh 3.994 4.950 2.064
11. Thu nhập khác 0 0 2.242
12. Chi phí khác
13. Lợi nhuận khác 0 0 2.242
14. Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 3.994 4.950 4.306
15. Chi phí thuế TNDN hiện hành 300 371 323
16. Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp 3.694 4.578 3.983
(Nguồn: Phòng tài chính, kế toán của Công ty)
Bảng 2.3: Chỉ tiêu đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh
Đơn vị tính: %
Chênh lệch Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 2011/2010 2012/2011
0,69 0,6 0,43 (13,04) (28,33) Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS)
1.61 2.15 0.15 33.72 (92.91) Tỷ suất sinh lời trên tổng tài (ROA)
4,1 4,84 4,04 18,05 (16,53) Tỷ suất sinh lời trên VCSH (ROE)
(Nguồn: Tính toán dựa vào báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán
năm 2010 - 2012)
36
Để đánh giá hiệu quả kinh doanh của Công ty ta đánh giá thông qua ba chỉ tiêu
sau: Tỷ suất sinh lời trên doanh thu, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lời trên VCSH. Qua bảng các chỉ tiêu trên ta thấy được các tỷ suất lợi nhuận của Công ty
trong những năm gần đây từ 2010 đến 2012 có xu hướng giảm. Tình hình hoạt động
kinh doanh của Công ty có những chuyển biến không tích cực. Các tỷ suất lợi nhuận
không những không tăng mà còn bị giảm sút do bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế. Năm 2012 được coi là một trong những năm kinh tế thế giới gặp nhiều khó
khăn. Cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu tiếp tục sa lầy. Kinh tế Mỹ, Nhật Bản đều
không mấy khả quan. Các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil ... đều
không còn giữ được phong độ tăng trưởng lạc quan như khoảng 3 – 5 năm trước. Nhìn
chung là tăng trưởng kinh tế chậm lại, thất nghiệp tăng cao, sức mua hạn chế, nợ công
nhiều hơn. Nhưng nhờ vào sự nhạy bén và quản lý sáng suốt của ban lãnh đạo mà Công
ty vẫn đứng vững được trên thị trường. Mặc dù các hệ số lợi nhuận giảm nhưng doanh
thu và lợi nhuận sau thuế hàng năm vẫn tăng đều cho thấy Công ty đã đạt được doanh số
bán hàng tốt và vẫn giữ được thị phần lớn. Riêng năm 2012 thì lợi nhuận sau thuế đã
giảm so với năm 2011 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu. Dưới đây
là một số đánh giá khái quát về tình hình hoạt động của Công ty từ năm 2010 đến 2012.
2.2.2.1 Tỷ suất sinh lời trên doanh thu
Cũng giống như hệ số lợi nhuận hoạt động, tỷ suất sinh lời trên doanh thu của Công ty ở giai đoạn 2010 – 2012 thấp và ngày càng giảm do ảnh hưởng của nhiều yếu
tố khác nhau đặc biệt là ảnh hưởng từ cuộc khủng hảng nợ công châu Âu. Từ năm
2010 đến 2012 tỷ suất sinh lời trên doanh thu giảm từ 0,69% xuống còn 0,43%.
2.2.2.2 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
ROA đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của Công ty. Qua bảng
2.3 ta thấy tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của Công ty ở giai đoạn 2010 – 2012
không ổn định. Năm 2010 – 2011, chỉ số này tăng từ 1,61% lên 2,15% tương đương
với tỷ lệ tăng là 33,72%. Nhưng đến năm 2012 chỉ số này giảm mạnh xuống còn
0,15% tương đương với tỷ lệ giảm là 92,91% so với năm 2011. So với trung bình
ngành thì chỉ số này ở mức thấp (theo website cophieu68.vn, chỉ số ROA trung bình ngành thép năm 2010 là 6%, năm 2011 là 4%). ROA cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư (hay lượng tài sản). Tài sản của một Công ty được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu. Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của Công ty. Hiệu quả của việc chuyển vốn
đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA. ROA càng cao thì càng tốt vì Công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn. Vậy nên chỉ số này của Công ty cần được cải thiện để cao hơn.
37
2.2.2.3 Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
Qua bảng 2.3 ta thấy tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu có khả quan hơn. Mặc dù các chỉ số trên đều giảm qua các năm nhưng năm 2011 tỷ số lợi nhuận của Công ty
đã tăng từ 4,1% năm 2010 lên 4,84%, tức là cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu được đầu tư
thì Công ty thu về được 4,84 đồng lợi nhuận . Điều này cho thấy lợi nhuận tạo ra từ
chính đồng vốn của Công ty bỏ ra ngày càng tăng và chứng tỏ Công ty có sự tăng trưởng bền vững. Nhưng đến năm 2012 tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu lại giảm
xuống còn 4,04%. Tuy vậy chỉ số này vẫn tương đối cao trong giai đoạn khủng hoảng
kinh tế này. Các doanh nghiệp lớn trong ngành thép như Việt Nam Steel có tỷ suất
sinh lời trên vốn chủ sở hữu đạt ở mức 7% vào năm 2010, và còn âm 6% năm 2012.
Tuy nhiên trong ngành vẫn còn một số doanh nghiệp như Hòa Phát group với quy mô
tài sản và doanh thu đứng thứ hai trong ngành thép trong bối cảnh khó khăn của ngành
họ vẫn đạt tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu 12%.
2.3 Thực trạng quản lý tài sản và nguồn vốn của Công ty những năm gần đây
Thực trạng quản lý tài sản và nguồn vốn của Công ty phản ánh được cách thức
sử dụng vốn của Công ty trong những năm qua như thế nào, đã phù hợp với tính chất
ngành nghề cũng như quy mô của Công ty không và đạt được hiểu quả cao hay thấp.
2.3.1 Cơ cấu tài sản của Công ty năm 2010 – 2012 2.3.1.1 Cơ cấu tài sản
Bảng 2.4: Cơ cấu giá trị tài sản của Công ty năm 2010 - 2012
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chênh lệch giá trị 2010 2011 2012 Chỉ tiêu 2011/2010 2012/2011
188.051 175.234 223.344 (12.817) 48.111 Tài sản ngắn hạn
41.984 37.966 39.432 (4.018) 1.466 Tài sản dài hạn
230.035 213.200 261.776 (16.835) 48.577 Tổng tài sản
(Nguồn: Tính toán dựa vào bảng cân đối kế toán năm 2010 - 2012 )
Bảng 2.5: Cơ cấu tỷ trọng tài sản của Công ty năm 2010 – 2012
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chênh lệch % Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 2011/2010 2012/2011
81,75% 82,19% 84,94% 0,44% 2,74% Tài sản ngắn hạn
18,25% 17,81% 15,06% (0.44%) (2,74%) Tài sản dài hạn
(Nguồn: Tính toán dựa vào bảng cân đối kế toán năm 2010 - 2012 )
38
Qua bảng 2.4 và bảng 2.5 ta thấy cơ cấu tài sản của Công ty ở những năm gần
đây có sự thay đổi qua các năm nhưng sự thay đồi đó không đáng kể. Tài sản ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng lớn trên tổng tài sản. Tỷ trọng tài sản dài hạn chỉ chiếm khoảng
1/5 trên tổng tài sản. Sau đây là những đánh giá cụ thể về cơ cấu tài sản của Công ty:
Năm 2010 – 2011: Tổng tài sản của năm 2011 đã giảm đi 16.835 triệu đồng so
với năm 2010, tương đương với tỷ lệ giảm là 7,32% (trong đó tài sản ngắn hạn năm 2011 so với năm 2010 giảm12.817 triệu đồng, tương đương với tỷ lệ giảm là 6,82%.
Tài sản dài hạn năm 2011 so với năm 2010 giảm 4.018 triệu đồng, tương đương với tỷ
lệ giảm là 9,57% ). Trong tổng tài sản thì tỷ trọng tài sản dài hạn năm 2010 chiếm
18,25%. Năm 2011 tỷ lệ này giảm 0,44% xuống còn 17,81%. Trong khi đó tài sản
ngắn hạn năm 2011 chiếm 82,19% tổng tài sản và tăng 0,44 % so với năm 2010. Việc
tăng tỷ trọng tài sản ngắn hạn nói trên là do tăng tỷ trọng các khoản tương đương tiền
và các khoản phải thu. Qua đó cho thấy năm 2011 doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn
nhiều hơn so với năm 2010. Tỷ trọng tiền mặt năm 2011 tăng sẽ đảm bảo hơn cho khả
năng thanh toán làm tăng uy tín của doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư và người cho
vay nhưng đồng thời điều đó sẽ làm mất đi chi phí cơ hội của đồng tiền mà đáng ra số
tiền đó có thể mang đầu tư sinh lời. Đây là sự đánh đổi, tùy thuộc vào tình hình Công
ty và phong cách quản lý của ban lãnh đạo mà có những lựa chọn thích hợp và tốt nhất
cho sự phát triển của Công ty. Ta thấy tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng khá lớn còn tài sản dài hạn chỉ chiếm một lượng nhỏ trong tổng tài sản. Sở dĩ như vậy vì Công ty sản
xuất kinh doanh hàng hóa với một quy mô tương đối lớn. Công ty là nhà cung cấp lớn
cho rất nhiều Công ty khác và phân phối sản phẩm trên toàn quốc. Chính vì vậy mà
lượng hàng tồn kho chiếm một phẩn khá lớn trong tổng tài sản để có thể đáp ứng đầy
đủ nhu cầu và kịp thời cho các đơn đặt hàng của khách hàng nhằm đảm bảo cho uy tín
của Công ty. Bên cạnh đó các khoản phải thu ngắn hạn cũng chiếm một tỷ lệ lớn do
khách hàng nợ lại và số tiền phải trả trước cho người bán. Đó cũng là một chính sách
ưu đãi của Công ty đối với những khách hàng quen và mua với số lượng lớn. Theo đó
Công ty sẽ cho những khách hàng đó nợ lại một phần trong tổng số đơn hàng và sẽ trả
lại cho Công ty trong một thời hạn nhất định. Còn số tiền phải trả trước cho người bán là do Công ty nhập khẩu nguyên vật liệu từ nước ngoài nên thường xuyên phải ký kết các hợp đồng với các đối tác. Để nhận được các hợp đồng đó, Công ty phải đặt trước một số tiền để đảm bảo cho bên đối tác. Lí do mà tài sản dài hạn lại chiếm một tỷ trọng thấp là vì tài sản cố định như máy móc, công nghệ thì Công ty chỉ cần đầu tư ban đầu
một lần và ít có sự thay đổi về sau. Công ty chỉ chỉnh sửa, bổ sung chứ ít có sự cải biến nhiều nên hầu như tài sản cố định có sự biến động ít. Hơn nữa Công ty tập trung vào việc sản xuất kinh doanh là chính chứ ít hoặc hầu như không đầu tư vào lĩnh vực tài
chính dài hạn.
39
Năm 2011 – 2012: Tổng tài sản của năm 2012 đã tăng lên là 48.577 triệu đồng,
tương ứng với tỷ lệ tăng là 22,78% (trong đó tài sản ngắn hạn năm 2012 tăng 48.111 triệu đồng so với năm 2011, tương đương với tỷ lệ tăng là 26,28%. Tài sản dài hạn
năm 2012 tăng 1.466 triệu đồng so với năm 2011, tương đương với tỷ lệ tăng là
3,86%). Việc tăng tổng tài sản nói trên cùng với sự tăng lên của tài sản cố định và sự
tăng lên của vốn chủ sở hữu cho thấy quy mô về vốn của doanh nghiệp tăng lên. Quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được mở rộng. Năm 2012 tỷ trọng tài sản
dài hạn trên tổng tài sản chiếm 15,06% giảm 2,74% so với năm 2011. Tài sản ngắn
hạn ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản. Tỷ trọng đó năm 2012 vẫn ở mức
cao chiếm 84,94%. Nhìn chung cơ cấu tài sản biến động không nhiều, không có ảnh
hưởng gì lớn đến hoạt động của sản xuất kinh doanh của Công ty.
2.3.1.2 Kết cấu chi tiết trong tài sản ngắn hạn
Bảng 2.6: Chi tiết tài sản ngắn hạn của Công ty năm 2010 – 2012
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chênh lệch Năm Năm Năm 2011/2010 2012/2011 2011/2010 2012/2011 Chỉ tiêu 2010 2011 2012 (giá trị) (giá trị) (Tỷ lệ %) (Tỷ lệ %)
Tài sản ngắn hạn 188.051 175.234 222.344 (12.817) 47.110 (6,82) 26,28
I. Tiền và các
khoản tương 5.149 29.754 41.421 24.605 11.667 477,88 39,21
đương tiền
II. Các khoản phải 38.323 45.625 72.989 27.364 19,05 59,98 thu ngắn hạn 7.302
III. Hàng tồn kho 136.452 99.304 106.362 (37.148) 7.058 (27,22) 7,11
IV. Tài sản ngắn 8.128 552 1.572 (7.576) 1.020 (93,21) 185,01 hạn khác
(Nguồn: Tính toán dựa vào bảng cân đối kế toán năm 2010 - 2012 )
40
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu tỷ trọng tài sản ngắn hạn của Công ty
Năm 2010
Nhìn vào bảng 2.6 và biểu đồ 2.1 ta có thể đánh giá, nhận xét về các tài sản cấu
thành và sự biến động của tài sản ngắn hạn Công ty trong những năm gần đây. Tài sản
ngắn hạn của Công ty bao gồm các khoản mục: tiền và các khoản tương đương tiền, các
khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác. Dưới đây là những đánh
giá chi tiết về kết cấu cũng như hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn của Công ty:
Năm 2010 – 2011: Năm 2011, tài sản ngắn hạn của Công ty có sự sụt giảm nhẹ
so với năm 2010. Năm 2010, giá trị của tiền và các khoản tương đương tiền là 5.149
triệu đồng. Đến năm 2011, giá trị này tăng tăng 24.605 triệu đồng, tương đương với mức tăng là 477,88%. Các khoản phải thu ngắn hạn năm 2011 tăng 19,05% so với năm 2010. Nhưng bù vào đó các khoản mục hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác giảm nên tài sản giữa hai năm 2010 và 2011 giảm bớt đi sự chênh lệch. Đặc biệt là khoản
mục hàng tồn kho năm 2011 giảm 37.148 triệu đồng so với năm 2010 do hàng tồn kho
năm 2011 giảm. Hàng sản xuất ra thường được tiêu thụ luôn mà ít bị tồn đọng. Đây là
khoản mục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tài sản ngắn hạn. Năm 2010 tỷ trọng của hàng tồn kho trên tài sản ngắn hạn chiếm 72,56%. Năm 2011 tỷ trọng này giảm xuống
còn 56,67%.
41
Năm 2011 – 2012: Tài sản ngắn hạn năm 2012 so với năm 2011 tăng lên 47.111
triệu đồng là do tiền và các khoản tương đương tiền tăng 39,21%, các khoản phải thu năm 2012 tăng 59,98%, hàng tồn kho tăng một lượng nhỏ với tỷ lệ tăng là 7,11% và
một phần là do tài sản ngắn hạn khác cũng tăng 1.021 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ
tăng là 185,01%. Các khoản phải thu ngắn hạn có xu hướng tăng thể hiện vốn của
doanh nghiệp đã bị chiếm dụng nhiều hơn. Năm 2011 các khoản phải thu ngắn hạn có giá trị là 45.625 triệu đồng. Năm 2012 giá trị các khoản phải thu ngắn hạn tăng
59,98% so với năm 2011. Nhìn chung Công ty vẫn đang nới lỏng chính sách tín dụng
thương mại khiến cho một lượng vốn của Công ty đang bị các khách hàng chiếm dụng,
làm tăng các khoản chi phí để thu hồi nợ và rủi ro không thanh toán nợ từ khách hàng.
Năm 2012 khoản mục hàng tồn kho vẫn là khoản mục có tỷ trọng lớn nhất trong tổng
tài sản ngắn hạn của Công ty Minh Ngọc Steel mặc dù tỷ trọng đã bị giảm xuống còn
47,84%. Tuy nhiên năm 2012 giá trị hàng tồn kho tăng 7,11% so với năm 2011. Việc
gia tăng giá trị hàng tồn kho có thể là do nguyên vật liệu, công cụ trong kho và thành
phẩm tồn kho tăng. Như vậy việc tăng hàng tồn kho nói trên cũng một phần là do quy
mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp năm 2012 tăng lên.
2.3.1.3 Kết cấu chi tiết trong tài sản dài hạn
Bảng 2.7: Chi tiết tài sản dài hạn của Công ty năm 2010 – 2012
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chênh lệch
Năm 2012 2011/2010 2012/2011 Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011
(Tỷ lệ %) (Tỷ lệ %)
Tài sản dài hạn 41.984 37.966 39.432 (9,57) 3,86
I. Tài sản cố định 41.906 37.953 34.869 (9,43) (8,13)
II. các khoản đầu 0 0 4.560 - - tư TCDH
78 13 3 (83,04) (76,54) III. Tài sản dài hạn khác
(Nguồn: Tính toán dựa vào bảng cân đối kế toán năm 2010 - 2012)
Qua bảng 2.7 ta thấy tài sản dài hạn của Công ty Minh Ngọc Steel gồm có 3 khoản mục: Tài sản cố định, các khoản đầu tư tài chính dài hạn và tài sản dài hạn khác.
Trong đó tài sản cố định chiếm tỷ trọng lớn nhất và 2 khoản mục còn lại chỉ chiếm một
phần rất nhỏ không đáng kể trong tổng tài sản dài hạn. Năm 2010 tài sản dài hạn là 41.984 triệu đồng và đến năm 2011 giá trị này giảm 9,57% xuống còn 37.966 triệu
đồng. Năm 2012 tài sản dài hạn tăng 3,86% so với năm 2011. Sự biến động này chủ
42
yếu là do sự biến động về tài sản cố định. Về đầu tư tài chính dài hạn thì năm 2010 và
2011 Công ty không đầu tư vào lĩnh vực này. Năm 2012 thì Công ty có đầu tư 4.560 triệu đồng vào lĩnh vực tài chính dài hạn nên làm tăng giá trị tài sản dài hạn. Nhìn
chung trong những năm gần đây thì tài sản dài hạn của Công ty không có biến động
nhiều. Cũng vì tính chất của Công ty là sản xuất kinh doanh nên tài sản ngắn hạn
thường được đầu tư nhiều hơn so với tài sản dài hạn. Tài sản cố định cũng ít phải thay đổi mà chỉ đầu tư một lần và có thể sử dụng lâu dài nên ít có sự biến động lớn.
