BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN TIÊN PHONG CHI NHÁNH HOÀN KIẾM
SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN THỊ NHUNG MÃ SINH VIÊN : A16357 CHUYÊN NGÀNH : NGÂN HÀNG
HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN TIÊN PHONG CHI NHÁNH HOÀN KIẾM
Giáo viên hƣớng dẫn : Th.s Lê Thị Hà Thu Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Nhung Mã sinh viên : A16357 Chuyên ngành : Ngân hàng
HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Kinh tế - Quản lý, Trường Đại học Thăng Long đã có những bài giảng hay và bổ ích, giúp em vận dụng những kiến thức
chuyên môn đó vào bài khóa luận tốt nghiệp của mình. Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn
sâu sắc tới cô giáo – Thạc sĩ Lê Thị Hà Thu, cô đã luôn hướng dẫn, trau dồi kiến thức cho
em, chỉ ra những thiếu sót và giúp đỡ em trong suốt thời gian em thực hiện làm khóa luận. Ngoài ra, em cũng xin cảm ơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi
nhánh Hoàn Kiếm đã giúp đỡ, cung cấp thông tin, tài liệu hữu ích cho em trong thời gian em thực tập tại Chi nhánh, tạo điều kiện cho em hoàn thành bài khóa luận này.
Hà Nội, ngày 28 tháng 10 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Nhung
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ
từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác. Các
dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ
ràng.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Ngày 28 tháng 10 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Nhung
MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU……………………………………………………………………………...
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI .................................... 1
1.1. Các vấn đề cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ ....................................................... 1 1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ ................................................................... 1
1.1.2. Phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ ......................................................................... 1
1.1.3. Đặc điểm và thực trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế hiện nay ..... 2
1.2. Các vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thƣơng mại ....................................................................................................... 4
1.2.1. Khái niệm hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng
thương mại ........................................................................................................................... 4
1.2.2. Nguyên tắc cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ ........................................................ 5
1.2.3. Các đặc điểm cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ ..................................................... 6
1.2.4. Phương thức cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ ..................................................... 7 1.2.4.1. Theo kỳ hạn cho vay ................................................................................................ 7
1.2.4.2. Theo tính chất đảm bảo ........................................................................................... 7
1.2.5. Vai trò của hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ ....................................... 8 1.2.5.1. Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ........................................................................... 8
1.2.5.2. Đối với ngân hàng ................................................................................................... 9
1.3. Đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng
thƣơng mại .......................................................................................................................... 9
1.3.1. Sự cần thiết phải đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
tại ngân hàng thương mại ................................................................................................... 9
1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại ......................................................................................... 10 1.3.2.1. Nhóm các chỉ tiêu định tính ................................................................................... 10 1.3.2.2. Nhóm chỉ tiêu định lượng ..................................................................................... 11
1.4. Các nhân tố ảnh hƣởng tới việc đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thƣơng mại ............................................................... 15 1.4.1. Các nhân tố khách quan ......................................................................................... 15
1.4.2. Các nhân tố chủ quan ............................................................................................. 16 1.4.2.1. Từ phía khách hàng ............................................................................................... 16
1.4.2.2. Từ phía ngân hàng ................................................................................................. 17
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ................................................................................................. 19
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN TIÊN
PHONG CHI NHÁNH HOÀN KIẾM ............................................................................ 20 2.1. Tổng quan về Ngân hàng Thƣơng mại cổ phẩn Tiên Phong Chi nhánh Hoàn
Kiếm ................................................................................................................................... 20
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên
Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm .......................................................................................... 20
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm ......................................................................................................................... 21
2.1.3. Các hoạt động chính của Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong Chi
nhánh Hoàn Kiếm ............................................................................................................. 24
2.2. Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Tiên Phong
Chi nhánh Hoàn Kiếm trong giai đoạn 2011 - 2013 ...................................................... 25
2.2.1. Tình hình huy động vốn .......................................................................................... 25
2.2.2. Tình hình sử dụng vốn (chủ yếu là hoạt động cho vay) ........................................ 30
2.2.3. Các hoạt động kinh doanh khác ............................................................................ 36
2.2.4. Kết quả hoạt động kinh doanh ................................................................................ 39
2.3. Một số quy định chung trong hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm ........... 40
2.3.1. Đối tượng và điều kiện cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ ................................ 40
2.3.2. Tài sản đảm bảo đối với cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ .................................. 41
2.3.3. Các hình thức cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ................................................. 42
2.3.4. Quy trình cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ ......................................................... 43
2.4. Thực trạng hoạt động cho vay đối với tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm trong năm 2011-2013 .................................................... 49 2.4.1. Doanh số cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ............................................. 49 2.4.2. Doanh số thu nợ cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ................................. 51 2.4.3. Dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ .................................................. 52 2.5. Đánh giá thực trạng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm trong giai đoạn
2011-2013 ........................................................................................................................... 59 2.5.1. Các chỉ tiêu định tính ............................................................................................. 59 2.5.2. Các chỉ tiêu định lượng ........................................................................................... 61
2.6. Đánh giá hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng
Thƣơng mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm trong giai đoạn 2011-2013
............................................................................................................................................ 68
2.6.1. Những kết quả đạt được .......................................................................................... 68 2.6.1.1. Trên phương diện định tính ................................................................................... 68
2.6.2. Những hạn chế trong hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ .................... 69
2.6.3. Nguyên nhân hạn chế ............................................................................................. 70 2.6.3.1. Từ phía Ngân hàng ................................................................................................ 70
2.6.3.2. Từ phía khách hàng (DNVVN) .............................................................................. 71
2.6.3.3 Từ phía nền kinh tế ................................................................................................. 72
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ................................................................................................. 73
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ
PHẦN TIÊN PHONG CHI NHÁNH HOÀN KIẾM ..................................................... 74
3.1. Định hƣớng phát triển của Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Tiên Phong Chi
nhánh Hoàn Kiếm trong vài năm tới .............................................................................. 74
3.1.1. Định hướng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng
Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm trong những năm tới .......... 74
3.2. Các giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm ........................ 75
3.2.1. Xây dựng chính sách khách hàng linh hoạt ......................................................... 75
3.2.2. Xây dựng chính sách tín dụng ưu đãi phù hợp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
............................................................................................................................................ 76
3.2.3. Nâng cao trình độ cán bộ ngân hàng ..................................................................... 77
3.2.4. Nâng cao chất lượng thẩm định ............................................................................. 77 3.2.5. Đơn giản hoá các thủ tục cho vay ......................................................................... 78 3.2.6. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát ............................................................... 79 KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 ................................................................................................. 79
DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ
Ngân hàng Thương mại NHTM
Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong TPBank
TPBank – Hoàn Kiếm Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong
Chi nhánh Hoàn Kiếm
NHNN Ngân hàng Nhà nước
DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
NQH Nợ quá hạn
TSĐB Tài sản đảm bảo
SXKD Sản xuất kinh doanh
DPRR Dự phòng rủi ro
TCTD Tổ chức tín dụng
CBNV Cán bộ nhân viên
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Trang
Bảng 1.1. Tiêu chí xác định DNVVN ở Việt Nam 2
Bảng 2.1. Tình hình hoạt động huy động vốn tại TPBank - Hoàn Kiếm giai đoạn
2011-2013 26
Bảng 2.2. Tình hình hoạt động cho vay TPBank - Hoàn Kiếm giai đoạn 2011-
31
2013 Bảng 2.3. Thu nhập từ dịch vụ của TPBank – Hoàn Kiếm giai đoạn 2011-2013 35
Bảng 2.4. Kết quả hoạt động kinh doanh của TPBank - Hoàn Kiếm giai đoạn
2011 – 2013 39
Bảng 2.5. Doanh số cho vay DNVVN tại TPBank - Hoàn Kiếm giai đoạn 2011
– 2013 50
Bảng 2.6. Tình hình doanh số thu nợ cho vay DNVVN của TPBank – Hoàn Kiếm giai đoạn 2011 – 2013 51
Bảng 2.7. Dư nợ cho vay DNVVN theo cơ cấu thời gian và cơ cấu ngành nghề
của TPBank - Hoàn Kiếm giai đoạn 2011 – 2013 53
Bảng 2.8. Dư nợ cho vay DNVVN theo cơ cấu loại hình doanh nghiệp của
TPBank - Hoàn Kiếm giai đoạn 2011-2013 58
Bảng 2.9. Chỉ tiêu vòng quay của vốn cho vay DNVVN của TPBank – Hoàn
Kiếm giai đoạn 2011-2013 61
Bảng 2.10. Tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu của TPBank – Hoàn Kiếm trong cho
vay DNVVN giai đoạn 2011 – 2013 62
Bảng 2.11. Tỷ lệ trích lập DPRR cho vay DNVVN tại TPBank – Hoàn Kiếm
giai đoạn 2011-2013 64
Bảng 2.12. Hệ số khả năng bù đắp rủi ro cho vay DNVVN đã xử lý 66
66
Bảng 2.13. Lợi nhuận từ hoạt động cho vay DNVVN tại TPBank – Hoàn Kiếm giai đoạn 2011-2013 Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của TPBank- Hoàn Kiếm 22
Sơ đồ 2.2. Quy trình cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TPBank - Hoàn Kiếm 43
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế vào năm 1986 cho đến
nay, kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng và đầy triển vọng. Trong
bước chuyển mình và phát triển đó, thì sự đóng góp của các doanh nghiệp là rất đáng kể. Đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, với sự năng động, hoạt động trong nhiều lĩnh
vực, và số lượng đông đảo của mình đã góp phần vào việc tăng thu nhập quốc dân (GDP),
giảm lạm phát, giải quyết vấn đề việc làm, giúp thực hiện điều chỉnh các chính sách kinh
tế vĩ mô,... đóng vai trò nhất định trong việc phát trền nền kinh tế bền vững của đất nước.
Mặc dù vậy, trong những năm gần đây, thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam đã
phải đối diện với những thách thức, khó khăn vô cùng lớn.
Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ đang là vấn đề được Đảng và nhà nước rất coi
trọng, được coi là nhiệm vụ trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của cả
nước. Và vấn đề được đặt ra hàng đầu là giúp các doanh nghiệp khắc phục được những
khó khăn trước mắt, nhất là sự thiếu hụt về nguồn vốn. Nhận thức được vấn đề đó, phần
lớn các ngân hàng thương mại đã xác định các doanh nghiệp vừa và nhỏ là nhóm khách
hàng mục tiêu, trong đó có Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn
Kiếm. Những năm vừa qua, ngân hàng đã có những chiến lược nhằm thu hút và đẩy mạnh hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ và đã đạt được những kết quả nhất định,
nhưng chưa đạt được mục tiêu đề ra, chưa khai thác hết tiềm năng của địa phương cũng
như chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu của nền kinh tế. Việc đẩy mạnh cho vay đối với các
doanh nghiệp vừa và nhỏ là thực sự cần thiết, phù hợp với chủ trương đường lối của Đảng
và nhà nước, giúp cho ngân hàng chuyển dịch cơ cấu đầu tư hợp lý, tăng trưởng tín dụng,
đa dạng hóa các danh mục đầu tư cho vay, phân tán rủi ro và nâng cao vị thế cạnh tranh.
Chính vì vậy, qua quá trình nghiên cứu, học tập, tìm hiểu về hoạt động cho vay tại ngân hàng cùng với sự hướng dẫn của Thạc sĩ Lê Thị Hà Thu, tác giả đã lựa chọn đề tài:
“Giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình. Dựa trên kết quả của quá trình nghiên cứu và phân tích dữ liệu
thu thập được, khóa luận xin đưa ra một số đề xuất để đẩy mạnh hoạt động cho vay doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn
Kiếm.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Khóa luận tập trung vào nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, và xác định sự cần thiết của việc đẩy mạnh hoạt
động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại. Khóa luận cũng
nghiên cứu thực trạng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng
Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm từ năm 2011 đến năm 2013, từ đó rút ra điểm mạnh, điểu yếu, hạn chế trong hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
của ngân hàng và nguyên nhân của các hạn chế đó.
Từ những vấn đề nghiên cứu được qua đó đề xuất giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho
vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi
nhánh Hoàn Kiếm.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và
nhỏ của Ngân hàng Thương mại.
Phạm vi nghiên cứu là hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm từ năm 2011 đến năm
2013.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu là phương pháp thu thập thông tin và phương pháp phân tích. Thông tin thu thập được thông qua nhiều kênh như quá trình
thực tập trực tiếp tại ngân hàng, phỏng vấn cán bộ nhân viên của ngân hàng, các báo cáo
tài chính năm, báo cáo tín dụng,… Phương pháp phân tích sử dụng các thông tin này, kết
hợp với phương pháp so sánh, đối chiếu, tổng hợp thông tin, từ đó đưa ra những nhận
định về tình hình cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Thương mại cổ phần
Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm.
5. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, danh mục bảng biểu, sơ đồ, kết luận, phụ lục, nội dung chính
của đoạn văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Tổng quan về hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
của Ngân hàng Thƣơng mại.
Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm.
Chƣơng 3: Giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm.
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1. Các vấn đề cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ
Theo Khoản 1 và 2, Điều 4 Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29 tháng
11 năm 2005 thì doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao
dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích
thực hiện các hoạt động kinh doanh. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc
cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Trong nền kinh tế thị trường có nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tồn tại, phát
triển và cạnh tranh lẫn nhau. Tuy nhiên, để thuận lợi cho việc quản lý, hỗ trợ các
doanh nghiệp phát triển, người ta thường dựa theo những tiêu thức khác nhau để phân
loại các doanh nghiệp. Các tiêu thức thường được sử dụng để phân loại doanh nghiệp
bao gồm: Phân loại dựa vào quan hệ về vốn và tài sản, dựa vào mục đích kinh doanh
của doanh nghiệp, dựa vào lĩnh vực hoạt động….
Tại Việt Nam, nhằm giúp cho Nhà Nước đánh giá được mức độ phát triển và đưa
ra những chính sách hỗ trợ hợp lý các doanh nghiệp trong từng thời kỳ, các loại hình
doanh nghiệp được phân chia dựa theo tiêu thức về quy mô, chia thành: doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ. Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN)
được phân chia theo tiêu thức này cũng chính là đối tượng của hoạt động cho vay mà
khóa luận tập trung nghiên cứu.
Các DNVVN được định nghĩa theo Điều 3 Nghị định số 56/2009 NĐ – CP ngày
30/06/2009 của Chính phủ Về trợ giúp phát triển DNVVN như sau: “Doanh nghiệp
vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được
chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn
tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp)
hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”.
1.1.2. Phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ
Hiện nay trên thế giới không có tiêu chuẩn thống nhất để phân loại DNVVN cho tất cả các nước vì đặc điểm kinh tế - xã hội mỗi nước khác nhau và ngay trong một
nước, sự phân loại cũng khác nhau tùy theo từng thời kỳ, từng ngành nghề, từng vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, ở các nước vẫn có một số tiêu chuẩn phân loại chung như: Số lao động thường xuyên, vốn sản xuất, doanh thu, lợi nhuận, giá trị gia tăng….
Tại Việt Nam, DNVVN được phân chia theo tiêu chí vốn sản xuất và lao động,
1
cụ thể được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.1. Tiêu chí xác định DNVVN ở Việt Nam
Doanh Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Quy mô
nghiệp siêu nhỏ
Khu vực Số lao động Tổng Số lao động Tổng nguồn Số lao động
nguồn vốn vốn
1. Nông , lâm 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200
xuống trở xuống
nghiệp và thủy sản người đến 200 người đồng đến 100 tỷ đồng người đến 300 người
2. Công nghiệp 10 người trở 20 tỷ đồng từ t rên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200
và xây dựng xuống trở xuống người đến 200 đồng đến 100 người đến 300
người tỷ đồng người
3. Thương mại 10 người trở 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50
và dịch vụ xuống trở xuống người đến 50 đồng đến 50 người đến 100
người tỷ đồng người
(Nguồn:Nghị định số 56/2009 NĐ-CP ngày 30/06/2009 về trợ giúp phát triển DNNVV)
Như vậy, theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ,
doanh nghiệp vừa và nhỏ được phân loại theo số lao động và tổng nguồn vốn, quy định
số lượng lao động trung bình hằng năm từ 10 người trở xuống được coi là doanh
nghiệp siêu nhỏ, từ 10 người đến dưới 200 người lao động với tổng nguồn vốn từ 20 tỷ
đồng trở xuống được coi là doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động với
tổng nguồn vốn trên 20 tỷ thì được coi là Doanh nghiệp vừa.
1.1.3. Đặc điểm và thực trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế hiện nay
Năm 2011, Cục phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (Bộ kế hoạch và đầu tư) đã
tiến hành một cuộc nghiên cứu với sự tham gia của hơn 63.000 doanh nghiệp tại 30
tỉnh thành phía Bắc nhằm năm bắt được tình hình của các DNVVN. Qua đó thể hiện
một số đặc điểm của DNVVN nói chung và DNVVN tại Việt Nam nói riêng. Cụ thể, các DNVVN trong nền kinh tế nước ta hiện nay có những điểm nổi bật như sau:
DNVVN chiếm số lượng đông đảo, rất đa dạng về ngành nghề và quy mô. DNVVN tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế: thương
mại, dịch vụ, công nghiệp, xây dựng, nông lâm ngư nghiệp... và hoạt động dưới mọi hình thức như: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công
ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các cơ sở kinh tế
cá thể.
DNVVN có quy mô vốn và năng lực tài chính thấp, đây cũng là đặc điểm nổi bật
2
các DNVVN. Qua cuộc điều tra của Cục phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa vào năm
2011, đã cho kết quả là tại Việt Nam, gần 50% số doanh nghiệp có mức vốn dưới 1 tỷ
đồng; gần 75% số doanh nghiệp có mức vốn dưới 2 tỷ đồng và 90% số doanh nghiệp
có mức vốn dưới 5 tỷ đồng. Các DNVVN có quy mô vốn ban đầu thấp, khi đi vay vốn
ngân hàng lại gặp những rào cản về lãi suất, thủ tục, phương thức, chính sách… nên khả năng tiếp cận vốn ngân hàng kém. Từ vốn ban đầu thấp ảnh hưởng tới quy mô đầu
tư trang thiết bị của doanh nghiệp, khả năng đầu tư chiều sâu,… khiến cho việc kinh
doanh gặp khó khăn. Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến mục tiêu phát triển của bản
thân DNVVN nói riêng cũng như của nền kinh tế nói chung.
Do có năng lực tài chính thấp nên hầu hết các DNVVN thường sử dụng những
công nghệ và thiết bị lạc hậu. Việc đầu tư nâng cấp các thiết bị máy móc đã lỗi thời
cũng cần có khả năng tài chính tốt, cho phép đầu tư lâu dài trong khi đó ở Việt Nam
nguồn vốn đầu tư vào các công nghệ là nguồn vốn mà các DNVVN khó có khả năng
tiếp cận được. Theo Tạp chí Cộng sản số ra ngày 22 tháng 2 năm 2013 thì hiện nay,
máy móc, thiết bị đang được sử dụng ở các doanh nghiệp Việt Nam chỉ có 10% hiện
đại, 38% trung bình và 52% là lạc hậu và rất lạc hậu; tỷ lệ sử dụng công nghệ cao mới
chỉ có 2% (trong khi đó ở Thái Lan tỷ lệ đó là 31%, Malaisia là 51% và Singapore là
73%). Các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư cho đổi mới công nghệ rất thấp, chỉ khoảng
0,2% - 0,3% trong tổng doanh thu. Thực trạng này đang đặt ra những thách thức lớn
đối với năng lực cạnh tranh của khu vực DNVVN, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay.
Các nhà quản lý DNVVN thường chưa được đào tạo bài bản về chuyên môn,
nghiệp vụ, thiếu hiểu biết đầy đủ về quản trị doanh nghiệp. Kết quả cuộc điều tra của
Cục phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ cho thấy rằng tại Việt Nam, có tới 55,63% số
chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống. Cụ thể, số người là tiến
sỹ chỉ chiếm 0,66%; thạc sỹ 2,33%; đã tốt nghiệp đại học 37,82%; tốt nghiệp cao đẳng
chiếm 3,56%; tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp chiếm 12,33% và 43,3% có trình độ
thấp hơn. Điều đáng chú ý là đa số các chủ doanh nghiệp ngay cả những người có trình
độ học vấn từ cao đẳng và đại học trở lên thì cũng ít người được đào tạo về kiến thức kinh tế và quản trị doanh nghiệp mà vẫn chủ yếu kinh doanh dựa trên kinh nghiệm, kinh doanh theo phi vụ. Điều này có ảnh hưởng lớn đến việc lập chiến lược phát triển, định hướng kinh doanh và quản lý của các doanh nghiệp. Ngoài ra, các DNVVN còn
có nguồn lao động chất lượng được đánh giá là thấp và ít. Nguyên nhân là do các DNVVN không có khả năng thu hút các nhân lực có chất lượng cao do điều kiện làm việc và chế độ làm việc ở các DNVVN không đáp ứng được mức lương thưởng như tại
các doanh nghiệp lớn.
DNVVN có cơ cấu tổ chức đơn giản, bộ máy tổ chức gọn nhẹ, số lượng nhân
viên ít. Phần lớn các DNVVN ở Việt Nam là các công ty gia đình, hoạt động theo mô 3
hình tự quản, các cấp quản lý từ giám đốc tới kế toán trưởng và trưởng phòng các ban
(nếu có) là một người nào đó có mối quan hệ trong gia đình, chưa qua trường lớp đào
tạo cơ bản về kĩ năng quản lý và cả kinh doanh, chỉ điều hành doanh nghiệp theo kinh
nghiệm, lao động làm việc trong các DNVVN chủ yếu là các lao động thủ công, tay nghề thấp. Do đó, thường các DNVVN hay xảy ra những sự kiện đáng tiếc như vi
phạm quy định nhà nước và các thông lệ quốc tế một cách không cố ý, hoạt động kinh
doanh không hiệu quả dẫn đến phá sản. Lợi thế mang lại của đặc điểm này đó là
DNVVN linh hoạt, dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trường.
Với những đặc điểm như trên, có thể thấy được vai trò của các DNVVN tại Việt
Nam là rất lớn. Không chỉ đóng vai trò ổn định và phát triển nền kinh tế, doanh nghiệp
còn tạo công ăn việc làm cho người lao động, giúp cho người dân tăng thu nhập, góp
phần xóa đói giảm nghèo, giúp ổn định và tiến bộ xã hội. Với số lượng đông đảo và cơ
chế linh hoạt, mềm dẻo, các DNVVN tạo ra các sản phẩm phong phú, đa dạng về
chủng loại, có khả năng đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của xã hội. DNVVN có
quy mô nhỏ nên phân bổ trên hầu hết các địa phương, giúp thu hút đầu tư trong dân cư
và sử dụng tối ưu các nguồn lực tại địa phương. Ngoài ra, DNNVV sẽ là động lực thúc
đẩy sản xuất nông nghiệp, sẽ hình thành những tụ điểm, cụm công nghiệp để tác động
chuyên môn hóa, đẩy nhanh quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước, góp
phần quan trọng trong việc tạo lập sự phát triển cân bằng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tích cực thì các doanh nghiệp
vừa và nhỏ cũng có những mặt hạn chế, nhất là trong môi trường cạnh tranh gay gắt
như hiện nay. Chính vì vậy, việc hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là nhiệm
vụ hết sức cần thiết mà Đảng và Nhà nước đang đặt ra nhằm đảm bảo cho sự phát triển
lâu dài, bền vững của nền kinh tế.
1.2. Các vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
ngân hàng thƣơng mại
1.2.1. Khái niệm hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng
thương mại
Theo Quyết định số 1627/2007/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức cho vay đối với khách hàng thì: “Cho vay là một hình thức cấp cho vay, theo đó tổ chức cho vay giao
cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất đinh theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Thời hạn nhất định ở đây là thời hạn cho vay”. Hay theo PGS.TS Mai Văn Bạn (trong giáo trình Nghiệp vụ ngân hàng
4
thương mại, năm 2011) thì khái niệm cho vay được hiểu là: “Cho vay của NHTM là việc chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ NHTM (người sở hữu) sang khách
hàng (người sử dụng) sau một thời gian nhất định quay trở lại NHTM với lượng giá trị
lớn hơn giá trị ban đầu”.
Từ những định nghĩa về cho vay nêu trên, có thể khái quát về cho vay đối với
DNVVN như sau: “Cho vay DNVVN của NHTM là một hình thức cấp tín dụng mà theo đó Ngân hàng giao vốn cho các DNVVN để sử dụng vào mục đích đầu tư, phát
triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình trong một thời gian nhất định theo
thỏa thuận giữa ngân hàng và DNVVN với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi theo đúng
thời hạn đã cam kết”.
