Hoạt động tín dụng trung dài hạn của ngân hàng thương mại
Tác gi
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Hoạt động cơ bản của NHTM
Khái nim Ngân hàng thương mại:
Ngân hàng thương mại được định nghĩa là loại hình tổ chức tài chính cung
cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là nhn gửi,
cho vay và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất
so với bất kỳ một tchức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Như vậy, hoạt động của ngân hàng thương mại có thể khái quát thành 3
nghiệp vụ chính là:
* Tạo lập nguồn vốn:
Cũng như bất kỳ một doanh nghiệp nào, để có thể hoạt động được thì cần
phải có vốn. Nguồn vốn của ngân hàng thương mại hình thành thai nguồn
chủ yếu:
Nguồn vốn chủ sở hữu hình thành từ nguồn vốn pháp định và vốn bổ
xung: Để bắt đầu hoạt động ngân hàng (được pháp luật cho phép) chủ
ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định. Đây là lượng vốn nn
hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên các trang thiết bị, nhà cửa
cho ngân hàng. Nguồn hình thành và nghiệp vụ hình thành từ loại vốn
này rất đa dạng tu theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của ch
ngân hàng, yêu cu và sự phát triển của thị trường.
+ Vốn pháp định là khoản vốn bắt buộc phải có trước khi đi vào hoạt động.
Nguồn vốn này thường phụ thuộc vào tính chất, qui của từng loại ngân
hàng. Tuỳ theo tính chất của mỗi ngân hàng mà ngun gốc hình thành vn
ban đầu khác nhau. Ví dụ như Ngân hàng Công thương Việt Nam khi mới
thành lập có nguồn vốn pháp định là 200 tỷ VNĐ. Nguồn vốn pháp định có
thể do Nhà nước cấp đối với các Ngân hàng thương mại quốc doanh hoặc do
các chủ sở hữu cấp đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần. Tuy nhiên thì
vốn pháp định vẫn có thể được điều chỉnh tăng hoặc giảm tuỳ theo mục đích
của từng ngân hàng.
+ Vốn bổ xung: vốn pháp định chỉ là khoản vốn ban đầu, hàng năm các Ngân
hàng thương mại phải bổ xung vốn bằng cách trích từ lợi nhuận kinh doanh
hoặc bằng mức đóng góp của các chủ sở hữu.
Trong điều kiện thu nhập ròng lớn hơn không thì chủ ngân hàng có xu hướng
gia tăng vốn của chủ bằng cách chuyển một phần thu nhập ròng thành vốn
đầu tư. Tỷ lệ tích luỹ tuỳ thuộc vào cân nhắc của chủ ngân hàng vtích luỹ
và tiêu dùng. Những ngân hàng lâu năm, thu nhập ròng lớn, nguồn vốn tích
lu từ lợi nhuận sẽ cao hơn so với vốn của chủ hình thành ban đầu.
Nguồn bổ xung từ đóng góp của các chủ sở hữu thông qua: phát hành thêm
cổ phần, góp thêm, cấp thêm… để mở rộng quy mô hoạt động, đổi mới trang
thiết bị hoặc đáp ứng yêu cầu gia tăng vốn của chủ do ngân hàng Nhà nước
quy định. Đặc điểm của hình thức huy động vn này là không thường xuyên
song giúp cho ngân hàng có được lượng vốn s hữu lớn vào lúc cn thiết.
+ Các quỹ:
Ngân hàng có nhiều quỹ, mỗi quỹ có mục đích riêng mà trước tiên là qu d
phòng tổn thất (vốn tích luỹđược trích lập hàng năm nhằm bù đắp tổn thất),
qu bảo toàn vốn (nhằm bù đắp hao mòn của vốn dưới tác động của lạm
phát), quỹ thặng dư là phần đánh giá lại tài sản của ngân hàng và chênh lệch
giữa mệnh giá và thị giá cổ phiếu khi phát hành c phiếu mới, ngoài ra còn có
các qu: quỹ phúc lợi, qu khen thưởng, quỹ giám đốc… Các quỹ này thuộc
sở hữu của chủ ngân hàng. Ngun hình thành các quỹ này là từ thu nhập của
ngân hàng. Tuy nhiên, khnăng sử dụng các quỹ này vào hoạt động kinh
doanh tu thuộc vào mục đích sử dụng quỹ.
+ Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành vốn cổ phần:
Các khon vay trung, dài hạn của ngân hàng thương mại mà có kh năng
chuyển đổi thành vốn cổ phần có thể được coi là một bộ phận vốn sở hữu của
ngân hàng do nguồn này có một số đặc điểm như sử dụng lâu dài, có thể đầu
tư vào nhà cửa, đất đai và có thể không phải hoàn trả khi đến hạn.
Nguồn vốn chủ sở hữu Ngân hàng là rất quan trọng đối với quá trình hot
động kinh doanh của Ngân hàng thương mại, đóng vai trò sống còn trong
việc duy trì các hoạt động thường xuyên và đảm bảo cho ngân hàng phát triển
lâu dài. Nguồn vốn chủ sở hữu đóng vai trò một tấm đệm để chống rủi ro
phá sản vì vốn này giúp trang trải những thua lỗ về tài chính và nghiệp vụ
cho tới khi các vấn đề được giải quyết và đưa ngân hàng trở lại hoạt động
sinh lời. Vốn này cũng là điều kiện bắt buộc để ngân hàng có thể huy động
tiền gửi chỉ với tỷ lệ quy định. Vốn càng lớn thì càng tạo niềm tin cho công
chúng vào sự đảm bảo đối với chủ nợ về sức mạnh tài chính của ngân hàng.
Và hơn thế, vốn cung cấp năng lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát trin
của các hình thức dịch vụ mới, cho những trương trình và thiết bị mới - điều
kiện sống còn cho ngân hàng trong xu thế phát triển như vũ bão của xã hi.
Nguồn vốn thứ hai là ngun huy động vốn nhàn ri từ xã hội:
Thu hút vn nhàn ri trong xã hội là nhiệm vụ hàng đầu của nghiệp vụ tạo lập
nguồn vốn và là chức năng cơ bản của Ngân hàng thương mại. Phương thức
này tạo ta nguồn vốn chủ lực cho ngân hàng thương mại. Ngân hàng không
thể tồn tại nếu không huy động nguồn vốn này.
c Ngân hàng thương mại thường huy động vốn dưới nhiều hình thức như
nhận tiền gửi (tiền gửi giao dịch, tiền gửi tiết kiệm), phát hành trái phiếu (tín
phiếu ngân hàng, kỳ phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng...) và đi vay.
Nguồn vốn này là cơ sở chính cho các khon vay và do đó, nó là ngun gốc
sâu xa của lợi nhuận và sphát triển ngân hàng.
Tiền gửi khách hàng là ngun tài nguyên quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn
trong tng nguồn tiền của ngân hàng. Đ gia tăng tiền gửi trong môi trường
cạnh tranh mạnh mẽ và có được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao, các
ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động vốn khác nhau:
+ Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch): đây là nguồn tiền mà các doanh
nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ ngânng giữ và thanh toán
hộ. Lãi suất của khoản tiền này rất thấp, có khi bằng không nhưng bù lại
khách hàng có thể được hưởng những dịch vụ ngân hàng vi mức phí thấp.
+ Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội: Các tổ chức xã
hội hay các doanh nghiệp có nhiều khoản thu không phải thanh toán ngay nên
ngân hàng đưa ra hình thức tiền gửi kỳ hạn. Loại tiền gửi này khách hàng
không được hưởng các dịch vụ như tiền gửi thanh toán nhưng lại được hưởng
với lãi sut cao hơn tuỳ độ dài k hạn. Nếu khách hàng cần tiền, họ có thể
đến rút ra khi chưa đến hạn và hưởng lãi suất không kỳ hạn.
+ Tiền gửi tiết kiệm của dân cư:
Tương tự như huy đng tiền gửi tiết kiệm của các doanh nghiệp, tuy nhiên
nguồn huy động y thường ổn định hơn và thời hạn thường dài hơn. Hiện
nay ngân hàng áp dụng rất nhiều các hình thức huy động đa dạng kết hợp với
lãi suất cạnh tranh hấp dẫn để thu hút ngày càng nhiều lượng tiền gửi dân cư.
+ Tiền gửi của ngân hàng khác:
Nhằm mục đích thanh toán hộ và mt số mục đích khác, ngân hàng thương
mại thường gửi tiền tại các ngân hàng thương mại khác. Quy mô loại tiền gửi
này thường không lớn.
Nguồn thứ ba là vốn đi vay: Đôi khi cần thiết, ngân hàng thường phải
vay mượn thêm. Các ngân hàng thường đi vay ở NHNN, vay các tổ
chức tín dụng khác hoặc vay trên thị trường vốn. Các khoản vay này