2.3.2 Cơ cấu nguồn vốn của Công ty năm 2010 – 2012
Theo bảng cân đối kế toán năm 2010 – 2012 của Công ty ta thấy rằng trong
mục nợ phải trả thì tỷ trọng nợ ngắn hạn chiếm 100% tức là Công ty không có nợ dài
hạn ở năm 2011 và 2012. Riêng năm 2010 thì Công ty có thêm khoản nợ dài hạn
nhưng chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nợ phải trả (2,3%). Vì vậy Công ty
có tỷ lệ cơ cấu vốn theo thời gian và theo nguồn hình thành là tương đương nhau.
Căn cứ vào báo cáo tài chính được cung cấp từ phòng tài chính kế toán của
Công ty, qua tính toán ta lập được bảng sau:
Bảng 2.8: Chi tiết nguồn vốn của Công ty Minh Ngọc Steel năm 2010 – 2012
Đơn vị tính: triệu đồng
Chênh lệch
Năm 2012 2011/2010 2012/2011 Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011
(Tỷ lệ%) (Tỷ lệ)
A.Nợ phải trả 139.896 118.557 163.150 (15,52%) 37,61%
B. Vốn chủ sở hữu 90.140 94.643 98.626 5% 4,21%
TỔNG NGUỒN 230.035 213.199 261.776 (7,32%) 22,78% VỐN
(Nguồn: Tính toán dựa vào bảng cân đối kế toán năm 2010 - 2012 )
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu tổng nguồn vốn của Công ty Minh Ngọc Steel giai đoạn 2010 – 2012
43
Bảng 2.9: Tỷ lệ nợ trên VCSH
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Chỉ tiêu Công thức
Nợ phải trả 1,55 1,25 1,65 Tỷ lệ nợ trên VCSH (D/E) Vốn chủ sở hữu
Dựa vào bảng 2.9 và biểu đồ 2.2 ta thấy trong những năm gần đây tỷ trọng của
nợ phải trả và vốn chủ sở hữu không có sự biến động nhiều. Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu có tỷ lệ khoảng 3:2. Năm 2010 nợ phải trả chiếm tỷ trọng là 60,81%, vốn chủ sở
hữu chiếm 39,19% trong tổng nguồn vốn. Những năm tiếp theo các tỷ trọng này có sự
dao động nhẹ và nợ phải trả vẫn chiếm tỷ trọng cao hơn so với vốn chủ sở hữu nguyên nhân một phần do đặc thù của Công ty là hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nên cần sử
dụng nhiều vốn và phải đi vay của các tổ chức tín dụng. Tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ
sở hữu của Công ty (D/E) lớn hơn 1 đặc biệt trong năm 2012 tỷ lệ này là 1,65. Điều
này có nghĩa tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi các khoản nợ, Công ty
đi vay mượn nhiều hơn so với số vốn hiện có nên Công ty có thể gặp rủi ro trong việc
trả nợ. Đặc biệt là Công ty càng gặp nhiều khó khăn hơn khi lãi suất ngân hàng ngày
một tăng cao. Các chủ nợ hay ngân hàng cũng thường xem xét, đánh giá kỹ tỷ lệ này
(và một số chỉ số tài chính khác) để quyết định có cho Công ty vay hay không. Nhưng
ưu điểm của việc sử dụng nợ đó là chi phí lãi vay sẽ được trừ vào thuế thu nhập doanh
nghiệp. Tuy nhiên theo số liệu của website cophieu68.vn thì hệ số D/E trung bình của
ngành thép năm 2010 là 1,99 và năm 2011 là 2,19. Như vậy so với trung bình của
ngành thép thì Công ty vẫn được cho là có tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu thấp,
đáng tin cậy.
2.3.2.1 Nợ phải trả
Bảng 2.10: Chi tiết nợ phải trả của Công ty năm 2010 – 2102
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chênh lệch
Năm 2012 Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 2011/2010 2012/2011
(Tỷ lệ) (Tỷ lệ)
139.896 118.557 163.150 (15,52%) 37,61% A.Nợ phải trả
136.732 118.557 163.150 (13,29%) 37,61% I. Nợ ngắn hạn
3.164 0 0 - - II. Nợ dài hạn
(Nguồn: Tính toán dựa vào bảng cân đối kế toán năm 2010 - 2012)
44
Nhìn vào bảng 2.10 ta thấy trong tổng nợ phải trả thì nợ ngắn hạn chiếm phần lớn còn nợ dài hạn thì chỉ chiếm một phần rất nhỏ, đặc biệt năm 2011 và 2012 giá trị của khoản nợ dài hạn của Công ty bằng 0. Hơn nữa trong mục nợ ngắn hạn thì vay
ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn, có nghĩa là Công ty chủ yếu đi vay ngân hàng hoặc các tổ
chức tín dụng chứ không có sự chiếm dụng nhiều của đối tác. Điều này thể hiện rằng
Công ty rất hạn chế chiếm dụng vốn của các đối tác do Công ty muốn tạo lòng tin đối với các nhà cung cấp cũng như ngân hàng để nâng cao hình ảnh của Công ty trên thị
trường và ngoài ra Công ty còn được hưởng các chính sách ưu đãi của đối tác giúp
giảm chi phí giá vốn hàng bán. Vì vậy Công ty phải chịu một sức ép lớn về tiền mặt
hàng năm. Sự thay đổi về nợ phải trả của Công ty được phản ánh toàn bộ qua sự biến
động của nợ ngắn hạn. Năm 2010 giá trị nợ ngắn hạn của Công ty là 136.732 triệu
đồng. Năm 2011 giá trị này đã giảm 13,29% so với năm 2010 chứng tỏ Công ty vay nợ
ít và tổng nguồn vốn của Công ty cũng giảm. Như vậy là năm 2011 quy mô của Công
ty đã bị thu hẹp hơn so với năm 2010. Năm 2012 cùng với sự gia tăng về quy mô vốn
thì nợ ngắn hạn của Công ty cũng tăng đáng kể ( tăng 37,61% so với năm 2011). Năm
2012 là một năm có nền kinh tế khó khăn và đầy biến động ảnh hưởng lớn đến tình
hình tài chính của Công ty. Chính vì thế mà Công ty phải đi vay bên ngoài nhiều hơn
để có thể đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty được ổn định.
2.3.2.2 Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu chính là nội lực của doanh nghiệp. Đây là khoản mục không thể thiếu của bất cứ doanh nghiệp nào. Vốn chủ sở hữu đảm bảo cho hoạt động sản
xuất kinh doanh được ổn định và cũng là cơ sở để ngân hàng và các tổ chức tín dụng
thẩm định cho vay vốn, các đối tác đánh giá về năng lực tài chính của Công ty. Ta thấy
những năm gần đây vốn chủ sở hữu tương đối ổn định chỉ tăng thêm khoảng 5% mỗi
năm và chiếm khoảng 2/5 trên tổng nguồn vốn. Tuy giá trị vốn chủ sở hữu thấp hơn so
với nợ phải trả nhưng Công ty vẫn luôn làm chủ được tình hình tài chính của mình.
Đây cũng là phong cách quản lý của ban lãnh đạo và cũng là chiến lược sử dụng vốn
trong tình hình kinh tế khó khăn trong giai đoạn này.
Qua phân tích sự biến động và cơ cấu vốn của Công ty ta thấy tình hình tài chính và tình hình sử dụng vốn của Công ty tương đối hợp lý bởi vì việc tăng tổng tài sản của Công ty thể hiện quy mô của Công ty đã được mở rộng. Đồng thời Công ty tăng năng lực sản xuất kinh doanh, giảm các loại tài sản không cần thiết nhằm sử dụng vốn có hiệu quả. Tuy nhiên cũng cần hết sức chú ý đến khả năng thanh toán của khách
hàng có quan hệ làm ăn, hạn chế rủi ro phát sinh trong khâu thanh toán. Công ty cần
dự trữ tiền và hàng tồn kho vừa phải phù hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh.
45
2.3.2 Chiến lược quản lý tài sản – nguồn vốn của Công ty TNHH sx&tm Minh Ngọc 2.3.2.1 Chiến lược quản lý tài sản
Bảng 2.11: Cơ cấu tỷ trọng tài sản của Công ty năm 2010 – 2012
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
81,75% 82,19% 84,94% Tài sản ngắn hạn
18,25% 17,81% 15,06% Tài sản dài hạn
(Nguồn: Tính toán dựa vào bảng cân đối kế toán năm 2010 - 2012 )
2.3.2.2 Chiến lược quản lý nguồn vốn Bảng 2.12: Cơ cấu vốn theo thời gian của Công ty Minh Ngọc Steel năm 2010 – 2012
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
59,44% 55,61% 62,32% A.Vốn ngắn hạn
40,56% 44,39% 37,68% B. Vốn dài hạn
(Nguồn: Tính toán dựa vào bảng cân đối kế toán năm 2010 - 2012 )
2.3.2.3 Chiến lược quản lý tài sản - nguồn vốn
Hình 2.1: Mô hình chiến lƣợc quản lý tài sản – nguồn vốn của Công ty
TSNH VNH TSNH VNH TSNH VNH
TSDH VDH TSDH TSDH VDH VDH
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Qua hình 2.4 ta thấy trong giai đoạn 2010 – 2012, Công ty đã áp dụng chiến lược quản lý thận trọng tức là Công ty đã dùng nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn. Đây là mô hình quản lý an toàn nhất cho Công ty nhưng lợi nhuận đem lại
thì không cao, tốn nhiều chi phí. Công ty đã chọn và sử dụng mô hình quản lý vốn này có thể do phong cách làm việc của ban lãnh đạo, họ đề cao tính an toàn và không
muốn mạo hiểm hay gặp rủi ro. Tuy nhiên nguồn vốn ngắn hạn của Công ty vẫn luôn
46
chiếm tỷ trọng cao hơn so với nguồn vốn dài hạn. Còn về tài sản do tính chất ngành
nghề của Công ty TNHH sx&tm Minh Ngọc là làm ở lĩnh vực sản xuất nên tài sản ngắn hạn thường có tỷ trọng cao hơn so với tài sản dài hạn để đầu tư vào nguyên vật
liệu, hàng hóa và một số khoản mục khác. Nhưng để có thể tối đa hóa được lợi nhuận
mà vẫn đảm bảo được tính an toàn Công ty có thể lựa chọn một số chiến lược khác
như chiến lược quản lý dung hòa để giảm thiểu các chi phí về lãi suất hay những chi phí phát sinh khác.
2.4 Đánh giá hiệu quả quản lí và sử dụng vốn tại Công ty thông qua một số chỉ tiêu
Để hiểu rõ hơn về hiệu quả sử dụng vốn của Công ty ta sử dụng một số chỉ tiêu cụ
thể để đánh giá xem vốn của Công ty đã được sử dụng hiệu quả hay chưa, đã mang lại
được những thành tựu gì và tìm ra những thiếu sót về cách quản lý và sử dụng vốn của
Công ty. Từ đó đưa ra các giải pháp giúp Công ty ngày càng phát triển bền vững hơn.
2.4.1 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung
Dựa vào báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán năm 2010 – 2012
ta tính toán được các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của Công ty TNHH
sx&tm Minh Ngọc và đưa ra được bảng phân tích sau:
Bảng 2.13: Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung
của Công ty năm 2010 – 2012
Đơn vị tính: đồng
CHỈ TIÊU Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
2.58 3.44 3.91 Chênh lệch (tuyệt đối) 2011/2010 2012/2011 0.47 0,86 Vòng quay toàn bộ vốn
0,39 0,019 0,29 0,022 0,26 0,018 (0.1) 0,003 (0.04) (0,004) Suất hao phí vốn Tỷ lệ doanh lợi trên tổng vốn
(Nguồn: Tính toán dựa vào báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán
năm 2010 - 2012)
Biểu đồ 2.3: Hiệu quả sử dụng vốn nói chung
47
Nhìn vào bảng 2.13 và biểu đồ 2.3 ta thấy một số chỉ tiêu có sự thay đổi qua các
năm còn một số chỉ tiêu còn lại thì thay đổi không đáng kể. Ta có các phân tích và
đánh giá cụ thể như sau:
Xét chỉ tiêu vòng quay toàn bộ vốn ta thấy chỉ tiêu này của Công ty có sự gia
tăng. Chỉ số vòng quay toàn bộ vốn của năm 2010 là 2,58. Điều này có nghĩa là năm
2010 vốn của Công ty quay được 2,58 vòng hay trung bình một đồng vốn Công ty đầu
tư vào sản xuất kinh doanh thì sẽ thu về được 2,58 đồng doanh thu thuần. Năm 2011
chỉ số vòng quay toàn bộ vốn tăng 0,86 vòng so với năm 2010. Năm 2012 chỉ số này
tăng 0,47 vòng ít hơn so với năm 2011 nhưng với nền kinh tế ảm đạm ở năm 2012 mà
Công ty vẫn có khả năng gia tăng tốc độ quay vòng của vốn thì cũng là một thành tích
đáng kể chứng tỏ Công ty vẫn duy trì được sự tăng trưởng của mình. Sự gia tăng của
chỉ tiêu này được lý giải do doanh thu thuần của hoạt động kinh doanh hàng năm liên
tục tăng. Năm 2011doanh thu thuần tăng 228.434 triệu đồng so với năm 2010 tương
đương với tỷ lệ tăng là 42,86%. Năm 2012 doanh thu thuần tiếp tục tăng lên 21,92%
so với năm 2011. Bên cạnh đó tổng vốn bình quân năm 2011 cũng tăng so với năm
2010 nhưng tốc độ tăng chậm hơn so với doanh thu. Năm 2011 tổng vốn bình quân
tăng hơn so với năm 2010 là 7,26%. Năm 2012 giá trị vốn bình quân lại tiếp tục tăng
7,16% so với năm 2011. Chỉ tiêu này tăng thể hiện hiệu quả sử dụng vốn của Công ty
trong những năm qua tăng. Theo số liệu có được từ website cophieu68.vn thì vòng
quay toàn bộ vốn trong kỳ trung bình của ngành thép năm 2010 là 1,75 và năm 2011 là
1,97. Như vậy so với vòng quay toàn bộ vốn trung bình của ngành thép thì chỉ số này
của Công ty tương đối cao. Công ty quay vòng vốn nhanh chứng tỏ khả năng sử dụng
vốn của Công ty có hiệu quả cao, giá trị doanh thu thuần được sinh ra từ tài sản mà
Công ty đã đầu tư lớn.
Xét chỉ tiêu suất hao phí vốn ta thấy chỉ số này có xu hướng giảm, điều này có
lợi cho Công ty vì số vốn của Công ty bỏ ra để thu được một đồng doanh thu trong các
năm là giảm. Năm2010 để thu được một đồng doanh thu Công ty phải bỏ ra bình quân
là 0,39 đồng vốn. Đến năm 2011 số tiền vốn bỏ ra này là 0,29 đồng ít hơn 0,1 đồng
vốn so với năm 2010. Năm 2012 chi phí vốn này còn giảm xuống còn 0,26 đồng để
thu được 1 đồng doanh thu, giảm 0,04 đồng vốn so với năm 2011. Lợi nhuận bằng
doanh thu trừ đi chi phí vốn. Mục tiêu cốt lõi của mà tất cả các Công ty đều hướng tới
đó là lợi nhuận. Một trong những cách để làm tăng lợi nhuận đó là tăng doanh thu
hoặc giảm chi phí vốn và nói một cách chung nhất đó là làm tăng sự chênh lệch giữa
doanh thu và chi phí bỏ ra. Chính vì vậy và Công ty luôn tìm ra các giải pháp để giảm
thiểu chi phí vốn đồng thời doanh thu thuần thu được vẫn phải được đảm bảo. Tuy vậy
nhưng Công ty vẫn luôn phải cân nhắc cho những lợi ích trước mắt mà những lợi ích
48
lâu dài để có được những quyết định đúng đắn, vừa đem lại lợi nhuận lớn ở hiện tại mà
không ảnh hưởng tới lợi ích trong tương lai.
Tỷ lệ doanh lợi trên tổng vốn là chỉ tiêu chính mà các nhà đầu tư thường dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của Công ty.Tỷ lệ doanh lợi trên tổng vốn của Công
ty ở 3 năm gần đây tương đối ổn định. Năm 2010 tỷ lệ doanh lợi trên tổng vốn là
0,019. Điều này có nghĩa là bình quân một đồng vốn tham gia vào quá trình sản xuất
kinh doanh thì Công ty thu được 0,019 đồng lợi nhuận thuần. Năm 2011 chỉ số này có xu hướng tăng nhẹ (tăng 0,003 so với năm 2010) do lợi nhuận thuần năm 2011 tăng
23,94%, nhưng vốn bình quân sử dụng trong kỳ cũng tăng 7,26% làm giảm đi mức gia tăng của chỉ số này. Năm 2012 tỷ lệ doanh lợi trên tổng vốn giảm 0,004 so với năm
2011 xuống còn 0,18. Điều này là do lợi nhuận thuần năm 2012 giảm 13% so với năm
2011 đồng thời vốn bình quân sử dụng trong kỳ tăng 7,16%. Tuy chỉ số này còn chưa
cao và có xu hướng giảm nhẹ nhưng về cơ bản nó vẫn tương đối ổn định nhưng trong
giai đoạn này nền kinh tế vô cùng khó khăn nhưng Công ty vẫn giữ được sự phát triển
ổn định của mình thì đây cũng là một thành tích đáng kể. Công ty cần phải cải thiện
hơn nữa để tăng hiệu quả sử dụng vốn của mình giúp cho Công ty ngày càng phát triển
mạnh mẽ và bền vững hơn.
