
9
là ý thức con người, nằm trong con người, không thể tách rời con người. ý thức bứt
nguồn từ một thuộc tính của vật chất - thuộc tính phản ánh - phát triển thành. ý thức
ra đời là kết quả phát triển lâu dài của thuộc tính phản ánh của vật chất. Nội dung
của ý thức là thông tin về thế giới bên ngoài, về vật được phản ánh. ý thức là sự
phản ánh thế giới bên ngoài và đầu óc con người. Bộ óc người là cơ quan phản ánh,
song chỉ có riêng bộ óc thôi thì chưa thể có ý thức. Không có sự tác động của thế
giới bên ngoài lên các giác quan và qua đó đến bộ óc thì hoạt động ý thức không thể
xảy ra.
Như vậy, bộ óc người [cơ quan phản ánh về thế giới vật chất xung quanh] cùng với
thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc - đó là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
Những điều đa trình bày về nguồn gốc tự nhiên của ý thức cho thấy “sự đối lập giữa
vật chất và ý thức chỉ có nghĩa tuyệt đối trong những phạm vi hết sức hạn chế: trong
trường hợp này, chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì
là cái có trước và cái gì là cái có sau? Ngoài giới hạn đó ra, sự đối lập đó là tương
đối(1). ý thức chính là đạc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao mà thôi.
Nguồn gốc xa hội
Để cho ý thức ra đời, những tiền đề, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng, không thể
thiếu được, song chưa đủ; điều kiện quyết định cho sự ra đời của ý thức là những
tiền đề, nguồn gốc xa hội. ý thức ra đời cùng với quá trình hình thành bộ óc con
người nhờ lao động, ngôn ngữ và những quan hệ xa hội.
Lao động theo C.Mác, là một quá trình diễn biến giữa người và tự nhiên, một quá
trình trong đó bản thân con người đóng góp vai trò môi giới, điều tiết và giám sát
trong sự trao đổi vật chất giữa người và tự nhiên. Lao động là điều kiện đầu tiên và
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com

10
chủ yếu để con người tồn tại. Lao động cung cấp cho con người những phương tiện
cần thiết để sống, đồng thời lao động sáng tạo ra cả bản thân con người. Nhờ có lao
động, con người tác ra khỏi giới động vật. Một trong những sự khác nhau căn bản
giữa con người với động vật là ở chỗ động vật sử dụng các sản phẩm có sẵn trong
giới tự nhiên, còn con người thì nhờ lao động mà bắt giới tự nhiên phục vụ mục đích
của mình, thay đổi nó, bắt nó phục tùng những nhu cầu của mình. Chính thông qua
hoạt động lao động nhằm cải tạo thế giới khách quan mà con người mới có thể phản
ánh được thế giới khách quan, mới có ý thức về thế giới đó.
Sự hình thành ý thức không phải là quá trình thu nhận thụ động, mà đó là kết quả
hoạt động chủ động của con người. Nhờ có lao động, con người tác động và thế giới
khách quan, bắt thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những
quy luật vận động của mình thành những hiện tượng nhất định, và các hiện tượng ấy
tác động vào bộ óc người, hình thành dần những tri thức về tự nhiên và xa hội. Nếu
không có lao động thì hoàn cảnh vẫn bí ẩn, vẫn xa lạ đối với con người, con người
không có cách nào khác ngoài lao động đẻ óc thể phản ánh đúng đắn thế giới khách
quan. Như vậy, ý thức được hình thành chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách
quan của con người, làm biến đổi thế giới đó. ý thức với tư cách là hoạt động phản
ánh sáng tạo không thể có được ở bên ngoài quá trình con người lao động làm biến
đổi thế giới xung quanh. Vì thế có thể nói khái quát rằng lao động tạo ra ý thức tư
tưởng, hoặc nguồn gốc cơ bản của ý thức tư tưởng là sự phản ánh thế giới khách
quan và đầu óc con người trong quá trình lao động của con người.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com

11
Lao động không xuất hiện ở trạng thái đơn nhất, ngay từ đầu nó đa mang tính tập thể
xa hội. Vì vậy, nhu cầu trao đổi kinh nghiệm và nhu cầu trao đổi tư tưởng cho nhau
xuất hiện. Chính nhu cầu đó đòi hỏi phải xuất hiện ngôn ngữ.
Ngôn ngữ do nhu cầu của lao động và nhờ lao động mà hình thành. Ngôn ngữ là hệ
thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. Không có ngôn ngữ thì ý thức không
thể tồn tại và thể hiện được.
Ngôn ngữ cũng cổ xưa như ý thức. Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp trong xa
hội, đồng thời là công cụ của tư duy nhằm khái quát hóa, trừu tượng hóa hiện thực.
Nhờ ngôn ngữ mà con người tổng kết được thực tiễn, trao đổi thông tin, trao đổi tri
thức từ thế hệ này sang thế hệ khác. ý thức không phải thuần túy là hiện tượng cá
nhân mà là một hiện tượng xahội, do đó không có phương tiện trao đổi xa hội về mặt
ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành và phát triển được.
Vậy, nguồn gốc trực tiếp quan trọng nấht quyết định sự ra đời và phát triển của ý
thức là lao động, là thực tiễn xa hội. ý thức phản ánh hiện thức khách quan vào bộ óc
con người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xa hội. ý thức là sản phẩm
xa hội, là một hiện tượng xa hội.
2. Vai trò của tri thức khoa học công nghệ đối với việc phát triển kinh tế ở Việt Nam
hiện nay
a. Quan niệm về KH - CN
Quan niệm về khoa học
Trong lịch sử phát triển tư duy của nhân loại có rất nhiều các quan niệm khác nhau
về khoa học, một mặt nó phụ thuộc vào trình độ phát triển của xa hội; mặt khác phụ
thuộc vào trình độ nhận thức. Xét về phương diện xa hội, khoa học là một hiện
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com