1.2.2. Nguyên tắc cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Hoạt động cho vay DNVVN của NHTM phải dựa trên một số nguyên tắc nhất
định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời. Các nguyên tắc này được cụ thể
hóa trong các quy định của NHNN với các NHTM.
Nguyên tắc thứ nhất: Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong
hợp đồng cho vay.
Để đảm bảo khả năng thu hồi nguồn vốn của ngân hàng, DNVVN phải cam kết
sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng vay vốn, sử dụng vốn một
cách có hiệu quả và không trái với các quy định của pháp luật. Phương án/dự án kinh
doanh có hiệu quả của người vay minh chứng cho khả năng thu hồi được vốn đầu tư và
có lãi để trả nợ cho ngân hàng, các khoản tài trợ của ngân hàng phải gắn liền với việc hình thành tài sản của người vay. Hơn nữa, mục đích sử dụng vốn vay là căn cứ ban
đầu để ngân hàng thẩm định về tính khả thi, hiệu quả kế hoạch SXKD của khách hàng,
là cơ sở để đưa ra quyết định cho vay của ngân hàng. Chỉ khi khách hàng thực hiện
đúng cam kết ban đầu, sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận thì mới đảm bảo
cho hoạt động SXKD hiệu quả, đảm bảo cho khả năng trả nợ ngân hàng. Hoạt động
của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng, đặc biệt là khả năng thanh toán và có thể gặp phải rủi
ro nếu như DNVVN hoạt động không có hiệu quả hay sử dụng vốn sai mục đích.
Nguyên tắc thứ hai: Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa
thuận trong hợp đồng vay.
Hoạt động của ngân hàng là đi vay để cho vay, nên hầu hết nguồn vốn cho vay của ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc từ các khoản tiền gửi của khách hàng, ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng các nguồn vốn đó và phải có nghĩa vụ hoàn trả khi khách
hàng có nhu cầu rút tiền. Nếu các khoản vay không được hoàn trả đúng hạn, tức là ngân hàng không trả lại được các khoản tiền gửi của khách hàng, thì hoạt động của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng và uy tín của ngân hàng sẽ giảm sút. Chính vì vậy,
5
DNVVN phải cam kết hoàn trả cả gốc và lãi trong thời gian xác định. Nguyên tắc này đề ra nhằm đảm bảo cho các NHTM tồn tại và phát triển bền vững.
1.2.3. Các đặc điểm cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Cũng như các loại hình cho vay khác, cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
mang những đặc điểm chung của hoạt động cho vay, bên cạnh đó loại hình này cũng
có một số đặc điểm nổi bật như sau:
DNVVN có vốn chủ sở hữu thấp, năng lực quản lý yếu kém, cho nên, cho vay
DNVVN luôn tiềm ẩn rủi ro cao trong mỗi món vay. Chính vì vậy các ngân hàng phải
tiến hành chặt chẽ hơn trong quy trình cho vay và tiến hành giám sát khoản vay. Hơn
nữa, các DNVVN còn rất hạn chế trong việc đưa ra những phương án kinh doanh có tính khả thi cao, các báo cáo tài chính thì không minh bạch, không đủ sức thuyết phục
các ngân hàng, đây chính là những nguyên nhân khiến cho ngân hàng ít tin tưởng giao
vốn cho DNVVN.
Quy mô hợp đồng cho vay DNVVN thường nhỏ nhưng ngân hàng vẫn phải thực
hiện các thủ tục cho vay bao gồm tất cả các công đoạn như tìm hiểu thông tin về khách
hàng, thẩm định trước khi cho vay… làm tăng chi phí vay. Doanh nghiệp không những
phải trả lãi suất cho vay theo qui định mà còn phải trả cả chi phí của tất cả những thủ
tục cho vay trên, dẫn tới hệ quả là lãi suất vay thực tế của DNVVN thậm chí còn cao
hơn lãi suất cho vay của các Doanh nghiệp lớn. Trong khi các DNVVN là đối tượng
cần được hỗ trợ lãi suất do còn nhiều khó khăn về vốn.
Số lượng các DNVVN trong nền kinh tế chiếm phần đông, nhu cầu vay vốn lại lớn nên số lượng các món vay nhiều. Mặt khác, do đặc thù kinh doanh, các DNVVN
có quan hệ trao đổi, mua bán với bạn hàng liên tục, mỗi món hàng có giá trị không
nhiều nhưng do có nhu cầu vay vốn nên doanh nghiệp có thể tạo nhiều tiểu khoản
riêng biệt tại ngân hàng, gây nhiều khó khăn trong việc quản lý các tài khoản cho vay
của cán bộ tín dụng. Vì thế mà cho vay đối với DNVVN đòi hỏi cán bộ tín dụng phải
là người có kinh nghiệm, có cách sắp xếp , quản lý các món vay một cách hợp lý, hạn
chế sai sót gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động cho vay.
Các DNVVN thường vay vốn để đáp ứng nhu cầu bổ sung vốn lưu động, chi trả
cho các hoạt động ngắn hạn như mua nguyên vật liệu sản xuất, trả lương công nhân viên, vay theo hạn mức tín dụng nhằm đáp ứng các giao dịch mụa bán với nhà cung ứng…. nên thời gian của các khoản cho vay DNVVN thường ngắn.
Các thông tin về DNVVN thường rất khó xác định do giấy tờ, sổ sách kế toán
không đầy đủ, chi tiết qua đó khoản vay thường mang nhiều rủi ro qua đó ngân hàng thường yêu cầu doanh nghiệp phải có tài sản đảm bảo khi vay vốn. Tài sản đảm bảo là điều kiện quan trọng để ngân hàng ra quyết định cho doanh nghiệp vay vốn cũng như
quyết định quy mô khoản vốn được vay. Tuy nhiên hầu hết các DNVVN ở Việt Nam không có, không đủ tài sản đảm bảo cho việc vay vốn, hoặc nếu có thì không đáp ứng
đầy đủ quy định về tài sản đảm bảo cho vay theo yêu cầu của ngân hàng. Chính vì vậy, 6
ngân hàng cần tiến hành nâng cao hiệu quả thẩm định tài sản đảm bảo, tránh những rủi
ro gặp phải trong quá trình cho vay.
1.2.4. Phương thức cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ 1.2.4.1. Theo kỳ hạn cho vay
Căn cứ theo kỳ hạn, cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ được chia thành cho vay
ngắn hạn và cho vay trung – dài hạn.
Cho vay ngắn hạn: Khoản vay ngắn hạn là các khoản vay có thời gian cho vay
đến 12 tháng. Mục đích của loại hình cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc hình thành, mua sắm tài sản lưu động, đáp ứng nhu cầu vốn lưu động của DNVVN trong
hoạt động kinh doanh. Các loại cho vay ngắn hạn doanh nghiệp vừa và nhỏ như: Cho
vay vốn lưu động, cho vay vốn xây dựng công trình, cho vay theo hạn mức thấu chi….
Cho vay trung hạn và dài hạn: Cho vay trung - dài hạn là loại hình cho vay
trong đó các bên thỏa thuận thời hạn sử dụng vốn vay là từ 1 – 5 năm và trên 5 năm.
Các loại cho vay trung và dài hạn đối với DNVVN bao gồm: Cho vay mua sắm thiết
bị, máy móc; Cho vay theo dự án đầu tư, cho vay theo hạn mức tín dụng…
1.2.4.2. Theo tính chất đảm bảo
Theo tính chất đảm bảo, cho vay DNVVN có hai loại chính: Cho vay có đảm bảo
bằng tài sản và cho vay không có đảm bảo bằng tài sản.
Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba. Đối với cho vay
DNVVN, các tài sản doanh nghiệp có thể cầm cố hoặc thế chấp là: Tài sản cố định
thuộc sở hữu của doanh nghiệp, máy móc thiết bị, hàng hóa luân chuyển, các khoản
phải thu, quyền đòi nợ, chứng khoán hoặc đảm bảo, ủy thác vốn của bên thứ ba.
Cho vay không có đảm bảo bằng tài sản: Là việc ngân hàng cho doanh nghiệp
vay vốn không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc không có bảo lãnh của người thứ ba về
tài sản. Trong trường hợp cho vay DNVVN, đối với những doanh nghiệp có phương
án sản xuất kinh doanh và quan hệ tín dụng tốt với ngân hàng, ngân hàng có thể cho
vay dựa vào uy tín của bản thân doanh nghiệp mà không cần một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung. Mỗi ngân hàng sẽ có các quy định riêng về cho vay không có tài sản đảm bảo như điều kiện cho vay, lãi suất cho vay, mức cho vay tối đa, quy trình cho vay….. Trường hợp các DNVVN có đủ điều kiện để được vay không có bảo đảm bằng tài sản,
nhưng uy tín với ngân hàng chưa thực sự đảm bảo, ngân hàng có thể thoả thuận với doanh nghiệp vay vốn về việc có một bên thứ ba, bên thứ ba này phải có uy tín và khả năng tài chính, cam kết bằng văn bản rằng sẽ trả nợ thay cho doanh nghiệp vay trong
trường hợp doanh nghiệp vay không trả được nợ cho ngân hàng.
Ngoài những hình thức cho vay trên, tùy thuộc vào tình hình thực tế và nhu cầu
sử dụng vốn của khách hàng mà ngân hàng có thể áp dụng nhiều hình thức cho vay 7
khác như: cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, cho vay ủy thác, cho vay hợp
vốn,….
1.2.5. Vai trò của hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong nền kinh tế thị trường sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một tất yếu khách quan và cũng như các loại hình doanh nghiệp khác trong quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp này cũng sử dụng vốn tín dụng
ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn cũng như để tối ưu hoá hiệu quả sử dụng
vốn của mình. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò rất quan trọng, nó chẳng những thúc đẩy sự phát triển khu vực
kinh tế này mà thông qua đó tác động trở lại thúc đẩy hệ thống ngân hàng, đổi mới
chính sách tiền tệ hoàn thiện các cơ chế chính sách về tín dụng, thanh toán ngoại hối…
1.2.5.1. Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Hoạt động cho vay DNVVN của ngân hàng góp phần đảm bảo cho hoạt động của
các DNVVN được liên tục. Trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp luôn
cần phải cải tiến kỹ thuật thay đổi mẫu mã mặt hàng, đổi mới công nghệ máy móc thiết
bị để tồn tại đứng vững và phát triển trong cạnh tranh. Trên thực tế không một doanh
nghiệp nào có thể đảm bảo đủ 100% vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn
của ngân hàng đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ bản, mua
sắm máy móc thiết bị cải tiến phương thức kinh doanh. Từ đó góp phần thúc đẩy tạo điều kiện cho quá trình phát triển sản xuất kinh doanh đựơc liên tục.
Hoạt động cho vay DNVVN của ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn của DNVVN. Khi sử dụng nguồn vốn vay của ngân hàng, các doanh nghiệp phải
tôn trọng hợp đồng tín dụng phải đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn và phải tôn
trọng các điều khoản của hợp đồng cho dù doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hay
không. Do đó đòi hỏi các DNVVN khi muốn tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng phải
có phương án sản xuất khả thi, không chỉ thu hồi đủ vốn mà các doanh nghiệp còn
phải tìm cách sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh chóng vòng quay vốn, đảm bảo tỷ
suất lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất ngân hàng thì mới trả được nợ và kinh doanh có lãi. Trong quá trình cho vay ngân hàng thực hiện kiểm soát trước, trong và sau khi giải ngân buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả.
Hoạt động cho vay DNVVN của ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối
ưu cho DNVVN. Nguồn vốn vay chính là công cụ đòn bẩy để doanh nghiệp tối ưu hoá hiệu quả sử dụng vốn. Đối với các DNVVN do hạn chế về vốn nên việc sử dụng vốn tự có để sản xuất là khó khăn vì vốn hạn hẹp và nếu sử dụng thì giá vốn sẽ cao, từ đó
8
giá thành sản phẩm cũng tăng lên, sản phẩm khó được thị trường chấp nhận. Để đạt được hiệu quả kinh doanh thì các DNVVN phải có một cơ cấu vốn tối ưu, kết cấu hợp
lý nhất là nguồn vốn tự có và vốn vay nhằm tối đa hoá lợi nhuận tại mức giá vốn bình
quân rẻ nhất.
Ngoài ra, hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại góp phần giúp cho các
DNVVN tập trung vốn sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường. 1.2.5.2. Đối với ngân hàng
Hoạt động cho vay trong đó có cho vay đối với giúp Ngân hàng nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn bởi hoạt động của ngân hàng là đi vay để cho vay nên khi nguồn vốn
ngân hàng huy động được đạt mức cao nhưng lại không thể cho vay được, gây nên tình trạng thừa, ứ đọng vốn, các ngân hàng làm ăn không hiệu quả.
Cho vay các DNNVV chiếm một vị trí rất quan trọng trong chiến lược phát triển
kinh doanh của ngân hàng, bởi cho vay là nguồn tạo ra khoản lợi nhuận lớn cho các
ngân hàng, mặc dù cũng mang lại nhiều rủi ro cho ngân hàng. Một ngân hàng có hoạt
động cho vay tốt sẽ mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng, giúp ngân hàng có khoản
thu đủ để chi trả một phần cho các chi phí như chi phí huy động vốn, chi phí hoạt động
của ngân hàng, trả lương cho nhân viên. Bên cạnh đó, hoạt động cho vay DNNVV sẽ
giúp các ngân hàng có thể tăng cường quan hệ giữa ngân hàng và các DNNVV đồng
thời mở rộng thị phần, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trong nền kinh tế thị
trường, tạo điều kiện thuận lợi để cho ngân hàng tăng nguồn vốn huy động và phát
triển trong tương lai.
1.3. Đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng
thƣơng mại
1.3.1. Sự cần thiết phải đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại ngân hàng thương mại
Đẩy mạnh hoạt động cho vay DNVVN giúp cho nguồn vốn huy động của ngân
hàng bỏ ra được sử dụng hiệu quả, ngân hàng thu được lợi nhuận từ mỗi khoản vay
của khách hàng. Ngân hàng có nhiều điều kiện mở rộng hoạt động cho vay cũng như
các dịch vụ ngân hàng khác, đồng thời tăng cường khả năng cạnh tranh của ngân hàng
trên thị trường. Chính vì vậy đẩy mạnh hoạt động cho vay là cần thiết và là xu thế tất yếu của các NHTM trong giai đoạn hiện nay.
Hoạt động cho vay của NHTM là kênh cung cấp vốn chủ yếu cho các DNVVN hiện nay. Trong quá trình mở rộng SXKD, các nhu cầu về vốn thường xuyên phát sinh
và để phục vụ tốt cho hoạt động SXKD, nâng cao hiệu quả hoạt động thì doanh nghiệp phải sử dụng nguồn vốn đi vay bởi quy mô vốn chủ sở hữu của các DNVVN hiện nay thường nhỏ bé. Nhờ có vốn vay từ ngân hàng mà các DNVVN có thêm nguồn vốn để
đổi mới trang thiết bị, mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Vốn vay ngân hàng cũng kích thích
9
các DNVVN kinh doanh hiệu quả hơn.
Đẩy mạnh hoạt động cho vay DNVVN của NHTM góp phần thúc đẩy các doanh
nghiệp sản xuất và lưu thông hàng hóa tốt hơn tạo điều kiện giải quyết công ăn việc
làm, tăng cường an sinh xã hội. Nó còn góp phần khai thác có hiệu quả các nguồn lực
quốc gia, thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn phục vụ SXKD, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng cho vay, góp phần ổn định
kinh tế vĩ mô.
1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa
và nhỏ tại ngân hàng thương mại 1.3.2.1. Nhóm các chỉ tiêu định tính
Tuân thủ theo cơ sở pháp lý, nguyên tắc và quy trình cho vay: Hoạt động cho
vay DNVVN phải tuân thủ các quy định của pháp luật Nhà nước, cao nhất là Hiến
pháp và Luật các tổ chức tín dụng, các quy chế cho vay, các văn bản chỉ đạo của
Chính phủ và ngân hàng Nhà nước và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
Chính sách cho vay đúng đắn, phù hợp với từng thời kỳ cụ thể: Để đẩy mạnh
hoạt động cho vay đối với DNVVN mà vẫn đảm bảo an toàn cho nguồn vốn của ngân
hàng thương mại, yêu cầu hoạt động cho vay DNVVN phải tuân thủ quy chế, quy trình
nghiệp vụ cho vay. Từ những đặc điểm riêng có của mình, ngân hàng điều chỉnh và
đưa ra quy chế phù hợp nhất như: Lập sổ tay tín dụng, chính sách ưu tiên dành cho
khách hàng có lịch sử tín dụng tốt, hạn chế cấp tín dụng với khách hàng có lịch sử tín dụng xấu hoặc khách hàng kinh doanh ngành nghề mang nhiều rủi ro cho từng thời kỳ
cụ thể. Từ đó, hoạt động cho vay DNVVN của ngân hàng sẽ được đẩy mạnh hơn.
Hoạt động kiểm soát nội bộ của ngân hàng: Hoạt động cho vay đối với
DNVVN của ngân hàng phải đối mặt với rất nhiều rủi ro, vì đây là loại hình doanh
nghiệp dễ bị tác động bởi các ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài. Chính vì vậy công tác
kiểm soát nội bộ đóng vai trò quan trọng trong việc nhận dạng, đo lường, đánh giá các
hoạt động cho vay để kịp thời phát hiện, ngăn ngừa rủi ro, qua đó đề xuất những biện
pháp quản lý rủi ro thích hợp. Qua đó, nguồn vốn của ngân hàng được đảm bảo, hoạt
động của ngân hàng được giữ vững, góp phần thức đẩy hoạt động cho vay đối với DNVVN.
Số lƣợng DNVVN có quan hệ tín dụng với ngân hàng: Trên thị trường, sự cạnh tranh luôn luôn tồn tại và một yếu tố tất yếu. Trong bất cứ ngành nghề kinh
doanh nào thì các doanh nghiệp cũng mong muốn có được thị phần lớn nhất có thể có trong phạm vi hoạt động của mình. Ngành ngân hàng cũng không phải là một ngoại lệ. Trong những năm gần đây, các ngân hàng thương mại cổ phần ngày càng phát triển
10
mạnh mẽ với mạng lưới mở rộng khắp cả nước. Có rất nhiều ngân hàng cùng hoạt động trên một địa bàn nên dẫn đến việc số lượng doanh nghiệp có quan hệ vay mượn
với từng ngân hàng sẽ giảm đi nếu như mỗi ngân hàng không có những biện pháp để
mở rộng thị phần của mình.
Xét về chỉ tiêu số lượng DNVVN có quan hệ tín dụng với ngân hàng thì đây là
một chỉ tiêu tuơng đối phản ánh hoạt động cho vay của ngân hàng đối với DNVVN. Qua mỗi năm, số liệu này sẽ phản ánh sự tăng trưởng về số lượng DNVVN có quan hệ
tín dụng với ngân hàng cũng như việc ngân hàng có tiến hành việc đẩy mạnh cho vay
đối với đối tượng khách hàng này hay không.
Uy tín, hình ảnh, thƣơng hiệu của ngân hàng Uy tín của ngân hàng là chỉ tiêu quan trọng, nó ảnh hưởng đến hoạt động kinh
doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay đối với DNNVV nói riêng.
Ngân hàng tồn tại được chính là nhờ sự tin cậy của khách hàng với ngân hàng.
Uy tín của mỗi ngân hàng được xây dựng, hình thành trong cả một quá trình lâu
dài. Khi khách hàng đến thực hiện giao dịch tại ngân hàng họ mong muốn được cung
cấp những sản phẩm dịch vụ tốt nhất và sự chăm sóc tận tình, chu đáo nhất và thường
chọn những ngân hàng lớn có uy tín để giao dịch. Chính vì vậy một ngân hàng tạo
dựng được uy tín đối với khách hàng sẽ thu hút các khách hàng đến với ngân hàng đó
nhiều hơn, qua đó nâng cao hình ảnh, thương hiệu của ngân hàng. Đó chính là tiền đề
cho việc huy động được nguồn vốn lớn hơn với chi phí rẻ hơn, qua đó ngân hàng sẽ có
thêm nguồn lực để đẩy mạnh hoạt động cho vay nói chung và hoạt động cho vay DNVVN nói riêng.
1.3.2.2. Nhóm chỉ tiêu định lượng
Vòng quay vốn cho vay DNVVN
Doanh số thu nợ cho vay DNVVN Vòng quay vốn cho vay = DNVVN Dư nợ bình quân cho vay DNVVN
Chỉ tiêu vòng quay vốn cho vay DNVVN phản ánh số vòng chu chuyển vốn của
NHTM đối với khách hàng của hoạt động cho vay DNVVN, cho biết thời gian thu nợ
vay nhanh hay chậm. Hệ số này càng tăng cho thấy tình hình quản lý vốn cho vay tốt,
hiệu quả cho vay cao. Ngược lại chỉ số này thấp chứng tỏ có những bất ổn có thể xảy
ra trong quá trình thu hồi vốn. Thông qua đó ngân hàng sớm có biện pháp nhắc nhở, đôn đốc khách hàng, kịp thời hạn chế rủi ro có thể xảy ra. Đây cũng là căn cứ để ngân
hàng đưa ra quyết định có cho vay trong những lần tiếp theo hay không. Bên cạnh đó,
11
cũng cần xem xét tới một nhân tố là dư nợ bình quân cho vay DNVVN. Khi dư nợ bình quân thấp làm cho vòng quay vốn tín dụng lớn nhưng lại không phản ánh được chất lượng khoản cho vay là cao bởi nó thể hiện khả năng cho vay kém của ngân hàng. Số món cho vay DNVVN: Số món cho vay DNVVN là chỉ tiêu phản ánh số lượng món vay DNVVN mà ngân hàng đã giải ngân trong khoảng thời gian nhất định.
Số món cho vay nhiều chứng tỏ hoạt động cho vay DNVVN ngày càng được chú trọng
đẩy mạnh, số món cho vay ít cho thấy hoạt động cho vay DNVVN chưa đạt được hiệu
quả, khách hàng tìm đến ngân hàng còn chưa nhiều hoặc các khách hàng là DNVVN
không có những phương án SXKD tốt nên ngân hàng không cấp vốn hoặc là các hình thức cho vay DNVVN của ngân hàng chưa thực sự thu hút được khách hàng.
Số DNVVN đƣợc vay vốn Số DNVVN được vay vốn là chỉ tiêu cho biết số lượng các DNVVN mà ngân
hàng đã ký hợp đồng tín dụng trong một khoảng thời gian nhất định. Số DNVVN được vay vốn nhiều chứng tỏ chính sách cho vay của ngân hàng tốt, thu hút được nhiều
khách hàng đến với ngân hàng hơn, uy tín của ngân hàng được nâng cao. Tuy nhiên số
doanh nghiệp được vay vốn càng nhiều thì chứng tỏ ngân hàng càng gặp nhiều rủi ro
trong hoạt động tín dụng, vì thế ngân hàng cần cải tiến quy trình cho vay, nâng cao
chất lượng thẩm định và giám sát chặt chẽ hơn nữa nhằm đảm bảo nguồn vốn vay đến
được với các doanh nghiệp đang thực sự cần vốn và có tiềm năng phát triển nhưng vẫn
đảm bảo được an toàn trong hoạt động của ngân hàng.
Giá trị trung bình một món vay DNVVN
Chỉ tiêu này đƣợc tính bằng công thức:
Doanh số cho vay DNVVN Giá trị trung bình một món = vay DNVVN Số món cho vay DNVVN
Gía trị trung bình của một món vay phản ánh quy mô trung bình của một khoản
cho vay DNVVN. Chỉ tiêu này lớn chứng tỏ ngân hàng đang cho các DNVVN vay với
số tiền giải ngân lớn, hoạt động cho vay được đẩy mạnh cả về mặt giá trị và số lượng.
Tuy nhiên thông thường giá trị các khoản vay của DNVVN thường nhỏ, do doanh
nghiệp chủ yếu vay để bổ sung nguồn vốn lưu động hoặc phục vụ nhu cầu SXKD theo
thời vụ như mua nguyên vật liệu, đầu tư ngắn hạn….
Tỷ lệ NQH trong cho vay DNVVN NQH là khoản nợ gốc hay lãi mà khách hàng không trả được khi đến hạn thỏa
thuận ghi trên hợp đồng tín dụng.
Tỷ lệ NQH trong cho vay DNVVN là tỷ lệ phần trăm giữa NQH và tổng dư nợ cho vay DNVVN của ngân hàng ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm. Tỷ lệ này cho biết tại thời điểm xác định cứ 100 đồng ngân hàng đã
cho vay DNVVN có bao nhiêu đồng là NQH.