2.4.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định của Công ty TNHH sx&tm Minh
Ngọc ta đánh giá thông qua các chỉ tiêu được tính toán trên bảng phân tích sau:
Bảng 2.14: Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
của Công ty năm 2010 – 2012
Chênh lệch 11/10 Chênh lệch 12/11 Năm Năm Năm CHỈ TIÊU 2010 2011 2012 Giá trị % Giá trị %
Hiệu suất sử dụng 14.26 19.05 23.99 4.78 33.53 4.94 25.94 vốn cố định
Suất hao phí vốn 0.07 0.05 0.04 (0.02) (25.11) (0.01) (20.60) cố định
0.11 0.12 0.05 0.02 15.85 (0.01) (56.93) Tỷ lệ doanh lợi trên vốn cố định
(Nguồn: Tính toán dựa vào báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán
năm 2010 – 2012)
Qua bảng phân tích trên ta thấy hiệu quả sử dụng vốn cố định của Công ty trong
giai đoạn 2010 – 2012 có xu hướng tăng. Hiệu quả sử dụng vốn cố định được đánh giá
thông qua 3 chỉ tiêu đó là hiệu suất sử dụng vốn cố định, suất hao phí vốn cố định và tỷ lệ doanh lợi trên vốn cố định.
49
Xét hiệu suất sử dụng vốn cố định của Công ty ta thấy chỉ số này ở giai đoạn
2010 – 2012 tăng dần qua các năm. Năm 2010 hiệu suất sử dụng vốn cố định của Công ty là 14,26 có nghĩa là cứ 1 đồng vốn cố định Công ty đầu tư vào hoạt động sản xuất
kinh doanh (đầu tư vào máy móc, nhà xưởng…) thì thu về được 14,26 đồng doanh thu
thuần. Năm 2011 hiệu suất sử dụng vốn cố đinh là 19,05 tăng 33,53% so với năm 2010.
Năm 2012 tỷ số này tiếp tục tăng đến 23,99 tức là tăng 25,94% so với năm 2011. Tỷ số này gia tăng liên tục là do doanh thu thuần có được từ hoạt động bán hàng và cung cấp
dịch vụ tăng (năm 2011 doanh thu thuần tăng 42,86% so với năm 2010 và năm 2012
tăng 21,92% so với năm 2011). Ở giai đoạn này vốn cố định bình quân của Công ty
tương đối ổn định không có sự thay đổi nhiều (năm 2011 tăng 6,98% so với năm 2010
nhưng tốc độ tăng này vẫn chậm hơn nhiều so với tốc độ tăng của doanh thu thuần. Năm
2012 vốn cố định bình quân sử dụng trong kỳ giảm 3,19% càng làm cho hiệu suất sử
dụng vốn cố định tăng lên). Chỉ số này càng cao thì càng có lợi cho Công ty, chứng tỏ
Công ty sử dụng vốn cố định tốt và hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Xét suất hao phí vốn cố định, đây là chỉ tiêu ngược lại với chỉ tiêu hiệu suất sử
dụng vốn cố định. Ta thấy suất hao phí vốn cố định giảm qua các năm. Năm 2010 suất
hao phí vốn cố định là 0,07 có nghĩa là để tạo ra 1 đồng doanh thu thuần thì Công ty
phải bỏ ra 0,07 đồng vốn cố định. Năm 2011 tỷ số này giảm 0,02 so với năm 2011
xuống còn 0,05. Năm 2012 suất hao phí vốn cố định tiếp tục giảm 0,01 so với năm 2011 xuống còn 0,04. Như vậy để thu được một đồng doanh thu thì chi phí vốn cố
động phải bỏ ra ngày càng ít hơn thể hiện được hiệu quả sử dụng vốn cố định tăng.
Xét tỷ lệ doanh lợi trên vốn cố định ta thấy tỷ số này không ổn định ở giai đoạn
2010 – 2012. Năm 2010 tỷ lệ doanh lợi trên vốn cố định là 0,11 có nghĩa là cứ 1 đồng
vốn cố định Công ty đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì thu được 0,11 đồng
lợi nhuận thuần từ hoạt động đó. Năm 2011 tỷ số này tăng lên 0,12 tương ứng với mức
tăng 15,85%. Tại thời điểm này vốn cố định tăng 6,98% nhưng lợi nhuận thuần tăng
với tốc độ nhanh hơn (23,94%) nên tỷ lệ doanh lợi trên vốn cố định tăng. Năm 2012 tỷ
số này giảm mạnh xuống còn 0,05 tương ứng với mức giảm 56,93% so với năm 2011,
đó là do lợi nhuận thuần thu được của năm 2012 giảm 58,3%. Năm 2012 giá của các sản phẩm ống thép tụt giảm do thị trường bất động sản bị đóng băng, các công trình bị trì hoãn. Bên cạnh đó Công ty vẫn còn dự trữ một lượng hàng tồn kho tương đối lớn nên mặc dù doanh thu năm 2012 tăng nhưng lợi nhuận thuần thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh lại bị giảm mạnh.
Xét một cách tổng thể hiệu quả sử dụng vốn cố định của Công ty ở những năm 2010 và 2011 tương đối tốt và ổn định nhưng năm 2012 thì hiệu quả sử dụng vốn cố định lại bị kém đi rõ rệt do sức sinh lợi giảm. Nguyên nhân của của tình trạng này là
do ảnh hưởng của nền kinh tế khủng hoảng. Nhưng so với tình trạng chung thì năm
50
2012 nền kinh tế vô cùng khó khăn, nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
trong khi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty vẫn diễn ra bình thường và vẫn còn đem lại lợi nhuận cho Công ty thế nên đây cũng là một thành công nhỏ trong năm
vừa qua. Tuy nhiên Công ty cần cố gắng hơn nữa để ngày càng phát triển và có chỗ
đứng vững chắc trên thị trường Việt Nam, cạnh tranh được với nhiều doanh nghiệp lớn
cùng ngành khác.
2.4.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động 2.4.3.1 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động thông qua một vài chỉ tiêu chủ yếu Vốn lưu động đóng vai trò quan trọng đối với kết quả sản xuất kinh doanh. Các
chỉ số đánh giá hiệu quả sử dụng vốn là các chỉ số giúp cho các nhà đầu tư có các nhận
định về hiệu quả hoạt động của Công ty. Sau đây là bảng phân tích các chỉ số về hiệu
quả sử dụng vốn của Công ty:
Bảng 2.15: Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lƣu động
của Công ty năm 2010 – 2012
Chênh lệch 11/10 Chênh lệch 12/11 CHỈ TIÊU 2010 2011 2012 Giá trị % Giá trị %
Vòng quay 3.15 4.19 4.67 1.04 33.11 0.48 11.40 vốn lưu động
Suất hao phí 0.32 0.24 0.21 (0.08) (24.87) 0.02) (10.24) vốn lưu động
Tỷ lệ doanh
0.02 0.03 0.01 0.01 15.48 (0.02) (61.90) lợi trên vốn
lưu động
(Nguồn: Tính toán dựa vào báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán
năm 2010 – 2012)
Để đánh giá về hiệu quả sử dụng vốn lưu động ta đánh giá thông qua 3 chỉ tiêu
đó là vòng quay vốn lưu động, suất hao phí vốn lưu động và tỷ lệ doanh lợi trên vốn
lưu động. Qua bảng phân tích trên ta rút ra các nhận xét sau:
Xét về vòng quay vốn lưu động ta thấy tốc độ luân chuyển vốn lưu động của
Công ty ở giai đoạn 2010 – 2012 tăng. Điều đó được thể hiện thông qua số vòng quay
vốn lưu động tăng qua các năm. Năm 2010 vòng quay vốn lưu động là 3,15 có nghĩa là
một kỳ vốn lưu động quay được bao nhiêu vòng hay một đồng vốn lưu động bỏ vào
sản xuất kinh doanh thì thu về được 3,15 đồng doanh thu. Năm 2011 vòng quay vốn
lưu động là 4,19 nhanh hơn so với năm 2010 1,04 vòng. Năm 2012, số vòng quay vốn
lưu động là 4,67 tăng lên 0,48 vòng so với năm 2011. Sở dĩ có sự gia tăng này do
doanh thu thuần thu được từ hoạt động kinh doanh của Công ty tăng (Năm 2011 doanh
thu tăng 42,86% so với năm 2010 và năm 2012 doanh thu thuần của Công ty cũng tăng
51
21,92% so với năm 2011). Công ty đã luôn chủ động tìm kiếm đối tác khách hàng, ký
được nhiều hợp đồng với nhiều đại lý trung gian phân phối sản phẩm.Đồng thời Công
ty vẫn giữ được mối quan hệ tốt với các đối tác cũ, tạo được nguồn tiêu thụ tin cậy, dồi
dào. Đây là một tín hiệu tốt thể hiện hiệu quả kinh doanh của Công ty ngày càng tăng.
Mặc dù vốn lưu động tăng (Năm 2011 vốn lưu động của Công ty tăng 7,32% so với
năm 2010 và đến năm 2012 thì vốn lưu động tăng 9,44% so với năm 2011) nhưng tốc
độ tăng của doanh thu thuần nhanh hơn so với tốc độ tăng của vốn lưu động, vì vậy mà
số vòng quay vốn lưu động tăng làm tăng hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Nhìn chung
số vòng quay vốn lưu động của Công ty không ở mức quá cao nhưng so với vòng quay
vốn lưu động trung bình của ngành thép (theo website cophieu68.vn thì vòng quay vốn
lưu động của ngành thép năm 2010 là 2,44 và năm 2011 là 2,87) thì Công ty Minh
Ngọc Steel đã có hiệu quả sử dụng vốn tương đối tốt.
Xét về suất hao phí vốn lưu động ta thấy chỉ số này giảm dần trong giai đoạn
2010 – 2012. Đây là một dấu hiệu tích cực cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công ty. Chỉ tiêu này ngược lại với chỉ tiêu vòng quay vốn lưu động. Suất hao phí vốn
lưu động của năm 2010 là 0,32 có nghĩa là để tạo ra được 1 đồng doanh thu thuàn thì
Công ty phải bỏ ra 0,32 đồng vốn lưu động. Năm 2011 tỷ số này giảm 24,87% so với
năm 2010 xuống còn 0,24. Năm 2012 tỷ số này tiếp tục giảm xuống còn 0,21 tức là
giảm 10,24% so với năm 2011. Như vậy chi phí bỏ ra để thu về cùng một số doanh thu
thuần của năm sau thấp hơn so với năm trước, hiệu quả sử dụng vốn lưu động tăng.
Xét tỷ lệ doanh lợi trên vốn lưu động ta thấy chỉ số này ở giai đoạn 2010 - 2012
không ổn định, lúc tăng lúc giảm. Năm 2010, tỷ lệ doanh lợi trên vốn lưu động là 0,02
có nghĩa là cứ một đồng vốn lưu động Công ty đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh
doanh thì thu lại được 0,02 đồng lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh đó.
Năm 2011 tỷ lệ này là 0,03 tăng 0,01 so với năm 2010. Sở dĩ có sự gia tăng này là do
lợi nhuận thuần Công ty đạt được ở năm 2011 tăng 23,94% so với năm 2010. Sự gia
tăng này thể hiện hiệu quả sử dụng vốn của Công ty tốt. Đề đạt được kết quả đó Công
ty Minh Ngọc steel đã phải đầu tư trang thiết bị tiên tiến nhằm giảm bớt các chi phí
tiêu hao nguyên vật liệu, chi phí nhân công, sản xuất được lượng hàng lớn và giảm
được chi phí giá vốn hàng bán. Nhưng đến năm 2012 thì do ảnh hưởng của nền kinh tế
khủng hoảng nên tỷ lệ doanh lợi trên vốn lưu động giảm xuống thấp hơn cả năm 2010
chỉ còn 0,01. Năm 2012 lợi nhuận thuần của Công ty giảm mạnh 58,3% mặc dù doanh
thu của năm 2012 tăng so với năm 2011 vì giá bán đầu ra bị hạ thấp trong khi hàng tồn
kho vẫn còn số lượng lớn. Năm 2012 giá thị trường của sản phẩm ống thép giảm một
phần là do thị trường bất động sản ảm đạm, nhiều công trình xây dựng bị trì hoãn nên
số lượng hàng tiêu thụ được ít. Để tăng lượng tiêu thụ nhằm đạt chỉ tiêu về doanh số
52
cũng như để quay vòng vốn nên các doanh nghiệp đã đua nhau giảm giá thành sản
phẩm. Đây là nguyện nhân chính dẫn đến sự sụt giảm mạnh mẽ của tỷ lệ doanh lợi trên
vốn lưu động.
Qua một số chỉ tiêu đã phân tích ở trên ta thấy nhìn chung hiệu quả sử dụng vốn
lưu động của Công ty Minh Ngọc Steel ở giai đoạn 2010 - 2012 ngày càng tăng đặc
biệt là năm 2011. Ở năm 2012, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế nên Công
ty cũng gặp một số khó khăn. Vấn đề đặt ra cho Công ty là phải làm sao duy trì và phát
triển được những tiềm năng sẵn có và đồng thời khắc phục những mặt yếu kém còn
tồn tại để tăng doanh thu thuần cho Công ty đồng thời tăng cả lợi nhuận. Hơn nữa, khi
Công ty đạt được mức lợi nhuận cao tương ứng với đồng vốn lưu động bỏ ra thì có thể
tiếp tục mở rộng được quy mô kinh doanh, đứng vững được trên thương trường.
2.4.3.2 Đánh giá hiệu quả quản lý tiền
Vốn bằng tiền là một chỉ tiêu quan trọng bởi vì mọi khoản doanh thu và chi phí
trong doanh nghiệp đều được hạch toán thông qua tài khoản này. Giá trị tiền mặt của
Công ty luôn biến động, gắn liền với quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty. Việc
giữ tiền trong doanh nghiệp sẽ khiến cho Công ty mất đi các cơ hội đầu tư sinh lời
nhưng Công ty luôn cần phải có một lượng tiền dự trữ nhất định để đảm bảo thực hiện
cho tiêu thường xuyên, giải quyết các biến cố xảy ra bất ngờ giảm thiểu rủi ro cho
doanh nghiệp. Tỷ trọng tiền trên vốn lưu động sẽ đánh giá một phần về hiệu quả quản
lý tiền tại Công ty. Nó cho biết lượng tiền được dự trữ tại Công ty (tài khoản có mức
thanh khoản cao nhất) chiếm bao nhiêu phần trong tổng số vốn lưu động. Từ đó để
thấy được cách quản lý tiền của ban lãnh đạo theo xu hướng nào và mang lại những lợi
ích gì cho Công ty và cách quản lý này còn hạn chế ở những điểm nào. Từ đó có đưa
ra các giải pháp để khắc phục những hạn chế đó.
Bất cứ chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ nào cũng biết, để duy trì được dòng
chảy tối ưu tiền mặt tốt cần phải giỏi tung hứng trên mọi mặt trong kinh doanh,
quản lý chặt chẽ các khoản phải thu, tới việc tăng hạn mức nợ tín dụng, cho tới việc
quản lý hàng tồn kho. Điều cốt yếu giúp cho việc quản lý dòng tiền có hiệu quả là
phải điều hoà được dòng tiền chảy vào và dòng tiền chảy ra trong doanh nghiệp
Công ty. Việc cải thiện dòng chảy tiền sẽ làm giảm số vốn cố định, mà Công ty cần
để đầu tư cho công việc kinh doanh. Một dòng tiền tăng trưởng ổn định cũng giúp
nhìn thấy trước được một mẫu hình kinh doanh, điều này làm cho doanh nghiệp sẽ
dễ dàng hơn trong việc lập kế hoạch và lên ngân sách cho việc phát triển doanh
nghiệp trong tương lai.
53
Bảng 2.16 : Tỷ trọng tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền trên vốn lƣu động
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
5.149 29.754 41.421 Tiền và các khoản tương đương tiền
Vốn lưu động 188.051 175.234 222.344
16,98% 2,74% Tiền/ Vốn lƣu động
18,63% (nguồn: Tính toán dựa vào bảng cân đối kế toán năm 2010 - 2011)
Qua bảng 2.16 ta thấy giá trị tiền và các khoản tương đương tiền năm 2010 –
2012 của Công ty dự trữ ngày càng tăng. Năm 2010, giá trị của khoản này là 5.149
triệu đồng. Đến năm 2011 thì giá trị của khoản tiền và các khoản tương đương tiền tăng mạnh lên 29.754 triệu đồng và tiếp tục tăng mạnh ở năm 2012 là 41.421 triệu
đồng. Điều này sẽ giúp Công ty đáp đứng được nhu cầu về tiền trong quá trình sản
xuất kinh doanh, tăng khả năng thanh toán cho Công ty đồng thời khi có cơ hội kinh
doanh Công ty có thể sẵn sàng đáp ứng được nhu cầu về tiền mà không làm mất đi
những cơ hội lớn này. Tuy nhiên nếu nắm giữ nhiều tiền thì sẽ mất đi chi phí cơ hội của đồng tiền, không thực hiện đầu tư thêm để sinh lời được.
Tỷ trọng tiền trên vốn lưu động tăng mạnh từ năm 2010 – 2012. Năm 2010 tỷ
trọng này chỉ chiếm 2,74%. Đến năm 2011 tỷ trọng này tăng lên 16,98% và năm 2012
là 18,63%. Như vậy khả năng thanh toán nhanh và khả năng thanh toán tức thời của
Công ty sẽ tăng theo.
2.4.3.3 Đánh giá hiệu quả quản lý các khoản phải thu
Các khoản phải thu là giá trị tài sản của doanh nghiệp bị các doanh nghiệp khác
hay khách hàng chiếm dụng. Do đó, nếu các khoản công nợ này chiếm tỷ trọng lớn và
ngày càng tăng sẽ gay khó khăn cho tình hình tài chính của Công ty. Chính vì vậy,
giảm công nợ phải thu, nhanh chóng thu hồi tiền hàng, chiếm dụng vốn hợp lý là vấn
đề có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý vốn lưu động của Công ty TNHH
sx&tm Minh Ngọc.
