
HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2025 – HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
274
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH BỆNH VÕNG MẠC TRẺ ĐẺ NON
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH HÀ NỘI
Nguyễn Thị Thu Hiền1, Lê Thanh Huyền1, Bùi Việt Hưng1,
Phùng Văn Thạnh1, Lương Thị Anh Thư1, Nguyễn Thị Thuý Quỳnh1,
Phạm Thu Trang1, Vũ Nguyễn Hồng Sơn1, Lê Thị Huệ1,
Nguyễn Thị Xuân1, Nguyễn Chí Thanh1
TÓM TẮT35
Bệnh võng mạc ở trẻ sinh non (VMTĐN) là
một tình trạng bệnh lý võng mạc ảnh hưởng đến
mắt của trẻ sinh thiếu tháng và nhẹ cân, bệnh có
nguy cơ gây mất thị lực hàng đầu ở trẻ đẻ non
nên cần được sàng lọc, phát hiện và điều trị sớm.
Mục tiêu: Đánh giá tỉ lệ VMTĐN trên trẻ
sinh nhẹ cân thiếu tháng được khám sàng lọc tại
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội và tìm hiểu
một số yếu tố liên quan.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
được thực hiện trên 108 mắt của 54 trẻ sinh non
khám sàng lọc VMTĐN từ tháng 04/2024 đến
tháng 07/2025, trẻ được đánh giá bằng máy chụp
đáy mắt kỹ thuật số PHOENIX ICON.
Kết quả: 54 trẻ sinh non có tuổi thai trung
bình là 30,28 tuần; cân nặng trung bình là
1659,35g. Trong 108 mắt được sàng lọc đã phát
hiện 32 mắt mắc VMTĐN chiếm 29,6%; ở
những giai đoạn bệnh khác nhau. Trong tổng số
ca bệnh mắc VMTĐN, những trường hợp cần
điều trị tiêm nội nhãn chiếm 34,4%. Tuổi thai,
cân nặng khi sinh của trẻ thấp là những yếu tố
1Trung tâm Mắt công nghệ cao, Bệnh viện Đa
khoa Tâm Anh
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thị Thu Hiền
SĐT: 0913283612
Email: hienntt10@tamanhhospital.vn
Ngày nhận bài: 26/7/2025
Ngày phản biện khoa học: 28/7/2025
Ngày duyệt bài: 28/7/2025
nguy cơ chính ảnh hưởng đến bệnh võng mạc ở
trẻ đẻ non.
Kết luận: Sau khi sinh, những trẻ đẻ thiếu
tháng, nhẹ cân cần được sàng lọc đúng thời gian
để phát hiện và điều trị bệnh võng mạc trẻ đẻ non
kịp thời.
SUMMARY
SURVEY ON THE STATUS OF
RETINOPATHY OF PREMATURITY
AT TAM ANH GENERAL HOSPITAL
Retinopathy of Prematurity (ROP) is a retinal
disorder affecting the eyes of premature and low-
birth-weight infants. It is one of the leading
causes of vision loss in preterm babies and
therefore requires timely screening, diagnosis,
and treatment.
Objective: To assess the prevalence of ROP
among preterm, low-birth-weight infants
screened at Tam Anh General Hospital in Hanoi
and to investigate associated risk factors.
Method: A cross-sectional descriptive study
was conducted on 108 eyes from 54 preterm
infants who underwent ROP screening between
April 2024 and July 2025. Evaluation was
performed using the PHOENIX ICON digital
fundus camera.
Results: The 54 preterm infants had an
average gestational age of 30.28 weeks and an
average birth weight of 1659.35 grams. Among
the 108 screened eyes, 32 eyes (29.6%) were
diagnosed with ROP at various stages. Of the
ROP cases, 34.4% required intravitreal injection

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 554 - THÁNG 9 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
275
treatment. Low gestational age and birth weight
were the primary risk factors associated with
ROP in preterm infants.
Conclusion: Premature and low-birth-weight
infants should be screened within the appropriate
timeframe after birth to enable early detection
and timely treatment of Retinopathy of
Prematurity.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh võng mạc trẻ đẻ non (VMTĐN) là
một tình trạng bệnh lý bất thường của quá
trình phát triển mạch máu ở võng mạc, xảy ra
ở một số trẻ đẻ thiếu tháng, nhẹ cân và
thường có tiền sử thở cao áp kéo dài. Nếu
bệnh không được phát hiện sớm và điều trị
kịp thời, một tỷ lệ đáng kể có nguy cơ bị mù
vĩnh viễn cả hai mắt do tổ chức xơ mạch tăng
sinh, co kéo và gây bong võng mạc. Chính vì
vậy trẻ có tiền sử sinh non cần được khám
sàng lọc sớm để kịp thời phát hiện bệnh
VMTĐN và điều trị sớm. Theo hướng dẫn
của Bộ Y tế, trẻ có tuổi thai khi sinh ≤ 27
tuần sẽ được khám khi trẻ được 31 tuần hiệu
chỉnh; với trẻ có tuổi thai khi sinh > 27 tuần,
trẻ được khám sau khi sinh 3-4 tuần.