NQH cho vay DNVVN * 100% Tỷ lệ NQH cho vay DNVVN =
12
Tổng dư nợ cho vay DNVVN
Đối với ngân hàng, việc khách hàng không trả đúng hạn có thể ảnh hưởng đến
tính thanh khoản cũng như hoạt động kinh doanh của ngân hàng, khả năng thu được nợ
vay là thấp. Ngân hàng cần có những biện pháp hữu hiệu để giảm thiểu thiệt hại kịp
thời như tăng cường công tác đôn đốc khách hàng trả nợ khi đến hạn, tích cực đòi nợ đã quá hạn cũng như giám sát chặt chẽ tình hình tài chính của khách hàng nhằm giảm
thiểu những rủi ro trong cho vay có thể đến. Việc đẩy mạnh hoạt động cho vay cũng bị
ảnh hưởng một phần thông qua NQH. Tỷ lệ NQH càng cao chứng tỏ ngân hàng đang
gặp rủi ro tín dụng và có khả năng mất vốn.
Tỷ lệ nợ xấu trong cho vay DNVVN Nợ xấu là những khoản nợ mà khả năng thu hồi rất thấp. Theo Quyết định
493/2005/QĐ-NHNN thì nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 là nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng
dư nợ vào khoảng 2% - 5% là chấp nhận được.
Nợ xấu cho vay DNVVN * 100% Tỷ lệ nợ xấu trong cho vay = DNVVN Tổng dư nợ cho vay DNVVN
Tỷ lệ nợ xấu trong cho vay DNVVN phản ánh tỷ trọng của nợ xấu trong tổng dư
nợ cho vay DNVVN của ngân hàng, cho biết trong 100 đồng nợ cho vay DNVVN thì
có bao nhiêu đồng là nợ xấu. Tỷ lệ này càng cao càng phản ánh những rủi ro trong cho
vay DNVVN của ngân hàng lớn. Nợ xấu phản ảnh khả năng thu hồi vốn khó khăn của
ngân hàng lúc này không còn ở mức độ rủi ro thông thường nữa mà có nguy cơ mất
vốn. Có nhiều biện pháp để giải quyết nợ xấu, tùy vào tình hình thực tế của doanh
nghiệp mà ngân hàng có thể đưa ra những biện pháp khác nhau từ gia hạn nợ đến phát
mại TSĐB.
Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro (DPRR) cho vay DNVVN Theo điều 2 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN quy định: “Dự phòng rủi ro là
khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng
của tổ chức tín dụng không thực hiện theo nghĩa vụ cam kết”. Do đó các ngân hàng sử
dụng quỹ dự phòng rủi ro nhằm bù đắp khoản nợ quá hạn của khách hàng khi rủi ro
xảy ra để không làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng. Để đánh giá vấn đề trích lập và sử dụng vốn dự phòng trong cho vay DNVVN, các ngân hàng sử dụng chỉ tiêu sau:
DPRR cho vay DNVVN được trích * 100% Tỷ lệ trích lập DPRR cho = vay DNVVN Dư nợ cho vay DNVV
13
Tỷ lệ trích lập DPRR cho vay DNVVN cho biết cơ cấu trích lập dự phòng trên tổng dư nợ cho vay DNVVN là bao nhiêu. Theo quy định hiện nay nhóm nợ xấu chiếm tỷ trọng càng lớn trong tổng dư nợ cho vay thì các ngân hàng phải trích DPRR
càng nhiều. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ rủi ro tín dụng tiềm tàng mà ngân hàng đang
đối mặt càng lớn, hiệu quả của hoạt động cho vay DNVVN càng giảm sút.
Khả năng bù đắp rủi ro Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp cũng như các NHTM phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt, chịu sự chi phối lớn của các quy luật cung -
cầu, quy luật cạnh tranh... nên phải thường xuyên đối mặt với rủi ro từ mọi phía. Có
khi giá cả thay đổi, do công nghệ lạc hậu, khả năng quản lý và điều hành kém, khủng
hoảng tài chính... gây phản ứng dây chuyền khiến các doanh nghiệp gặp khó khăn, thua lỗ trong kinh doanh, thậm chí vỡ nợ dẫn đến phá sản. Mặt khác do thông tin tín
dụng không đầy đủ, nếu một bên không nắm vững tình hình tài chính, uy tín khả năng
thanh toán của đối tác, không am hiểu, không kiểm tra được các thông số kỹ thuật và
hiệu quả của dự án mà mình tài trợ thì rủi ro tín dụng là điều khó tránh khỏi.
DPRR cho vay DNVVN được trích = Hệ số khả năng bù đắp rủi ro khoản cho vay DNVVN Nợ đã xử lý rủi ro
Thu nhập từ hoạt động cho vay DNVVN Bất kỳ một đơn vị kinh doanh nào, khi đã tiến hành hoạt động đầu tư thì đều kỳ
vọng vào một nguồn thu nhập cao trong tương lai và các NHTM cũng không phải là
một ngoại lệ. Việc đẩy mạnh họat động cho vay đối với các DNVVN có đạt được hiệu
quả thực sự hay không thì cần phải xem xét đến chỉ tiêu này.
Khi mà dư nợ cho vay có tăng lên nhưng doanh thu lại không tăng thì chứng tỏ
hoạt động cho vay không đạt hiệu quả. Ngoài ra, chúng ta có thể xem xét đến tỷ trọng
đóng góp thu nhập của hoạt động cho vay DNVVN trong tổng thu của NHTM để được
kết quả của việc đẩy mạnh hoạt động cho vay DNVVN trong các năm.
Lãi từ hoạt động cho vay DNVVN = x 100% Thu nhập từ cho vay DNVVN Thu nhập từ hoạt động cho vay
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của các khoản cho vay của ngân hàng, nó cho biết tỷ lệ lãi phát sinh từ hoạt động cho vay trên một đơn vị thu nhập là bao nhiêu. Với cùng một mức thu nhập, nếu ngân hàng nào càng giảm được chi phí đầu
vào càng nhiều thì tỷ lệ thu nhập càng lớn, chứng tỏ ngân hàng hoạt động tốt, điều này
14
góp phần tạo nên đẩy mạnh hoạt động cho vay tốt.
1.4. Các nhân tố ảnh hƣởng tới việc đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thƣơng mại
1.4.1. Các nhân tố khách quan
Các nhân tố khách quan như môi trường chính trị, pháp lý, kinh tế - xã hội…có ảnh hưởng lớn đến hoạt động cho vay, đặc biệt là cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Cụ thể:
Môi trƣờng chính trị và chính sách của Nhà Nƣớc Việt Nam có môi trường chính trị ổn định, đây là điều kiện hết sức thuận lợi, tạo tâm lý an tâm cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước, tạo sự an tâm cho người dân bỏ
vốn sản xuất kinh doanh. Đó cũng là môi trường thuận lợi cho hoạt động cho vay nói
chung và cho vay đối với DNVVN nói riêng của NHTM.
Hiện nay, các chủ trương chính sách vĩ mô của nhà nước thay đổi nhanh chóng
đã gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp. Khi các chính sách này ổn
định, phù hợp, nó sẽ kích thích doanh nghiệp sản xuất hiệu quả. Nhưng khi chính sách
thay đổi liên tục như sự thay đổi cơ cấu kinh tế, chính sách xuất nhập khẩu…. sẽ ảnh
hương đến hoạt động, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, do đó việc đẩy mạnh hoạt
động cho vay của ngân hàng cũng được đẩy mạnh.
Môi trƣờng pháp lý Hiện tại nước ta đã có những cải cách đáng kể để tạo ra môi trường pháp lý bình đẳng và công bằng cho các loại hình doanh nghiệp cùng tham gia kinh doanh, từng
bước tiến tới hệ thống pháp luật đồng bộ, điều chỉnh các loại hình doanh nghiệp theo
một cơ chế, chính sách thống nhất trên quan điểm Nhà nước tôn trọng và đảm bảo
quyền tự do kinh doanh theo pháp luật của mỗi công dân, từng doanh nghiệp; huy
động tối đa các nguồn vốn trong xã hội, giải phóng triệt để và phát triển mạnh mẽ các
nguồn lực sản xuất. Một hành lang pháp lý hoàn chỉnh, đồng bộ sẽ tạo điều kiện cho
ngân hàng và doanh nghiệp dễ dàng hoạt động, từ đó hoạt động cho vay cũng được
đẩy mạnh.
Môi trƣờng kinh tế - xã hội Môi trường kinh tế - xã hội ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tín dụng của các NHTM đối với các doanh nghiệp nói chung và với DNVVN nói riêng. Bất cứ biến động nào của yếu tố kinh tế vĩ mô đều có thể tác động đến việc đẩy mạnh hoạt động
cho vay của ngân hàng. Một nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, sản xuất kinh doanh từ đó đảm bảo trả nợ đầy đủ và đúng hạn cho ngân hàng. Nhưng khi nền kinh tế không ổn định, những biến động về tỷ giá, lạm phát hay
thị trường sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp, từ đó doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả, việc đẩy mạnh hoạt động cho vay cũng bị tác
15
động.
1.4.2. Các nhân tố chủ quan 1.4.2.1. Từ phía khách hàng
Quy mô vốn và năng lực tài chính của DNVVN Đây là điều kiện hàng đầu mà ngân hàng cần xem xét, đánh giá trước khi cho doanh nghiệp vay vốn. Các DNVVN thường có quy mô vốn nhỏ và năng lực tài chính
không lớn nên không có nhiều khả năng tăng quy mô vốn chủ sở hữu. Cũng do sự hạn
hẹp về vốn nên DNVVN thường không có sự đầu tư hợp lý, có xu hướng đầu tư vào
tài sản cố định nên thiếu vốn lưu động để tiến hành sản xuất kinh doanh. Việc đánh giá khả năng tài chính đối với các DNVVN khi cho vay là quy trình tất yếu, tuy nhiên, nó
sẽ khiến các DNVVN có năng lực tài chính yếu kém khó khăn hơn trong việc tiếp cận
nguồn vốn cho vay. Hay nếu ngân hàng cấp vốn thì cũng sẽ gặp nhiều rủi ro.
Tuy nhiên, việc các DNVVN có quy mô sản xuất nhỏ thường giúp họ dễ thích
nghi với những biến động thị trường hơn các doanh nghiệp lớn. Các DNVVN thuận
lợi hơn trong việc chuyển đổi sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường.
Nhìn chung, vốn chủ sở hữu và năng lực tài chính của DNVVN đủ lớn sẽ tạo ra
điều kiện chắc chắn hơn giúp các DNVVN tránh được nguy cơ phá sản do mất khả
năng thanh toán các khoản nợ của ngân hàng, hạn chế mức thấp nhất tổn thất với ngân
hàng khi doanh nghiệp không có khả năng trả nợ, góp phần nâng cao hiệu quả cho vay
với các DNVVN.
Phƣơng án sản xuất kinh doanh Cùng với tài sản đảm bảo thì dự án, phương án sản xuất kinh doanh là một trong
những nhân tố giúp ngân hàng đưa ra quyết định có cho DNNVV vay vốn hay không
và lượng vay là bao nhiêu? Chính vì vậy ngay từ khi lập hồ sơ vay vốn, doanh nghiệp
đã phải lập và trình cho ngân hàng một phương án sản xuất kinh doanh có tính khả thi,
phù hợp với khả năng tài chính, năng lực lãnh đạo của mình. Đây là bước đầu tiên để
thiết lập quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng, tuy nhiên, hoạt động cho vay lại được
quyết định phần lớn ở việc khách hàng đó sử dụng đồng vốn đó như thế nào, họ có tiến
hành sản xuất kinh doanh đúng với dự án, phương án đã nêu hay không, hay họ lại sử dụng vốn đó vào việc khác. Thực tế có rất nhiều DNNVV cố tình tạo ra những dự án, phương án sản xuất kinh doanh giả với mục đích xin được vay vốn nhưng khi vay vốn được thì lại sử dụng đồng vốn vào hoạt động kinh doanh khác hay mục đích khác gây
ra rất nhiều khó khăn cho ngân hàng trong việc đánh giá, lượng hóa khả năng trả nợ cũng như rủi ro của khoản vay. Muốn quản lý được việc này, các cán bộ tín dụng cần phải thường xuyên kiểm tra đối với các DNNVV đã nhận các món vay của ngân hàng,
cảnh cáo và xử lý nghiêm khắc những trường hợp làm trái các cam kết trong hợp đồng. Có như vậy ngân hàng mới giảm được rủi ro cho ngân hàng và nâng cao chất lượng
16
cho vay.
Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ Một doanh nghiệp có đội ngũ quản lý với trình độ chuyên môn cao ảnh hưởng
trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đây cũng là một tiêu chí
quan trọng để ngân hàng đưa ra quyết định có cho DNVVN vay vốn hay không và nếu vay thì với hạn mức là bao nhiêu.
Đạo đức kinh doanh của chủ doanh nghiệp Một trong những rủi ro mà ngân hàng rất hay gặp trong hoạt động cho vay, đặc
biệt trong cho vay DNVVN là vấn đề đạo đức của khách hàng. Việc thu thập thông tin, đánh giá đạo đức của khách hàng là rất khó khăn với ngân hàng. Ngân hàng thường
hạn chế số lượng tiền cho vay đối với những khách hàng mới, chưa có quan hệ với
ngân hàng. Nếu các DNVVN báo cáo một cách đầy đủ, minh bạch, sử dụng vốn đúng
mục đích kinh doanh, thực hiện vay và trả tốt thì có thể tiếp cận được nhiều hơn đối
với nguồn vốn, từ đó góp phần đẩy mạnh hoạt động cho vay. Tuy nhiên, nếu các
DNVVN cố tình báo cáo sai lệch các thông tin, sử dụng vốn sai mục đích, thì sẽ không
thể tiếp cận được với nguồn vốn của ngân hàng. Các ngân hàng sẽ mất dần niềm tin
đối với các DNVVN từ đó sẽ thắt chặt các biện pháp đảm bảo tiền vay, khả năng tiếp
cận nguồn vốn của các DNVVN ngày càng hạn chế.
1.4.2.2. Từ phía ngân hàng
Chiến lƣợc kinh doanh của ngân hàng Trong nền kinh tế hiện nay, quá trình cạnh tranh càng ngày càng trở nên gay gắt,
mỗi ngân hàng phải xây dựng cho mình một phương châm, chiến lược kinh doanh
đúng đắn và hiệu quả. Đó là một điều kiện vô cùng quan trọng giúp cho ngân hàng có
định hướng nhất quán trong việc khai thác tốt nhất tiềm lực hiện có và có thể thích ứng
tốt với những biến đổi của môi trường kinh doanh gay gắt hiện nay.
Khi mà chiến lược kinh doanh đặt ra không hiệu quả, không đúng đắn thì mọi
hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay của ngân hàng nói riêng
không thể phát triển được, thậm chí nó có thể gây nên những tổn thất khôn lường cho
ngân hàng. Chiến lược phát triển sẽ tạo ra một định hướng chung về khách hàng mục tiêu của ngân hàng và từ đó xây dựng nên các chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với đối tượng khách hàng đó.
Để phù hợp với xu thế hiện nay thì các NHTM đang ngày càng quan tâm đến
các DNVVN và đang thúc đẩy việc thiết lập chiến lược kinh doanh hướng vào đối tượng này. Chính điều này đã có ảnh hưởng quyểt định đến họat động cho vay nói chung, doanh số cho vay cũng như đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với DNVVN nói
17
riêng trong mỗi một ngân hàng.
Chính sách cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ Chính sách cho vay của một NHTM được xem như là kim chỉ nam trong hoạt
động cho vay của ngân hàng đó. Chính sách cho vay đúng đắn, đồng bộ và hiệu quả sẽ
giúp cho các CBTD cấp vốn đúng đối tượng, đúng mục đích, từ đó hoạt động cho vay được đẩy mạnh hơn. Tất cả những yếu tố như: chính sách chăm sóc khách hàng trước
và sau khi cấp tín dụng; quy định về lãi suất và phí dịch vụ; thủ tục xin vay vốn; thời
gian thẩm định vốn….đều ảnh hưởng đến nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, từ đó
ảnh hưởng đến việc đẩy mạnh hoạt động cho vay.
Chất lƣợng và tính đa dạng của các hình thức cho vay Đây là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động cho vay của ngân hàng nói
chung và cho vay DNVVN nói riêng. Trong điều kiện các ngân hàng cạnh tranh gay
gắt như hiện nay đòi hỏi ngân hàng phải không ngừng nâng cao chất lượng các sản
phẩm dịch vụ và thực hiện đa dạng hóa sản phẩm, tạo ra tính khác biệt cho sản phẩm
ngân hàng để củng cố và mở rộng thị phần, duy trì khả năng cạnh tranh của chính ngân
hàng mình.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị và công nghệ của ngân hàng Cơ sở vật chất, trang thiết bị và công nghệ của ngân hàng cũng là yếu tố gây ảnh
hưởng tới việc đẩy mạnh cho vay DNVVN nói riêng và các hoạt động khác của ngân
hàng nói chung. Với trang thiết bị hiện đại có thể giúp ngân hàng thực hiện nghiệp vụ của mình một cách nhanh chóng, chính xác như việc ứng dụng tin học vào việc quản
lý, theo dõi khách hàng, cập nhật thông tin về các DNVVN vay vốn. Hệ thống trang
thiết bị hiện đại cũng giúp cho ngân hàng ghi được dấu ấn trong lòng khách hàng về sự
khác biệt trong dịch vụ, giúp nâng cao uy tín của ngân hàng, khách hàng biết đến ngân
hàng nhiều hơn, các hoạt động của ngân hàng cũng được đẩy mạnh trong đó có hoạt
động cho vay DNVVN.
Thông tin cho vay Thông tin tín dụng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động tín dụng. Các quá
trình trong quy trình cho vay đều cần có thông tin đầy đủ, chính xác để ngân hàng có thể ra quyết định, kiểm soát hoạt động sử dụng vốn của doanh nghiệp. Đối với các DNVVN, nguồn thông tin của họ thường khó tiếp cận hơn đối với các doanh nghiệp lớn, và có tiếp cận được thì không thể đảm bảo những thông tin đó là chính xác. Vì
thế, ngân hàng cần chủ động xây dựng hệ thống thông tin của riêng mình, để có những đánh giá chính xác nhất về DNVVN vay vốn. Ngân hàng có đảm bảo được thông tin để đánh giá về DNVVN là chính xác và kịp thời thì mới có thể đảm bảo được an toàn
nguồn vốn vay qua đó hoạt động cho vay cũng được đẩy mạnh.
18
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Chương 1 của khóa luận đã đề cập đến một số lý luận chung về DNVVN, từ khái
niệm, đặc điểm, vai trò, nhu cầu vốn cũng như những khó khăn của DNVVN trong
hoạt động sản xuất kinh doanh khi tiếp cận nguồn vốn ngân hàng. Chương 1 cũng đã đề cập đến những tiêu chí đánh giá chất lượng cho vay cũng như những nhân tố chủ
quan và khách quan ảnh hưởng đến chất lượng cho vay DNVVN. Có thể thấy cho vay
DNVVN của NHTM đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế. Việc
nâng cao chất lượng cho vay đối với DNVVN tại NHTM có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự tăng trưởng hoạt động cho vay của các ngân hàng, đảm bảo cho các NHTM
hoạt động an toàn, hiệu quả và góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, ổn định chính
19
sách tiền tệ quốc gia.
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN TIÊN
PHONG CHI NHÁNH HOÀN KIẾM
2.1. Tổng quan về Ngân hàng Thƣơng mại cổ phẩn Tiên Phong Chi nhánh Hoàn
Kiếm 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên
Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm
Vài nét về Ngân hàng Tiên Phong: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong có tên giao dịch quốc tế là Tiên
Phong Commercial Joint Stock Bank. Tên viết tắt của ngân hàng là TiênPhongBank và
được đổi thành TPBank vào ngày 10/12/2013. Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên
Phong (TPBank) được thành lập vào ngày 05/5/2008 với 3 cổ đông lớn là Công ty cổ
phần FPT, Công ty thông tin di động VMS (MobiFone) và Tổng Công ty Cổ phần Tái
bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (Vinare). Sự đầu tư và hợp tác chiến lược của 3 tổ chức
lớn này mang lại cho TPBank ưu thế về công nghệ thông tin, công nghệ viễn thông di
động, và tài chính.
Vốn điều lệ của ngân hàng tăng lên 5.550.000.000.000 đồng ngày 17/12/2012 và
mức vốn điều lệ này vẫn duy trì đến hiện nay. Trụ sở chính của ngân hàng đặt tại Tòa
nhà FPT Cầu Giấy - Lô B2, Cụm sản xuất tiểu thủ công nghiệp và Công nghiệp nhỏ Cầu Giấy, Đường Phạm Hùng, Quận Cầu Giấy, Hà Nội. Ngày 29/10/2012, Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có Quyết định số 2199/QĐ-NHNN chấp thuận việc
Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong (TienPhong Bank) thay đổi địa điểm đặt
trụ sở chính. Theo đó, trụ sở chính mới của TPBank đặt tại Tầng 3, tầng 4 tòa nhà
TTC, phố Duy Tân, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
Ngay từ ngày mới thành lập, TPBank đã xác định sứ mệnh đi đầu trong việc ứng
dụng công nghệ thông tin viễn thông và các giải pháp công nghệ trong hoạt động ngân
hàng nhằm mang tới giải pháp tài chính mới, phong cách và chất lượng dịch vụ mới,
mô hình hoạt động và quản trị tiên tiến, đóng góp vào sự phát triển của ngành ngân hàng trong nước. TPBank là ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam vận hành theo tiêu chuẩn ISO ngay từ ngày đầu tiên hoạt động. Đến nay, sau hơn sáu năm đi vào hoạt động, TPBank đã trở thành một trong những ngân hàng đi đầu trong ứng dụng công nghệ
thông tin để nâng cao chất lượng các dịch vụ, tiện ích ngân hàng.
Tháng 12/2008, TPBank đã vinh dự được tổ chức chứng nhận tiêu chuẩn chất lượng quốc tế Bureau Veritas cấp Chứng chỉ ISO 9001:2000. Gói dịch vụ eBank của
20
TPBank bao gồm Internet Banking trong đó có sản phẩm Tiết kiệm điện tử - eSavings, Thẻ và Mobile Banking đang ngày càng được ưa chuộng. Sản phẩm Ngân hàng điện tử
của TPBank được tín nhiệm bình chọn là sản phẩm “Tin&Dùng 2009“ bởi độc giả của
Thời báo Kinh tế Việt Nam.
Năm 2012, Tập đoàn Vàng Bạc Đá Qúy Doji chính thức trở thành cổ đông chiến
lược của TPBank, đồng thời cũng tham gia vào hoạt động tái cơ cấu của ngân hàng.
TPBank đã và đang mở rộng mạng lưới hoạt động của mình với việc mở thêm
hàng loạt chi nhánh và các đơn vị thành viên. Trong số các chi nhánh mà TPBank đã
mở thì Chi nhánh Hoàn Kiếm là chi nhánh đi đầu và đạt được sự thành công hơn cả.
Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm được thành lập ngày 5/5/2011 với tiền thân ban đầu là Sở Giao dịch của Ngân hàng Thương
mại cổ phần Tiên Phong, trụ sở tại số 17 Lý Thường Kiệt, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Sự ra đời của Sở giao dịch nhằm hiện thực hóa cam kết mạnh mẽ của TPBank trong
việc mở rộng mạng lưới hoạt động của Ngân hàng lên 40 điểm trên khắp cả nước.
Ngày 6/9/2011, Sở Giao dịch thuộc Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong
đã chính thức được chấp thuận đổi tên thành Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên
Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm.