Bảng 2.17: Phân tích kết cấu các khoản phải thu năm 2010 - 2012
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm 2011 Số tiền %
Năm 2012 Số tiền %
Chênh lệch (%) 11/10
Năm 2010 Số tiền % 35.564 92,80 42.495 93,14 57.474 78,74 0,04 10.414 14,27 6,99 5.101 6,82
20 2.740 20 3.110 0,05 7,15
12/11 (14,40) 14,22 0,17
0,34 (0,01) (0,33)
0 0 0 0 0 0 0 0
1.Phải thu khách hàng 2.Trả trƣớc cho ngƣời bán 3.Các khoản phải thu khác 4. Dự phòng phải thu khó đòi 5. Tổng các khoản phải thu
38.323 45.625 72.989
(Nguồn: Tính toán dựa vào bảng cân đối kế toán năm 2010 – 2012)
54
Qua bảng 2.17 ta thấy trong mục các khoản phải thu thì phải thu khách hàng
chiếm tỷ trọng cao nhất và cũng là mục mà Công ty cần phải chú trọng và quản lý chặt chẽ nhất. Phải thu khách hàng là vấn đề phức tạp đòi hỏi Công ty phải thận trọng, xem
xét kỹ lưỡng việc bán chịu cho khách hàng. Năm 2010 khoản phải thu khách hàng
chiếm 92,8% trong tổng các khoản phải thu và giảm dần qua các năm. Đến năm 2012,
khoản phải thu khách hàng chiếm 78,74%, tuy có giảm nhưng khoản này vẫn chiếm một tỷ trọng cao. Chính vì vậy quản lý khoản phải thu chính là quản lý khoản phải thu
khách hàng. Ta thấy Công ty không có dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi có thể vì
Công ty đã có chính sách quản lý khá tốt nên ít hoặc hầu như không có các khoản nợ
khó đòi. Hầu như khách hàng được Công ty cho nợ đều là những khách hàng quen, đã
làm việc lâu dài và đáng tin tưởng nên khi đến hạn thanh toán thì đều được thanh toán
đầy đủ. Ta thấy trong tổng số vốn lưu động của Công ty thì khoản phải thu chiếm
khoảng 25%. Như vậy đối với ngành thép thì đây không phải một tỷ lệ quá lớn, cho
thấy Công ty không bị khách hàng chiếm dụng vốn quá nhiều đồng thời Công ty vẫn
tạo được điều kiện cho khách hàng nhằm thúc đẩy số lượng hàng hóa được bán ra. Đây
cũng chính là một chính sách của Công ty nhằm mang lại doanh thu cao hơn.
Để hiểu rõ hơn về công tác quản lý khoản phải thu, ta đi phân tích một số chỉ
tiêu cụ thể đó là hệ số vòng quay các khoản phải thu và ngày thu tiền bình quân của
Công ty.
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu
thành tiền mặt. Hệ số này là một thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp nói chung cũng như hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng, được
tính bằng cách lấy doanh thu trong kỳ chia cho số dư bình quân các khoản phải thu
trong kỳ.
Việc chiếm dụng vốn này thoạt nhìn không mấy quan trọng, vì theo logic thông
thường, khách hàng nợ rồi khách hàng cũng sẽ phải trả cho doanh nghiệp, không trả
lúc này thì trả lúc khác, cuối cùng thì tiền vẫn thuộc về doanh nghiệp. Tuy nhiên, vấn
đề sẽ trở nên nghiêm trọng nếu khách hàng chiếm dụng ngày càng cao, trong khi đó do
yêu cầu của thị trường, doanh nghiệp cần tăng lượng hàng sản xuất. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng mua nguyên vật liệu, kéo theo yêu cầu phải có lượng tiền nhiều hơn, trong khi thời điểm đó lượng tiền của doanh nghiệp không đủ và đáng ra nếu khách hàng thanh toán những khoản nợ với doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ có đủ số tiền cần thiết để mua đủ số lượng nguyên vật liệu theo yêu cầu. Do đó, trong
trường hợp này, doanh nghiệp phải đi vay ngân hàng để bổ sung vào lượng tiền hiện có hoặc chỉ sản xuất với số lượng tương ứng với số lượng nguyên vật liệu được mua vào từ số tiền hiện có của doanh nghiệp, điều này đương nhiên sẽ ảnh hưởng không
nhỏ đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
55
Từ chỉ số vòng quay các khoản phải thu ta tính được hệ số ngày thu tiền bình
quân bằng cách lấy số ngày trong kỳ chia cho vòng quay các khoản phải thu. Ngược lại với chỉ số vòng quay các khoản phải thu, chỉ số ngày thu tiền bình quân càng nhỏ
thì tốc độ thu hồi công nợ phải thu của doanh nghiệp càng nhanh.
Trong mỗi ngành khác nhau thì chỉ số này cũng khác nhau và để đánh giá hiệu
quả quản lý của doanh nghiệp, cần so sánh hệ số ngày thu tiền bình quân với số ngày thanh toán cho các khoản công nợ phải thu mà doanh nghiệp đó quy định.
Bảng 2.18: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý các khoản phải thu
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Doanh thu thuần 533.013 761.448 928.352
Bình quân các khoản phải thu 34.491 41.974 59.307
Hệ số vòng quay 15,45 18,14 15,65 Các khoản phải thu
Ngày thu tiền bình quân 24 20 23
(Nguồn: Tính toán dựa vào báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán
năm 2010 – 2012)
Qua bảng 2.18 ta thấy hệ số vòng quay các khoản phải thu năm 2011 tăng so
với năm 2010 chứng tỏ hiệu quả của việc thu hồi các khoản nợ của Công ty ngày càng
cao nên khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao, điều này giúp
cho doanh nghiệp nâng cao luồng tiền mặt, tạo ra sự chủ động trong việc tài trợ nguồn
vốn lưu động trong sản xuất. Nhưng đến năm 2012 thì hệ số này lại giảm xuống gần
bằng năm 2010.
Năm 2010 hệ số vòng quay các khoản phải thu là 15,45 vòng. Năm 2011 hệ số
này tăng lên 18,14 vòng và giảm xuống còn 15,65 vòng ở năm 2012. Sở dĩ năm 2012
có sự tụt giảm so với năm 2011 là vì ở năm 2012 Công ty đã đưa ra chính sách thương mại nới lỏng (tăng lượng tiền khách hàng được nợ lại hoặc tăng thời gian phải trả nợ của khách hàng) nhằm làm tăng doanh thu cho Công ty. Vì năm 2012 nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, thị trường ảm đạm nên để đạt được mục tiêu về doanh số mà Công ty đã đề ra thì cần phải sử dụng một số chính sách nhằm thúc đẩy việc mua hàng và mua với số lượng lớn.
Từ chỉ tiêu ngày thu tiền bình quân của Công ty năm 2010 – 2012 ta thấy Công
ty đã quản lý các khoản phải thu tương đối tốt và hợp lý (nhỏ hơn 30 ngày). Năm 2010 ngày thu tiền bình quân là 24 ngày, có nghĩa là trung bình các khoản nợ sẽ đươc thu
hồi trong vòng 24 ngày. Các năm 2011 và 2012, ngày thi tiền bình quân không có sự
56
thay đổi nhiều so với năm 2010. Như vậy Công ty không bị khách hàng chiếm dụng
vốn quá nhiều, nhờ vậy mà tốc độ luân chuyển vốn lưu động sẽ nhanh hơn.
Nhìn chung trong thời gian vừa qua Công ty đã có những chính sách để quản lý
các khoản phải thu tương đối tốt. Tại mỗi thời điểm khác nhau Công ty đều có những
chính sách phù hợp riêng vì vậy mà hiệu quả quản lý các khoản phải thu nói riêng và
vốn lưu động nói chung của Công ty có hiệu quả và mang lại nhiều lợi ích cho Công ty và đạt được các mục tiêu doanh số đã đề ra.
2.4.3.4 Đánh giá hiệu quả quản lý hàng tồn kho
Hàng tồn kho chiếm một phần lớn trong tỷ lệ tài sản kinh doanh của Công ty, bởi
vì doanh thu từ hàng tồn kho là một trong những nguồn cơ bản tạo ra doanh thu và những
khoản thu nhập thêm sau này cho Công ty. Đó là những tài sản đã sẵn sàng để đem ra bán
hoặc sẽ được đem ra bán. Thông thường, tỷ trọng hàng tồn kho lớn luôn là mối quan ngại
ít nhiều với nhà đầu tư, do tính chất tồn lâu, chôn vốn, chi phí phát sinh thêm của nó hay
nói cách khác, nếu để tồn hàng tồn kho quá lâu thì sẽ làm ảnh hưởng không tốt tới quá
trình kinh doanh do Công ty sẽ phải tốn chi phí dự trữ, chi phí thanh lý hay cải tiến hàng
bị lỗi thời và thanh lý hàng hư hỏng. Tuy nhiên, việc không dự trữ đủ hàng tồn kho cũng
là một rủi ro vì Công ty có thể đánh mất những khoản doanh thu bán hàng tiềm năng hoặc
thị phần nếu giá tăng cao trong khi Công ty không còn hàng để bán.
Công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, thương mại thường duy trì hàng tồn kho ở một mức độ nhất định trong chiến lược dự trữ hàng hoá của mình, nhằm đảm
bảo nguyên vật liệu cho sản xuất, đảm bảo nguồn hàng trong lưu thông. Ví dụ đơn
giản như Công ty ký được một hợp đồng cung ứng hàng hóa lớn thì đương nhiên phải
dự trữ hàng trong kho để thực hiện hợp đồng, đảm bảo an toàn trong việc cung ứng sản
phẩm. Ngoài ra, cũng không ngoại trừ trường hợp Công ty đón đầu tình trạng khan
hiếm hay tăng giá của sản phẩm, hàng hoá mà mình đang nắm quyền chi phối để "găm
hàng" và sẽ tung ra sản phẩm ở thời điểm cần thiết. Khi đó, hàng tồn kho trở thành
khoản lợi nhuận đang chờ ngày thanh toán của Công ty.
Để đánh giá tốc độ luân chuyển hàng tồn kho, người ta thường sử dụng hệ số
vòng quay hàng tồn kho. Hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy Công ty bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều. Có nghĩa là Công ty sẽ ít rủi ro hơn nếu khoản mục hàng tồn kho trong báo cáo tài chính có giá trị giảm qua các năm. Tuy nhiên, hệ số này quá cao cũng không tốt, vì như vậy có nghĩa là lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng
Công ty bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần. Hơn nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ. Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm
bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng.
57
Bảng 2.19: Phân tích hệ số vòng quay hàng tồn kho
Đơn vị tính: triệu đồng
Chênh lệch Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 2011/2010 2012/2011
Giá vốn hàng bán 516.399 743.020 917.676 226.621 174.655
Hàng tồn kho bình quân 122.806 117.923 102.833 (4.884) (15.090)
4.20 6.30 8.92 2,1 2,62 Hệ số vòng quay hàng tồn kho
Số ngày chu chuyển 87 58 41 (29) (17)
Qua bảng 2.19 ta thấy hệ số vòng quay hàng tồn kho tăng dần qua các năm. Năm 2010 hệ số này là 4,2 vòng có nghĩa là năm 2010 hàng tồn kho quay được 4,2
vòng. Năm 2011 hệ số vòng quay hàng tồn kho là 6,3 vòng tăng 2,1 vòng so với năm
2010 và năm 2012 tăng 2,62 vòng so với năm 2011. Đối với ngành thép, hệ số này của
Công ty là tương đối hợp lý (theo trang web cophieu68.vn ta có hệ số vòng quay hàng
tồn kho năm 2010 là 4,25 và năm 2011 là 5,03). Không cao quá mà cũng không thấp
quá. Như vậy chứng tỏ Công ty bán hàng nhanh và hàng tồn kho của Công ty không bị
ứ đọng nhiều đồng thời Công ty luôn có đủ lượng hàng để đáp ứng được nhu cầu của
thị trường khi cần thiết.
Số ngày chu chuyển của hàng tồn kho giai đoạn 2010 – 2012 có xu hướng
giảm thể hiện rằng số ngày để hàng tồn kho quay được một vòng càng ngày càng ít đi.
Năm 2010 số ngày để hàng tồn kho quay được một vòng là 87 ngày. Năm 2011 để
hàng tồn kho quay được một vòng thì cần 58 ngày, ít hơn so với năm 2010 là 29 ngày.
Năm 2012 thì giảm xuống chỉ còn có 41 ngày. Chỉ số này càng thấp có nghĩa là một
năm vốn sẽ quay được với số lần càng cao.
2.4.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay của Công ty trong những năm 2010 -
2012 ta tính toán và phân tích chỉ số sau:
Bảng 2.20: Hiệu quả sử dụng vốn vay
Chênh lệch Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 2011/2010 2012/2011
0,03 0,04 0,03 0,01 (0,01) Hiệu quả sử dụng vốn vay
(Nguồn: Tính toán dựa vào báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán
năm 2010 – 2012)
Qua số liệu tính toán ở trên ta có thể rút ra một số nhận xét như sau: Hiệu quả sử
dụng vốn vay của năm 2010 là 0,03. Điều này cho thấy trong năm 2010 bình quân một
58
đồng vốn vay tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh thì Công ty thu được 0,03 đồng
lợi nhuận kế toán trước thuế. Năm 2011 hiệu quả sử dụng vốn vay của Công ty đã tăng 0,01 là do vốn vay sử dụng bình quân trong năm 2011 giảm 21.339 triệu đồng so với năm
2010 tương đương với tỷ lệ giảm là 15,25%, đồng thời lợi nhuận kế toán trước thuế của
Công ty năm 2011 tăng 956 triệu đồng so với năm 2010 tương đương với tỷ lệ tăng là
23,94%. Năm 2011 Công ty có quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ hơn so với năm 2010 nhưng lợi nhuận đem lại thì gia tăng do năm 2011 Công ty đã tăng được doanh thu thuần
từ bán hàng và cung cấp dịch vụ. Bên cạnh đó doanh nghiệp đã sử dụng tiết kiệm chi phí
quản lý doanh nghiệp ( Mặc dù doanh thu thuần tăng lên nhưng chi phí quản lý doanh
nghiệp vẫn giữ nguyên không bị tăng theo). Năm 2012 Công ty có hiệu quả sử dụng vốn
vay bằng với năm 2010 đó là 0,03. Sở dĩ có sự sụt giảm này là do năm 2012 Công ty mở
rộng quy mô sản xuất kinh doanh nên vốn vay sử dụng bình quân năm 2012 tăng so với
năm 2011 (từ 118.557 triệu đồng lên 163.150 triệu đồng tương đương với tỷ lệ tăng
37,61%) đồng thời lợi nhuận kế toán trước thuế thu được của năm 2012 giảm so với năm
2011 (giảm từ 4.950 triệu đồng xuống 4.306 triệu đồng tương đương với tỷ lệ giảm là
13% ) do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu. Từ những biến động về chỉ
số trên ta thấy hiệu quả sử dụng vốn vay của Công ty trong những năm gần đây không ổn
định. Năm 2011 Công ty có hiệu quả sử dụng vốn vay cao nhất trong 3 năm nên mạng lại
lợi ích cao nhất cho Công ty. Năm 2012 thì hiệu quả sử dụng vốn vay lại kém hơn, một phần là do tác động bên ngoài từ nền kinh tế chung. Tuy nhiên Công ty cũng cần phải có
những biện pháp để giảm thiểu ảnh hưởng và rủi ro từ nền kinh tế đề Công ty phát triển
một cách ổn định hơn.
2.4.5 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của Công ty trong những năm
2010 – 2012 ta tính toán và phân tích chỉ số sau:
Bảng 2.21: Hiệu quả vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Chênh lệch tuyệt đối 2011/2010 2012/2011
0,04 0,05 0,04 0,01 (0,01) Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu
(Nguồn: Tính toán dựa vào báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán
năm 2010 – 2012)
Qua số liệu tính toán ở trên ta thấy hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của Công ty năm 2010 là 0,04. Điều này cho thấy trong năm 2010 bình quân một đồng vốn chủ sở hữu tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp thu được 0,04 đồng lợi nhuận sau thuế. Đến năm 2011 thì hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu đã tăng 0,01 so với năm 2010. Mặc dù năm 2011 lượng vốn chủ sở hữu mà Công ty đã đầu tư
tăng so với năm 2010 (tăng từ 90.140 triệu đồng lên 94.643 triệu đồng tương đương
59
với tỷ lệ tăng là 5%) nhưng lợi nhuận sau thuế của năm 2011 lại tăng so với năm 2010
(tăng từ 3.694 triệu đồng lên 4.578 triệu đồng tương đương với tỷ lệ tăng là 23,94%) và tăng với tốc độ tăng cao hơn so với tốc độ tăng của vốn chủ sở hữu. Lợi nhuận sau
thuế trong năm 2011 tăng lên là do trong năm Công ty đã tăng được doanh thu thuần
từ bán hàng đồng thời tiết kiệm được chi phí quản lý doanh nghiệp. Năm 2012 hiệu
quả sử dung vốn chủ sở hữu của Công ty lại giảm xuống bằng với năm 2010 do vốn chủ sở hữu tăng (tăng từ 94.643 triệu đồng lên 98.626 triệu đồng, tương đương với tỷ
lệ tăng là 4,21%) mà lợi nhuận thu được lại thấp hơn so với năm 2011 (giảm từ 4.578
triệu đồng xuống còn 3.983 triệu đồng, tương đương với tỷ lệ giảm 13%). Mặc dù
doanh thu thuần của năm 2012 tăng so với năm 2011 nhưng bên cạnh đó giá vốn hàng
bán cũng tăng theo và còn tăng cao hơn so với tốc độ tăng của doanh thu thuần. Năm
2012 Công ty còn tham gia đầu tư vào lĩnh vực tài chính dài hạn nhưng lợi nhuận đem
lại vẫn không bù đắp được phần lợi nhuận thụt giảm do giá bán trên thị trường giảm
nên Công ty phải giảm theo. Vì thế nên năm 2012 hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu
của Công ty bị đánh giá là có sự tụt giảm và cần được cải thiện. Theo số liệu của
website cophieu68.vn ta có ROE của ngành thép năm 2010 là 0,19 và năm 2011 là
0,11. Như vậy so với hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu trung bình của ngành thép thì
hiệu quả của Công ty vẫn còn thấp hơn rất nhiều. Để có thể đứng vững được trên thị
trường và có khả năng cạnh tranh cao với các doanh nghiệp cùng ngành khác thì đòi hỏi Công ty phải nỗ lực nhiều hơn nữa.