Tỷ lệ mắc VMTĐN ở Việt Nam hiện
đang dao động khoảng 27 - 45 %, tùy nghiên
cứu và tiêu chí chọn mẫu. Nghiên cứu tại
Bệnh viện Nhi đồng 1 năm 2024 cho thấy có
35,9% trẻ sinh non mắc VMTĐN, trong số
này tỷ lệ trẻ mắc ROP nặng rất cao, lên tới
86,4%.1 Tại Bệnh viện Nhi Trung ương, tỷ lệ
mắc bệnh VMTĐN là 20,9%.2 Một nghiên
cứu khác được thực hiện tại Bệnh viện Bạch
Mai cũng cho thấy tỷ lệ mắc VMTĐN là khá
cao (27,9%).3 Mặc dù tỷ lệ mắc bệnh không
nhỏ, tuy nhiên bệnh có thể được điều trị nếu
trẻ được sàng lọc và điều trị sớm.4 Ngày
càng có nhiều bằng chứng cho thấy VMTĐN
và tình trạng mù lòa do VMTĐN hiện là vấn
đề sức khỏe cộng đồng ở các nước có thu
nhập trung bình ở Châu Mỹ Latinh, Đông Âu
và các nền kinh tế tiên tiến hơn ở Đông Nam
Á và khu vực Trung Đông. Blencowe và
cộng sự vào năm 2010 đã ước tính rằng trong
số 184700 trẻ mắc VMTĐN ở bất kỳ giai
đoạn nào, có khoảng 20000 trẻ bị mù hoặc
suy giảm thị lực nghiêm trọng. Ngoài ra có
12300 trẻ bị suy giảm thị lực mức độ nhẹ đến
trung bình. Đa phần các trẻ này được sinh ra
ở các nước có thu nhập trung bình.5
Ở Việt Nam, việc sàng lọc bệnh VMTĐN
cho những trẻ sinh non, nhẹ cân mới được
chú trọng gần đây. Mặc dù nhiều bệnh viện
đã triển khai sàng lọc VMTĐN, tuy nhiên
thực tế cho thấy còn thiếu các số liệu thống
kê cụ thể, đặc biệt tại các bệnh viện đa khoa
có khoa sơ sinh đang phát triển. Bệnh viện
Đa khoa Tâm Anh Hà Nội là cơ sở y tế
chuyên sâu có tiếp nhận và điều trị nhiều
trường hợp trẻ sinh non, song chưa có nghiên
cứu hệ thống nào đánh giá về tỷ lệ VMTĐN
tại đây.
Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu này nhằm khảo sát tình hình
bệnh võng mạc trẻ đẻ non tại Bệnh viện đa
khoa Tâm Anh, đồng thời phân tích một số
yếu tố liên quan đến bệnh võng mạc trẻ đẻ
non. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần cung
cấp dữ liệu thực tiễn, hỗ trợ xây dựng chiến
lược sàng lọc, theo dõi và điều trị hiệu quả
VMTĐN tại bệnh viện và các cơ sở tương tự.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Trẻ sinh non có:
o Tuổi thai ≤ 33 tuần và/hoặc cân nặng
khi sinh ≤ 1800g.
o Trẻ có tuổi thai trên 33 tuần đến 34
tuần và/ hoặc cân nặng khi sinh từ 1800g đến

HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2025 – HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
276
2000g, nhưng có yếu tố nguy cơ (suy hô hấp,
viêm phổi, thở oxy cao áp kéo dài, nhiễm
trùng huyết, thiếu máu…).
- Trẻ được khám sàng lọc VMTĐN đúng
thời điểm theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Trẻ thiếu thông tin lâm sàng hoặc
không hoàn thành quá trình theo dõi.
- Trẻ có bệnh tại mắt gây khó khăn trong
việc quan sát võng mạc như đục thể thuỷ tinh
bẩm sinh, đục giác mạc bẩm sinh, glôcôm
bẩm sinh…
- Trẻ đang bị viêm kết mạc, giác mạc.
- Cha mẹ không đồng ý cho trẻ khám và
tham gia nghiên cứu.
Trong thời gian từ tháng 4/2024 đến
tháng 7/2025, Trung tâm Mắt công nghệ cao
Bệnh viện Tâm Anh đã khám sàng lọc cho
75 trẻ đẻ non, trong đó nhóm nghiên cứu đã
lựa chọn được 54 trẻ sơ sinh (tương đương
108 mắt) đáp ứng các tiêu chuẩn trên.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả
cắt ngang.