Với vị trí trung tâm của quận Hoàn Kiếm, Chi nhánh tạo được sự thuận tiện trong
việc giao dịch cho khách hàng. Chi nhánh tham gia thực hiện tất cả các hoạt động kinh
doanh ngân hàng như: Huy động vốn, Hoạt động tín dụng; Dịch vụ thanh toán và ngân
quỹ và các hoạt động khác…
Hoạt động của Chi nhánh Hoàn Kiếm luôn đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của
TPBank. Dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền cùng ngân hàng cấp
trên, cộng với những nỗ lực không mệt mỏi của tập thể cán bộ công nhân viên, Chi
nhánh đã phát huy tiềm lực sẵn có của mình, tổ chức hoạt động kinh doanh tốt, tạo
dựng uy tín và hình ảnh đẹp trong lòng mỗi khách hàng. Các sản phẩm và dịch vụ
ngày càng đa dạng với công nghệ hiện đại và chất lượng dịch vụ không ngừng được
nâng cao. Bên cạnh đó, Chi nhánh còn luôn bám sát mở rộng thị trường và tăng cường
năng lực cán bộ công nhân viên, dần thu hút được khách hàng trong khu vực địa bàn
hoạt động của Chi nhánh tại Hà Nội nói chung và đặc biệt tại các địa bàn xung quanh trụ sở của Chi nhánh nói riêng, thu hút ngày càng nhiều khách hàng trong và ngoài nước, trở thành một trong những Chi nhánh đem lại lợi nhuận cao nhất cho hệ thống Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm
Bộ máy tổ chức hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi
21
nhánh Hoàn Kiếm được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của TPBank - Hoàn Kiếm
Ban giám đốc
Phòng kiểm tra, giám sát nội bộ
Phòng tài trợ thương mại Phòng tổ chức hành chính Phòng kế toán ngân quỹ Phòng khách hàng cá nhân Phòng khách hàng doanh nghiệp
(Nguồn: Phòng tổ chức hành chính )
Vai trò và nhiệm vụ của các phòng ban Ban giám đốc Ban giám đốc là người điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của ngân
hàng, điều hành ngân hàng theo đúng quy định của pháp luật và điều lệ của ngân hàng.
Ban giám đốc ban hành các quy chế quản lý và điều hành chi nhánh, bổ nhiệm, miễn
nhiệm các chức danh quản lý của chi nhánh và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các
hoạt động cũng như sai phạm của chi nhánh.
Phòng kiểm tra giám sát nội bộ Phòng kiểm tra kiểm soát nội bộ có trách nhiệm: Kiểm tra công tác điều hành
của Chi nhánh và các đơn vị trực thuộc theo nghị quyết và chỉ đạo của TPBank; kiểm
tra, giám sát việc chấp hành các quy định nghiệp vụ kinh doanh theo quy định của
pháp luật và NHNN, đảm bảo an toàn trong hoạt động tiền tệ, tín dụng và dịch vụ của
Chi nhánh; kiểm tra độ chính xác của báo cáo tài chính, báo cáo cân đối kế toán và giải
quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến hoạt động của Chi nhánh.
Phòng kế toán – ngân quỹ Là phòng nghiệp vụ các giao dịch trực tiếp với khách hàng: cung cấp các dịch vụ
ngân hàng liên quan đến nghiệp vụ thanh toán, xử lý hạch toán các giao dịch, quản lý và chịu trách nhiệm đối với hệ thống giao dịch trên máy, quản lý quỹ tiền mặt đến từng giao dịch viên theo đúng quy định của nhà nước và TPBank. Nhiệm vụ của phòng kế toán là phối hợp với phòng thông tin điện toán quản lý hệ thống giao dịch
trên máy, thực hiện mở, đóng giao dịch hàng ngày; thực hiện công tác liên quan đến thanh toán bù trừ, thanh toán điện tử, thanh toán liên ngân hàng; quản lý thông tin séc
và giấy tờ có giá, các chứng từ gốc.
22
Ngoài ra, phòng kế toán - ngân quỹ của Chi nhánh còn chịu trách nhiệm thực hiện các công việc như: Phối hợp với các phòng ban xây dựng và trình các kế hoạch
tài chính; theo dõi, quản lý tài sản, công cụ lao động, văn phòng phẩm, ấn chi.. Ngoài
ra, phòng còn chịu trách nhiệm về tính đúng đắn, chính xác, kịp thời, hợp lý, trung
thực của số liệu kế toán, báo cáo tài chính, báo cáo kế toán; quản lý an toàn tiền tệ kho
quỹ theo đúng quy định vủa NHNN và TPBank; thu chi tiền mặt có giá trị giao dịch lớn, tổ chức hành chính thực hiện điều chuyển tiền giữa quỹ nghiệp vụ của Chi nhánh
với NHNN và các ngân hàng trực thuộc TPBank trên địa bàn,…
Phòng tài trợ thƣơng mại Là phòng nghiệp vụ tổ chức thực hiện nghiệp vụ về thanh toán xuất nhập khẩu và kinh doanh ngoại tệ tại chi nhánh theo quy định của TPBank. Với các nhiệm vụ chủ
yếu sau: Thực hiện nghiệp vụ về thanh toán xuất nhập khẩu theo hạn mức được cấp:
Thực hiện các nghiệp vụ phát hành, sửa đổi, thanh toán L/C nhập khẩu, thông báo và
thanh toán L/C xuât khẩu; thực hiện các nghiệp vụ nhờ thu liên quan đến xuất nhập
khẩu (nhờ thu kèm bộ chứng từ, nhờ thu không kèm theo bộ chứng từ, nhờ thu séc
thương mại); phối hợp các phòng khách hàng doanh nghiệp lớn và phòng Doanh
nghiệp vừa và nhỏ để thực hiện chiết khấu bộ chứng từ, nghiệp vụ biên lai tín khác,
bao thanh toán, bao thanh toán tuyệt đối.
Phòng tổ chức hành chính Phòng tổ chức hành chính có nhiệm vụ chủ yếu là tổ chức, quản lý cán bộ, tuyển
chọn nhân viên, quản lý việc thu chi các quỹ lương, thưởng...và công tác hậu cần của cơ quan.
Phòng khách hàng doanh nghiệp Phòng khách hàng doanh nghiệp là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với
khách hàng là các doanh nghiệp, để khai thác vốn bằng VNĐ và ngoại tệ; đồng thời
thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phù
hợp với chế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của TPBank. Với nhiệm vụ: Thực hiện
nghiệp vụ tín dụng và xử lý giao dịch (theo quy trình cho vay của ngân hàng); thực
hiện chấm điểm xếp hạng tín dụng đối với khách hàng có nhu cầu quan hệ giao dịch và
đang có quan hệ giao dịch tín dụng với chi nhánh; thực hiện phân loại nợ cho từng khách hàng theo quy định hiện hành, chuyển kết quả phân loại nợ cho tổ quản lý nợ có vấn đề để tính toán trích lập dự phòng rủi ro.
Phòng khách hàng cá nhân Phòng khách hàng cá nhân là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các cá nhân, thực hiện tất cả các nghiệp vụ tương tự với phòng khách hàng doanh nghiệp.
23
Tóm lại, có thể thấy được rằng, giữa các Phòng, Ban của TPBank - Hoàn Kiếm luôn có sự phân quyền rõ ràng nhằm tránh chồng chéo trong việc ra xử lí nghiệp vụ và
ra quyết định. Bên cạnh đó giữa các cấp bộ phận cũng đã có sự phối hợp lẫn nhau,
đem lại hiệu quả làm việc trong mọi hoạt động của ngân hàng.
2.1.3. Các hoạt động chính của Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong Chi
nhánh Hoàn Kiếm
Nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng Ngân hàng Thương mại
cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm đã đưa ra các sản phẩm, dịch vụ ngày càng
đa dạng hơn, hoàn thiện hơn, gắn liền với các hoạt động chính như sau:
Hoạt động huy động vốn: Chi nhánh Hoàn Kiếm nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn bằng VNĐ và ngoại tệ của các tổ chức kinh tế và dân cư; nhận tiền gửi tiết
kiệm với nhiều hình thức phong phú và hấp dẫn: Tiết kiệm không kỳ hạn và có kỳ hạn
bằng VNĐ và ngoại tệ, tiết kiệm rút gốc linh hoạt, tiết kiệm kì hạn 12 tháng linh hoạt,
tiết kiệm kì hạn ngày, và đặc biệt là hình thức huy động vốn mới như tiết kiệm điện tử,
tài khoản gửi góp Future savings.
Hoạt động cho vay, đầu tƣ: Chi nhánh Hoàn Kiếm cung cấp các sản phẩm đa
dạng bao gồm cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn bằng VNĐ và ngoại tệ; tài trợ xuất
- nhập khẩu, chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất; đồng tài trợ và cho vay hợp vốn đối
với những dự án lớn, thời gian hoàn vốn dài; thấu chi, cho vay tiêu dùng; đầu tư trên
thị trường vốn, thị trường tiền tệ trong nước và quốc tế. Ngoài ra, Chi nhánh còn có
các dịch vụ liên quan đến hoạt động bảo lãnh: Bảo lãnh, tái bảo lãnh (trong nước và quốc tế); bảo lãnh dự thầu; bảo lãnh thực hiện hợp đồng; bảo lãnh thanh toán.
Hoạt động thanh toán quốc tế và tài trợ thƣơng mại: Hiện nay, Chi nhánh
Hoàn Kiếm cung cấp các các dịch vụ cho khách hàng như: Phát hành, thanh toán thư
tín dụng nhập khẩu; thông báo, xác nhận, thanh toán thư tín dụng nhập khẩu; nhờ thu
xuất - nhập khẩu; chuyển tiền trong nước và quốc tế; chuyển tiền nhanh Western
Union; thanh toán ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, séc; chi trả lương cho doanh nghiệp
qua tài khoản…
Hoạt động Thẻ và Ngân hàng điện tử: Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng nội
địa, thẻ tín dụng quốc tế (Visa, mastercard…), thẻ thanh toán (Visa Debit, UnionPay…), thẻ tiêu dùng đa tiện ích Ecounter, thẻ đồng thương hiệu Mobifone – TPBank, dịch vụ thẻ ATM, thẻ tiền mặt, dịch vụ ngân hàng điện tử Ebank, Internet Banking, Mobile Banking …
Hoạt động kinh doanh vàng: Chi nhánh thực hiện hoạt động mua bán vàng với giá cả hấp dẫn, cạnh tranh và giao dịch nhanh chóng với nhiều ưu đãi. Ngoài ra Chi nhánh còn cung cấp dịch vụ giữ hộ vàng với tiện ích “gửi một nơi – rút nhiều nơi”,
24
đảm bảo tuyệt đối an toàn, bảo mật và tiện lợi cho khách hàng.
2.2. Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm trong giai đoạn 2011 - 2013
2.2.1. Tình hình huy động vốn
Hoạt động huy động vốn là hoạt động cơ bản nhất và tạo tiền đề cho các hoạt động khác của ngân hàng. TPBank - Hoàn Kiếm đã xác định được tầm quan trọng của
nguồn vốn trong kinh doanh đồng thời nhận định mục tiêu đẩy mạnh công tác huy
động vốn là mục tiêu hàng đầu, và nỗ lực thực hiện các chính sách nhằm thu hút nguồn
vốn huy động từ khách hàng.
Xét về quy mô Mặc dù nền kinh tế trong giai đoạn 2011-2013 còn nhiều biến động song Chi
nhánh đã tập trung xây dựng các chính sách điều hành công tác huy động vốn linh hoạt
với diễn biến của thị trường cũng như tuân thủ nghiêm ngặt quy định của Ngân hàng
Nhà Nước. Qua bảng 2.1 dưới đây, có thể thấy tình hình huy động vốn của TPBank –
Hoàn Kiếm có sự tăng trưởng khá tốt trong giai đoạn 2011-2013.
Năm 2011 nền kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục chịu ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng kinh tế thế giới, tỷ lệ lạm phát vẫn còn cao và kinh tế tăng trưởng thấp, VNĐ
liên tục bị mất giá ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động huy động vốn của các ngân hàng,
việc huy động vốn của Chi nhánh cũng gặp rất nhiều khó khăn. Theo bảng 2.1, năm
2011, tổng nguồn vốn huy động của Chi nhánh chỉ đạt 766,42 tỷ đồng. Tuy nhiên, sang đến năm 2012 đánh dấu một bước chuyển mình của TPBank khi ngân hàng tiến
hành tái cơ cấu qua đó nhận được sự ủng hộ rất lớn về tiềm lực tài chính cũng như
nâng cao năng lực quản lý từ các cổ đông là các tập đoàn lớn. Ngân hàng đã phần nào
khắc phục được những yếu kém trong hoạt động từ trước và cải thiện hình ảnh tốt hơn
trong mắt khách hàng. Chính vì vậy, sang đến năm 2012, mặc dù tình trạng khủng
hoảng vẫn còn tiếp diễn, xong nguồn vốn huy động của ngân hàng tăng cao đạt
1.370,86 tỷ đồng, tăng hơn 78,87% so với năm 2011.
Sang đến năm 2013, Chi nhánh đã phát triển các sản phẩm, dịch vụ riêng cho
từng phân khúc khách hàng song song với việc cải tiến nhiều dịch vụ tiện ích, dịch vụ gia tăng; nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng; cùng với chính sách linh hoạt, các chương trình thúc đẩy bán hiệu quả giúp đẩy mạnh huy động từ khách hàng, đảm bảo tính thanh khoản của Ngân hàng. Chính vì vậy trong năm 2013 nguồn
25
vốn huy động của TPBank - Hoàn Kiếm đạt 3.713 tỷ đồng, tỷ lệ tăng trưởng đạt 170,85 % so với năm 2012, đây là một con số khả quan.
Bảng 2.1. Tình hình hoạt động huy động vốn tại TPBank – Hoàn Kiếm giai đoạn 2011-2013
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Chênh lệch
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 2012/2011 2013/2012
Chỉ tiêu Tỷ Tỷ Tỷ Số tiền Số tiền Đạt tỷ Đạt tỷ Số tiền trọng Số tiền trọng Số tiền trọng tăng (+) tăng (+) lệ (%) lệ (%) (%) (%) (%) giảm (-) giảm (-)
Tổng nguồn vốn huy động 766,42 100 1.370,86 100 3.713 100 604.44 78.87 2.342,14 170.85
I. Theo kỳ hạn
1. Không kỳ hạn 166,92 21,78 309,43 22,57 985,95 26,55 212,51 127,31 606,52 159,85
2. TG < 12 tháng 472,38 61,63 848,28 61,87 2.018,58 54,37 265,90 56,29 1.280,30 173,42
3. TG >= 12 tháng 127,12 16,59 253,15 15,56 708,47 19,08 126,03 99,14 455,32 179,86
II. Theo thành phần kinh tế
1. TG của tổ chức kinh tế 478,55 62,44 782,76 57.10 1.985,02 53,46 304,21 63,57 1.202,26 153,59
2. TG của cá nhân 287,87 37,56 588,10 42.90 1.727,98 46,54 300,23 104,30 1.139,88 193,82
III. Theo loại tiền gửi
1. VND 730,98 95,37 1.173,25 85,58 3.140,45 84,58 442,26 60,50 1.967,20 167,67
2. Ngoại tệ (quy đổi) 35,44 4,63 197,61 14,42 572,55 15,42 161,34 444,83 374,94 189,73
26
(Nguồn: Báo báo tài chính Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm giai đoạn 2011-2013)
Chi nhánh cần tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được và đưa ra các chính sách
cũng như các hoạt động thiết thực hơn nữa nhằm đẩy mạnh hơn nữa hoạt động huy động vốn.
Xét về cơ cấu nguồn vốn huy động Theo kì hạn tiền gửi Nguồn vốn huy động tại TPBank - Hoàn Kiếm chia theo kì hạn gồm có 3 hình thức: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn < 12 tháng, tiền gửi có kỳ hạn >= 12 tháng.
Nhìn vào bảng 2.1, ta có thể thấy tiền gửi có kỳ hạn < 12 tháng trong giai đoạn 2011 -
2013 chiếm tỷ trọng chủ yếu trong nguồn vốn huy động của Chi nhánh. Năm 2011, tiền
gửi có kỳ hạn < 12 tháng chiếm 61,63% trong tổng nguồn vốn huy động, sang đến năm
2012 tỷ trọng này tăng lên là 61,87%. Không những tăng về tỷ trọng mà loại tiền gửi này
còn tăng về số tuyệt đối. Năm 2012 tiền gửi có kỳ hạn < 12 tháng tăng 265,90 tỷ đồng
tương ứng 56,29 % so với năm 2011. Sự tăng trưởng nguồn vốn huy động ngắn hạn này
là do trong năm 2012, mặc dù nhà nước đã đưa ra các chính sách nhằm ổn định cuộc chạy
đua lãi suất trong năm 2011 nhưng mức lãi suất huy động vẫn còn khá cao, và nguồn vốn
huy động ngắn hạn là nguồn vốn tương đối ổn định. Nguồn vốn ngắn hạn trong năm 2013
đạt 1.280,30 tỷ đồng tương ứng với mức tăng 173,42% so với năm 2012 và chiếm tỷ
trọng 54,37%. Tuy tỷ trọng nguồn vốn ngắn hạn có giảm song loại tiền gửi này vẫn tăng
nhanh về giá trị tuyệt đối. Những kết quả đáng khả quan trên là một sự nỗ lực của Chi nhánh vì không ngừng đổi mới các sản phẩm nhận tiền gửi tiết kiệm ngắn hạn với mức lãi
suất ưu đãi hơn và đưa ra nhiều dịch vụ hấp dẫn hơn. Hơn nữa, trong năm 2013, kết quả
của việc tái cơ cấu ngân hàng khá thành công khiến cho uy tín cũng như hình ảnh của
ngân hàng ngày càng được nâng cao, khách hàng ngày càng tin tưởng và gửi tiền vào
ngân hàng, giúp cho khả năng thanh toán ngắn hạn của Chi nhánh được đảm bảo hơn.
Nắm giữ tỷ trọng cao thứ 2 sau tiền gửi kì hạn dưới 12 tháng là tiền gửi không kỳ hạn với tỷ trọng dao động trong khoảng từ 22% đến gần 27%, tỷ trọng tăng dần qua các năm. Năm 2012 nguồn vốn huy động không kỳ hạn tăng 127,31% so với năm 2011 và năm 2013 nguồn vốn này đạt mức tăng trưởng 159,85% so với năm 2012. Chi nhánh đã tích cực trong việc tìm kiếm các khách hàng mới, đặc biệt là các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có nhu cầu gửi tiền vào ngân hàng nhằm mục đích giao dịch thanh toán chi trả
các hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ với chi phí ưu đãi và dịch vụ nhanh chóng.
Chính điều này đã giúp cho lượng tiền gửi không kỳ hạn của ngân hàng gia tăng qua từng
27
năm.
Nếu như tỷ trọng nguồn vốn ngắn hạn chiếm chủ yếu trên tổng nguồn vốn và thì
nguồn vốn dài hạn chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ (năm 2011 chiếm 16,59% trong tổng nguồn vốn huy động) và đến năm 2012 tỷ trọng này giảm xuống còn 15,56%. Nguyên nhân
khiến tỷ trọng giảm là do mức tăng trưởng của nguồn vốn dài hạn trong năm 2012 thấp
hơn mức tăng trưởng của nguồn vốn không kỳ hạn và nguồn vốn ngắn hạn. Mặc dù vậy,
nguồn vốn dài hạn năm 2012 vẫn tăng về mặt số lượng, đạt 253,15 tỷ đồng tương ứng với mức tăng 99,14% so với năm 2011. Trong năm 2012 và năm 2013 ngân hàng đã cố gắng
tung ra nhiều sản phẩm huy động vốn dưới dạng tiết kiệm gửi góp, tiết kiệm lĩnh lãi linh
loạt, hay tiết kiệm lãi suất thả nổi với kỳ hạn trung và dài hạn, với lãi suất hấp dẫn để thu
hút nguồn vốn từ dân cư. Nguồn vốn trung và dài hạn trong năm 2013 tiếp tục tăng đạt
708,47 tỷ đồng, tăng 179,86 % so với năm 2012.
Theo thành phần kinh tế Nguồn vốn huy động chủ yếu từ hai thành phần kinh tế là các tổ chức kinh tế và cá
nhân. Nhìn vào bảng 2.1, ta có thể thấy nguồn vốn từ các tổ chức kinh tế luôn chiếm tỷ
trọng chủ yếu trong tổng nguồn vốn (Năm 2011: 62,44%; năm 2011: 57,10%, năm 2012:
53,46%). Tuy nhiên, tỷ trọng có sự giảm sút qua các năm, là do nguồn vốn huy động từ
các khách hàng cá nhân có tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy
động từ tiền gửi của tổ chức kinh tế, song nguồn vốn huy động được vẫn tăng về giá trị
tuyệt đối. Năm 2012 nguồn vốn huy động được đạt 782,76 tỷ đồng tăng 63,57% so với năm 2011. Mặc dù trong năm 2012 do tình hình kinh tế vẫn còn khó khăn khiến hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp không đạt hiệu quả xong Chi nhánh đã nỗ lực
trong hoạt động tăng cường mối quan hệ với khách hàng cũ và đưa ra các chính sách huy
động đa dạng nhằm thu hút các khách hàng mới. Với thế mạnh là công nghệ thông tin,
Chi nhánh đã đưa ra các sản phẩm ngân hàng điện tử giúp cho khách hàng thuận tiện
trong việc thanh toán cho các đối tác của doanh nghiệp. Ngân hàng cũng đưa ra các mức lãi suất hấp dẫn nhằm thu hút nguồn vốn. Tiền gửi thanh toán tại ngân hàng ngày một tăng cao. Chính vì vậy nguồn vốn huy động được từ các tổ chức kinh tế đạt 1985,02 tỷ đồng tăng 153,59% so với năm 2012.
Bên cạnh nguồn vốn huy động từ các tổ chức kinh tế, nguồn vốn huy động từ các cá nhân cũng chiếm tỷ trọng khá cao, dao động trong khoảng 37% đến 46% và chiếm một
phần lớn vai trò ổn định dòng vốn cho các hoạt độn sản xuất kinh doanh của Chi nhánh.
Khi mà việc cạnh tranh huy động vốn từ các doanh nghiệp đang ngày càng gay gắt thì
ngân hàng ngày càng chú trọng đến việc huy động vốn từ tiền gửi của cá nhân. Chi nhánh
nằm ở trung tâm thành phố với lượng dân cư đông đúc. Trong khi các doanh nghiệp đang 28
gặp khó khăn về vốn thì nguồn vốn từ các khách hàng cá nhân lại khá dồi dào khi mà thu
nhập của người dân ngày càng tăng cao. Trong năm 2012, Chi nhánh đã đưa ra các gói sản phẩm tiết kiệm mới bên cạnh các sản phẩm truyền thông giúp đa dạng hơn các sản
phẩm dịch vụ như: tiết kiệm rút gốc linh hoạt, tiết kiệm kỳ hạn ngày, tiết kiệm điện tử, tài
khoản gửi góp Future savings... Chính vì vậy mà nguồn vốn huy động từ cá nhân của Chi
nhánh trong năm 2012 tăng 300,23 tỷ đồng so với năm 2011 tương ứng tăng 104,30%. Sang đến năm 2013, bên cạnh việc mang đến những sản phẩm tốt nhất cho khách hàng,
ngân hàng càng chú trọng hơn đến việc đem đến cho khách hàng sự phục vụ tận tình, chu
đáo nhất. Ngày 10/12/2013, ngân hàng TPBank đã thay đổi bộ nhận diện thương hiệu
mới và mở rộng, đổi mới hệ thống chi nhánh, phòng giao dịch trên toàn thành phố Hà Nội
giúp cho khách hàng biết đến ngân hàng nhiều hơn. Từ những nỗ lực đó, đến năm 2013
lượng vốn ngân hàng huy động được là 1.727,98 tỷ đồng tăng 1139,88 tỷ đồng so với năm
2012, tương ứng với tỷ lệ tăng trưởng 193,82 %.
Theo loại tiền gửi Ngân hàng thường phân chia nguồn vốn thành nguồn vốn VNĐ và nguồn vốn ngoại
tệ. Nguồn vốn VNĐ luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn, với tỷ trọng
năm 2011 là 95,37%, tỷ trọng năm 2012 là 85,58% và năm 2013 là 84,58 %. Tỷ trọng tiền
gửi bằng VNĐ giảm qua từng năm là do trong nền kinh tế hiện nay khi hoạt động ngoại
thương ngày càng phát triển thì Chi nhánh đang dần chú trọng hơn vào việc huy động vốn bằng ngoại tệ để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh, xuất khẩu của khách hàng. Các sản
phẩm gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ với lãi suất cạnh tranh được ngân hàng đẩy mạnh triển
khai. Mặc dù vậy, về mặt giá trị, lượng tiền gửi VNĐ vẫn tăng trưởng liên tục trong 3
năm từ năm 2011 đến năm 2013. Năm 2012 nguồn vốn huy động từ VNĐ là 1.173,25 tỷ
đồng, tăng trưởng 60,50 % so với năm 2011. Sang đến năm 2013 nguồn vốn huy động từ
VNĐ tăng mạnh đạt 3.140,45 tỷ đồng, tương ứng tăng 167,67 % so với năm 2012. Điều này được giải thích là do các hoạt động, sản phẩm cho vay chủ yếu của Chi nhánh là phục vụ hoạt động kinh doanh trong nước nên Chi nhánh vẫn tập trung vào hoạt động huy động vốn bằng VNĐ hơn huy động vốn bằng ngoại tệ. Ngoài ra, trong năm 2012 và năm 2013, Chi nhánh đã đưa ra các chính sách, hoạt động thu hút nguồn tiền nhàn rỗi của các tổ chức, doanh nghiệp cũng như cá nhân trên địa bàn gửi tiền vào ngân hàng.
Tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ tại Chi nhánh trong giai đoạn 2012 - 2013 có sự tăng
nhẹ qua các năm. Nếu như năm 2011, tỷ trọng tiền gửi ngoại tệ chỉ chiếm 4,63 % thì đến
năm 2012 tăng lên chiếm tỷ trọng 14,42 %, năm 2013 là 15,42 %, kéo theo mức tăng về
giá trị trong năm 2012 và 2013. Chi nhánh nằm ở khu vực trung tâm có nhiều doanh 29
nghiệp nước ngoài hoạt động, với mức lãi suất thu hút, sản phẩm ngày càng đa dạng và
chất lượng dịch vụ tốt, chính vì vậy nguồn vốn huy động của bằng ngoại tệ của Chi nhánh tăng trưởng mạnh qua các năm. Năm 2012 tiền gửi bằng ngoại tệ tại Chi nhánh đạt 197,61
tỷ đồng tăng 161,34 tỷ đồng so với năm 2011, con số này trong năm 2013 là 572,55 tỷ
đồng, tăng 189,73 % so với năm 2012.
Từ sự phân tích trên cho thấy: Nguồn huy động vốn chủ yếu của ngân hàng qua các năm là từ các khoản tiền gửi của khách hàng là tổ chức kinh tế, trong đó tiền gửi có kỳ
hạn dưới 1 năm và tiền gửi bằng nội tệ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy
động. Có thể nói, Chi nhánh đã giữ vững và phát triển được hoạt động huy động vốn của
mình, nguồn vốn huy động được tăng qua các năm.
2.2.2. Tình hình sử dụng vốn (chủ yếu là hoạt động cho vay)
Song song với hoạt động huy động nguồn vốn thì hoạt động cho vay đóng vai trò
quyết định trong quá trình hoạt động kinh doanh của một ngân hàng. Trên cơ sở nguồn
vốn huy động tăng trưởng ổn định, mặc dù tình hình kinh tế cón nhiều khó khăn và sự
cạnh tranh trong ngành ngân hàng ngày càng gay gắt, nhưng với nỗ lực của mình, Chi
nhánh đã có những kết quả khả quan trong hoạt động, với dư nợ qua các năm tăng trưởng
khá vững chắc đảm bảo cho sự phát triển của Chi nhánh.
Xét về quy mô Tổng dư nợ của TPBank - Hoàn Kiếm liên tục tăng trưởng trong giai đoạn 2011 - 2013. Nhìn vào bảng 2.2 dưới đây có thể thấy, năm 2011 dư nợ cho vay đạt 784,91 tỷ
đồng. Năm 2012, tổng dư nợ cho vay tăng trưởng mạnh đạt 1315,48 tỷ đồng, tăng 67,60%
so với năm 2011, chứng tỏ chính sách đẩy mạnh việc cho vay của Chi nhánh đã được
triển khai hiệu quả, uy tín của ngân hàng càng được nâng cao, đặc biệt trong thời kì khó
khăn và lãi suất lên cao như năm 2011.
Tính đến hết ngày 31/12/2013, tổng dư nợ bình quân của Chi nhánh Hoàn Kiếm đã đạt 2178,8 tỉ đồng, tăng 863,39 tỷ đồng và đạt tăng trưởng 65,63%. Tỷ trọng tăng trưởng năm 2013 có phần giảm so với năm 2012, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng vẫn ở mức khá cao. Nguyên nhân khiến cho tổng dư nợ tăng trưởng thấp hơn năm 2012 là do sự khó khăn trong năm 2013 vẫn được tiếp tục kéo dài, có nhiều doanh nghiệp bị phá sản, nền kinh tế không có những chuyển biến rõ rệt, thị trường bất động sản vẫn còn ảm đạm, nợ
xấu vẫn tiếp tục tăng cao khiến cho ngân hàng e ngại khi giải ngân cho khách hàng. Bên
cạnh đó, các chính sách tiền tệ thắt chặt trong việc điều hòa và kiềm chế lạm phát của nhà
nước đã ảnh hưởng đến các khách hàng đi vay cũng như hoạt động cho vay của ngân
30
hàng.
Bảng 2.2. Tình hình hoạt động cho vay tại TPBank – Hoàn Kiếm giai đoạn 2011-2013
Đơn vị tính: Tỷ đồng
2011 2012 2013 2012/2011 2013/2012
Chỉ tiêu Tỷ trọng Đạt tỷ Đạt tỷ Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ trọng Tỷ trọng Số tiền tăng (+) Số tiền tăng (+) (%) lệ (%) lệ (%) (%) (%) giảm (-) giảm (-)
784,91 100,00 1.315,48 100,00 2.178,87 100,00 530,57 67,60 863,39 65,63 Tổng dƣ nợ cho vay
I. Theo thời gian
533,16 71,19 954,62 72,57 1.796,20 82,44 421,46 79,05 841,58 88,16 1. Nợ ngắn hạn
251,75 32,07 360,86 27,43 382,67 17,56 109,11 43,34 21,81 6,04 2. Nợ trung - dài hạn
II. Theo khách hàng
572,96 73,00 835,56 63,52 1.365,95 62,69 262,60 45,83 530,39 63,48 1. Cho vay tổ chức kinh tế
211,95 27,00 479,92 36,48 812,92 37,31 267,97 126,43 333,00 69,39 2. Cho vay cá nhân
III. Theo loại tiền cho vay
643,17 81,94 1.062,85 80,80 1.719,31 78,91 419,68 65,25 656,46 61,76 1. VNĐ
141,74 18,06 252,63 19,20 459,56 21,09 110,89 43,89 206,93 81,91 2. Ngoại tệ (quy đổi)
31
(Nguồn: Báo cáo tài chính Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong - Chi nhánh Hoàn Kiếm giai đoạn 2011-2013)
Tuy nhiên, tỷ lệ tăng trưởng dư nợ cho vay của Chi nhánh vẫn đạt kết quả khá tốt là
do Chi nhánh đã thực hiện tốt những biện pháp như ưu tiên về điều kiện cho vay với các đơn vị có lịch sử tín dụng tốt, đưa ra các chính sách ưu đãi với những ngành nghề có tiềm
năng phát triển như “tam nông”, xuất khẩu, sản xuất các sản phẩm công nghệ cao… Ngân
hàng cũng không ngừng tìm kiếm những khách hàng mới qua các chính sách cho vay hấp
dẫn với nhiều ưu đãi. Tất cả các yếu tố trên đã giúp cho ngân hàng TPBank nói chung và Chi nhánh Hoàn Kiếm nói riêng ghi điểm trong mắt khách hàng về chất lượng dịch vụ
cũng như từ đó giúp khách hàng biết đến Chi nhánh nhiều hơn, uy tín của ngân hàng ngày
càng được nâng cao.
Xét về cơ cấu cho vay
Cơ cấu theo thời gian sử dụng vốn Từ bảng 2.2, ta có thể thấy được tình hình hoạt động cho vay cũng như cơ cấu cho
vay của TPBank - Hoàn Kiếm trong giai đoạn 2011-2013. Xét về thời gian sử dụng vốn
vay, dư nợ cho vay ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng cao và tốc độ tăng trưởng mạnh qua các
năm. Năm 2011 dư nợ cho vay ngắn hạn là 533,16 tỷ đồng chiếm 71,19 % trên tổng dư
nợ. Năm 2012 dư nợ này tăng 421,46 tỷ đồng (tăng 79,05%) so với năm 2011 và tỷ trọng
chiếm đến 72,57%. Năm 2013 hoạt động cho vay ngắn hạn vẫn tiếp tục phát triển khi mà
dư nợ cho vay tăng 841,58 tỷ đồng tương ứng tăng 88,16% so với năm 2012. Điều này
cho ta thấy được Chi nhánh đang ngày càng chú trọng đến hoạt động cho vay ngắn hạn. Để đạt được kết quả khả quan trên không thể phủ nhận được những nỗ lực hoạt động của
Chi nhánh. Nhận thấy quận Hoàn Kiếm thực sự là thị trường cho vay tiềm tăng với hơn
2.500 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn với nhu cầu vay vốn để mua sắm nguyên
vật liệu, sản xuất hàng hóa…ngày càng tăng cao, Chi nhánh đã đưa ra các sản phẩm mới
nhằm đẩy mạnh hoạt động cho vay đến từng doanh nghiệp như: cho vay vốn lưu động
theo món, cho vay theo hạn mức thấu chi… với thủ tục nhanh chóng, thuận tiện hơn. Bên canh đó, các sản phẩm cho vay ngắn hạn với khách hàng cá nhân cũng được phát triển đa dạng hóa như: cho vay tiêu dùng trả góp, cho vay thấu chi tín chấp, ứng sổ tiết kiệm, … với mức lãi suất ưu đãi và giá trị khoản vay có thể lên đến 200 triệu đồng. Chi nhánh cũng chú trọng vào việc nâng cao trình độ và cung cách phục vụ khách hàng của nhân viên để nâng cao hình ảnh trong mắt khách hàng. Trong năm 2013, TPBank đã tổ chức hàng trăm
khóa đào tạo cho nhân viên trong ngân hàng nhằm nâng cao khả năng, nghiệp vụ,…
Chính nhờ những điều đó đã giúp cho khách hàng vay vốn đến với ngân hàng nhiều hơn,
33
nguồn vốn vay ngắn hạn tăng trưởng đều qua các năm. Dư nợ cho vay ngắn hạn gia tăng
và chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ cho vay của Chi nhánh sẽ giúp đẩy nhanh vòng
quay tín dụng, hạn chế bớt rủi ro trong cho vay của ngân hàng.
Trái ngược với các khoản vay ngắn hạn thì khoản cho vay trung - dài hạn chỉ chiếm
tỷ trọng khá nhỏ và còn có xu hướng giảm qua các năm (Năm 2011 dư nợ cho vay trung -
dài hạn chiếm 32,07%, năm 2012 chỉ còn chiếm 27,43% và đến năm 2013 con số này là
17,56%). Tỷ trọng dư nợ cho vay trung và dài hạn giảm trên tổng dư nợ là do tỷ lệ nợ xấu của Chi nhánh trong năm 2011 cao, chính vì vậy trong năm 2012 Chi nhánh tập trung vào
việc thu hồi nợ xấu cũng như thắt chặt việc quản lý, đưa ra quy định ngặt nghèo hơn đối
với khoản cho vay trung và dài hạn, điều đó đã hạn chế sự tiếp cận nguồn vốn của khách
hàng. Năm 2013 đánh dấu sự suy giảm lớn về tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay trung và
dài hạn khi mà năm 2012 tỷ lệ tăng trưởng là 43,34% và năm 2013 dư nợ cho vay trung
và dài hạn chỉ tăng 6,04% so với năm 2012. Năm 2013 cho vay trung và dài hạn chỉ đạt
382,67 tỷ đồng tăng 21,81 tỷ đồng so với năm 2012. Mặc dù trong năm 2013 ngân hàng
đã cố gắng nới lỏng quy trình cho vay và bắt đầu phát triển các sản phẩm cho vay trung
và dài hạn, song kết quả chưa thực sự khả quan. Nguyên nhân thứ nhất có thể kể đến là do
các doanh nghiệp đến vay vốn để đầu tư các dự án vẫn chưa thực sự đáp ứng được những
yêu cầu của Chi nhánh khi phần lớn họ đều không có tài sản đảm bảo hoặc dự án, phương
án sản xuất không khả thi, doanh nghiệp hoạt động kinh doanh không tốt nên khi thẩm
định ngân hàng thấy rằng khó có khả năng trả nợ nên quyết định không cho vay vốn. Đó là với các doanh nghiệp, còn đối với khách hàng cá nhân thì hoạt động cho vay trung và
dài hạn để tiêu dùng cũng phát triển chậm do hầu hết các ngân hàng thương mại hiện nay
đều tập trung vào đầu tư loại hình cho vay này và một số ngân hàng đã đưa ra mức lãi
suất cho vay tiêu dùng rất cạnh tranh so với Chi nhánh. Tóm lại, hoạt động cho vay trung
và dài hạn của TPBank - Hoàn Kiếm có sự tăng trưởng qua các năm nhưng tốc độ tăng
trưởng thì giảm mạnh. Mặc dù, việc đảm bảo an toàn nguồn vốn là rất cần thiết xong ngân hàng cũng cần chú trọng hơn phát triển cho vay trung và dài hạn, mở các hoạt động tư vấn, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh có triển vọng trong tương lai cho doanh nghiệp, nhằm góp phần tăng lợi nhuận cho chi nhánh vì thông thường lãi suất của các khoản vay này là cao nhất.
Cơ cấu cho vay theo khách hàng Phần lớn hoạt động cho vay của ngân hàng tập trung vào đối tượng là tổ chức kinh
tế, do đó tỷ trọng cho vay các tổ chức kinh tế chiếm tới 73% (2011), 63,52% (2012) và
62,69% (2013) trong tổng dư nợ và tăng trưởng đều về số tuyệt đối qua các năm. Nguyên
34
nhân là ngân hàng nhận được sự hậu thuẫn lớn về tài chính từ các cổ đông lớn như Công
ty Doji, tập đoàn FPT, Mobiphone… Bên cạnh đó cũng nhờ vậy ngân hàng cũng có thêm
những khách hàng mới là đối tác hay các công ty liên kết với các công ty trên. Chính vì vậy cho vay các tổ chức kinh tế của Chi nhánh tăng trưởng mạnh qua các năm. Năm 2012
cho vay các tổ chức kinh tế của TPBank – Hoàn Kiếm tăng 262,6 tỷ đồng tương ứng với
tỷ lệ tăng trưởng là 45,83%, năm 2013 tăng 530,39 tương ứng với tỷ lệ tăng trưởng
63,48%.
Song song với đó là sự tăng trưởng của hoạt động cho vay cá nhân trong giai đoạn
2011 - 2013. Chi nhánh càng ngày càng chú trọng đến đối tượng khách hàng này, nên tuy
chiếm tỷ trọng nhỏ hơn so với cho vay các tổ chức kinh tế trong tổng dư nợ (Năm 2011 là
27%, năm 2012 là 36,48%, năm 2013 là 37,31%) nhưng tỷ trọng dư nợ cho vay khách
hàng cá nhân ngày càng tăng, tăng cả về giá trị tuyệt đối. Năm 2012 dư nợ cho vay khách
hàng cá nhân tăng 267,97 tỷ đồng tương ứng tỷ lệ 126,43% so với năm 2011. Năm 2013
dư nợ tăng 333 tỷ đồng so với năm 2012, tương ứng với 69,39%. Sự tăng trưởng mạnh
mẽ về dư nợ cho vay khách hàng cá nhân được lý giải bởi việc ngân hàng đã đưa ra các
sản phẩm cho vay đa dạng với nhiều điều khoản thu hút, như cho vay ứng sổ tiết kiệm lên
đến 80% giá trị sổ và có thể thao tác qua ngân hàng điện tử, cho vay tiêu dùng thế chấp
với mức cho vay lên đến 1 tỷ đồng, cho vay hạn mức thấu chi tín chấp lên đến 100 triệu
đồng… với thời hạn trả nợ lâu dài. Khách hàng được vay vốn nhanh chóng và thuận tiện
với thái độ phục vụ tận tình, chu đáo. Ngân hàng ngày càng nâng cao hình ảnh trong mắt khách hàng.
Cơ cấu theo tiền vay Từ bảng 2.2 ta thấy được sự chênh lệch khá lớn giữa dư nợ cho vay bằng nội tệ và
ngoại tệ. Các khách hàng có quan hệ tín dụng với Chi nhánh chủ yếu là các tổ chức kinh
tế trên địa bàn, hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ trong nước, do đó ngân hàng
chủ yếu sử dụng đồng nội tệ để cho vay. Lượng vốn huy động của Chi nhánh phần lớn từ nội tệ nên dư nợ cho vay nội tệ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ, chiếm từ 78,91% đến 83,50%. Lượng tiền cho vay bằng VNĐ trong năm 2011 là 643,17 tỷ đồng; năm 2012 tăng thêm 419,68 tỷ đồng tương ứng tăng 65,25% so với năm 2011; năm 2013 tăng thêm 656,46 tỷ đồng tương ứng với tỷ lệ tăng thêm 61,76% so với năm 2012. Cho vay bằng ngoại tệ chiếm tỷ trọng nhỏ hơn trong tổng dư nợ cho vay nhưng có xu hướng tăng trong
năm 2012, 2013 do số lượng các doanh nghiệp nước ngoài hoặc có hoạt động buôn bán
với nước ngoài trên địa bàn ngày càng tăng, các doanh nghiệp này có nhu cầu vay vốn
35
ngoại tệ để thanh toán tiền mua hàng. Năm 2012 lượng tiền cho vay bằng ngoại tệ tại chi
nhánh là 252,63 tỷ đồng, tăng 43,89 % so với năm 2011, năm 2013 tăng 81,91% so với
năm 2012, đạt 459,46 tỷ đồng.
2.2.3. Các hoạt động kinh doanh khác
Chi nhánh Hoàn Kiếm chính thức đi vào hoạt động từ năm 2011, trải qua hơn 3 năm
hoạt động và phát triển, Chi nhánh đã phần nào đạt được những thành tựu nhất định, cho
thấy hiệu quả hoạt động của mình. Luôn là một trong những chi nhánh đi đầu của TPBank trong phát triển dịch vụ bán lẻ, Chi nhánh đã phát hành trên 3.000 thẻ ATM, 1.000 thẻ tín
dụng quốc tế, đặt 150 đơn vị chấp nhận thẻ với doanh số thanh toán hàng năm trên 100 tỷ
đồng. Hoạt động tài trợ thương mại không ngừng mở rộng cả về quy mô và chất lượng, số
khách hàng mở L/C hàng xuất, nhập, chuyển tiền, thanh toán quốc tế,…tăng nhanh, Chi
nhánh là một đơn vị có doanh số mua bán vàng lớn của hệ thống, đáp ứng yêu cầu của
khách hàng…. Hoạt động thanh toán và hoạt động ngân hàng điện tử ngày càng được chú
trọng phát triển, ghi được dấu ấn trong tâm trí khách hàng.
Nhìn một cách tổng quan từ bảng số liệu 2.3, ta thấy rằng thu nhập từ các hoạt động
dịch vụ của TPBank - Hoàn Kiếm đều có mức tăng trưởng đều qua các năm.
Dịch vụ thanh toán: TPBank - Hoàn Kiếm cung cấp dịch vụ thanh toán trong nước
thông qua mạng lưới các điểm giao dịch và hệ thống ATM, hệ thống ngân hàng điện tử và
thỏa thuận với các ngân hàng khác để tham gia mạng lưới thanh toán của họ.
Bảng 2.3. Thu nhập từ dịch vụ của TPBank - Hoàn Kiếm giai đoạn 2011-2013 Đơn vị tính: Tỷ đồng
Chênh lệch 2012/2011 Chênh lệch 2013/2012 Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Giá trị Tỷ lệ (%) Giá trị Tỷ lệ (%)
6,89 8,12 11,72 1,23 17,85 3,6 44,33 Dịch vụ thanh toán
2,64 3,91 5,96 1,27 48,10 2,05 52,42 Kinh doanh mua bán ngoại tệ
5,75 8,53 12,79 2,78 48,34 4,26 49,94 Kinh doanh mua bán vàng
2,67 4,09 7,55 1,42 53,18 3,46 84,59 Dịch vụ thẻ - Ngân hàng điện tử
36
( Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của TPBank – Chi nhánh Hoàn Kiếm)
Ngân hàng điện tử và các hoạt động sử dụng công nghệ thông tin vốn là thế mạnh
của Chi nhánh nên thu nhập từ các hoạt động này tăng đều qua các năm. Năm 2011 thu nhập từ dịch vụ thanh toán là 6,89 tỷ đồng, năm 2012 tăng lên đạt 8,12 tỷ đồng tương ứng
với mức tăng trưởng 17,85%, năm 2013 con số này là 11,72 tỷ đồng tăng 44,33% so với
năm 2012. Hoạt động dịch vụ không những mang lại lợi nhuận không nhỏ cho chi nhánh
mà còn là hoạt động hỗ trợ hoạt động huy động vốn và cho vay tốt hơn. Những năm gần đây, các ngân hàng thương mại nói chung và TPBank nói riêng đang dần chú trong vào
đầu tư cho lĩnh vực này nhiều hơn.
Kinh doanh mua bán ngoại tệ: Năm 2012 và 2013, mạng lưới của TPBank ngày
càng mở rộng, với mục tiêu là ngân hàng hiện đại TPBank đã nắm bắt được nhu cầu giao
dịch ngoại tệ ngày càng lớn của khách hàng và ngày càng chú trọng phát triển loại sản
phẩm dịch vụ này.
Ngân hàng đã đáp ứng đầy đủ các dịch vụ về giao dịch ngoại tệ cho khách hàng là tổ
chức tập trung vào một số mục đích cụ thể như thanh toán quốc tế, trả nợ vay,… hay
khách hàng các nhân với các giao dịch kiều hối, chuyển tiền du học, du lịch, chữa bệnh….
Với công nghệ hiện đại TPBank – Hoàn Kiếm đáp ứng nhu cầu giao dịch ngoại tệ của
khách hàng một cách nhanh chóng và hiệu quả, với chi phí thấp, tạo ấn tượng sâu sắc cho
khách hàng. Đặc biệt là trong năm 2013, TPBank chính thức cho ra mắt giải pháp công
nghệ eCounter, công nghệ ngân hàng thông minh lần đầu tiên tại Việt Nam, đánh dấu một bước ngoặt mới về chất lượng phục vụ của ngân hàng. Công nghệ này cho phép hệ thống
ngân hàng TPBank có khả năng nhận biết ngay khi khách hàng bước vào trụ sở, cùng lúc
báo cho nhân viên đón tiếp khách hàng, giao dịch viên và Giám đốc dịch vụ khách hàng
để đón tiếp khách hàng chu đáo và đảm bảo chất lượng dịch vụ tốt nhất. Một thành phần
quan trọng của giải pháp này là hệ thống xếp hàng thông minh, hoàn toàn tự động không
cần lấy số, tích hợp với ứng dụng giao dịch của hệ thống core banking, đảm bảo tất cả khách hàng được phục vụ nhanh nhất, chính xác nhất, đồng thời đảm bảo ưu tiên cho khách đặt hẹn trước cũng như các khách hàng Cao cấp. Hệ thống cũng được thiết kế để tối ưu cho máy tính bảng với màn hình cảm ứng đa điểm, kết nối không dây, đồng thời tích hợp công nghệ bảo mật bằng vân tay, đầu đọc mã vạch và công nghệ không tiếp xúc tầm xa... Hệ thống ngân hàng TPBank cũng tự phát triển hệ thống máy đăng ký dịch vụ
(Service Booking) và quầy giao dịch tự phục vụ (Self Service) với thiết kế giao diện thân
thiện, dễ dùng, phù hợp với mọi đối tượng khách hàng, giúp khách hàng có những trải
nghiệm chưa từng có, tùy chọn được phục vụ theo cách truyền thống hoặc tự thực hiện
37
quy trình mua vàng, rút tiền, gửi tiền vào tài khoản… tối ưu hóa cho các giao dịch
lớn. Đặc biệt, để thuận tiện tối đa khi giao dịch, khách hàng có thể tùy chọn xác thực bằng
vân tay thay cho việc phải nhập mật khẩu hay mã số token ngẫu nhiên. Thêm vào đó, việc ứng dụng mã vạch đa chiều QR code giúp giản tiện thủ tục, đẩy nhanh tốc độ giao dịch,
hạn chế sai sót nhập dữ liệu, đảm bảo sự an toàn, bảo mật và phòng chống giả mạo, gian
lận. Kết quả là năm 2012 thu nhập từ hoạt động kinh doanh mua bán ngoại tệ tăng
48,10% so với năm 2011, đạt 3,92 tỷ đồng; năm 2013 đạt 5,96 tỷ đồng tăng 52,42 % so với năm 2012. Hoạt động kinh doanh nguồn vốn ngắn hạn trên thị trường ngoại tệ giúp
Chi nhánh sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động của mình, đảm bảo thanh khoản và giúp
cho ngân hàng nâng cao thu nhập của mình.