12
tượng xa hội có nhiều mặt, trong đó biểu hiện sự thống nhất giữa những yếu tố vật
chất và những yếu tố tinh thần. Về phương diện triết học, khoa học là một hình thái
ý thức xa hội đặc biêt. Đặc biệt, bởi vì khoa học không chỉ phản ánh tồn tại xa hội,
phụ thuộc vào tồn tại xa hội, những chân lý của nó được thực tiễn xa hội kiểm
nghiệm mà khoa học còn là kết quả của quá trình sáng tạo logic, của trực giác thiên
tài. Còn bởi vì, khoa học (cùng với công nghệ) là những yếu tố ngày càng có vai trò
đặc biệt quan trọng của lực lượng sản xuất, quyết định trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất nói riêng, của phương thức sản xuất và của xa hội nói chung. Về
phương diện nhận thức luận, khoa học là giai đoạn cao của nhận thức - giai đoạn
nhận thức lý luận.
Ngày nay, quan niệm về khoa học được phổ biến với những đặc trưng cơ bản sau
dây:
- Khoa học là một hệ thống tri thức về tự nhiên, về xa hội, về con người và về tư duy
của con người. Nó nghiên cứu và vạch ra những mối quan hệ nội tại, bản chất của
các sự vật, hiện tượng, quá trình, từ đó chỉ ra những quy luật khách quan của sự vận
động và phát triển của tự nhiên, xa hội và tư duy.
- Hệ thống tri thức khoa học được hình thành trong quá trình nhận thức của con
người từ trực quan sinh động, đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực
tiễn, dưới dạng khái niệm, phạm trù, quy luật, lý thuyết,... Như vậy, tri thức khoa
học không chỉ là sự phản ánh thế giới hiện thực, mà còn được kiểm nghiệm qua thực
tiễn.
- Hệ thống tri thức khoa học còn có thể được hình thành nhờ trực giác hoặc tuân
theo những quy luật của logic học. Loại tri thức khoa học này, xét cho đến cùng
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com

13
cũng là sự phản ánh thế giới hiện thực và được thực tiễn kiểm nghiệm. Do đó, một
hệ thống tri thức được coi là tri thức khoa học phải bảo đảm tính đúng đắn, tính chân
thực.
- Nhờ giáo dục, đào tạo, hệ thống tri thức khoa học có sức sống manh liệt, được phổ
biến rộng rai và lan truyền rất nhanh chóng. Tốc độ lan truyền đó đa tăng lên rất
nhiều lần nhờ vào quá trình toàn cầu hóa và công nghệ thông tin. Nó không chỉ là
sức mạnh, là sự biến đổi mau lẹ, mà còn là biểu hiện sự giàu có, thịnh vượng của
mọi quốc gia, dân tộc và cá nhân.
- Hệ thống tri thức khoa học là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài, liên tục của
tư duy nhân loại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ngày nay nó đang trở thành tài sản
chung của xa hội loài người.
Như vậy, qua một số những đặc trưng cơ bản trên đây về quan niệm khoa học, ta
thấy nổi lên cái cốt lõi của khoa học - đó là hệ thống tri thức chân thực về tự nhiên,
xa hội và tư duy. Khoa học là hệ thống tri thức chân thực, nhưng có phải mọi tri thức
chân thực đều là khoa học hay không? Để hiểu rõ điều này, chúng ta phải đi tìm hiểu
nguồn gốc, bản chất của tri thức, con đường từ tri thức đến khoa học.
Quan niệm về công nghệ
Công nghệ theo nghĩa chung nhất có thể coi đó là tập hợp tất cả những sự hiểu biết
của con người vào việc biến đổi, cải tạo thế giới nhằm đáp ứng nhu cầu sống của
con người, sự tồn tại và phát triển của xa hội. Công nghệ trong sản xuất là một tập
hợp các phowng tiện vật chất, các phương pháp, các quy tắc, các kỹ năng được con
người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động nhằm tạo ra một sản phẩm nào đó
cần thiết cho xa hội.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com

