
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 85 (9/2023)
157
BÀI BÁO KHOA HỌC
GIẢI PHÁP THU TRỮ VÀ XỬ LÝ NƯỚC MƯA CHI PHÍ THẤP
QUY MÔ HỘ GIA ĐÌNH VÀ CỤM HỘ GIA ĐÌNH TRONG ĐIỀU KIỆN
HẠN HÁN, XÂM NHẬP MẶN TẠI CÁC TỈNH VEN BIỂN
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Nguyễn Văn Tỉnh1, Nguyễn Đức Việt2, Ngô Minh Đức3
Tóm tắt: Trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn là nguyên nhân gây khan hiếm
nước sinh hoạt cho người dân ở Đồng bằng Sông Cửu Long, đặc biệt là các hộ gia đình và cụm hộ gia
đình sinh sống ở các khu vực nông thôn các tỉnh ven biển chưa có điều kiện tiếp cận nước sinh hoạt từ
các trạm xử lý cấp nước tập trung. Đặc thù hộ gia đình nông thôn Đồng bằng Sông Cửu Long là sinh
sống phân tán, nguồn nước thường xuyên bị ô nhiễm mặn, phèn... Do vậy, cần có giải pháp công nghệ
phù hợp để người dân có thể chủ động dự trữ nước trong mùa mưa và xử lý nước nguồn nước mưa dự
trữ đó đạt tiêu chuẩn phục vụ sinh hoạt trong giai đoạn xảy ra hạn hán, xâm nhập mặn. Đồng thời, để
đảm bảo tính khả thi, nhân rộng và bền vững của giải pháp kỹ thuật này, cần xét đến các yếu tố khác
như chi phí đầu tư thấp, dễ dàng lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, ưu tiên sử dụng những nguồn vật liệu
lọc của địa phương. Bài báo này sẽ cung cấp kết quả nghiên cứu về giải pháp giải pháp thu trữ và xử lý
nước mưa chi phí thấp quy mô hộ gia đình và cụm hộ gia đình trong điều kiện hạn hán, xâm nhập mặn
tại các tỉnh ven biển vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.
Từ khoá: Cấp nước sinh hoạt nông thôn, hạn hán, xâm nhập mặn, nước mưa, chi phí thấp.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ *
Tổng lượng mưa năm ở Đồng bằng Sông Cửu
Long (ĐBSCL) ứng tần suất 75% thường đạt từ
1.200-1.400 mm trở lên. Số ngày mưa trong năm
đạt từ 100-140 ngày mưa, khu vực trung tâm có số
ngày mưa từ 100-120 ngày, tăng dần ở khu vực
ven biển (130-145 ngày) (MCRP, 2019-2025). Do
tác động của biến đổi khí hậu, từ đầu mùa lũ năm
2020 đến nay, lượng mưa trên lưu vực sông Mê
Công thiếu hụt từ 30-40% so với trung bình nhiều
năm, dòng chảy sông Mê Công ở mức rất thấp
(Chỉ thị 36/CT-TTg, 2020). Vì vậy, trong giai
đoạn xảy ra hạn hán, thiếu nước và xâm nhặp mặn
thì nước mưa là nguồn được thu trữ và sử dụng
phổ biến tại ĐBSCL, tỷ lệ sử dụng nước mưa cao
ở các vùng khó khăn về nguồn nước ở các huyện
thuộc các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà
Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên
Giang… (Đoàn Thu Hà, 2013), đặc biệt tại các
huyện hải đảo như Phú Quốc, Kiên Hải… thì nước
1 Viện Quy hoạch Thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn
2 Cục Thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
3 Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường
mưa là nguồn nước chủ yếu cho ăn uống, sau đó
mới đến lượng nước mặt và nước ngầm.
Kết quả khảo sát năm 2022 cho thấy phần lớn
các công trình, dụng cụ thu nước mưa của người
dân nông thôn được áp dụng theo phương thức
truyền thống như bể xây, chum, lu, vại,… xếp
hàng dài dưới mái hiên. Quy trình công nghệ thu
trữ và xử lý nước mưa hiện nay tại Việt Nam,
trong đó có các tỉnh ven biển vùng ĐBSCL không
có nhiều sự khác biệt. Cơ bản gồm có 3 bước
chính như sau:
- Bước 1: Hứng nước mưa. Nguồn nước mưa
được ưu tiên để hứng và lọc nhiều nhất là nước
mưa trên mái nhà.
- Bước 2: Lọc nước mưa. Nước mưa sau khi
hứng sẽ được chảy qua bộ phận lọc có chứa các vật
liệu lọc như: than hoạt tính, sỏi, cát thạch anh, đá
khoáng, hạt trao đổi ion, các lớp đá để lưu thông
dòng chảy… nhằm loại bỏ cặn bẩn, các chất độc hại,
các loại tạp chất, các chất hữu cơ có trong nước.
- Bước 3: Trữ nước mưa. Sau khi thực hiện lọc
xong sẽ được di chuyển tới bể chứa. Ngoài ra, nếu
sử dụng để uống có thể nghiên cứu lắp thêm 1 đến
2 cốc lọc sơ bộ kết hợp với máy lọc nước Nano và
đèn UV (tia cực tím).