Kinh doanh mua bán vàng: Với cổ đông lớn của Ngân hàng là Công ty Vàng Bạc
Đá Qúy Doji, ngân hàng có sẵn tiềm năng để phát triển hoạt động kinh doanh mua bán
vàng trên thị trường. Ngày 28/12/2012, NHNN chính thức cấp giấy phép kinh doanh vàng
miếng đợt đầu tiên cho 17 TCTD, trong đó có TPBank, mở ra cơ hội kinh doanh mới,
nhiều tiềm năng cho ngân hàng. Thu nhập từ hoạt động kinh doanh này tăng trưởng mạnh
qua các năm. Giá vàng của TPBank luôn được đảm bảo là giá chuẩn và tốt nhất hệ thống
liên ngân hàng; giao dịch có thể được thực hiện trên Ebank giúp khách hàng bắt kịp với
mọi biến động của thị trường. Năm 2012 thu nhập từ hoạt động kinh doanh mua bán vàng
đạt 8,53 tỷ đồng, tăng 48,34% so với năm 2011. Năm 2013 con số này là 12,79 tỷ đồng,
tăng 49,94% so với năm 2012. Đây thực sự là nguồn thu nhập lớn và ngân hàng cần phát triển hơn loại hình dịch vụ này.
Dịch vụ thẻ - Ngân hàng điện tử: TPBank - Hoàn Kiếm cung cấp dịch vụ chuyển
tiền trong nước, dịch vụ quản lý tài khoản giao dịch với việc nhận tiền gửi, theo dõi số dư
và cung cấp các dịch vụ về tài khoản cho khách hàng, dịch vụ trả lương qua tài khoản….
Năm 2012 thu nhập từ dịch vụ thẻ - ngân hàng điện tử của Chi nhánh tăng 53,18% so với
năm 2011, từ 2,67 tỷ đồng lên 4,09 tỷ đồng. Năm 2013 thu nhập đạt 7,55 tăng 84,59% so với năm 2012. Đây là kết quả của việc đầu tư trang thiết bị hiện đại vào công nghệ nhằm hoàn thiện hệ thống thẻ và ngân hàng điện tử, cung cấp cho khách hàng những tiện ích tốt hơn.
Năm 2013, Ngân hàng đã triển khai nhiều sản phẩm dịch vụ đa dạng, phục vụ cho các phân khúc khách hàng khác nhau như chương trình liên kết đối tác; kết nối cổng
thanh toán với Payoo, Smartlink, FPT Online, Viettel; mở thêm nhiều dịch vụ mới trên
eBank nhằm gia tăng tiện ích tới khách hàng. Các sản phẩm Thẻ tín dụng và ghi nợ quốc
tế, kết hợp nhiều ưu đãi cho chủ thẻ cũng được phát triển rộng rãi, đưa tổng số thẻ VISA
38
phát hành của TPBank đạt gần 5.000 thẻ, tăng gấp 5 lần so với năm 2012. Với những
chính sách sản phẩm linh hoạt, cạnh tranh, chất lượng dịch vụ được chú trọng, số
lượng khách hàng của TPBank tăng mạnh đạt gần 25.000 khách hàng vào thời điểm cuối năm 2013.
2.2.4. Kết quả hoạt động kinh doanh
Từ bảng 2.4, ta thấy rằng tổng thu nhập hoạt động của Chi nhánh tăng đều trong 3
năm 2011, 2012 và 2013. Năm 2011 tổng thu nhập của chi nhánh là 53,57 tỷ đồng. Đến năm 2012 tổng thu nhập đạt 124,76 tỷ đồng tăng 71,19 tỷ đồng tương ứng với 132,89% so
với năm 2011. Năm 2013 tổng thu nhập tiếp tục tăng, đạt 252,19 tỷ đồng tăng 127,43 tỷ
đồng tương ứng với 102,14% so với năm 2012. Kết quả này thể hiện quy mô hoạt động
của TPBank - Hoàn Kiếm ngày càng mở rộng cũng như hiệu quả ngày càng nâng cao,
khách hàng tin tưởng hơn và sử dụng nhiều sản phẩm dịch vụ của ngân hàng.
Bảng 2.4. Kết quả hoạt động kinh doanh của TPBank - Hoàn Kiếm giai đoạn
2011 - 2013
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chênh lệch 2012/2011 Chênh lệch 2013/2012 Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Giá trị Tỷ lệ (%) Giá trị Tỷ lệ (%)
53,57 124,76 252,19 71,19 132,89 127,43 102,14 Tổng thu nhập
40,77 106,21 195,89 65,44 160,51 89,68 84,44 Tổng chi phí hoạt động
12,8 18,55 56,3 5,75 44,92 37,75 203,50 Lợi nhuận trƣớc thuế
9,60 13,91 42,23 4,31 33,69 28,31 152,63 Lợi nhuận sau thuế
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh 2011-2013) Bên cạnh đó, tổng chi phí của ngân hàng cũng tăng lên nhưng mức tăng của năm 2013 so với năm 2012 là 84,44% thấp hơn mức tăng 160,51% của năm 2012 so với năm 2011. Nguyên nhân là do trong năm 2012 nền kinh tế khó khăn dẫn đến việc khách hàng không có khả năng trả vốn cho ngân hàng, ngân hàng tốn nhiều chi phí hơn cho việc giám sát cũng như đòi các khoản nợ quá hạn. Hơn nữa để đảm bảo an toàn ngân hàng thắt chặt
39
hơn các công tác thẩm định trong quá trình cho vay vốn, chi phí thẩm định cũng vì thế mà tăng cao. Ngoài ra, trong năm 2012 và năm 2013 ngân hàng tiến hành việc tái cơ cấu lại
ngân hàng, mua thêm các tài sản cố định và đổi mới bộ nhận diện thương hiệu, cũng như
nâng cao chất lượng nhân sự bằng việc trả lương cao để thu hút các nhân viên có kinh nghiệm và chuyên môn cao về làm việc tại chi nhánh, khiến cho các chi phí cũng tăng lên.
Từ đó, lợi nhuận trước thuế của Chi nhánh tăng đều qua các năm. Năm 2011 lợi
nhuận trước thuế đạt 12,8 tỷ đồng; năm 2012 đạt 18,55 tỷ đồng tăng 44,92% so với năm
2011; đến năm 2013 lợi nhuận trước thuế đạt 42,23 tỷ đồng tương ứng với mức tăng 203,50 % so với năm 2012. Lợi nhuận trước thuế tăng kéo theo lợi nhuận sau thuế cũng
tăng. Nhìn chung nhìn vào kết quả hoạt động kinh doanh của TPBank - Hoàn Kiếm trong
3 năm từ năm 2011 đến 2013 cho thấy sự phát triển đi lên và hiệu quả của hoạt động kinh
doanh của chi nhánh trong tất cả các hoạt động.
Các kết quả mà TPBank đạt được trong những năm gần đây là bằng chứng cho sự
nỗ lực cao của Chi nhánh trong phát triển hoạt động kinh doanh; sự đoàn kết, thống nhất
sức mạnh của cả tập thể; cùng với sự chỉ đạo sát sao của các cấp lãnh đạo toàn ngân hàng.
Chi nhánh đã tận dụng mọi cơ hội thị trường, duy trì lãi suất ở mức hợp lý, tiết kiệm chi
phí điều hành để nâng cao hiệu suất, mở rộng thị phần theo đúng định hướng ổn định -
bền vững nhằm đạt kết quả cao nhất.
2.3. Một số quy định chung trong hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm
Chính sách cho vay của TPBank nói chung và Chi nhánh Hoàn Kiếm nói riêng do Hội đồng Quản trị Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong phê duyệt và ban hành, là
khuôn khổ pháp lý chung hướng dẫn hoạt động cho vay của các chi nhánh và cán bộ tín
dụng. Nội dung của chính sách cho vay được soạn thảo trên cơ sở: Quy chế về đảm bảo
tiền vay do chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành; Quy chế cho vay do
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành; Chiến lược, định hướng hoạt động tín dụng của
TPBank; Sổ tay tín dụng của TPBank.
Ngoài ra, Chi nhánh cũng đưa ra chính sách tín dụng riêng về đối tượng khách hàng, các điều kiện cho vay, hình thức vay và quy định về lãi suất, đảm bảo tiền vay. Cụ thể như sau:
2.3.1. Đối tượng và điều kiện cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tất cả các khách hàng là DNVVN đều được ngân hàng xem xét về nhu cầu vay vốn
đối với các lĩnh vực không bị pháp luật cấm. Chi nhánh đã chỉ rõ các điều kiện cần có của
một khách hàng khi vay vốn tại ngân hàng là: Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực
hành vi dân sự theo quy định của pháp luật hiện hành; có khả năng tài chính đảm bảo trả
40
nợ trong thời hạn cam kết ; mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp; có dự án đầu tư, phương
án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả; khách hàng phải mở tài khoản tại
Chi nhánh để hạch toán số tiền giải ngân, thu nợ gốc, nợ lãi theo đúng hợp đồng cho vay đã kí kết; có trụ sở làm việc cùng địa bàn tỉnh/thành phố với Chi nhánh; thực hiện các quy
định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ, NHNN và hướng dẫn của
TPBank.
Song song với những điều kiện trên, TPBank - Hoàn Kiếm đã đưa ra những điều kiện bổ sung theo từng loại hình cho vay DNVVN để phù hợp với tình hình thực tế, đồng
thời đảm bảo nguyên tắc an toàn, thận trọng trong công tác cho vay. Các điều kiện bổ
sung bao gồm:
Đối với cho vay vốn lưu động và cho vay đầu tư trung và dài hạn - theo món; cho
vay trung và dài hạn – theo dự án đầu tư: DNVVN vay vốn cần phải có tài sản đảm bảo
khoản vay. Tùy thuộc vào chủng loại tài sản bảo đảm mà TPBank có thể yêu cầu khách
hàng mua bảo hiểm, đăng ký giao dịch đảm bảo, công chứng với các cơ quan/tổ chức liên
quan.
Đối với cho vay theo hạn mức tín dụng: yêu cầu DNVVN phải có tài sản đảm bảo
khoản vay và có quan hệ tín dụng tốt với ngân hàng.
Đối với cho vay mua xe ô tô: Tài sản đảm bảo của khoản vay chính là ô tô phát sinh
từ món vay, DNVVN phải có quan hệ tín dụng uy tín với ngân hàng.
Đối với thấu chi doanh nghiệp: DNVVN có tài khoản tiền gửi bằng Đồng Việt Nam
và có Hạn mức tín dụng tại Chi nhánh.
2.3.2. Tài sản đảm bảo đối với cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong quá trình cấp tín dụng cho khách hàng, một vấn đề luôn được quan tâm và có
ảnh hưởng rất lớn tới quyết định có cấp tín dụng của ngân hàng cho khách hàng hay
không đó chính là TSĐB. TSĐB chính là yếu tố giúp phòng ngừa rủi ro khi phương án trả
nợ dự kiến của khách hàng không thực hiện được hoặc xảy ra các rủi ro không lường trước được. Bên cạnh đó, TSĐB giúp nâng cao trách nhiệm thực hiện cam kết trả nợ của khách hàng, tạo cơ sở pháp lý và cơ sở kinh tế cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chi nhánh trong mọi trường hợp.
Theo quy định về bảo đảm tiền vay và TSĐB TPBank thì danh mục tài sản được
chấp nhận làm đảm bảo cho khoản vay gồm có:
Tiền và các giấy tờ có giá: Bao gồm đồng Việt Nam và ngoại tệ; Tín phiếu, Trái
phiếu Kho bạc Nhà nước, Công trái xây dựng Tổ quốc, Trái phiếu được chính phủ bảo
41
lãnh và chứng chỉ khác; Sổ tiết kiệm, Kỳ phiếu, Chứng chỉ tiền gửi, Séc; Cổ phiếu (trừ cổ
phiếu, trái phiếu chuyển đổi của TPBank); Vàng bạc, kim cương, kim khí quý và đá quý
khác.
Bất động sản: Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất (nhà văn phòng, nhà
máy,…), kể cả các tài sản gắn liền với nhà ở và công trình xây dựng; quyền sử dụng đất
mà Pháp luật về đất đai quy định được thế chấp.
Động sản: Ô tô, máy móc, dây chuyền sản xuất, nguyên nhiên liệu, thành phẩm hàng hóa, quyền đòi nợ phát sinh từ hợp đồng mua bán, cho thuê tài sản hoặc cung cấp
dịch vụ,…
Ngoài ra, các DNVVN có thể cầm cố hoặc thế chấp các khoản phải thu, chứng
khoán hoặc đảm bảo, ủy thác của bên thứ ba.
Các tài sản được dùng để đảm bảo cho khoản tín dụng đều được định giá trước khi
tiến hành kí kết hợp đồng với khách hàng. Mức cho vay tối đa được thực hiện theo quy
định của NHNN và TPBank theo từng thời kì, theo loại TSĐB và theo từng sản phẩm,
dịch vụ.
2.3.3. Các hình thức cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Để đáp ứng nhu cầu đa dạng của các DNVVN Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên
Phong nói chung và Chi nhánh Hoàn Kiếm nói riêng đã mở ra các sản phẩm đáp ứng cho
các nhu cầu khác nhau của các DNVVN trong quá trình hoạt động của mình. Cụ thể:
Cho vay vốn lƣu động theo món: Là việc ngân hàng cấp tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư vào tài sản lưu động của DNVVN. Ngân hàng cho vay theo từng khoản
vay riêng lẻ có mục đích, số tiền và thời hạn rõ ràng. Thông thường, cho vay vốn lưu
động theo món có thời hạn không quá 1 năm và mỗi khoản vay phải có phương án kinh
doanh cụ thể.
Cho vay theo hạn mức tín dụng: Cho vay theo hạn mức tín dụng được áp dụng đối
với khách hàng vay có nhu cầu vay vốn thường xuyên và có đặc điểm sản xuất – kinh doanh, luân chuyển vốn không phù hợp với phương thức cho vay từng lần. Căn cứ vào phương án, kế hoạch sản xuất, kinh doanh, nhu cầu vay vốn của khách hàng, tài sản bảo đảm tiền vay, TPBank và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh. Hạn mức tín dụng thường được xem xét/đánh giá lại ở thời điểm kết thúc hạn mức, theo đó TPBank có thể
xem xét nâng/giảm hạn mức hoặc kết thúc/gia hạn thời hạn của han mức.
Cho vay trung và dài hạn theo dự án đầu tƣ: TPBank cho khách hàng vay vốn để
thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư
42
phục vụ đời sống. Trường hợp trong thời gian chưa vay được vốn ngân hàng, khách hàng
đã dùng nguồn vốn huy động tạm thời khác để chi phí theo dự án được duyệt thì TPBank
có thể xem xét cho vay bù đắp nguồn vốn đó trên cơ sở phải có chứng từ pháp lý chứng minh rõ nguồn vốn đã sử dụng trước. Trường hợp hết thời gian giải ngân theo lịch đã thoả
thuận ban đầu mà khách hàng chưa sử dụng hết mức vốn vay ghi trong hợp đồng tín
dụng, nếu khách hàng đề nghị thì TPBank xem xét có thể thoả thuận và ký kết bổ sung
hợp đồng tín dụng tiếp tục phát tiền vay phù hợp với tiến độ thi công cụ thể.
Cho vay đầu tƣ trung và dài hạn theo món: Là việc ngân hàng cấp tín dụng nhằm
đáp ứng nhu cầu đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp (vay xây dựng, vay mua
máy móc thiết bị, vay mua phương tiện vận tải….) . Ngân hàng cho vay theo từng khoản
vay riêng lẻ có mục đích, số tiền và thời hạn rõ ràng. Thời hạn cho vay đầu tư trung và dài
hạn theo món không dưới 1 năm và không quá 10 năm. Các khoản vay đầu tư mua máy
móc thiết bị thường được áp dụng phương thức trả góp.
Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà TPBank thoả thuận bằng văn
bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách
hàng, có mục đích phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về
hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Thời hạn cho vay theo
hạn mức thấu chi tối đa không quá 12 tháng. Đội ngũ chuyên viên kinh doanh của ngân
hàng luôn sẵn sàng tư vẫn và giúp khách hàng hoàn tất thủ tục cấp hạn mức thấu chi trong
thời hạn nhanh nhất.
2.3.4. Quy trình cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Sơ đồ 2.2. Quy trình cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TPBank - Hoàn Kiếm
Bước 1: Thiết lập hồ sơ vay vốn
Bước 6: Thanh lý, xử lý khoản vay Bước 2: Thẩm định hồ sơ vay vốn
Bước 3: Phê duyệt cho vay Bước 5: Kiểm tra, giám sát
Bước 4: Giải ngân
43
(Nguồn: Phòng khách hàng doanh nghiệp)
Quy trình cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của TPBank - Hoàn Kiếm được thể hiện
qua sơ đồ 2.2, gồm sáu bước như sau:
Bƣớc 1: Thiết lập hồ sơ vay vốn
Đây là bước đầu tiên, khâu căn bản của quy trình cho vay. Lập hồ sơ cho vay được
thực hiện ngay sau khi cán bộ tín dụng tiếp xúc với doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn. Lập
hồ sơ cho vay là một khâu quan trọng vì nó là khâu thu nhập thông tin làm cơ sở để thực hiện các bước sau, đặc biệt là bước phân tích tín dụng và ra quyết định cho vay.
Thông thường trong cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ thì một bộ hồ sơ sẽ
cần những thông tin sau từ phía doanh nghiệp: Thông tin về năng lực pháp lí và năng lực
hành vi dân sự của doanh nghiệp; Thông tin về khả năng sử dụng và hoàn trả vốn của
doanh nghiệp; Thông tin đảm bảo tín dụng.
Để thu thập được những thông tin căn bản trên, ngân hàng yêu cầu doanh nghiệp
phải lập và nộp cho ngân hàng các loại giấy tờ sau: Giấy đề nghị cấp vốn; Giấy tờ chứng
minh tư cách pháp nhân của doanh nghiệp, chẳng hạn như Giấy phép thành lập, Quyết
định bổ nhiệm Giám đốc, Điều lệ hoạt động…; Phương án sản xuất kinh doanh và Kế
hoạch trả nợ hoặc Dự án đầu tư; Báo cáo tài chính của thời kì gần nhất; Các giấy tờ liên
quan đến tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh nợ vay; Các giấy tờ liên quan khác (nếu
cần).
Căn cứ vào sổ tay tín dụng của TPBank, tùy vào từng phương thức vay vốn và quy mô của khoản vay mà Chi nhánh Hoàn Kiếm thiết lập bộ hồ sơ phù hợp. Bộ hồ sơ cho
vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ thường bao gồm các loại sau:
Hồ sơ pháp lí: Bao gồm Quyết định hoặc giấy phép thành lập doanh nghiệp; Điều
lệ của doanh nghiệp; Quyết định bổ nhiệm tổng giám đốc (giám đốc, kế toán trưởng),
quyết định công nhận Ban quản trị; Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh; Giấy phép hành nghề; Giấy phép đầu tư…
Hồ sơ dự án: Bao gồm Quyết định đầu tư hoặc giấy phép đầu tư của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; Luận chứng kinh tế kĩ thuật và phê duyệt luận chứng kinh tế kĩ thuật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; Thiết kế kĩ thuật, tổng dự toán đã được phê duyệt; Ý kiến của cơ quan quản lí ngành, cơ quan chuyên môn, chính quyền sở tại và Chính phủ về dự án; Nghị quyết của hội đồng quản trị, sáng lập viên về đầu tư dự án; Các hồ sơ liên
quan khác như: quyết định giao đất, hợp đồng thuê đất của dự án, giấy phép xây dựng,...
Hồ sơ kinh tế: Bao gồm Kế hoạch sản xuất kinh doanh trong kì; Bản giới thiệu khái
44
quát về hoạt động kinh doanh của công ty; Các báo cáo tài chính trong 2 năm gần nhất và
Báo cáo tình hình tài chính, kinh doanh đến trước ngày đề nghị vay vốn ngân hàng; Báo
cáo tình hình Vốn góp/Vốn chủ sở hữa tại thời điểm vay vốn; Chi tiết phải thu, phải trả; hàng tồn kho; tài sản cố định; nợ ngắn hạn, dài hạn tại thời điểm vay vốn (bản chính); Sổ
doanh thu hoặc theo dõi nhập - xuất - tồn hàng hóa (bản sao); Sổ phụ ngân hàng, số quỹ
tiền mặt, tờ khai nộp thuế hàng tháng (6 tháng gần nhất); Các hợp đồng kinh tế, hóa đơn
đầu vào và đầu ra thực hiện; Bảng kê danh sách khách hàng đầu vào và đầu ra. Một số hồ sơ khác liên quan đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà Ngân hàng
quan tâm.
Hồ sơ vay vốn: Bao gồm Giấy đề nghị vay vốn; Bản tự giới thiệu về doanh nghiệp;
Dự án, phương án sản xuất kinh doanh dịch vụ, đời sống; Bản sao hợp đồng mua hàng
hoặc báo giá, phiếu nhập kho, các chứng từ thanh toán (nếu có)
Hồ sơ đảm bảo tiền vay: Bao gồm Giấy chứng minh quyền sở hữu tài sản; Giấy
chứng minh năng lực pháp lí và quyền sử dụng hợp pháp về tài sản và giấy tờ tùy thân
(bản sao) của chủ sở hữu tài sản; Biên bản định giá tài sản đảm bảo
Bƣớc 2: Thẩm định hồ sơ vay vốn
Sau khi đã thu thập được thông tin cần thiết về doanh nghiệp, các cán bộ tín dụng
của phòng khách hàng doanh nghiệp bắt đầu chuyển sang giai đoạn thứ hai – thẩm định
hồ sơ vay vốn và phân tích tín dụng. Đây là khâu quan trọng nhất và cũng là khâu khó
khăn nhất, đòi hỏi trình độ chuyên môn và năng lực phán đoán, phân tích của cán bộ tín dụng.
Phân tích tín dụng là việc phân tích những khả năng hiện tại và tiềm ẩn của doanh
nghiệp về sử dụng vốn vay, khả năng hoàn trả và thu hồi vốn. Mục tiêu của phân tích tín
dụng là phát hiện ra những trường hợp có thể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, từ đó tìm ra
những biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro đó. Ngoài ra, phân tích tín dụng còn liên
quan đến việc chứng minh tính chân thực của thông tin mà doanh nghiệp cung cấp, từ đó nhận định về thái độ và uy tín của doanh nghiệp để đưa ra quyết định cho vay.
Nội dung thẩm định gồm có:
45
Thẩm định tư cách pháp lí và năng lực hành vi của doanh nghiệp: Đây chính là điều kiện cần của một doanh nghiệp khi muốn vay vốn từ ngân hàng. Việc thẩm định năng lực pháp lí và hành vi của doanh nghiệp sẽ là căn cứ của các bước tiếp theo trong quá trình phân tích tín dụng.
Thẩm định mục đích vay vốn
Sau khi đã xem xét các giấy tờ liên quan đến vấn đề pháp lí của doanh nghiệp, công việc phân tích tín dụng chuyển sang bước thứ hai, đó là thẩm định mục đích vay vốn. Đối
với doanh nghiệp, mục đích vay vốn thường là vay để tăng nguồn vốn lưu động, mở rộng
sản suất kinh doanh, mở rộng địa bàn; vay thực hiện dự án đầu tư…Cho dù vay vốn với
mục đích gì, thì doanh nghiệp cũng phải đảm bảo vay đúng mục đích, phù hợp với đăng kí kinh doanh, không có những mặt hàng mà Nhà nước cấm nhập khẩu trong từng thời kì
(theo Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, nhập khẩu ban hành kèm theo Nghị định số
12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ).
Thẩm định khả năng tài chính của DNVVN
Khi đã hoàn tất việc thẩm định các giấy tờ về mặt pháp lí và mục đích vay vốn, các
cán bộ tín dụng bắt đầu đi sâu vào phân tích khả năng tài chính của doanh nghiệp dựa vào
các tài liệu về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó, cán bộ
tín dụng sẽ tính toán các chỉ tiêu để đánh giá khả năng tài chính của doanh nghiệp, lấy đó
làm tiền đề cho việc xem xét có cho vay hay không.
Các chỉ tiêu mà ngân hàng thường dùng để phân tích, đánh giá tình hình hoạt động
tài chính của các doanh nghiệp là: các tỉ số khả năng thanh khoản, các tỉ số nợ, các tỉ số
về khả năng hoàn trả lãi vay, các tỉ số hiệu quả hoạt động, các tỉ số khả năng sinh lời, các
tỉ số tăng trưởng….