2.4.6 Đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là nội dung quan trọng để đánh giá chất
lượng tài chính và hiệu quả hoạt động. Đây cũng là những thông tin hữu ích mà các tổ
chức tín dụng, nhà đầu tư, cơ quan kiểm toán thường hay quan tâm để đạt được các
mục tiêu của mình trên thương trường kinh doanh. Như vậy, phân tích khả năng thanh
toán đóng vai trò quan trọng không chỉ đối với nội bộ doanh nghiệp mà còn cực kỳ
quan trọng trong việc ra quyết định đầu tư.
Bảng 2.22: Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp năm 2010 - 2012
Chênh lệch
CHỈ TIÊU
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
2011/2010 Giá trị %
2012/2011 Giá trị %
1.64 1.80 1.60 0.15 9.36 (0.19) (10.78)
Khả năng thanh toán tổng quát Khả năng thanh toán hiện thời Khả năng thanh toán nhanh Khả năng thanh toán tức thời
1,38 1,48 1,36 0.1 7,47 (0.12) (7,8)
0.38 0.04 0.64 0.25 0.71 0.25 0.26 0.21 69.71 566.47 0.07 0 11.00 0
(Nguồn: Tính toán dựa vào bảng cân đối kế toán năm 2010 – 2012)
60
Biểu đồ 2.4: Khả năng thanh toán của Công ty
Xét hệ số thanh toán tổng quát ta thấy cả 3 năm 2010, 2011 và 2012 chỉ tiêu
này đều lớn hơn 1 và tương đối ổn định. Điều này chứng tỏ tất cả các khoản huy động
bên ngoài đều có tài sản đảm bảo. Năm 2010 hệ số thanh toán của Công ty là 1,64 có
nghĩa là doanh nghiệp cứ đi vay 1 đồng thì có 1,64 đồng đảm bảo. Năm 2011 khả năng
đảm bảo cho các khoản đi vay cao hơn do hệ số thanh toán tổng quát đã tăng 0,15 so
với năm 2011. Như vậy doanh nghiệp có đủ và thừa tài sản để thanh toán nợ phải trả,
đó là nhân tố hấp dẫn các tổ chức tín dụng cho vay dài hạn. Nhưng đến năm 2012, hệ
số thanh toán tổng quát của Công ty lại giảm xuống còn 1,6. Tuy có sự giảm sút nhưng
con số này vẫn lớn hơn 1 và như vậy Công ty vẫn có tài sản đảm bảo thanh toán cho
tất cả các khoản nợ. Trong năm 2012 quy mô tài sản của Công ty tăng nhưng do nền
kinh tế gặp nhiều khó khăn nên Công ty có nhiều các khoản nợ phải trả hơn, chính
điều đó đã làm cho hệ số thanh toán giảm nhưng sự sụt giảm đó không đáng lo ngại.
Xét khả năng thanh toán hiện thời ta thấy chỉ tiêu này luôn lớn hơn 1 và thay
đổi theo từng năm. Năm 2010 hệ số khả năng thanh toán hiện thời của Công ty là 1,38.
Điều này có nghĩa là mỗi 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng 1,38 đồng tài sản ngắn hạn và Công ty hoàn toàn có khả năng thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn trong kỳ khi đến hạn. Năm 2011 hệ số này tăng 0,1 so với năm 2010 do nợ ngắn hạn và tài sản ngắn hạn giảm nhưng tốc độ giảm của nợ ngắn hạn cao hơn so với tốc độ giảm của tài sản ngắn hạn (Năm 2011 nợ ngắn hạn giảm 13,29%, tài sản ngắn hạn giảm 6,82% so với năm 2010). Năm 2012 hệ số thanh toán hiện thời lại giảm xuống còn 1,36 tức là giảm 0,12 so với năm 2011 do nợ ngắn hạn tăng 37,61%, tài sản ngắn hạn tăng nhưng tăng với tốc độ chậm hơn 26,28%. Tuy nhiên so với khả năng thanh toán hiện thời trung bình của ngành thép (theo số liệu từ website cophieu68.vn thì hệ
61
số khả năng thanh toán hiện thời trung bình của ngành thép năm 2010 là 1,23 và năm
2011 là 1,11) thì khả năng thanh toán hiện hành những năm gần đây của Công ty vẫn luôn đạt mức cao hơn và mức chênh lệch này cũng không quá lớn cho thấy chính sách
quản lý nợ ngắn hạn và tài sản ngắn hạn của Công ty tương đối tốt. Như vậy Công ty
vẫn được các đối tác và các tổ chức tín dụng tin tưởng và đánh giá cao.
Trong nền kinh tế đầy biến động ngày nay chứa đựng rất nhiều những nguy cơ lớn tiềm ẩn mà đôi khi chúng ta không lường trước được. Khi đó khả năng đối phó với
sự thu hồi nợ đột ngột hay đồng loạt của các chủ nợ đóng vai trò quyết định sự tồn tại
của Công ty. Để đánh giá khả năng này người ta sử dụng chỉ tiêu khả năng thanh toán
nhanh và khả năng thanh toán tức thời.
Xét khả năng thanh toán nhanh của Công ty Minh Ngọc Steel ta thấy hệ số này
trong những năm gần đây có xu hướng tăng. Năm 2010 khả năng thanh toán nhanh là
0,38 tức là không cần bán hàng tồn kho hay vay mượn gì thêm, với một đồng nợ ngắn
hạn Công ty có thể đảm bảo thanh toán bằng 0,38 đồng tài sản ngắn hạn. Năm 2011,
khả năng thanh toán nhanh của Công ty đã tăng 69,71% (tăng từ 0,38 lên 0,64). Năm
2012 con số này tiếp tục tăng 11% so với năm 2011 (tăng từ 0,64 lên 0,71). Nguyên
nhân của sự gia tăng này là do tốc độ tăng của các khoản tiền, đầu tư ngắn hạn, phải
thu khách hàng tăng mạnh hơn so với tốc độ tăng của nợ ngắn hạn. Tuy nhiên hệ số
này tương đối thấp và nhỏ hơn 1 cho nên không đảm bảo được cho tất cả các khoản nợ ngắn hạn.Vì vậy mà trong hoạt động sản xuấ kinh doanh Công ty phải xem xét kỹ càng
trước khi đưa ra quyết định để tránh rủi ro, biết nhìn xa trông rộng để nắm bắt được
tình hình kinh tế trong tương lai. Đồng thời Công ty phải đề ra trước những biện pháp
giải quyết khi tình huống xấu xảy ra nhằm giảm bớt những tổn thất và những hậu quả
nghiêm trọng. Theo số liệu có được từ website cophieu68.vn thì hệ số khả năng thanh
toán nhanh trung bình của ngành thép năm 2010 là 0,57 và năm 2011 là 0,54. Như vậy
hệ số này của Công ty so với trung bình ngành là thấp chứng tỏ Công ty đã giữ một
lượng lớn hàng lưu kho (mục được xem là kém thanh khoản nhất trong các tài sản
ngắn hạn) dẫn đến khi cần hoàn thành nghĩa vụ với bên cho vay Công ty khó có thể
đảm bảo thanh toán đúng thời hạn. Ngoài ra, dự trữ một lượng lớn hàng lưu kho như vậy làm các khoản chi phí liên quan gia tăng (chi phí quản lý kho, bảo quản hàng hóa). Công ty cần phải cân nhắc lại xem điều này có ảnh hưởng xấu và lợi ích gì đối với Công ty để từ đó đưa ra con số về khả năng thanh toán nhanh phù hợp nhất, có lợi nhất đối với Công ty mình.
Xét khả năng thanh toán tức thời, chỉ tiêu này đo lường mức độ đáp ứng nhanh tức thời của tài sản ngắn hạn trước các khoản nợ ngắn hạn. Khoản có thể dùng trả ngay các khoản nợ đến hạn là tiền và các khoản tương đương tiền. Năm 2010 hệ số khả
năng thanh toán tức thời của Công ty là 0,04 có nghĩa là với một đồng nợ ngắn hạn của
62
Công ty thì sẽ được đảm bảo thanh toán ngay bởi 0,04 đồng bằng tiền hoặc các khoản
tương đương tiền. Năm 2011 và 2012 hệ số này đều tăng lên đến 0,25. Nợ ngắn hạn năm 2011 giảm 13,29% nhưng tiền và các khoản tương đương tiền lại tăng mạnh và
tăng 477,88% so với năm 2010. Năm 2012, mặc dù nợ ngắn hạn tăng 37,61% nhưng
bù vào đó tiền và các khoản tương đương tiền tăng 39,21% nên hệ số này vẫn không bị
thay đổi so với năm 2011. Tuy nhiên khả năng thanh toán tức thời của Công ty còn thấp hơn so với mặt bằng chung của ngành. Mặt lợi ở đây đó là Công ty có thể chiếm
dụng vốn để đầu tư sản xuất kinh doanh. Việc làm này hoàn toàn có lợi cho Công ty
nhưng nếu xét một cách toàn diện thì nó lại ảnh hưởng đến uy tín của Công ty cũng
như sự đánh giá của các nhà đầu tư, đối tác và tổ chức tín dụng về Công ty. Nên hệ số
này thấp sẽ không có lợi cho Công ty về lâu dài.
2.4.7 Đánh giá sự độc lập tài chính
Bảng 2.23: Sự độc lập tài chính
Chênh lệch (%) Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 2011/2010 2012/2011
Tỷ lệ VCSH trên 0,39 0,44 0,38 0,05 (0,07) tổng nguồn vốn
(Nguồn: Tính toán dựa vào bảng cân đối kế toán năm 2010 – 2012)
Qua tỷ lệ VCSH trên tổng nguồn vốn đã được tính toán ở trên ta biết được vốn
chủ sở hữu của Công ty chiếm bao nhiêu phần trên tổng nguồn vốn. Chỉ số này thể
hiện sức mạnh tài chính của Công ty. Năm 2010 tỷ lệ VCSH trên tổng nguồn vốn là
0,39 có nghĩa là cứ 1 đồng vốn Công ty bỏ ra để đầu tư vào sản xuất kinh doanh thì có
0,39 đồng là vốn Công ty tự bỏ ra còn 0,61 đồng còn lại là vốn đi vay. Năm 2011 tỉ lệ này là 0,44 tăng 0,05 so với năm 2010. Điều này cho thấy khả năng tự chủ tài chính
của Công ty tăng lên. Nhưng đến năm 2012 cũng có thể là do nền kinh tế khó khăn
hơn, Công ty phải đi vay nợ nhiều hơn nên chỉ số này giảm chỉ còn 0,38 tức giảm 0,07
so với năm 2011. Chỉ tiêu này có xu hướng giảm nhưng về cơ bản vẫn cao hơn so với
trung bình của ngành (theo số liệu từ website cophieu68.vn thì tỷ lệ này năm 2010 là
0,31 và năm 2011 là 0,33). Khả năng tự chủ về tài chính cao sẽ rất cho lợi khi các nhà đầu tư, đối tác đánh giá về tiềm lực tài chính của Công ty nhưng đổi lại chỉ số này thấp có nghĩa là nguồn vốn được tài trợ chủ yếu bằng vốn đi vay, như vậy Công ty sẽ được hưởng lợi ích từ tấm chắn thuế. Khi đó chi phí lãi vay được khấu trừ trước thuế nên sẽ làm giảm thuế thu nhập mà doanh nghiệp phải nộp. Tuy nhiên Công ty cũng cần phải cân nhắc điểm mạnh, điểm yếu để có những quyết định tốt nhất về tỷ lệ này nhằm đảm bảo được sự phát triển bền vững của Công ty.
63
2.5 Đánh giá chung về hiệu quả trong công tác quản lý và sử dụng vốn của Công
ty TNHH sx&tm Minh Ngọc trong thời gian vừa qua
2.5.1 Ưu điểm và những thành tích trong quản lý và sử dụng vốn của Công ty Minh Ngọc trong thời gian vừa qua
Trong những năm vừa qua Công ty TNHH sx&tm Minh Ngọc đã đạt được
nhiều thành tích đáng kể trong công tác quản lý và sử dụng vốn. Nhờ vậy mà hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty ngày càng phát triển bền vững hơn, giúp Công
ty có được chỗ đứng vững chắc trên thị trường Việt Nam.
Qua những phân tích về thực trạng quản lý nguồn vốn của Công ty Minh Ngọc
Steel ta thấy rằng giá trị tổng nguồn vốn của Công ty tăng có nghĩa là quy mô vốn
tăng, hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty ngày càng được mở rộng. Bên cạnh
đó Công ty có một cơ cấu tài sản, nguồn vốn tương đối hợp lý. Công ty đã có những
chính sách để sử dụng tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn một cách hợp lý và hiệu quả.
Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty được thể hiện rõ nhất qua một số chỉ tiêu cụ
thể.Công ty có vòng khả năng quay vốn nhanh. Điều này được chứng minh qua hệ số
vòng quay toàn bộ vốn của Công ty trong những năm vừa qua cao hơn hẳn so với
trung bình ngành thép, hơn nữa hệ số này còn liên tục tăng trong các năm gần đây. Hệ
số vòng quay toàn bộ vốn cao chứng tỏ doanh thu thuần mà doanh nghiệp thu được từ
hoạt động bán hàng trên một đồng vốn cao, Công ty có thị phần tương đối lớn và sản phẩm có sức cạnh tranh cao trên thị trường. Ngoài ra hiệu quả sử dụng vốn cố định của
Công ty cũng tương đối tốt được thể hiện thông qua chỉ số hiệu suất sử dụng vốn cố
đinh. Chỉ số này cao và có xu hướng gia tăng. Vòng quay vốn lưu động cao hơn hẳn so
với trung bình của ngành thép và hệ số này có xu hướng gia tăng, và có thể dự đoán
trong tương lai hệ số này sẽ tiếp tục tăng làm tăng hiệu quả sử dụng vốn lưu động.Tuy
các chỉ số về lợi nhuận của Công ty chưa cao nhưng các chỉ số này luôn lớn hơn 0 và
vẫn được Công ty chú trọng để đảm bảo nó được giữ ở mức ổn định mà không bị thụt
giảm quá nhiều. Điều đó cho thấy trong những năm vừa qua Công ty làm ăn có lãi và
liên tục phát triển. Chỉ riêng năm 2012 do nền kinh tế chung đều gặp khó khăn nên các
chỉ số lợi nhuận có sự suy giảm nhưng Công ty vẫn kiểm soát được tình hình tài chính và hoạt động của Công ty vẫn được ổn định thì đó cũng là một thành tích đáng kể. Tuy nhiên Công ty cũng cần phải cố gắng nhiều hơn nữa để có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp cùng ngành khác ở Việt Nam và xa hơn nữa trong tương lai, Công ty có thể mở rộng quy mô, đưa sản phẩm của mình vào thị trường nước ngoài.
Ngoài các chỉ tiêu về doanh thu, lợi nhuận ở trên thì những chỉ tiêu khả năng thanh toán cũng như sự độc lập về tài chính của Công ty cũng rất quan trọng. Nó thể hiện uy tín của Công ty đối với các đối tác cũng như giúp các nhà đầu tư, các tổ chức
tín dụng có những đánh giá về năng lực tài chính của Công ty. Công ty có khả năng
64
thanh toán hiện thời được đánh giá là hợp lý vì hệ số này của Công ty cao hơn so với
trung bình ngành thép nên có được uy tín cũng như niềm tin của các đối tác và các tổ chức tài chính khi có quyết định cho vay. Công ty có khả năng độc lập tài chính tốt
được thể hiện thông qua hệ số độc lập tài chính của Công ty. Hệ số này của Công ty
cao hơn so với trung bình ngành một chút nên được đánh giá là hợp lý vì như vậy
Công ty vừa tự chủ được về tài chính lại vừa sử dụng lãi vay một cách có hiệu quả hơn bằng cách sử dụng lá chắn thuế giúp Công ty giảm được chi phí vốn hàng bán.
Bên cạnh các chỉ tiêu về quản lý nguồn vốn thì Công ty còn có chính sách quản
lý các khoản phải thu tốt. Công ty hầu như không có nợ xấu. Các chính sách của Công
ty đã giúp cho Công ty không bị chiếm dụng vốn nhiều đồng thời còn thúc đẩy làm
tăng doanh số bán hàng.
2.5.2 Những mặt hạn chế cần khắc phục trong công tác quản lý và sử dụng vốn của Công ty Minh Ngọc trong thời gian vừa qua
Bên cạnh những thành tích đạt được, Công ty TNHH sx&tm Minh Ngọc vẫn
còn có những mặt hạn chế trong công tác quản lý và sử dụng vốn cần phải khắc phục.
Hạn chế mà Công ty hay gặp phải nhất đó là vấn đề về lợi nhuận. Mặc dù Công
ty luôn hoạt động có lãi, doanh thu luôn ở mức cao và có xu hướng tăng nhưng so với
trung bình ngành thép thì lợi nhuận của Công ty chưa cao, các chỉ số lợi nhuận thấp.