- Thời gian thực hiện: Từ tháng 04 năm
2024 đến tháng 07 năm 2025.
- Địa điểm: Trung tâm Mắt công nghệ
cao, Trung tâm Sơ Sinh – Bệnh viện Đa khoa
Tâm Anh Hà Nội.
2.3. Quy trình nghiên cứu
Trẻ khám bệnh VMTĐN được khám và
chụp đáy mắt với hệ thống máy chụp ảnh đáy
mắt kỹ thuật số Phoenix icon. Những trẻ đáp
ứng tiêu chuẩn tham gia nhiên cứu sẽ được
thu thập các thông tin sau:
- Đặc điểm chung
o Tuổi thai khi sinh, cân nặng khi sinh,
giới tính
o Bệnh lý kèm theo: suy hô hấp, vàng da,
nhiễm trùng huyết…
- Tình trạng mắc VMTĐN: Có/Không
- Giai đoạn VMTĐN theo phân loại
quốc tế
- Có/không cần can thiệp điều trị
anti-VEGF
2.4. Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu được nhập và xử lý bằng phần
mềm SPSS.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Tình hình bệnh võng mạc trẻ đẻ
non tại Bệnh viện đa khoa Tâm Anh
Trong số 54 trẻ được đưa vào nghiên cứu
có 24 trẻ nữ (chiếm 44,4%), 30 trẻ nam
(chiếm 55,6%). Trong đó có 11 cặp sinh đôi
tương ứng với 22 trẻ. Trong 54 trẻ đẻ non có
16 trường hợp có suy hô hấp sau sinh, có 2
trường hợp vàng da sau sinh, 1 trường hợp
mắc viêm ruột, 1 trường hợp hạ đường huyết.
Trong nghiên cứu trẻ sinh non nhất là lúc
25 tuần tuổi, nặng 700g. Bảng dưới đây mô
tả đặc điểm về tuổi thai và cân nặng của trẻ
khi sinh.
Bảng 1: Đặc điểm về tuổi thai và cân nặng khi sinh của trẻ
Đặc điểm
Tần số (trẻ)
Tỷ lệ
Tuổi thai
TB (Min - Max) (tuần)
30,28 2,48 (25 – 34)
≤ 28 tuần
17
31,5%
29 - 30 tuần
8
14,8%
31 - 32 tuần
18
33,3%
33 - 34 tuần
11
20,4%
Tổng
54
100%

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 554 - THÁNG 9 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
277
Cân nặng
TB (Min – Max) (gram)
1659,35 426,17 (700 – 2500)
≤ 1000g
8
14,8%
1000 – 1500g
10
18,5%
1500 – 2000g
25
46,3%
>2000g
11
20,4%
Tổng
54
100%
Trong nghiên cứu có 16 trẻ mắc VMTĐN (32 mắt, chiếm 29,6%), cả 16 trẻ đều mắc bệnh
ở cả 2 bên mắt. Có 3 trẻ có giai đoạn bệnh ở 2 bên mắt với giai đoạn không đối xứng nhau, 13
trẻ còn lại đều có giai đoạn bệnh ở hai mắt tương đương nhau. Bệnh gặp phổ biến nhất ở giai
đoạn 2 (53,1%), sau đó là giai đoạn 1 (25,0%) và giai đoạn 3 (15,6%), có 2 mắt plus (+).
Bảng 2: Đặc điểm bệnh VMTĐN
Đặc điểm
Tần số (mắt)
Tỷ lệ
Mắc VMTĐN
Có
32
29,6%
Không
76
70,4%
Tổng
108
100%
Giai đoạn
GĐ1
8
25,0%
GĐ2
17
53,1%
GĐ3
5
15,6%
GĐ4
0
0%
GĐ5
0
0%
Plus
2
6,3%
Tổng
32
100%
Vùng
Vùng 1
4
12,5%
Vùng 2
26
81,3%
Vùng 3
2
6,3%
Tổng
32
100%
VMTĐN cần điều trị
Có
11
34,4%
Không
21
65,62%
Tổng
32
100%
Trong số 16 trẻ này có 6 trẻ (11 mắt, chiếm 34,4%) đã được điều trị tiêm nội nhãn Anti
VEGF. Có 7 mắt (4 trẻ) được tiêm nhắc lại mũi 2. Hiện tại cả 11 mắt được điều trị đã ổn định,
bệnh thoái triển và vẫn đang được theo dõi tiếp.