Thẩm định phương án vay vốn
Công việc này là xem xét tính khả thi của phương án sản xuất kinh doanh hoặc dự
án đầu tư của doanh nghiệp. Đây là khâu phân tích rất quan trọng, đòi hỏi cán bộ tín dụng
phải có chuyên môn cao. Một doanh nghiệp có khả năng tài chính tốt, nhưng không có
một phương án sản xuất kinh doanh hay dự án đầu tư hiệu quả, thì khả năng xảy ra rủi ro
tín dụng là cao; và doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong quá trình tìm nguồn vốn vay để thực hiện những đề xuất kinh doanh của mình.
Thẩm định tài sản đảm bảo tiền vay
Để đảm bảo khả năng tài chính của DNVVN vay vốn, đồng thời tránh cho ngân hàng chịu rủi ro về việc các DNVVN không thể trả được nợ, việc thẩm định tài sản đem thế chấp hoặc cầm cố là rất cần thiết. Hiện nay ở các ngân hàng, danh mục các tài sản được
đem thế chấp hoặc cầm cố rất phong phú; song nói chung, các DNVVN thường dùng bất
động sản, phương tiện vận chuyển hay các tài sản hình thành từ vốn vay để đảm bảo cho
46
món tiền vay.
Mỗi loại tài sản sẽ có những cách thức thẩm định khác nhau, trong đó việc thẩm
định bất động sản được coi là phức tạp và khó khăn nhất và dựa vào rất nhiều yếu tố để thẩm định. Với các động sản như máy móc, phương tiện, hàng tồn kho, chứng khoán thì
việc định giá thông thường sẽ căn cứ vào giá mua trên hợp đồng mua bán hàng hóa, giá
nhập khẩu, giá trị còn lại… của động sản đó.
Nói chung, ngân hàng phải kiểm tra được tài sản đó có hợp pháp, đúng quyền sở hữu hay không, có bị cấm lưu hành hay không, có đủ cơ sở pháp lí để người cho vay có
thể xử lí tài sản dùng làm bảo đảm tiền vay không. Ngoài ra, ngân hàng còn phải xác định
một cách gần nhất giá trị của tài sản ở hiện tại cũng như trong tương lai để tránh tổn thất,
rủi ro về giá.
Chấm điểm tín dụng
Từ các thông tin nêu tại Báo cáo đề xuất tín dụng và các thông tin khác mà cán bộ
tín dụng thu thập được, cán bộ tín dụng sẽ tiến hành cho điểm tín dụng và phân loại khách
hàng theo quy định hiện hành của ngân hàng. Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ với
khách hàng doanh nghiệp sử dụng phương pháp chấm điểm theo nhóm chỉ tiêu tài chính
(40 chỉ tiêu) và chỉ tiêu phi tài chính (14 chỉ tiêu). Theo hệ thống xếp hạng nội bộ, điểm
tối đa dành cho khách hàng là 100 điểm thành 10 hạng có mức độ rủi ro từ thấp đến cao:
AAA, AA, A, BBB, BB, B, CCC, CC, C, D. Hiện ngân hàng đã tuân thủ nghiêm ngặt xếp
hạng các DNVVN vay vốn để đưa ra lựa chọn cho vay thích hợp.Sau khi chấm điểm tín dụng xong, cán bộ thẩm định sẽ lập bản chấm điểm tín dụng và xếp loại tín dụng. Bản
chấm điểm tín dụng này sẽ được lưu cùng với tờ trình.
Bƣớc 3: Phê duyệt cho vay
Kết quả của quá trình phân tích, thẩm định khoản vay là cơ sở để đưa ra quyết định
cho vay. Trên thực tế, những yêu cầu vay vốn có chất lượng tốt thì việc quyết định cho vay được thực hiện một cách dễ dàng. Đối với những khoản vay nhỏ, ngân hàng thường giao quyền quyết định cho Trưởng phòng Tín dụng. Đối với những khoản vay lớn, quyền phán quyết thuộc về Hội đồng Tín dụng. Trong trường hợp này, cán bộ tín dụng trực tiếp nhận hồ sơ vay vốn có trách nhiệm kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ và thẩm định các điều kiện vay vốn của hồ sơ, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu và phải đưa ra được ý kiến có nên cho vay hay không và lập tờ trình trình hội đồng tín dụng. Trên cơ sở hồ sơ
vay vốn và tờ trình của cán bộ tín dụng, hội đồng tín dụng xem xét kiểm tra lại hồ sơ vay
vốn và tờ trình để ra quyết định cho vay hay không. Quyết định này của Trưởng phòng
47
Tín dụng hay Hội đồng Tín dụng cũng phải đưa ra trong một thời gian nhất định, tùy vào
quy mô khoản vay và tình hình của DNVVN vay vốn, thông thường thời gian xét duyệt
khoảng 7 ngày kể từ khi ngân hàng nhận hồ sơ của khách hàng, đảm bảo kịp thời cho khách hàng. Nếu hồ sơ vay vốn bị từ chối thì phải thông báo cho khách hàng biết lí do từ
chối cho vay. Nếu yêu cầu vay vốn được chấp thuận thì Trưởng phòng Tín dụng cùng
khách hàng tiến hành kí kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng đảm bảo tiền vay (nếu có). Có
thể có trường hợp hội đồng tín dụng quyết định cho vay nhưng có những thay đổi về thời hạn cho vay, số tiền cho vay,...
Bƣớc 4: Giải ngân
Giải ngân là bước tiếp theo sau khi hợp đồng cho vay DNVVN đã được kí kết. Dựa
vào cơ sở hạn mức tín dụng mà ngân hàng đã ký kết với DNVVN trong hợp đồng, cán bộ
tín dụng của phòng khách hàng doanh nghiệp sẽ phối hợp với các bộ phận có liên quan
bao gồm phòng hỗ trợ, kế toán, thanh toán quốc tế để giải ngân hoặc thanh toán theo yêu
cầu của khách hàng. Các hình thức phát tiền vay, giải ngân gồm có: Rút tiền mặt trực tiếp
(Áp dụng đối với các khoản cho vay lương, thưởng, các nhu cầu thanh toán nhỏ lẻ, nhu
cầu vay cá nhân, số tiền vay trị giá không quá lớn); Thanh toán chuyển khoản trên địa bàn
hoặc trong lãnh thổ quốc gia theo yêu cầu của khách hàng; Thanh toán quốc tế theo yêu
cầu của khách hàng: Thanh toán L/C, TT, TTR…(sử dụng các phương tiện SWIFT, điện
Telex).
Bƣớc 5: Kiểm tra, giám sát
Kiểm tra, giám sát là bước khá quan trọng nhằm mục tiêu kiểm tra nguồn vốn vay
có được DNVVN sử dụng đúng mục đích đã cam kết hay không, qua đó kiểm soát rủi ro,
phát hiện và giải quyết kịp thời những sai phạm có thể ảnh hưởng đến khả năng thu hồi
nợ sau này. Các cán bộ tín dụng của Phòng khách hàng doanh nghiệp kết hợp với phòng
kiểm tra, giám sát để tiến hành theo dõi chặt chẽ hoạt động sử dụng vốn vay và khả năng
trả nợ của doanh nghiệp, có thể kể đến một số biện pháp kiểm soát sau: Giám sát hoạt động tài khoản của doanh nghiệp tại ngân hàng; phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp định kì; giám sát doanh nghiệp qua việc trả lãi định kì; khảo sát thực tế địa điểm hoạt động sản xuất kinh doanh; kiểm tra hình thức đảm bảo tiền vay; giám sát hoạt động của doanh nghiệp qua các mối quan hệ với khách hàng khác; giám sát DNVVN vay vốn thông qua những nguồn thông tin khác…
Bƣớc 6: Thanh lí, xử lí khoản vay
Đây là giai đoạn kết thúc của quy trình cho vay. Bước này gồm: Thu nợ cả gốc và
48
lãi, tái xét hợp đồng cho vay, thanh lí hợp đồng cho vay.
Thu nợ: Ngân hàng tiến hành thu nợ từ DNVVN vay vốn theo đúng điều khoản đã
cam kết trong hợp đồng cho vay. Tùy tính chất của khoản vay và tình hình của DNVVN, hai bên có thể thỏa thuận và lựa chọn một trong các hình thức thu nợ.
Nếu đến hạn trả nợ mà doanh nghiệp không có khả năng trả nợ thì ngân hàng có thể
xem xét gia hạn nợ hoặc chuyển sang nợ quá hạn để có biện pháp xử lí thích hợp nhằm
đảm bảo thu hồi nợ. Trong trường hợp ngân hàng kiểm tra việc sử dụng vốn vay, nếu khách hàng sử dụng sai mục đích thì ngân hàng sẽ thu hồi nợ trước hạn. Nếu không đủ
tiền để thu nợ trước hạn thì ngân hàng sẽ chuyển sang nợ quá hạn.
Tái xét hợp đồng cho vay: Việc tái xét hợp đồng cho vay thực chất là tiến hành
phân tích khoản vay trong điều kiện vay đã được cấp nhằm mục tiêu đánh giá chất lượng
tín dụng, phát hiện rủi ro để có hướng xử lí kịp thời.
Thanh lí hợp đồng: Nếu hết thời hạn cùa hợp đồng cho vay và DNVVN đã hoàn tất
nghĩa vụ trả nợ cả gốc lấn lãi thì ngân hàng và doanh nghiệp đó sẽ làm thủ tục thanh lí
hợp đồng cho vay, giải chấp tài sản và lưu hồ sơ vay vốn của doanh nghiệp vào kho lưu
trữ. Trong trường hợp này, hai bên ngân hàng và khách hàng tiến hành thanh lí hợp đồng
tín dụng mặc nhiên. Trong trường hợp ngân hàng giám sát và phát hiện thấy khách hàng
vi phạm nghiêm trọng cam kết ghi trong hợp đồng tín dụng, có thể ảnh hưởng đến khả
năng thu hồi vốn sau này, ngân hàng có thể đề nghị và tiến hành thanh lí hợp đồng tín
dụng bắt buộc. Nếu khoản vay đã hết hạn mà DNVVN không có khả năng trả nợ thì ngân hàng có thể xem xét gia hạn nợ hoặc chuyển sang nợ quá hạn để có biện pháp thích hợp
thu hồi đầy đủ nợ.
2.4. Thực trạng hoạt động cho vay đối với tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Tiên
Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm trong năm 2011-2013
2.4.1. Doanh số cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh số cho vay chính là tổng số tiền mà ngân hàng đã giải ngân cho khách hàng vay trong một thời gian nhất định. Nếu số tiền ngân hàng huy động được cao và doanh số cho vay cao, chứng tỏ ngân hàng đã sử dụng được nguồn tiền huy động một cách có hiệu quả, với mục đích mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Nhưng doanh số cho vay cao không đồng nghĩa với hiệu quả cho vay tốt mà nó còn phụ thuộc vào doanh số thu nợ trong kỳ.
Từ bảng 2.5 có thể thấy, trong giai đoạn 2011-2013, doanh số cho vay DNVVN của
Chi nhánh Hoàn Kiếm tăng trưởng tương đối nhanh và chiếm tỷ trọng lớn trong doanh số
49
cho vay của toàn Chi nhánh và có xu hướng tăng về tỷ trọng trong cả 3 năm.
Bảng 2.5. Doanh số cho vay DNVVN tại TPBank - Hoàn Kiếm giai đoạn 2011 – 2013 (Đơn vị: tỷ đồng)
Chênh lệch năm 2011-2012 Chênh lệch năm 2012- 2013
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Số tiền Số tiền Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%)
603,20 920,10 1.621,25 316,90 52,53 701,15 43,24 Doanh số cho vay DNVVN
1.057,60 1.462,85 2.357,17 405,25 38,31 894,32 61,13 Tổng doanh số cho vay
57,03 62,89 68,77 - - - -
Tỷ trọng doanh số cho vay DNVVN (%)
(Nguồn:Báo cáo hoạt động cho vay DNVVN tại TPBank - Hoàn Kiếm)
Năm 2011, doanh số cho vay là 603,20 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 57,03% trong tổng doanh số cho vay của toàn chi nhánh. Năm 2011, khi nền kinh tế bất ổn và lạm phát tăng
cao dẫn đến việc các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, mặc dù vậy doanh số cho vay
DNVVN vẫn chiếm tỷ trọng tương đối trong tổng doanh số cho vay là do Chi nhánh chủ
yếu cho vay những khách hàng quen thuộc là khách hàng hoặc đối tác của những tập đoàn
cổ đông, có lịch sử tín dụng tốt. Trong khi các ngân hàng khác chạy đua với lãi suất huy
động khiến cho lãi suất cho vay tăng cao, thì TPBank với nguồn vốn dồi dào đã đưa ra
mức lãi suất hợp lý nhằm thu hút các doanh nghiệp hơn.
Đến năm 2012, doanh số cho vay DNVVN tăng lên đạt 920,10 tỷ đồng, chiếm
62,89% tổng doanh số cho vay của toàn chi nhánh, tăng 52,53% so với năm 2011. Nguyên nhân là do trong những tháng cuối năm 2011, NHNN đã đưa ra quy định về lãi suất trần tối đa 14%, lãi suất cho vay cũng giảm xuống. Các DNVVN tiếp cận vốn dễ dàng hơn. Đến năm 2013, Chi nhánh cũng tổ chức những chương trình hội nghị khách hàng, giới thiệu các sản phẩm đến từng doanh nghiệp, tổ chức tặng quà là các gói dịch vụ ưu đãi như không tính phí chuyển tiền, lãi suất thu hút…. và chất lượng dịch vụ ngày càng hoàn thiện. Ngân hàng ngày càng tạo được niềm tin với khách hàng hơn. Chính vì
50
vậy, doanh số cho vay đối với DNVVN trong năm 2013 tăng lên đạt 1.621,25 tỷ đồng, tăng 43,24 % so với của năm 2012, chiếm 68,77% trong tổng doanh số cho vay. Ta thấy,
doanh số cho vay DNVVN liên tục tăng qua các năm, đồng thời cũng chiếm tỷ trọng cao
trong tổng doanh số cho vay, cho thấy hoạt động cho vay đối với DNVVN đang ngày càng được đẩy mạnh và hiệu quả cho vay đối với DNVVN cũng đã được nâng cao hơn.
Hơn nữa, mục tiêu chính của chi nhánh trong vài năm tới là tập trung vào tăng trưởng dư
nợ cho vay đối với DNVVN bằng việc áp dụng những chính sách hỗ trợ cùng các sản
phẩm mới, đa dạng đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của các DNVVN nên trong vài năm tới doanh số cho vay DNVVN sẽ tiếp tục tăng cao hơn nữa.
2.4.2. Doanh số thu nợ cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh số thu nợ với DNVVN là chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng vốn đã cho
DNVVN được hoàn trả như thế nào. Bên cạnh doanh số cho vay DNVVN phát triển
tương đối nhanh trong giai đoạn năm 2011-2013 thì doanh số thu nợ của Chi nhánh cũng
có những kết quả thu được đáng kể.
Bảng 2.6. Tình hình doanh số thu nợ cho vay DNVVN của TPBank – Hoàn
Kiếm giai đoạn 2011 - 2013
Đơn vị: Tỷ đồng
Chênh lệch Chênh lệch năm
năm 2011-2012 2012- 2013 Năm Năm Năm Chỉ tiêu Tƣơn Tƣơn 2011 2012 2013 Số tiền g đối Số tiền g đối
(%) ( %)
Doanh số thu nợ
71,25 123,98 302,70 52,45 73,61 178,72 144,15 cho vay
DNVVN
Tổng doanh số
375,20 586,49 1.133,24 211,29 56,31 546,75 93,22 thu nợ
18,99 21,13 26,71 - - - -
Tỷ trọng thu nợ cho vay DNVVN(%)
(Nguồn: Báo cáo hoạt động cho vay DNVVN tại TPBank - Hoàn Kiếm) Qua bảng 2.6, ta thấy tổng doanh số thu nợ của chi nhánh năm 2012 tăng khá cao so với năm 2011 với số tiền tăng là 211,29 tỷ đồng, tăng 56,31 % so với năm 2011. Năm
2012, TPBank - Hoàn Kiếm đã lập ra Ban thu hồi nợ nhằm đẩy mạnh công tác giám sát
51
những khoản nợ trong hạn nhằm hạn chế rủi ro xảy ra và tiến hành đưa ra các cách giải
quyết nhằm thu hồi các khoản nợ đã quá hạn như: cơ cấu lại nợ, gia hạn, thu hồi tài sản
đảm bảo,…. Hoạt động thu nợ được tiến hành thường xuyên, liên tục nhằm duy trì, mở rộng nguồn vốn của ngân hàng. Bên cạnh đó, các DNNVV thường có quy mô nhỏ nên dễ
thích ứng với những biến động và khó khăn của thị trường. Vì vậy, doanh số thu nợ cho
vay DNVVN năm 2012 đạt được kết quả khả quan so với năm 2011.
Năm 2013 nền kinh tế đã có những chuyển biến đáng kể, tỷ lệ lạm phát giảm, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ổn định hơn nên việc thu hồi nợ diễn ra khá
thuận lợi. Chi nhánh chủ yếu cho vay các doanh nghiệp thương mại dịch vụ, đây là những
ngành có tính thời vụ cao, hàng hóa tiêu thụ nhanh nên đến hạn họ đều thanh toán nhanh
chóng cho ngân hàng. Hơn nữa, Chi nhánh đã xây dựng chính sách thu nợ hợp lý, điều
chỉnh kỳ hạn nợ cụ thể và phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh hay mùa vụ của khách
hàng. Nhờ vào nền tảng vượt trội về công nghệ thông tin, hệ thống quản lý mới đã được
ngân hàng tiến hành đưa vào hoạt động kiểm soát và hoạt động phân tích hệ thống thông
tin khách hàng. Vì vậy mà Chi nhánh dễ dàng quản lý các khoản nợ một cách dễ dàng
hơn, sớm nhận diện được những khoản vay không an toàn, từ đó có thể đưa ra giải pháp
linh hoạt để công tác thu hồi nợ được tiến hành một cách tốt nhất. Năm 2013, doanh số
thu nợ tăng 546,75 tỷ đồng so với năm 2012 với tốc độ tăng trưởng đạt 93,22% và song
song là doanh số thu nợ DNVVN tăng 178,72 tỷ đồng tương ứng với 144,15% so với năm
2012 - một con số khá ấn tượng của chi nhánh trong việc thu nợ.
Nhìn chung, công tác thu hồi nợ tại Chi nhánh khá tốt do Chi nhánh đã chú trọng
công tác và đầu tư tập trung thu những khoản nợ khó đòi trong năm 2011, thắt chặt công
tác thẩm định khi cho vay trong năm 2012 và năm 2013 nhằm đảm bảo nguồn trả nợ ổn
định, an toàn nguồn vốn vay.
2.4.3. Dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tổng dư nợ cho vay chính là chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền ngân hàng cấp cho nền kinh tế trong một thời điểm. Kết hợp với doanh số cho vay, dư nợ cho vay phản ánh tình hình hoạt động của ngân hàng. Dư nợ cho vay càng lớn, tốc độ tăng dư nợ càng nhanh, chứng tỏ ngân hàng có uy tín và dịch vụ cho khách hàng đa dạng, phong phú. Nhưng tổng dư nợ cho vay cao không đồng nghĩa với hiệu quả cho vay tốt vì bên cạnh những khoản vay đó là những RRTD mà ngân hàng sẽ gặp phải.
Xét về quy mô cho vay DNVVN Nhìn vào bảng số liệu 2.7 về tình hình dư nợ đối với DNVVN có thể thấy dư nợ
52
DNVVN liên tục tăng trong 3 năm 2011 – 2013.
Bảng 2.7. Dƣ nợ cho vay DNVVN theo cơ cấu thời gian và cơ cấu ngành nghề của TPBank - Hoàn Kiếm giai đoạn
2011-2013
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Chênh lệch Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 2012/2011 2013/2012 Chỉ tiêu
Số tiền Số tiền Số tiền Đạt tỷ lệ (%) Đạt tỷ lệ (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Số tiền tăng (+) giảm (-) Số tiền tăng (+) giảm (-)
376,75 100,00 710,36 100,00 1.198,37 100,00 333,61 88,54 488,01 40,72 Tổng dƣ nợ cho vay DNVVN
I. Theo thời gian
1. Nợ ngắn hạn 287,85 76,40 483,77 68,10 802,94 67,42 195,92 68,06 319,17 65,97
2. Nợ trung hạn – dài hạn 88,90 23,60 226,59 31,90 395,43 32,58 137,69 154,88 168,84 74,51
II. Theo ngành nghề
1.Nông lâm ngư nghiệp 113,05 30 227,31 32 407,45 34 114,26 101 180,14 79,24
2. Thương mại dịch vụ 188,36 50 319,66 45 503,31 42 131,30 69,70 183,65 57,45
3. Công nghiệp, xây dựng 67,81 18 142,07 20 251,65 21 74,26 109,51 109,58 77,13
4. Ngành nghề khác 7,53 2 21,32 3 35,96 3 13,79 183,13 14,64 68,66
53
(Nguồn:Báo cáo kết quả hoạt động cho vay DNVVN tại TPBank - Hoàn Kiếm giai đoạn 2011-2013)
Trong năm 2012, hàng loạt các chính sách hỗ trợ nhu cầu vay vốn để phát triển của các doanh nghiệp, nhất là các DNVVN đã được ngân hàng triển khai và đạt được những
hiệu quả nhất định. Ngày 14/6/2012, chương trình ưu đãi tín dụng lên đến 400 tỷ đồng
của TPBank đã diễn ra, qua đó khách hàng doanh nghiệp, nhất là các DNVVN hoạt động
trong lĩnh vực sản xuất, xuất nhập khẩu, nông – lâm – ngư nghiệp…. được vay vốn với quà tặng là 1% của lãi suất cho vay thông thường trong thời gian 4 tháng đầu tiên của
khoản vay.
Song song với hoạt động ưu đãi tín dụng trên, từ ngày 11/6/2012 đến 11/9/2012,
Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong đã triển khai gói tín dụng trị giá 3000 tỷ
đồng mang tên “90 ngày vàng dành cho khách hàng doanh nghiệp” với lãi suất từ 12,5%-
14% trên toàn hệ thống ngân hàng. Với thủ tục cho vay nhanh chóng, quy định cho vay rõ
ràng, rất nhiều doanh nghiệp nói chung và DNVVN nói riêng đã có thể tiếp cận được
nguồn vốn ngân hàng. Qua đó, dự nợ cho vay DNVVN năm 2012 đã tăng 333,61 tỷ đồng,
tương đương 88,54% so với năm 2011. Sự gia tăng này còn do doanh số cho vay
DNVVN tăng cao trong năm 2012 (152,01%). Năm 2013, dư nợ DNVVN tiếp tục tăng,
về giá trị tuyệt đối tăng 68,84 tỷ đồng, về giá trị tương đối tăng 40,72% so với năm 2012.
Tức là về giá trị tuyệt đối thì tăng cao hơn so với năm 2012 là 154,40 tỷ đồng, về giá trị
tương đối thì tăng thấp hơn năm 2012, tuy nhiên sự giảm này không đáng kể do tổng doanh số cho vay và doanh số cho vay DNVVN của Chi nhánh đều tăng thấp hơn 2012.
Sự tăng trưởng không có chênh lệch quá lớn và không quá cao qua các năm thể hiện một
sự ổn định, chưa có dấu hiệu của sự tăng trưởng nóng và sự vượt quá khả năng về vốn
cũng như hoạt động kiểm soát rủi ro của ngân hàng.
Nhìn vào dư nợ cho vay DNVVN ngày càng tăng không những cho ta thấy được
hoạt động cho vay DNVVN của Chi nhánh đang ngày càng được đẩy mạnh mà còn giúp cho uy tín của ngân hàng ngày càng được khẳng định trong mắt khách hàng. Sự phát triển của hoạt động cho vay DNVVN của Chi nhánh còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp, giúp cho nền kinh tế ngày càng ổn định hơn.
Xét về cơ cấu cho vay Cơ cấu theo kỳ hạn Nhìn vào bảng 2.7, có thể thấy trong cơ cấu dư nợ theo thời hạn, dư nợ cho vay
DNVVN ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn (từ 67,42% đến 76,40%) và có xu hướng giảm dần
tỷ trọng trong giai đoạn năm 2011-2013. Mặc dù giảm về tỷ trong song dư nợ cho vay
DNVVN ngắn hạn vẫn tăng về mặt giá trị. Cụ thể, năm 2012 dư nợ cho vay DNVVN
ngắn hạn tăng 195,92 tỷ đồng so với năm 2011, đạt mức dư nợ là 483,77 tỷ đồng, tương 54
ứng với tăng 68,06%. Con số này trong năm 2013 là 802,94 tỷ đồng tăng 65,97% so với
năm 2012. DNVVN chủ yếu là vay vốn ngắn hạn nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu bổ sung vốn lưu động thiếu hụt, các điều kiện, quy trình cho vay ngắn hạn cũng đơn giản và
nhanh chóng hơn, chính vì vậy nguồn vốn vay ngắn hạn tăng qua các năm.