Lợi nhuận thuần trên tổng vốn những năm gần đây thấp do ảnh hưởng một phần từ nền kinh tế chung và một phần do Công ty cân đối chưa tốt giữa giá vốn hàng bán
với giá bán, chi phí giá vốn hàng bán cao làm cho chênh lệch giữa giá vốn với giá bán
không cao, lợi nhuận thu được thấp. Các chỉ số lợi nhuận thuần trên vốn cố định và lợi
nhuận thuần trên vốn lưu động những năm gần đây không ổn định và còn thấp đặc biệt
là năm 2012 do nền kinh tế suy thoái.
Hiệu suất sử dụng vốn vay ở mức trung bình chưa có gì nổi trội, năm 2012 chỉ
số này còn ở mức thấp. Hiệu suất sử dụng vốn chủ sở hữu thấp hơn nhiều so với trung
bình ngành. Tuy nhiên năm 2011, chỉ số này cũng có sự gia tăng nhưng đến năm 2012
chỉ số này lại giảm. Điều này có thể được lý giải bằng việc nền kinh tế năm 2012 lâm
vào khủng hoảng nhưng một phần cũng là do việc quản lý vốn còn có những thiếu sót. Ngoài những hạn chế về các chỉ số lợi nhuận thì chỉ số về khả năng thanh toán nhanh và khả năng thanh toán tức thời của Công ty cũng bị thấp hơn so với trung bình ngành do trong tài sản ngắn hạn thì mục hàng tồn kho chiếm một tỷ trọng tương đối lớn, đây là mục khó thanh khoản nhất trong tài sản ngắn hạn. Tuy nhiên các chỉ số này
đang có xu hướng tăng.
Bên cạnh các hạn chế được thể hiện thông qua các chỉ số cụ thể Công ty còn có những yếu kém trongn chính sách, chiến lược của mình đó là Công ty vẫn chưa xác
định nhu cầu vốn lưu động hàng năm.
65
Công ty đã chọn chiến lược quản lý vốn thận trọng và lượng vốn dài hạn tài trợ
cho tài sản ngắn hạn cũng tương đối nên lợi nhuận có được sẽ bị giảm. Nếu Công ty có khả năng huy động vốn tốt khi cần thiết thì có thể dùng chiến lược dung hòa hoặc mạo
hiểm để tạo ra được mức lợi nhuận cao hơn.
66
CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CÂO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY TNHH SX&TM MINH NGỌC 3.1 Mục tiêu, phƣơng hƣớng phát triển và định hƣớng quản lý vốn của Công ty 3.1.1 Mục tiêu phát triển của Công ty Mục tiêu phát triển của Công ty: - Thứ nhất: Công ty sẽ tăng thị phần của mình trên thị trường Việt Nam. Phát
triển không ngừng đồng thời giữ vững vị thế hiện nay cũng như ưu thế cạnh tranh
trong ngành. Tham gia việc cung cấp sản phẩm cho toàn bộ các công trình trọng điểm
của đất nước và là nhà cung cấp cho đa số các đại lý bán hàng lớn trên toàn quốc.
- Thứ hai: Mở rộng thị trường không chỉ ở Việt Nam mà còn cả ngoài nước.
Xuất khẩu sản phẩm của Công ty sang nước ngoài, từng bước chiếm lĩnh thị trường.
- Thứ ba: Làm chủ công nghệ. Ứng dụng các công nghệ hiện đại trên thế giới để
có năng suất lao động cao và chất lượng sản phẩm tốt, đẹp để làm tăng khả năng cạnh
tranh cho sản phẩm của Công ty.
- Thứ tư: Tạo một đội ngũ quản lý tốt và đội ngũ lao động có tay nghề cao. Đội
ngũ quản lý tốt để có thể quản lý vốn một cách hợp lý và có hiệu quả thông qua các
chính sách nhằm mang lại lợi ích cao nhất cho Công ty.
- Thứ năm: Nâng cao tiềm lực tài chính, hiệu quả sử dụng vốn.
- Thứ sáu: Củng cố mối quan hệ với khách hàng và nhà cung cấp. Lựa chọn một
cách kỹ lưỡng các đối tác nước ngoài cung cấp nguyên vật liệu nhằm giảm thiểu chi
phí giá vốn hàng bán, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
3.1.2 Phương hướng phát triển của Công ty trong thời gian tới
Để thực hiện các mục đích đã đề ra trong thời gian tới, Công ty TNHH sx&tm
Minh Ngọc cần có những phương hướng cụ thể, những chiến lược hoạt động lâu dài
đảm bảo cho Công ty ngày càng phát triển bền vững:
Thị trường là yếu tố quan trọng quyết định đến hoạt động kinh doanh của Công ty có hiệu quả hay không. Hiện nay thị trường trong nước có sự cạnh tranh gay gắt giữa các thành phần kinh tế nói chung và các Công ty ống thép nói riêng. Vậy nên để mở rộng thị trường Công ty đề ra phương hướng đó là tiếp tục tìm kiếm những công trình lớn, trọng điểm và các đại lý bán hàng trên khắp cả nước đặc biệt tại các thị trường tiềm năng chưa được khai thác như một số tỉnh miền nam như Bến Tre, Đồng
Nai, Kiên giang đế sản phẩm của Công ty được biết đến nhiều hơn và được tiêu thụ nhiều hơn làm tăng thị phần. Bên cạnh đó, Công ty mạnh dạn tìm kiếm thị trường
nước ngoài như một số nước Đông Nam Á.
67
Để sản phẩm của Công ty có sức cạnh tranh lớn, mở rộng thị trường trong và ngoài
nước, Công ty phải cải tiến công nghệ để nâng cao chất lượng và tính thẩm mỹ của sản phẩm đồng thời tăng năng suất lao động. Nhưng ở thời điểm hiện tại nền kinh tế còn vô
cùng khó khăn và chưa thích hợp cho việc đầu tư quá lớn vào công nghệ sản xuất. Chính
vì vậy Công ty phải lựa chọn đúng thời điểm, chớp đúng thời cơ để hoạt động sản xuất
kinh doanh được thuận lợi và không bị thua lỗ để ảnh hưởng xấu tới Công ty.
Quan tâm đến nguyện vọng, đời sống và an toàn lao động cho công nhân. Công
ty tiếp tục tiến hành sửa chữa nhà xưởng, trang bị máy móc thiết bị hiện đại để hiện
đại hóa trong sản xuất và đảm bảo an toàn lao động. Nâng cấp, cải tạo hệ thống kho
bãi và mở rộng phân xưởng. Bên cạnh đó Công ty tiếp tục tuyển chọn những công
nhân, cán bộ kỹ thuật có nghiệp vụ chuyên môn và có kinh nghiệm. Đồng thời, Công
ty mở các lớp phổ biến kỹ thuật, hướng dẫn cách sử dụng, vận hành và bảo quản máy
móc thiết bị mới để đạt hiệu quả sử dụng cao nhất. Phổ biến cho công nhân về kiến
thức vệ sinh, an toàn trong công nghiệp sản xuất. Ngoài ra để động viên tinh thần làm
việc của người lao động, Công ty tiếp tục áp dụng hình thức khen thưởng theo sản
lượng hoàn thành công việc.
Công ty nâng cao tiềm lực tài chính để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh
doanh bằng cách tăng khả năng huy động tài chính. Tự chủ tài chính tốt để được đối
tác và các tổ chức tài chính tin tưởng và sẵn sàng cho vay khi Công ty cần vốn.
Tìm hiểu về khách hàng và đối tác để có nhứng nhận định đúng đắn. Từ đó có
những chính sách bán hàng riêng cho từng khách hàng để củng cố các mối quan hệ cũ
và tạo dựng các mối quan hệ mới. Đồng thời Công ty tăng cường các chương trình
marketing nhằm tăng lượng khách hàng mua sản phẩm của Công ty. Về phía nhà cung
cấp Công ty phải có một đại diện chuyên nghiên cứu và làm việc với các nhà cung cấp
để mua được nguyên vật liệu với mức giá thấp và chất lượng nhằm giảm chi phí vốn
hàng bán cho Công ty.
3.1.3 Định hướng về quản lý vốn
Thời gian vừa qua ban lãnh đạo đã thực hiện chiến lược quản lý vốn thận trọng.
Chiến lược này có tính an toàn rất cao nhưng lợi nhuận mang lại cho Công ty lại thấp. Để Công ty có mức lợi nhuận cao hơn mà vẫn đảm bảo tính an toàn thận trọng theo phong cách quản lý của ban lãnh đạo, Công ty nên theo chiến lược quản lý vốn dung hòa. Còn nếu Công ty tiếp tục sử dụng chiến lược quản lý vốn thận trọng thì chỉ thận trọng ở mức độ thấp. Tức là tỷ trọng vốn dài hạn tài trợ cho tài sản ngắn hạn sẽ thấp đi.
Phải thu khách hàng thì Công ty tiếp tục quản lý chặt chẽ để không có nợ xấu gây thất thoát vốn. Tỷ lệ cho nợ dưới 15% trên tổng doanh thu và thời gian cho nợ dưới một tháng. Ngoài ra Công ty nên phân loại khách hàng để có những chính sách
riêng cho từng loại đối tượng khách hàng.
68
Khoản phải trả thì Công ty có thể tận dụng tối đa thời gian cho nợ của phía nhà
cung cấp để chiếm dụng vốn. Nhưng Công ty tuyệt đối không để nợ quá hạn mà chưa thanh toán làm giảm uy tín của Công ty. Nếu bên phía nhà cung cấp có những chính
sách về chiết khấu thanh toán khi thanh toán tiền ngay thì Công ty có thể xem xét để
được hưởng các chính sách đó sao cho Công ty có lợi nhiều nhất mà vẫn đảm bảo
được uy tín của mình.
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty TNHH sx&tm Minh Ngọc Trong thời gian vừa qua Công ty đã hoạt động và đạt được nhiều thành tựu
đáng kế. Nhưng bên cạnh đó Công ty còn tồn tại những yếu kém trong việc quản lý
nguồn vốn. Để khắc phục và giải quyết các hạn chế này Công ty TNHH sx&tm Minh
Ngọc cần có những biện pháp cụ thể sao cho những thế mạnh và thành tựu đạt được sẽ
tiếp tục được phát huy và quản lý tốt hơn nữa, còn những mảng quản lý còn yếu kém
sẽ không còn yếu kém nữa mà có hiệu quả hơn.
3.2.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định
Khai thác và tạo lập nguồn Vốn cố định của Công ty: Khai thác và tạo lập
nguồn vốn cố định đáp ứng nhu cầu đầu tư TSCĐ là khâu đầu tiên trong quá trình quản trị vốn cố định của Công ty. Căn cứ vào các dự án đầu tư TSCĐ đã được thẩm
định để lựa chọn và khai thác các nguồn vốn đầu tư phù hợp.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, Công ty có thể khai thác nguồn vốn đầu tư vào
TSCĐ từ nhiều nguồn khác nhau như: Lợi nhuận để lại tái đầu tư, từ nguồn vốn liên
doanh liên kết, từ ngân sách nhà nước tài trợ, từ nguồn vốn vay ngân hàng, từ thị
trường vốn…Mỗi nguồn vốn trên có ưu điểm, nhược điểm riêng và điều kiện thực hiện
khác nhau, chi phí sử dụng khác nhau. Vì thế trong khai thác, tạo lập nguồn vốn cố
định, Công ty phải chú ý đa dạng hoá các nguồn tài trợ, cân nhắc kỹ các ưu nhược
điểm từng nguồn vốn để lựa chọn cơ cấu các nguồn tài trợ vốn cố định hợp lý và có lợi
nhất cho mình.
Bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định: Vốn cố định của Công ty
có thể được sử dụng cho các hoạt động đầu tư dài hạn (mua sắm, lắp đặt, xây dựng các
TSCĐ hữu hình và vô hình) và các loại hoạt động kinh doanh thường xuyên (sản xuất các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ).
Do đặc điểm của TSCĐ và vốn cố định là tham gia vào nhiều chu kì sản xuất kinh doanh song vẫn giữ được nguyên hình thái vất chất và đặc tính sử dụng ban đầu (đối với TSCĐ hữu hình) còn giá trị còn lại chuyển dịch dần dần vào giá trị sản phẩm.
Vì thế nội dung bảo toàn vốn cố định luôn bao gồm hai mặt hiện vật và giá trị. Trong đó bảo toàn về mặt hiện vật là cơ sở, tiền đề để bảo toàn vốn cố định về mặt giá trị.
Bảo toàn vốn cố định về mặt hiện vật không phải chỉ là giữ nguyên hình thái vật
chất và đặc tính sử dụng ban đầu của TSCĐ mà quan trọng hơn đó là duy trì thường
69
xuyên năng lực sản xuất ban đầu của nó. Điều này có nghĩa là trong quá trình sử dụng
Công ty phải quản lý chặt chẽ không làm mất mát TSCĐ. Công ty phải thực hiện đúng quy chế sử dụng, bảo dưỡng sửa chữa TSCĐ nhằm duy trì và nâng cao năng lực hoạt
động của TSCĐ, không để TSCĐ bị hư hỏng trước thời hạn quy định. Mọi TSCĐ của
Công ty phải có hồ sơ theo dõi riêng. Cuối năm tài chính Công ty phải tiến hành kiểm
kê TSCĐ. Mọi trường hợp thừa, thiếu TSCĐ đều phải lập biên bản, tìm nguyên nhân và có biện pháp sử lý.
Bảo toàn vốn cố định về mặt giá trị là phải duy trì được giá trị thực (sức mua)
của vốn cố định ở thời điểm hiện tại so với thời điểm bỏ vốn đầu tư ban đầu bất kể sự
biến động giá cả, sự thay đổi của tỉ giá hối đoái hay ảnh hưởng của tiến bộ khoa học kĩ
thuật.
Trong các doanh nghiệp nguyên nhân không bảo toàn vốn cố định có thể chia
làm 2 loại: Nguyên nhân chủ quan và khách quan. Các nguyên nhân chủ quan phổ biến
là: Do các sai lầm trong quyết định đầu tư TSCĐ, do việc quản lý, sử dụng TSCĐ kém
hiệu quả…các nguyên nhân khách quan thường là: Do rủi ro bất ngờ trong kinh doanh
(thiên tai, dịch hoạ…), do tiến bộ khoa học kĩ thuật hay do biến động của giá cả thị
trường.
Một số biện pháp để bảo toàn và phát triển Vốn cố định:
Phải đánh giá đúng giá trị của TSCĐ. Tạo điều kiện để đánh giá chính xác tình hình biến động của vốn cố định, quy mô phải bảo toàn. Điều chỉnh kịp thời giá trị của
TSCĐ để tạo điều kiện tính đúng, tính đủ chi phí khấu hao , không để mất vốn cố định.
Thông thường có 3 phương pháp đánh giá chủ yếu sau:
- Đánh giá TSCĐ theo giá nguyên thuỷ (nguyên giá): Là toàn bộ các chi phí
thực tế của Công ty đã chi ra để có được TSCĐ cho đến khi đưa TSCĐ vào hoạt động
bình thường như giá mua thực tế của TSCĐ, các chi phí vận chuyển, bốc dỡ, lắp đặt,
chạy thử, lãi tiền vay đầu tư TSCĐ khi chưa bàn giao và đưa vào sử dụng , thuế và lệ
phí trước bạ nếu có…Tuỳ theo từng loại TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, nguyên giá
TSCĐ được xác định với nội dung cụ thể khác nhau. Ưu điểm của phương pháp này
là cho Công ty thấy được số tiền vốn đầu tư mua sắm TSCĐ ở thời điểm ban đầu. Tuy nhiên do sự biến động của giá cả nên có thể dẫn tới sự khác nhau về giá trị ban đầu của cùng một loại TSCĐ nếu được mua sắm ở những thời kì khác nhau.
- Đánh giá TSCĐ theo giá trị khôi phục (còn gọi là đánh giá lại): Là giá trị để mua sắm TSCĐ ở tại thời điểm đánh giá. Do ảnh hưởng của tiến bộ khoa học kĩ thuật,
giá trị đánh giá lại thường thấp hơn giá trị nguyên thuỷ. Phương pháp này thống nhất mức giá cả của TSCĐ được mua sắm ở thời điểm khác nhau về thời điểm đánh giá nhưng sử dụng phương pháp rất phức tạp. Do đó, thường sang một số năm nhất định
Công ty mới đánh giá lại một lần.
70
- Đánh giá TSCĐ theo giá trị còn lại: Là phần giá trị còn lại TSCĐ chưa chuyển vào giá trị sản phẩm. Giá trị còn lại có thể tính theo giá trị ban đầu (gọi là giá trị nguyên thuỷ còn lại) hoặc giá đánh giá lại (gọi là giá trị khôi phục còn lại). Ưu điểm
của phương pháp này là đánh giá giá trị còn lại tính theo nguyên giá cho phép Công ty
thấy được mức độ thu hồi vốn đầu tư đến thời điểm đánh giá. Từ đó giúp cho việc lựa
chọn chính sách khấu hao để thu hồi số vốn đầu tư còn lại để bảo toàn vốn sản xuất kinh doanh của mình.
Lựa chọn phương pháp khấu hao và xác định mức khấu hao phù hợp, không để mất vốn và hạn chế tối đa những ảnh hưởng bất lợi của hao mòn vô hình. Nguyên tắc chung là mức khấu hao phải phù hợp với hao mòn thực tế của TSCĐ (cả hao mòn hữu
hình và hao mòn vô hình). Nếu khấu hao thấp hơn mức hao mòn thực tế sẽ không đảm
bảo thu hồi đủ vốn khi TSCĐ hết thời hạn sử dụng. Ngược lại, nếu khấu hao cao hơn
mức hao mòn thực tế sẽ làm tăng chi phí một cách giả tạo, làm giảm lợi nhuận của
Công ty. Vì vậy Công ty phải xem xét cụ thể mối quan hệ giữa chi phí sản xuất đầu
vào và giá bán sản phẩm ở đầu ra để có chính sách khấu hao phù hợp với quan hệ cung
cầu trên thị trường. Như vậy vừa đảm bảo thu hồi đủ vốn, vừa không gây nên sự đột
biến trong giá cả.