3.2. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng VMTĐN
Bảng 3: Mối liên quan đến giữa tình trạng mắc VMTĐN và một số yếu tố
Đặc điểm
VMTĐN (+)
VMTĐN (-)
p
Cân nặng khi sinh
≤1800g
37,1%
62,9%
0,027
>1800g
15,8%
84,2%
Tuổi thai khi sinh
≤28 tuần
70,6%
29,4%
0,000
>28 tuần
10,8%
89,2%

HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2025 – HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
278
Đặc điểm
VMTĐN (+)
VMTĐN (-)
p
Đa thai
Có
18,2%
81,8%
0,034
Không
37,5%
62,5%
Bệnh kèm theo
Có
40,0%
60,0%
0,163
Không
25,6%
74,4%
Giới tính
Nam
30,0%
70,0%
1,000
Nữ
29,2%
70,8%
Chúng tôi nhận thấy không có sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê giữa giới tính, tình
trạng mắc bệnh kèm theo với tỷ lệ mắc
VMTĐN, việc sinh đôi cũng không làm tăng
nguy cơ mắc bệnh. Nhóm trẻ có cân nặng khi
sinh thấp dưới 1800g và tuổi thai khi sinh
dưới 28 tuần có nguy cơ cao mắc VMTĐN
so với những trẻ già tháng và cân nặng cao
hơn, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
IV. BÀN LUẬN
4.1. Tình hình bệnh võng mạc trẻ đẻ
non tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
Những trẻ trong nghiên cứu của chúng
tôi có tuổi thai trung bình là 30,28 2,48
(thấp nhất là 25 tuần, cao nhất là 34), cân
nặng khi sinh trung bình là 1659,35
426,17 (thấp nhất là 700g, cao nhất là
2500g). Trong số 54 trẻ này, tỷ lệ mắc bệnh
VMTĐN là 29,6%, cao hơn so với một số
nghiên cứu đã công bố trong nước. Cụ thể,
tại Bệnh viện Bạch Mai, nghiên cứu trong
giai đoạn 2022 - 2023 cho thấy tỷ lệ mắc
bệnh là 27,9%; tại bệnh viện Nhi Trung
ương, tỷ lệ mắc bệnh trong giai đoạn 2021 -
2022 là 20,9%.2,3 Điều này có thể xuất phát
từ việc cơ sở khám bệnh của chúng tôi sử
dụng hệ thống máy chụp ảnh đáy mắt kỹ
thuật số Phonix icon, hệ thống này có thể
quan sát được toàn bộ võng mạc của trẻ ngay
cả khi không dùng ấn củng mạc, từ đó giúp
phát hiện được những trường hợp bệnh mới,
kín đáo ở giai đoạn sớm, vùng tổn thương
nhỏ. Những sự khác biệt kể trên cũng có thể
do sự tiến bộ của lĩnh vực y học sơ sinh hiện
nay giúp gia tăng tỷ lệ sống sót của những
trẻ cực non, cực nhẹ cân, cũng như việc
nâng cao nhận thức và phổ biến hướng
dẫn sàng lọc bệnh VMTĐN góp phần gia
tăng đáng kể tỷ lệ mắc VMTĐN cũng như
mức độ nặng trước điều trị của bệnh.
Tại các quốc gia khác trên thế giới, tỷ lệ
mắc bệnh VMTĐN cũng khác nhau tùy từng
nghiên cứu. Tại Mỹ, khoảng 68% trẻ có cân
nặng dưới 1250g mắc bệnh, tại Ấn Độ tỷ lệ
mắc bệnh là 21-40% tùy từng vùng, tại
Brazil là khoảng 36%, ở Phần Lan là 23%.6,7
Như vậy, khi so sánh với một số nghiên cứu
của tác giả trong và ngoài nước cùng với sự
khác biệt về trình độ hồi sức sơ sinh - quy
mô nghiên cứu cũng như khác nhau về đối
tượng khám và sàng lọc… chúng tôi nhận
thấy tỷ lệ mắc bệnh VMTĐN là khác nhau ở
từng quốc gia, từng thời điểm, từng thành
phố trong cùng một đất nước và bị chi phối
bởi nhiều yếu tố, với những tiêu chuẩn khám
sàng lọc chưa đồng nhất.
Trong nghiên cứu, có 11 mắt (chiếm
34,4% những mắt được chẩn đoán mắc
VMTĐN) được chỉ định điều trị bằng tiêm
nội nhãn anti-VEGF, trong đó có 7 mắt cần
tiêm nhắc lại mũi thứ hai. Tỷ lệ đáp ứng sau
điều trị đạt 100%, tất cả những mắt được
điều trị đều thoái triển tốt, không ghi nhận
tiến triển lên các giai đoạn nặng hơn hoặc
bong võng mạc. Đây là kết quả đáng khích
lệ, cho thấy hiệu quả của việc sàng lọc đúng