Chú trọng đổi mới trang thiết bị, phương pháp công nghệ sản xuất. Đồng thời Công ty cần nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ hiện có của doanh nghiệp cả về thời
gian và công suất. Kịp thời thanh lý các TSCĐ không cần dùng hoặc đã hư hỏng,
không dự trữ quá mức các TSCĐ chưa cần dùng.
Thực hiện tốt chế độ bảo dưỡng, sửa chữa dự phòng TSCĐ. Không nên để xảy ra tình trạng TSCĐ hư hỏng trước thời hạn sử dụng hoặc hư hỏng bất thường gây thiệt
hại và có thể làm tạm ngừng quá trình sản xuất.Trong trường hợp TSCĐ hỏng hóc,
phải tiến hành sửa chữa lớn, Công ty cần cân nhắc tính toán kĩ hiệu quả của nó. Nếu
chi phí sửa chữa TSCĐ mà lớn hơn mua sắm thiết bị mới thì nên thay thế TSCĐ cũ.
Nâng cấp và đổi mới một cách có chọn lọc lượng tài sản cố định trong thời gian tới. Công ty mua sắm tài sản cố định đúng phương hướng , đúng mục đích có ý nghĩa quan trọng để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định nói riêng và hiệu quả sử dụng vốn nói chung. Điều đó giúp cho việc tính khấu hao của Công ty được chính xác hơn và giảm được hao mòn vô hình. Nếu Công ty không chủ động đầu tư để đổi mới máy móc, thiết bị thì chắc chắn sẽ bị thua kém trong cạnh tranh. Đây là vấn đề chiến lược lâu dài mà Công ty cần có chiến lược đầu tư đúng đắn.
Công ty phải chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh để hạn chế tổn thất vốn cố định do các nguyên nhân khách quan như : Mua bảo
hiểm tài sản, lập quỹ dự phòng tài chính, trích trước chi phí dự phòng giảm giá các
71
khoản đầu tư tài chính…Còn nếu tổn thất TSCĐ do các nguyên nhân chủ quan thì
người gây ra phải chịu trách nhiệm bồi thường cho Công ty.
Tiến hành quản lý chặt chẽ tài sản cố định. Để thực hiện tốt công tác này Công
ty phải tiến hành quản lý chặt chẽ tài sản cố định bằng cách mở sổ kế toán theo dõi
chính xác toàn bộ tài sản cố định hiện có theo đúng chế độ kế toán thống kê hiện hành.
Công ty phải phản ánh trung thực, kịp thời tình hình sử dụng, biến động của tài sản cố định trong quá trình kinh doanh. Ngoài ra, Công ty phải tiến hành kiểm kê lại tài sản
cố định theo đúng định kỳ và khi kết thúc năm tài chính. Bên cạnh đó, Công ty nên
phân cấp quản lý tài sản cố định cho các bộ phận trong nội bộ Công ty. Quy định rõ
trách nhiệm, quyền hạn đồng thời đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định trong năm.
3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động 3.2.2.1 Xác định nhu cầu vốn lưu động
Việc xác định được nhu cầu vốn lưu động dự kiến sẽ giúp Công ty tránh được
việc lãng phí cũng như thiếu hụt vốn trong kỳ kinh doanh tiếp theo. Do đó để nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh cho Công ty thì cần phải xác định rõ nhu cầu vốn lưu
động trong kỳ kinh doanh tới. Mặc dù đây chỉ là con số dự kiến dựa theo những số liệu
trong kỳ kinh doanh trước, không hoàn toàn chính xác nhưng nó sẽ giúp Công ty ước
lượng một cách tương đối làm giảm thiểu được mức chênh lệch giữa vốn bỏ ra với
thực tế phát sinh. Từ đó Công ty sẽ chủ động hơn trong việc tìm kiếm nguồn tài trợ. Ngoài ra Công ty còn tránh được việc dữ trữ quá nhiều dẫn đến phát sinh các khoản
chi phí không cần thiết hoặc thiếu hụt quá nhiều gây trì trệ cũng như khó khăn trong
quá trình sản xuất kinh doanh.
Sau đây là các bước để xác định nhu cầu vốn lưu động dự kiến trong kỳ kinh
doanh tới:
Bước 1: Công ty dự kiến doanh thu thuần của hoạt động bán hàng dựa vào kế
hoạch bán hàng và tình hình nền kinh tế trong giai đoạn đó.
Bước 2: Xác định vòng quay vốn lưu động kỳ trước theo công thức:
Vòng quay vốn Doanh thu thuần = lưu động Vốn lưu động bình quân
Bước 3: Xác định nhu cầu vốn lưu động dự kiến dựa vào công thức:
= Nhu cầu vốn lưu động dự kiến Doanh thu thuần dự kiến Vòng quay vốn lưu động
3.2.2.2 Nâng cao hiệu quả quản lý tiền và các khoản tương đương tiền
Các chính sách tài chính trong quản trị tiền mặt được xây dựng căn cứ vào kết quả của dòng ngân lưu. Nếu ngân lưu ròng dương, nhà quản trị phải tìm cơ hội đầu tư
ngắn hạn để sinh lời. Nếu ngân lưu ròng âm, nhà quản trị phải thu xếp một nguồn tiền
72
ngắn hạn để tài trợ tạm thời cho khoản thiếu hụt đó.
Huy động vốn ngắn hạn cho nhu cầu tiền mặt: Các nguồn huy động vốn rất đa dạng. Vì vậy, ban lãnh đạo Công ty cần phân tích so sánh giữa chi phí đi vay, thời hạn
vay và ưu điểm của các nguồn vay để đưa ra quyết định đúng đắn.
Đầu tư các khoản tiền nhàn rỗi: Đầu tư với danh mục như thế nào, lượng bao
nhiêu, thời gian bao lâu phải là quyết định cân bằng giữa lợi nhuận và rủi ro, đảm bảo tính thanh khoản và tương thích với dự báo ngân lưu của Công ty.
Xây dựng mô hình xác định mức tồn trữ tiền mặt tối ưu và thực hiện tốt hơn
việc đảm bảo duy trì mức tồn trữ tiền mặt theo yêu cầu. Công ty có thể xây dựng mô
hình xác định mức tồn trữ tiền mặt với phương pháp kết hợp mô hình Miller-Orr.
Đa dạng hoá các công cụ đầu tư ngắn hạn để tận dụng nguồn tiền mặt nhàn rỗi
của Công ty. Thực tế tại Công ty có số dư khoản tiền mặt nhàn rỗi thường là khá lớn.
Công ty cần căn cứ vào dự báo tiền mặt và tình hình thực tiễn để xác định tỷ lệ phân
bổ: Một phần đầu tư vào các công cụ có tính thanh khoản cao để đảm bảo tính thanh
khoản đáp ứng nhu cầu tiền mặt khi cần thiết. Một phần đầu tư vào các công cụ có tính
thanh khoản thấp hơn nhưng lợi tức cao hơn để mang lại hiệu quả cao trong đầu tư các
khoản tiền nhàn rỗi của Công ty. Thậm chí trong trường hợp cần thiết, Công ty có thể
tận dụng thêm nguồn vay ngắn hạn bên ngoài để mang lại hiệu quả cao nhất.
Dưới đây là 8 cách Công ty có thể làm để cải thiện dòng tiền của mình: - Tổ chức lịch ra hoá đơn Công ty càng thu được tiền nhanh, Công ty càng có nhiều vốn để phát triển kinh
doanh. Để có thể ra được hoá đơn sớm và thường xuyên, Công ty hãy tuân theo lịch ra
hoá đơn của một chương trình phần mềm kế toán như Intuit's Quickbooks hoặc
Peachtree Software's Peachtree Complete Plus Time & Billing. Hai chương trình này
có thể tự động phân loại các tài khoản phải thu theo tuổi nợ - ít hơn 30 ngày, trong
khoảng từ 30 đến 59 ngày, trong khoảng từ 60 đến 90 ngày... Loại hệ thống báo hiệu
tự động này giúp Công ty có hành động sớm với các khoản nợ quá hạn.
- Tận dụng tối đa các hạn mức mua chịu Công ty hãy tận dụng tối đa thời gian cho phép nợ tiền hàng của các nhà cung cấp (thường là 60 hoặc 90 ngày). Công ty hãy xem như đây là một khoản vay mà không phải trả lãi. Nó giúp cho Công ty có đủ thời gian để thu tiền bán hàng trong khi không cần phải trả nợ sớm hoặc với số tiền chiếm dụng được của các nhà cung cấp đó Công ty có thể sử dụng để đầu tư ngắn hạn hoặc bù đắp vào những phần hoạt động
đang bị thiếu hụt vốn của công ty.
- Tận dụng các khoản chiết khấu thanh toán của nhà cung cấp
Nếu các nhà cung cấp của Công ty đề nghị chiết khấu cho Công ty nếu Công ty trả tiền sớm (thường là trong vòng hai tuần kể từ ngày nhận được hoá đơn), Công ty
73
hãy tận dụng cơ hội này. Nếu các nhà cung cấp của Công ty không đề nghị kiểu
khuyến khích này, Công ty hãy yêu cầu họ, rất có thể họ sẽ vui lòng chiết khấu cho Công ty để đổi lấy việc họ sẽ nhận được tiền sớm hơn.
- Cân đối lượng khách hàng
Công ty hãy tìm cách để biến một số khách hàng thành khách hàng thường xuyên của Công ty. Hàng tháng, họ phải trả cho Công ty một khoản tiền nhất định cho một số dịch vụ. Công ty có thể khuyến khích để họ trở thành khách hàng thường
xuyên của Công ty bằng cách khuyến mãi dịch vụ, gia tăng chiết khấu. Điều này làm
giảm lợi nhuận của Công ty nhưng nó sẽ giúp Công ty nhìn thấy trước được dòng chảy
tiền của mình.
- Kiểm tra giá bán của Công ty
Giá bán của Công ty có theo theo kịp với việc gia tăng chi phí của Công ty không? Lần cuối cùng Công ty tăng giá bán là khi nào? Nhiều doanh nghiệp nhỏ do dự
khi tăng giá bán vì họ e ngại là họ sẽ mất khách hàng nhưng đó là xu hướng chung nên
khách hàng sẽ chấp nhận và tiếp tục mua hàng của Công ty. Công ty cũng phải thường
xuyên kiểm tra giá ở các đối thủ cạnh tranh của mình. Nếu họ bán giá cao hơn, Công
ty nên làm theo.
- Kiểm soát chặt chẽ lượng hàng tồn kho
Tích trữ quá nhiều hàng trong kho làm cho một số tiền lớn bị đóng băng. Thường xuyên theo dõi vòng quay hàng tồn kho sẽ giúp đảm bảo rằng chúng
đang được lưu giữ với một lượng hợp lý cho ngành công nghiệp của Công ty. Công ty
có thể làm điều này bằng cách tính toán tỉ số quay vòng hàng hoá. Hãy tránh việc mua
nhiều hơn số Công ty cần trong trường hợp Công ty bị các nhà cung cấp nhử mồi bằng
chiết khấu lớn. Điều này có thể làm cho Công ty bị cạn tiền mặt. Hãy kiểm tra định kỳ
để xác định hàng chậm luân chuyển và hàng tồn. Công ty nên trì hoãn những đơn hàng
tiếp theo để có thể sử dụng lượng hàng đang tồn trong kho hoặc thanh lý chúng với giá
vốn để cải thiện dòng chảy tiền mặt của Công ty.
3.2.2.3 Nâng cao hiệu quả quản lý khoản phải thu khách hàng
Trong nền kinh tế ngày nay, với rất nhiều những doanh nghiệp cùng ngành ngày càng mọc lên đã khiến các doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhau mạnh mẽ. Vì
vậy để có thể tồn tại và phát triển Công ty phải tạo ra các lợi thế cạnh tranh nhằm tăng thị phần, thu hút khách hàng sử dụng sản phẩm của Công ty từ đó làm tăng doanh thu. Một trong những chính sách mà các doanh nghiệp thường sử dụng để thu hút khách hàng, kích thích tiêu thụ sản phẩm đó là chính sách nới lỏng. Theo đó, khách hàng mua với số lượng lớn sẽ được nợ lại một phần trong tổng hóa đơn và số tiền nợ đó sẽ
được thanh toán trong một thời gian nhất định theo quy định của mỗi doanh nghiệp.
74
Tuy nhiên phải kiểm soát lượng phải thu khách hàng ở mức thích hợp để đảm bảo
doanh nghiệp hạn chế tình trạng bị chiếm dụng vốn, đồng thời vẫn kích thích tiêu thụ sản phẩm.
Thực tế cho thấy khoản phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng tương đối lớn
khoảng 1/3 trên tài sản lưu động và ngày càng có xu hướng gia tăng. Công ty Minh
Ngọc là một Công ty với số lượng đối tác, khách hàng khá lớn thì việc quản lý chặt chẽ các khoản phải thu đóng vai trò quan trọng. Nó sẽ mang lại lợi ích về doanh thu
đồng thời giảm thiểu các rủi ro về nợ khó đòi. Một số giải pháp nhằm quản lý khoản
phải thu khách hàng:
- Thu hồi các khoản nợ đã đến hạn: Dựa vào hợp đồng kinh tế mà hai bên đã
thực hiện và chính sách của Công ty về thời gian và giới hạn nợ đối với từng khách
hàng để xem xét các khoản nợ nào đã đến hạn thu hồi và các khoản nợ nào đã quá hạn
để đưa ra các biện pháp giải quyết như: Gửi công văn yêu cầu khách hàng thanh toán
hoặc dùng đến sự trợ giúp của pháp luật nếu cần thiết. Đối với các khoản nợ sắp đến
thời hạn thu hồi thì Công ty có những biện pháp nhắc nhở để khách hàng, đối tác thực
hiện đúng thời hạn của mình.
- Xác định thời gian và giới hạn nợ cho khách hàng: Cần xác định rõ thời gian
nợ cho mỗi khách hàng. Thời gian đó phải hợp lý để đảm bảo cho Công ty không thiếu
vốn sản xuất đồng thời có thể khuyến khích khách hàng trong việc mua sản phẩm của doanh nghiệp. Bên cạnh đó tỷ lệ nợ trên tổng giá trị thanh toán phải thích hợp (khoảng
5% đến 15% giá trị hợp đồng). Điều đó giúp vòng vốn của doanh nghiệp được quay
vòng liên tục.
- Đánh giá năng lực thanh toán của khách hàng: Để đánh giá được năng lực tài
chính của khách hàng một cách chính xác thì nhân viên tài chính phải có kiến thức
trong việc phân tích, phải nhạy bén và hiểu các chỉ tiêu để có thể tiến hành phân tích
sâu và đưa ra được những kết luận đúng. Nếu khách hàng có năng lực tài chính tốt, có
khả năng thanh toán các khoản nợ thì Công ty mới thực hiện việc cho nợ. Còn nếu
năng lực tài chính của khách hàng yếu kém, khả năng thanh toán cho các khoản nợ
thấp thì Công ty sẽ không cho khách hàng đó nợ lại tránh rủi ro nợ khó đòi.
-Xác định hợp đồng kinh tế đầy đủ và rõ ràng: Trong hợp đồng kinh tế cần quy định rõ về quyền hạn và trách nhiệm của mỗi bên tham gia hợp đồng. Nêu rõ thời gian thanh toán, phương thức thanh toán các khoản nợ của hợp đồng. Nó giúp cho các bên hiểu rõ trách nhiệm của mình, khi có những phát sinh thì các bên có thể căn cứ vào
điều khoản của hợp đồng để giải quyết. Khi các bênh thực hiện sai hợp đồng thì dựa vào các điều qui định trong hợp đồng để bồi thường và xử phạt.
Bên cạnh những chính sách về quản lý các khoản phải thu thì Công ty cần phải
hạch toán nhóm tài khoản này theo đúng nguyên tắc để theo dõi các khoản phải thu
75
chặt chẽ và chính xác hơn, tránh những thiếu sót. Sau đây là một số nguyên tắc là
Công ty cần phải tuân thủ khi hạch toán các khoản phải thu:
- Nợ phải thu cần được hạch toán chi tiết cho từng đối tượng phải thu, từng
khoản nợ và từng lần thanh toán. Kế toán phải theo dõi chặt từng khoản nợ phải thu.
Thường xuyên kiểm tra đôn đốc thu hồi nợ, tránh tình trạng bị chiếm dụng vốn hoặc
nợ nần dây dưa, khê đọng.
- Những khách nợ có quan hệ giao dịch thường xuyên hoặc có số dư nợ lớn thì
định kỳ hoặc cuối tháng kế toán doanh nghiệp cần tiến hành kiểm tra, đối chiếu từng
khoản nợ đã phát sinh, đã thu hồi và số còn nợ. Nếu cần có thể yêu cầu khách hàng xác
nhận số nợ phải thu bằng văn bản.
- Các khách hàng không thanh toán các khoản nợ phải thu cho doanh nghiệp
bằng tiền mặt, bằng séc... mà thanh toán bằng hàng (trường hợp hàng đổi hàng) hoặc
bù trừ giữa nợ phải thu với nợ phải trả hoặc phải xử lý khoản nợ khó đòi cần có đủ các
chứng từ hợp pháp, hợp lệ liên quan như: Biên bản đối chiếu công nợ, biên bản bù trừ
công nợ, biên bản xoá nợ kèm theo các bằng chứng xác đáng về số nợ thất thu.
- Trong báo cáo tài chính, chỉ tiêu tài sản lưu động phản ánh các khoản phải thu
được thể hiện theo giá trị thuần (theo số tiền dự kiến thực tế sẽ thu được từ các khoản
phải thu). Do đó, trong nhóm tài khoản này phải thiết lập một tài khoản “Dự phòng
phải thu khó đòi” để tính khoản lỗ dự kiến về khoản phải thu khó đòi có thể không đòi được tương lai nhằm phản ánh giá trị thuần của các khoản phải thu.
- Phải xác minh tại chỗ hoặc yêu cầu nhận bằng văn bản đối với các khoản nợ
tồn đọng lâu ngày chưa và khó có khả năng thu hồi được để làm căn cứ lập dự phòng
phải thu khó đòi về các khoản nợ phải thu này.
3.2.2.4 Nâng cao hiệu quả quản lý hàng tồn kho
Có 3 lý do chính khiến Công ty có nhu cầu về hàng tồn kho.
- Thứ nhất: Có độ trễ về thời gian trong chuỗi cung ứng. Từ người cung ứng
đến người sử dụng ở mọi khâu, đòi hỏi Công ty phải tích trữ một lượng hàng nhất định
để đảm bảo nguồn nguyên vật liệu cho sản xuất hoặc đảm bảo có sản phẩm cung ứng
cho người mua.
- Thứ hai: Có những bất chắc nhất định trong nguồn cung, nguồn cầu, trong
giao nhận hàng khiến Công ty muốn trữ một lượng hàng nhất định để dự phòng.
- Thứ ba: Nếu không có hàng tồn kho, doanh nghiệp sẽ cần tăng cường hoạt động logistics để nhận hay giao hàng. Điều này khiến cho chi phí logistics tăng lên. Vì
thế, Công ty có thể muốn trữ hàng đợi đến một lượng nhất định thì mới giao hàng nhằm giảm chi phí logistics.
Việc kiểm soát lượng hàng tồn kho sao cho vừa đủ tại mỗi thời điểm gọi
là quản lý tồn kho. Nếu lượng tồn kho không đủ thì doanh nghiệp có thể gặp những
76
khó khăn nhất định vì 3 lý do trên. Nhưng nếu lượng tồn kho nhiều quá thì doanh
nghiệp sẽ tốn chi phí để lưu hàng và chậm thu hồi vốn. Vì vậy để xác định được lượng hàng tồn kho tối ưu và quản lý tốt hàng tồn kho thì Công ty có thể sử dụng một số mô
hình kỹ thuật phân tích A-B-C trong phân loại hàng hóa tồn kho, mô hình lượng đặt
hàng EOQ hoặc mô hình lượng đặt hàng theo lô sản xuất POQ.
Tuy nhiên không phải trường hợp nào cũng có thể áp dụng được những mô hình này. Vì vậy để nâng cao hiệu quả quản lý hàng tồn kho, đảm bảo cho nhu cầu về
hàng tồn kho và giảm thiểu các chi phí phát sinh thì Công ty phải kết hợp với các biện
pháp cụ thể như sau:
- Để tăng tốc độ luân chuyển hàng tồn kho Công ty cần dự trữ hàng hóa, sản
phẩm ở một mức phù hợp để giảm các chi phí phát sinh và giảm được nhu cầu về tiền
ứng trả trước cho thuế giá trị gia tăng đầu vào. Vì nguyên vật liệu của Công ty được
nhập từ nước ngoài nên thường mỗi lần nhập khẩu Công ty thường nhập với số lượng
lớn giúp giảm thiểu các chi phí vận chuyển và phục vụ sản xuất lâu dài nhưng nếu số
lượng tồn kho quá nhiều thì sẽ dẫn đến các chi phí quản lý, bảo quản hàng tồn tăng
lên. Để không phải dự trữ nguồn nguyên vật liệu với số lượng lớn thì Công ty cần tìm
kiếm những nguồn cung cấp nguyên liệu nhập khẩu ổn định hoặc có thể đàm phán với
đối tác để có thể có những thỏa thuận hợp lý và có lợi cho cả hai bên.
- Khi quyết định về giá trị hàng tồn kho Công ty không nên chỉ dựa vào kế hoạch sản xuất mà còn phải sử dụng những thông tin cập nhật về tình hình sản xuất
kinh doanh, biến động của thị trường để ra quyết định nhằm có được lượng tồn kho tối
ưu. Khi Công ty thấy rằng thị trường nguyên vật liệu đang có xu hướng tăng giá trong
tương lai thì Công ty nên nhập khẩu số lượng lớn nguyên vật liệu để sau khi đợi thị
trường tăng giá Công ty sẽ mang về được một khoản lời lớn. Còn nều cảm thấy thị
trường ống thép ảm đạm, hàng có nguy cơ xuống giá thì Công ty không nên nhập
nhiều nguyên vật liệu mà chỉ nhập với mức vừa phải đủ để duy trì hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình.
- Công ty cần phải nâng cấp hệ thống nhà kho để giảm hao mòn, tổn thất và
giảm ảnh hưởng tới chất lượng của hàng tồn kho. Bên cạnh đó Công ty cần có đội ngũ quản lý nhà kho riêng biệt và chịu trách nhiệm về mọi mặt của hàng tồn kho. Như vậy hàng tồn kho sẽ được quản lý chặt chẽ và hiệu quả hơn.
3.2.3 Giải pháp cho nâng cao tiềm lực tài chính
Các chỉ số đánh giá về tiềm lực tài chính của Công ty hầu như đều được đánh
giá là tốt và hợp lý, riêng chỉ có hai chỉ tiêu còn thấp đó là khả năng thanh toán nhanh và khả năng thanh toán tức thời.
Qua phân tích ở chương 2 ta nhận thấy rằng nguyên nhân mà Công ty có khả
năng thanh toán nhanh và khả năng thanh toán tức thời thấp trong khi khả năng thanh
77
toán hiện thời lại tương đối hợp lý, cao hơn một chút so với trung bình ngành thép là
vì trong tổng số vốn lưu động thì hàng tồn kho chiếm một tỷ trọng tương đối lớn. Chính vì vậy để nâng cao khả năng thanh toán nhanh và khả năng thanh toán tức thời
thì còn phụ thuộc vào quyết định về quản lý hàng tồn kho của Công ty. Công ty nên
cân bằng giữa hiệu quả quản lý hàng tồn kho đồng thời nâng cao được năng lực tài
chính của Công ty để đối tác và các tổ chức tín dụng có cái nhìn tốt về Công ty giúp Công ty có uy tín và dễ dàng huy động vốn hơn.
3.2.4 Một số giải pháp khác 3.2.4.1 Chiến lược quản lý vốn
Công ty đã sử dụng chiến lược quản lý vốn thận trọng sẽ giúp cho Công ty luôn
làm chủ được tình hình tài chính nhưng Công ty đã dùng một lượng lớn nguồn vốn dài
hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn sẽ làm giảm lợi nhuận vì chi phí sử dụng của nguồn
vốn dài hạn lớn hơn so với chi phí của nguồn vốn ngắn hạn. Để giảm thiểu chi phí mà
vẫn đảm bảo được tính an toàn cho Công ty và kiểm soát được các rủi ro thì Công ty
có thể cân nhắc một số chiến lược khác như chiến lược quản lý vốn dung hòa. Hoặc
hơn thế nữa Công ty có thể sử dụng chiến lược quản lý vốn mạo hiểm nhưng không
quá mạo hiểm để có thể đem lại lợi nhuận cao cho Công ty. Nhưng để thực hiện chiến
lược quản lý vốn mạo hiểm Công ty phải quản lý vốn thật chặt chẽ và tốt, có khả năng
huy động vốn khi cần thiết. Công ty cần phải thận trọng hơn, dự đoán tốt tình hình nền kinh tế ở hiện tại cũng như tương lai khi quyết định đầu tư để giảm thiểu những rủi ro
có thể xảy ra, đó là rủi ro về việc thanh toán các khoản nợ vay ngắn hạn khi đến hạn để
uy tín của Công ty luôn được giữ vững và đồng thời đảm bảo cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của Công ty vẫn diễn ra thuận lợi.
3.2.4.2 Giảm chi phí giá vốn hàng bán
Một trong những hạn chế của Công ty đó là các chỉ số lợi nhuận thấp. Một
trong những cách để tăng các tỷ suất lợi nhuận đó là giảm thiểu chi phí giá vốn hàng
bán. Ta thấy giá vốn hàng bán của Công ty luôn chiếm một tỷ trọng lớn so với doanh
thu thuần. Đây là nguyên nhân chính khiến lợi nhuận của Công ty hàng năm chỉ nhận
ở mức thấp hơn nhiều so với doanh thu đạt được. Giá vốn hàng bán của Công ty luôn thấp hơn giá bán nhưng vẫn ở mức tương đối cao là do máy móc thiết bị của Công ty đa số chưa được sản xuất ở trong nước mà phải nhập khẩu ở nước ngoài về nên giá thành cao. Điều này kéo theo chi phí ban đầu lớn dẫn đến tình trạng giá vốn hàng bán tăng. Bên cạnh đó, Công ty dự trữ một lượng hàng tồn kho tương đối lớn do quy mô
sản xuất lớn và có thể đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng. Điều này không những làm tăng chi phí quản lý và bảo quản sản phẩm mà còn có thể gặp rủi ro trong tương lai như giá thị trường của sản phẩm giảm. Khi giá thị trường của sản phẩm giảm
mà Công ty vẫn còn dự trữ một lượng lớn hàng tồn kho cũ thì chênh lệch giữa doanh
78
thu và giá vốn hàng bán sẽ giảm, có nghĩa là lợi nhuận thu được trên doanh thu giảm.
Để giải quyết những vấn đề trên nhằm mang lại lợi nhuận cao nhất cho Công ty thì Công ty cần phải cân nhắc về các máy móc, công nghệ nhập khẩu sao cho phù hợp với
quy mô và tình hình tài chính của mình. Tìm hiểu thông tin, chất lượng của các máy
móc, công nghệ tương tự do những nhà sản xuất khác nhau sản xuất với chất lượng
tương đương mà giá thành lại hợp lý hơn nhằm tiết kiệm chi phí cho Công ty. Ngoài ra, hàng tồn kho cần được dự trữ với một số lượng hợp lý sao cho vừa cung cấp đầy đủ
được cho khách hàng khi cần thiết mà lại không quá nhiều để giảm bớt các chi phí
quản lý và bảo quản hàng hóa phát sinh. Như vậy không những làm tăng tỷ suất lợi
nhuận mà còn nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm Công ty trên thị trường do
giảm được chi phí đầu vào dẫn đến giá thành sản phẩm cũng giảm đi.
3.2.4.3 Áp dụng công nghệ kỹ thuật tiên tiến trong quản lý và sản xuất
Ngày nay, sự phát triển của khoa học kỹ thuật có ảnh hưởng sâu sắc tới việc
tăng năng suất lao động và nâng cao hiệu quả quản lý trong đó có hiệu quả quản lý
nguồn vốn. Do vậy Công ty phải nhanh chóng nắm bắt và ứng dụng có chọn lọc những
tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh. Các sản phẩm được sản xuất từ các
quy trình công nghệ cao sẽ có thế mạnh trong các cuộc cạnh tranh. Đây là giải pháp
mang tính chiến lược lâu dài, là một trong những điều kiện quyết định lợi thế và khả
năng phát triển của Công ty.
Nhìn chung, công nghệ sản xuất ở Công ty TNHH sx&tm Minh Ngọc cũng như đa
số các doanh nghiệp của nước ta hiện nay còn lạc hậu. Nếu Công ty đầu tư hơn vào tài sản
cố định bằng các công nghệ tiên tiến thì đó chính là thế mạnh của Công ty và tạo ra năng
lực cạnh tranh cao cho Công ty đối với các sản phẩm của các doanh nghiệp khác trong
nước về chất lượng, thẩm mỹ cũng như giá cả. Hơn nữa để đưa sản phẩm của Công ty ra
thị trường nước ngoài thành công thì sản phẩm cần phải có tính cạnh tranh cao.
Sự đầu tư, đổi mới kỹ thuật công nghệ có thể làm cho tổng chi phí trong giá
thành đơn vị sản phẩm tăng lên. Nhưng công nghệ có thể sử dụng lâu dài, đồng thời áp
dụng công nghệ mới sẽ giúp Công ty tăng năng suất lao động nên Công ty có thể tăng
số lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ, giảm chi phí tiêu hao nguyên vật liệu, chi phí tiền lương công nhân sản xuất…Kết quả cuối cùng là sản xuất và tiêu thụ được nhiều sản phẩm, giá bán có thể tăng cao hơn do sản phẩm tốt hơn mà vẫn được khách hàng đón nhận. Từ đó lợi nhuận thu được tăng lên đồng nghĩa với việc tăng hiệu quả sử dụng vốn. Tuy nhiên, khi áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh
doanh, Công ty phải chú ý tới việc lựa chọn công nghệ sao cho phù hợp với điều kiện của Công ty. Tránh hiện tượng mua những thiết bị không phù hợp, vừa không có tác dụng làm tăng năng suất lao động lại vừa gây lãng phí vốn. Điều này ảnh hưởng rất
lớn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
79
3.2.4.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng của các quyết định quản lý doanh nghiệp nói chung và quản lý tài chính nói riêng có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn. Trong khi đó năng
lực của các cán bộ quản lý, cán bộ tài chính, những người trực tiếp đưa ra những quyết
định tài chính sẽ được phản ánh thông qua kết quả mà các quyết định đoa mang lại.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một phương pháp định tính mà hầu như mọi doanh nghiệp đều quan tâm. Để chất lượng nguồn nhân lực được đảm bảo và nâng cao
thì trước tiên Công ty phải có một sự tuyển chọn kỹ càng các nhân viên cho Công ty
mình đồng thời đưa ra những ưu đãi về lương bổng, trợ cấp, thời gian làm việc trong
tuyển dụng nhằm thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao. Công ty cần có các chiến
lược cụ thể, yêu cầu về năng lực một cách rõ ràng trước khi mở những cuộc tuyển
dụng. Nhân viên được tuyển dụng cần được đánh giá thực lực một cách công bằng,
chính xác. Sau khi được tuyển dụng Công ty vẫn cần phải thường xuyên tổ chức bồi
dưỡng, nâng cao năng lực làm việc thông qua các khóa học cho các đội ngũ cán bộ
mới và đội ngũ cán bộ hiện tại. Bên cạnh việc đào tạo thì các các chính sách quản lý
nguồn nhân lực cũng vô cùng quan trọng. Công ty cần có những chính sách về nhân
lực như chính sách thưởng, phạt và chính sách hỗ trợ cán bộ, nhân viên có hoàn cảnh
khó khăn…Như vậy sẽ thúc đẩy được nhân viên làm việc hiệu quả hơn rất nhiều và
nhân viên sẽ nhiệt huyết hơn đối với công việc của mình.
Ngoài việc trau dồi kiến thức cho nhân viên Công ty cần chú ý đến môi trường,
điều kiện làm việc của cán bộ nhân viên trong Công ty. Tổ chức các buổi hoạt động
ngoại khóa hàng năm như tổ chức đi du lich để cỗ vũ tinh thần cũng như giải tỏa căng
thẳng, mệt mỏi cho cán bộ nhân viên. Từ đó nâng cao tinh thần đoàn kết giữa các thành
viên trong Công ty, nâng cao tinh thần làm việc giúp cho năng suất lao động tăng cao.
3.3 Một số kiến nghị với nhà nƣớc
Để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty TNHH
sx&tm Minh Ngọc chúng ta đã đề ra một số giải pháp. Nhưng để các giải pháp này có
thể thực hiện được thì bên cạnh sự nỗ lực của Công ty nhà nước cũng nên có một số
điều chỉnh để giúp cho quá trình thực hiện được thuận lợi hơn.
Nhà nước cần không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là luật kinh tế để đảm bảo cho sự bình đẳng của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Ngoài ra, để giúp cho việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn được thuận lợi. Bộ tài chính nên có sự ổn định tương đối trong việc ra các chế độ chính sách về quản lý tài chính và hạch toán
kinh doanh. Đồng thời nhà nước cần phải năng động nhạy bén và luôn đổi mới các chính sách, cơ chế tài chính của nhà nước để tạo mọi điều kiện cho doanh nghiệp có thể khai thác, huy động được các nguồn vốn cần thiết.
80
KẾT LUẬN
Vốn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sản xuất kinh doanh. Nếu sử dụng vốn một cách có hiêu quả thì doanh nghiệp sẽ thu được nhiều lợi nhuận. Sử dụng vốn
có hiệu quả có nghĩa là phải vừa mang lại lợi ích ở hiện tại đồng thời còn không làm
ảnh hưởng đến những lợi ích trong tương lai mà còn tạo thêm nhiều cơ hội tốt trong
tương lai. Ngược lại nếu công tác quản lý tài chính, quản lý vốn không tốt thì doanh nghiệp sẽ bị thất thoát vốn, sử dụng sai mục đích sẽ dẫn đến lãng phí làm giảm lợi
nhuận của Công ty.
Qua phân tích quản lý hiệu quả sử dụng nguồn vốn của Công ty TNHH sx&tm
Minh Ngọc ta thấy Công ty đã quản lý nguồn vốn tương đối hiệu quả và mang lại
nhiều lợi ích cho Công ty. Bên cạnh những mặt tốt Công ty còn tồn tại những hạn chế
trong công tác quản lý. Bài khóa luận này đã đề ra được những giải pháp để khắc phục
những hạn chế còn tồn tại của Công ty. Hy vọng trong tương lai Công ty TNHH
sx&tm Minh Ngọc sẽ thực hiện được mục tiêu đã đề ra, phát huy được những thành
tựu trong những năm qua đồng thời khắc phục được điểm yếu của mình trong công tác
quản lý nguồn vốn.
81
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ngô Thị Thu Hồng (2000), Đề tài “Vốn và hiệu quả sử dụng vốn của công
ty bánh kẹo Hải Châu”, Khóa luận tốt nghiệp – Đại học Thăng Long.
2. Phạm Viết Ngọc Anh (2012), Đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn tại Công ty cổ phần vật tư và dịch vụ kỹ thuật Hà Nội”, Khóa
luận tốt nghiệp – Đại học Thăng Long.
3. Nguyễn Trọng Cơ (2009), Phân tích tài chính doanh nghiệp, NXB Tài Chính.
4. Nguyễn Hải Sản (2010), Quản trị tài chính doanh nghiệp, NXB Thống Kê.
5. Tỷ lệ tăng trưởng ngành thép
http://www.cophieu68.vn/statistic_index.php?id=%5Ethep