Bên cạnh đó, dư nợ cho vay DNVVN trung và dài hạn trong giai đoạn năm 2011-
2013 chiếm tỷ trọng khá nhỏ tuy nhiên tỷ trọng lại tăng dần qua các năm. Năm 2012, dư nợ cho vay DNVVN trung và dài hạn từ 88,90 tỷ đồng (năm 2011) tăng lên đến 226,59 tỷ
đồng, tương ứng với mức tăng trưởng 154,88% so với năm 2011. Năm 2013 dư nợ trung
và dài hạn tăng 168,84 tỷ đồng tương ứng với tăng trưởng 74,51% so với năm 2012.
Trong năm 2012 và năm 2013, khách hàng của Chi nhánh đã vay vốn để đầu tư dây
chuyền sản xuất mới nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Qua đó, dư nợ
cho vay trung và dài hạn tăng trưởng qua các năm. Và hầu hết các khoản vay trên đều có
quy mô khá lớn nên dư nợ cho vay DNVVN trung và dài hạn cũng vì vậy mà chiếm tỷ
trọng cao trong tổng dư nợ cho vay DNVVN. Mặc dù việc cho vay trung và dài hạn sẽ
mang lại lợi nhuận cao hơn cho chi nhánh do lãi suất trong cho vay cao hơn, tuy nhiên
cho vay trung và dài hạn cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro do đầu tư lâu dài, biến động thị trường
lớn đòi hỏi nguồn vốn vay lớn, vì vậy chi nhánh cần xem xét trong cho vay trung và dài
hạn, đẩy mạnh cho vay ngắn hạn.
Cơ cấu phân theo ngành nghề Vì chi nhánh cho vay đối với hầu hết các DNVVN thuộc các ngành nghề kinh tế,
nên việc đi sâu vào doanh số dư nợ cho vay nhằm xác định tỷ trọng của từng ngành là thật
sự cần thiết để có được chiến lược đầu tư thích hợp. Tốc độ tăng trưởng cũng như thay
đổi trong cơ cấu của mỗi ngành là khác nhau. Cụ thể là:
Đối với các ngành Thương mại – dịch vụ: Tỷ trọng dư nợ của ngành này chiếm khá
cao trong tổng dư nợ cho vay DNVVN. Ngược với các doanh nghiệp trong hoạt động công nghiệp, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Thương mại dịch vụ có phương án SXKD rõ ràng, nguồn tiền vào ra ổn định và thời gian thu hồi vốn khá ngắn nên an toàn hơn, chủ yếu vay ngắn hạn, đúng với định hướng phát triển tín dụng của ngân hàng. Vì nguyên nhân đó nên dư nợ cho vay của các doanh nghiệp thuộc ngành nghề trên tăng trưởng đều đặn qua các năm. Năm 2011 là 188,36 tỷ đồng, năm 2012 tăng lên đạt 319,66
tỷ đồng và năm 2013 là 503,31 tỷ đồng. Sự tăng trưởng về tỷ trọng và dư nợ cho vay
chứng tỏ Chi nhánh đang ngày càng chú trọng cho vay phát triển đối với các DNVVN
thuộc lĩnh vực thương mại – dịch vụ, đây là bước đi đúng hướng khi mà các DNVVN này
đang phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây.
55
Đối với lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp: Các DNVVN hoạt động trong lĩnh vực
này cũng nhận được nhiều sự ưu đãi trong chính sách cho vay của Chi nhánh. Trong thời gian nền kinh tế còn khó khăn, các cá nhân và hộ gia đình sẽ thắt chặt chi tiêu đối với các
ngành nghề giải trí, dịch vụ nhưng khó để thắt chặt chi tiêu với các mặt hàng thiết yếu là
lương thực, thực phẩm, quần áo và các đồ dùng thiết yếu. Do vậy, trong thời gian qua,
Chi nhánh đã bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến hoạt động cho vay DNNVVN thuộc lĩnh vực nông nghiệp. Dư nợ cho vay DNVVN trong ngành này có sự tăng trưởng trong cả tỷ
trọng và giá trị cho vay. Năm 2011, dư nợ cho vay là 113,05 tỷ đồng, chiếm 30% trong
tổng dư nợ của chi nhánh. Tới năm 2012, tăng lên 227,31 tỷ đồng, tăng lên 32% trong
tổng dư nợ của chi nhánh và tăng 101% so với năm 2011. Năm 2013, dư nợ cho vay đối
với lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp đạt 407,45 tỷ đồng, tăng 79,24% so với năm 2012.
Trong giai đoạn năm 2011-2013, TPBank dự định sẽ dành 1000 tỷ đồng cho các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực “tam nông” vay vốn, ưu tiên vay vốn đầu tư cho các hoạt
động sản xuất, chế biến nông sản, thu mua lúa gạo, cao su, điều, cafe… nhằm phù hợp với
chính sách khuyến khích hỗ trợ nông nghiệp của Chính Phủ và NHNN. Cùng với định
hướng tín dụng trong năm 2013, Chi nhánh sẽ tiếp tục chú trọng và khai thác triệt để hơn
các đối tượng khách hàng tham gia trong lĩnh vực nông nghiệp, khi mà các ngành Công
nghiệp vẫn còn nhiều khó khăn và bất cập.
Đối với ngành công nghiệp xây dựng: Dư nợ cho vay DNVVN trong lĩnh vực công nghiệp xây dựng chiếm tỷ trọng nhỏ hơn so với các ngành nông nghiệp và thương mại
dịch vụ. Do trong năm 2011, tình hình kinh tế khó khăn, các doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực công nghiệp lại cần có số vốn lớn để hoạt động, thời gian thu hồi vốn lâu.
Do đó, chủ yếu các doanh nghiệp này vay vốn trung và dài hạn của ngân hàng. Đây là kì
hạn vay mà ngân hàng hạn chế cấp tín dụng vì rủi ro cao hơn so với các doanh nghiệp
hoạt động trong các lĩnh vực khác. Mặc dù vậy, trong những năm gần đây do chính sách đa dạng hóa các lĩnh vực cho vay nên dư nợ của ngành vẫn tăng qua từng năm. Năm 2012, dư nợ cho vay DNVVN của ngành tăng 74,26 tỷ đồng tăng 109,51% so với năm 2011. Năm 2013 con số này là 109,58 tỷ đồng tăng 77,13 tỷ đồng so với năm 2012. Sự tăng trưởng trên là do trong năm 2013, nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi, chính phủ đã đề ra nhiều giải pháp điều hành kinh tế như kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ và giảm lãi
suất cho vay, các gói hỗ trợ ngành bất động sản phục hồi cũng được đưa ra, đây chính là
cơ hội cho các DNVVN hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng khôi phục lại
hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Chính vì thế, nhiều DNVVN đã sử dụng máy
móc thiết bị, nhà xưởng để làm TSĐB vay vốn ngân hàng hoặc ngân hàng cũng áp dụng
56
hình thức cho thuê tài chính để hỗ trợ máy móc đối với các doanh nghiệp sản xuất có uy
tín.
Đối với các ngành khác: Trong năm 2012 nhu cầu cho vay của các ngành khác đã
tăng mạnh tăng 183,13% so với năm 2011 và năm 2013 tăng 77,13% so với năm 2012 .
Mặc dù chỉ ở mức khiêm tốn 3% trong tổng dư nợ, song đây cũng là tín hiệu cho thấy sự
phát triển của các ngành khác trong quá trình phục vụ cho nhu cầu của người dân trong thời kì nền kinh tế khủng hoảng.
Cơ cấu theo loại hình doanh nghiệp Nhìn vào bảng 2.8, ta thấy tỷ trọng Công ty TNHH (29%), doanh nghiệp tư nhân
(26%) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (11%) đang chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong cơ cấu cho vay DNVVN của chi nhánh. Trong đó, phải kể đến tốc độ tăng tỷ trọng
của các Công ty TNHH (tăng lên 31% trong năm 2012 và 32,17% năm 2013) và doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (tăng lên 15% trong năm 2012 và 16,03% trong năm
2013), và tăng với tốc độ tương ứng lần lượt là 110,95% và 65,11% so với năm 2011;
165,31% và 80,29% so với năm 2012. Có thể thấy được rằng, doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài và Công ty TNHH đã trở thành khách hàng truyền thống với nhu cầu về vốn
lưu động là lớn và thường xuyên, cũng như có uy tín và trách nhiệm trong việc hoàn trả
các khoản vay cho ngân hàng. Việc dư nợ cho loại hình doanh nghiệp này liên tục tăng là
một lợi thế trong hoạt động của chi nhánh nói riêng và toàn hệ thống nói chung. Vì doanh số cho vay cũng như thu nợ của loại hình doanh nghiệp này là cao vì vậy lợi nhuận của
chi nhánh luôn tăng qua các năm, hiệu quả của hoạt động cho vay tăng cao.
Số liệu từ bảng 2.8 cho thấy cơ cấu cho vay của Công ty cổ phần cũng chiếm tỷ
trọng khá cao (22%, năm 2011) đến năm 2012 tăng lên 25%, với tốc độ tăng trưởng
114,28%. Năm 2013 cho vay Công ty cổ phần chiếm 26%, với tốc độ tăng trưởng
75,43%. Qua đó, ta có thể thấy, ngân hàng ngày càng chú trọng vào hoạt động cho vay loại hình doanh nghiệp này. Nguyên nhân là do Công ty cổ phần có nhu cầu vốn khá đa dạng và nguồn trả nợ khá đảm bảo.
Bên cạnh đó, tỷ trọng dư nợ cho vay doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước liên tục giảm trong thời gian qua. Năm 2011, doanh nghiệp tư nhân chiếm 26% tỷ trọng trong cơ cấu dư nợ đối với DNVVN, tỷ trọng khá cao so với các loại hình doanh
nghiệp khác, tuy nhiên; tới năm 2012 tỷ trọng này giảm xuống 19% và đến 2013 chỉ còn
chiếm 17,72%.
57
Bảng 2.8. Dƣ nợ cho vay DNVVN theo cơ cấu loại hình doanh nghiệp của TPBank - Hoàn Kiếm giai đoạn 2011-2013 Đơn vị tính: Tỷ đồng
Chênh lệch Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 2012/2011 2013/2012 Chỉ tiêu
Số tiền Số tiền Số tiền Đạt tỷ lệ (%) Đạt tỷ lệ (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Số tiền tăng (+) giảm (-) Số tiền tăng (+) giảm (-)
Tổng dƣ nợ CV DNVVN 376,75 100,00 710,36 100,00 1.198,37 100,00 333,61 88,54 488,01 40,72
II. Theo loại hình doanh nghiệp
1.DN nhà nước 45,21 12 71,03 96,83 8,08 25,82 57,11 125,80 36,32 10
2.Công ty cổ phần 82,88 22 177,60 311,57 26 94,72 114,28 133,97 75,43 25
3.Công ty TNHH 109,26 29 220,21 385,52 32,17 110,95 101,54 165,31 75,07 31
41,44 11 106,55 192,10 16,03 65,11 157,19 85,55 80,29 15 4. DN có vốn đầu tư nước ngoài
5.DN Tư nhân 97,96 26 134,97 212,35 17,72 37,01 37,78 77,38 57,33 19
(Nguồn:Báo cáo kết quả hoạt động cho vay DNVVN tại TPBank - Hoàn Kiếm giai đoạn 2011-2013)
58
Doanh nghiệp tư nhân với quy mô vốn nhỏ, lao động ít nên chịu ảnh hưởng rất
lớn từ cuộc khủng hoảng kinh tế dẫn đến hoạt động sản xuất kinh doanh yếu kém,
nhiều doanh nghiệp bị phá sản,… Chính vì vậy để hạn chế rủi ro tín dụng, chi nhánh đã giảm tỷ trọng cho vay đối với các doanh nghiệp này, tăng dư nợ cho các DNVVN
khác có hoạt động ổn định hơn, mang lại lợi nhuận trong hoạt động cho vay DNVVN.
Doanh nghiệp nhà nước là loại hình doanh nghiệp mà có cơ cấu dư nợ chiếm tỷ trọng
khá thấp (12%, năm 2011) và giảm xuống còn 10% năm 2012, 8,08% năm 2013, nhưng tốc độ tăng vẫn là 57,11% trong năm 2012 và 36,32% trong năm 2013. Doanh
nghiệp nhà nước là loại hình doanh nghiệp có hiệu quả hoạt động kinh doanh thấp, sản
phẩm không có sức cạnh tranh trên thị trường và còn tồn tại nhiều khoản nợ chưa thể
trả cho ngân hàng, vì vậy mà trong năm 2012 và năm 2013 chi nhánh đã hạn chế trong
cho vay đối với loại hình doanh nghiệp này.
2.5. Đánh giá thực trạng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm trong giai
đoạn 2011-2013
2.5.1. Các chỉ tiêu định tính
Cơ sở pháp lý Các hoạt động cho vay DNVVN của TPBank - Hoàn Kiếm luôn được thực hiện
dựa trên cơ sở pháp lý là tuân thủ pháp luật của Nhà Nước và các quy định của
NHNN. Ngoài ra, các hoạt động cho vay DNVVN của Chi nhánh còn được thực hiện
dựa trên những nguyên tắc, những quy định chung của TPBank. Ngân hàng kinh
doanh có hiệu quả cho thấy được sự đúng đắn, chính xác của cơ sở pháp lý.
Quy trình cho vay DNVVN Các bước cơ bản trong quy trình cho vay DNVVN được Chi nhánh áp dụng theo
đúng quy chế, sổ tay tín dụng của TPBank. Tùy theo từng phương thức vay và đối
tượng cho vay mà Chi nhánh đưa ra quy trình cho vay, xác định quy mô cũng như thời
hạn cho vay, mức lãi suất cho vay phù hợp. Để đảm bảo an toàn nguồn vốn quy trình
cho vay của Chi nhánh luôn được chú trọng trong khâu thẩm định, với đội ngũ cán bộ có năng lực cao luôn nắm vững chuyên môn cũng như nắm bắt được thị trường. Từ đó khách hàng nhận được sự hỗ trợ tận tình và hiệu quả nhất.
Uy tín của ngân hàng Chi nhánh Hoàn Kiếm là một trong số những chi nhánh được thành lập đầu tiên của TPBank dưới tiền thân là Sở giao dịch của TPBank. Chính vì vậy Chi nhánh đã có những điều kiện hết sức thuận lợi, sự ủng hộ nhiệt tình từ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong.
Khi các ngân hàng thương mại có mặt ngày càng nhiều trên thị trường, sự cạnh
tranh ngày càng cao đặt ra thách thức đối với chi nhánh là một ngân hàng còn non trẻ.
59
Mặc dù vậy, dưới sự nỗ lực của toàn bộ nhân viên của Chi nhánh hướng tới mục tiêu
cung cấp cho khách hàng những sản phẩm và dịch vụ tốt nhất với sự phục vụ nhanh
chóng nhất, nhất là có sự giúp đỡ của hội đồng quản trị ngân hàng với những chính sách đúng đắn, những khó khăn ban đầu đã được khắc phục, Chi nhánh đã từng bước
tạo dựng được hình ảnh, lòng tin trong lòng của khách hàng. Việc duy trì được lòng
trung thành của khách hàng và số lượng các khách hàng thường xuyên có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng trong việc gia tăng số lượng khách hàng và mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Chất lƣợng nhân sự của ngân hàng TPBank - Hoàn Kiếm có một đội ngũ nhân sự chất lượng cao, từ Ban lãnh đạo
tới tất cả các chuyên viên tại các phòng ban trong ngân hàng. Phương án tái cơ cấu
được thực hiện thành công với chính sách thu hút nhân sư, chính sách phúc lợi, đãi ngộ cạnh tranh, chính sách đánh giá, đào tạo phát triển nhân viên, đã tăng cường sự gắn kết của CBNV với Ngân hàng.
Trong năm giai đoạn năm 2011 - 2013, Chi nhánh đã thực hiện 45 khóa đào tạo
tương đương với 1.665 giờ cho 337 lượt CBNV tham gia, trong đó có 19 khóa đào tạo
sản phẩm - nghiệp vụ, 12 khóa đào tạo kỹ năng, hội thảo và 14 khóa đào tạo bên ngoài.
Chương trình đào tạo được tổ chức chuyên nghiệp, bài bản và toàn diện về các mặt
định hướng cho nhân viên mới, đào tạo nghiệp vụ chuyên ngành và đào tạo kỹ năng
mềm.
TPBank cũng đã xây dựng được các Giá trị cốt lõi riêng, đó là: “Liêm - Sáng -
Hoàn - Hợp - Bền” (Liêm chính, Sáng tạo, Hoàn hảo, Hợp lực và Bền bỉ) để truyền
thông và giáo dục nâng cao đạo đức nghề nghiệp cho CBNV của Ngân hàng.
Ngoài ra, TPBank - Hoàn Kiếm cũng chú trọng việc tuyển dụng nội bộ, tạo điều
kiện cho CBNV có cơ hội được luân chuyển và phát triển nghề nghiệp. Trong năm
2013 đã có 42 lượt CBNV được điều chuyển, bổ nhiệm, miễn nhiệm, trong đó có 24
trường hợp là Cán bộ quản lý.
Hệ thống Quản lý hiệu quả làm việc và lương thưởng là một trong những sáng kiến nhân sự trọng tâm, đã được Chi nhánh truyền thông và triển khai rộng rãi trong năm 2013. Điểm khác biệt lớn nhất của Hệ thống quản lý hiệu quả làm việc mới được triển khai là không chỉ tạo sự cam kết của mọi cá nhân với tổ chức thông qua việc xây dựng các mục tiêu chuẩn (KPIs/ Balance Scorecard), nó còn có liên hệ chặt chẽ với mục tiêu chiến lược của các đơn vị và toàn Ngân hàng, mà còn cho phép đánh giá hiệu quả làm việc đến từng cá nhân trong các chu kỳ hoạt động (giữa năm và cuối năm) một cách công bằng. Tất cả các cấp từ Tổng Giám đốc tới các Giao dịch viên (Tellers)
đều đã có bản mô tả công việc (JDs) và bản mục tiêu công việc (KPIs). Qua đó các
60
nhân viên ngân hàng làm việc có mục tiêu rõ ràng và trách nhiệm hơn, qua đó giúp
nâng cao hiệu quả công việc.
Hoạt động kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro của Chi nhánh Trong cho vay DNVV rủi ro là điều khó tránh khỏi vì đây là loại hình doanh
nghiệp chịu nhiều sự ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như tình hình kinh tế, xã hội,
chính trị… Nhận thức được tầm quan trọng của của vấn đề kiểm soát nội bộ và quản
trị rủi ro, trong năm 2012 và năm 2013, ban kiểm soát rủi ro của chi nhánh đã được thành lập, nhằm nhận diện những rủi ro và đề ra các giải pháp xử lý, song song với
hoạt động nâng cao công tác kiểm toán nội bộ. Hệ thống thông tin được tận dụng tối
đa nhằm nắm bắt chính xác thông tin của khách hàng qua đó kết hợp với các thông tin
về tài sản đảm bảo, thông tin về phương án vay vốn,…. xác định nên hay không nên
cấp tín dụng cho khách hàng. Từ đó hạn chế tối đa các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
2.5.2. Các chỉ tiêu định lượng
Vòng quay vốn cho vay DNVVN Chỉ tiêu vòng quay vốn cho vay DNVVN phản ánh số vòng chu chuyển vốn cho
vay của NHTM đối với khách hàng của hoạt động cho vay DNVVN, cho biết thời
gian thu nợ vay nhanh hay chậm. Thông thường vòng quay càng lớn thể hiện việc thu
hồi nợ càng tốt và ngược lại.
Bảng 2.9. Chỉ tiêu vòng quay của vốn cho vay DNVVN của TPBank – Hoàn Kiếm
giai đoạn 2011-2013
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Doanh số thu nợ cho vay DNVVN 71,25 123,98 302,70
Dư nợ bình quân cho vay DNVVN 1.198,37 376,75 710,36
0,19 0,17 0,25 Vòng quay vốn cho vay DNVVN
(Nguồn:Báo cáo kết quả hoạt động cho vay DNVVN tại TPBank – Hoàn Kiếm) Nhìn vào bảng 2.9, có thể thấy vòng quay vốn cho vay DNVVN của Chi nhánh đều nhỏ hơn 1 và tăng giảm không đồng đều. Vòng quay vốn của Chi nhánh năm 2011 đạt 0,19 vòng và số vòng quay giảm xuống trong năm tiếp theo. Năm 2012 vòng quay vốn đạt 0,17 vòng; giảm 0,02 vòng so với năm 2011. Sang đến năm 2013, vòng quay vốn tín dụng tăng 0,08 vòng so với năm 2012, đạt 0,25 vòng. Đây là vòng quay vốn cho vay rất thấp, chứng tỏ hoạt động cho vay DNVVN chưa thực sự hiệu quả, đặt ra
tình trạng đáng lo ngại đối với hoạt động của Chi nhánh. Mặc dù trong những năm 2011-2013 Chi nhánh đã cố gắng hết sức xong trong việc thu nợ cho vay DNVVN còn
61
tồn tại những yếu kém, các doanh nghiệp gặp khó khăn khiến cho việc thu nợ không
đạt hiệu quả. Để tiếp có thể tăng vòng quay vốn tín dụng trong thời gian tới, Chi nhánh
cần áp dụng các biện pháp linh hoạt hơn đối với từng khoản nợ quá hạn, nợ xấu như đôn đốc, nhắc nhở các DNVVN trả nợ, nhờ cơ quan chức năng địa phương can thiệp
cưỡng chế đòi nợ hoặcnghiêm trọng hơn có thể kiện ra tòa. Từ đó Chi nhánh có thể sử
dụng vốn thu hồi được để tăng doanh thu, nâng cao chỉ tiêu lợi nhuận của mình.
Nợ quá hạn cho vay DNVVN Nợ quá hạn cho vay DNVVN là chỉ tiêu biểu thị quan hệ tín dụng của ngân hàng
không hoàn hảo, khi các DNVVN vay vốn không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ cho
ngân hàng đúng hạn. Nợ quá hạn gia tăng sẽ làm phát sinh thêm nhiều loại chi phí gây
ra tổn thất cho ngân hàng. Nợ quá hạn bao gồm các nhóm nợ 2,3,4 và 5.
Bảng 2.10. Tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu của TPBank – Hoàn Kiếm trong cho
vay DNVVN giai đoạn 2011 - 2013
Đơn vị:Tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
NQH cho vay DNVVN 13,41 33,52 22,65
Nợ xấu cho vay DNVVN 6,03 16,19 11,30
Dư nợ cho vay DNVVN 1.198,37 376,75 710,36
NQH cho vay DNVVN/Tổng dƣ nợ cho vay 3,56 4,72 1,89 DNVVN(%)
Nợ xấu cho vay DNVVN/Tổng dƣ nợ cho 1,6 2,28 0,95 vay DNVVN(%)
Nợ xấu cho vay DNVVN/NQH cho vay 44,96 48,29 49,88 DNVVN(%)
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động cho vay DNVVN tại TPBank - Hoàn Kiếm)
Từ bảng số liệu 2.10, có thể thấy tỷ lệ NQH cho vay DNVVN của Chi nhánh
tăng giảm không đồng đều trong những năm gần đây. Năm 2011 nợ quá hạn là 13,41 tỷ đồng. Năm 2012 nợ quá hạn là 33,52 tỷ đồng tăng 21,11 tỷ đồng so với năm 2011. Nền kinh tế năm 2011 và 2012 gặp nhiều khó khăn kéo theo các doanh nghiệp sản xuất cũng như xây dựng, bất động sản đều yếu kém, trì trệ trọng hoạt động, sản lượng hàng tồn kho cao, doanh nghiệp làm ăn thua lỗ dẫn đến nguồn trả nợ không được đảm bảo. Các hoạt động đầu tư công trong năm qua đã hạn chế trong bối cảnh thắt chặt chi tiêu đã ảnh hưởng trực tiếp đến các DNVVN thuộc ngành công nghiệp – xây dựng. Ngoài ra, do chủ quan nên các CBTD của Chi nhánh đã lơ là trong công tác thẩm định, dẫn đến việc thu thập thông tin của khách hàng không được đầy đủ, hoạt động kiểm
62
soát quá trình sử dụng vốn vay chưa thực sự tốt, khiến cho tỷ lệ nợ quá hạn tăng cao.
NQH cho vay DNVVN tăng cao khiến cho tỷ lệ NQH cho vay DNVVN trên dư nợ
cho vay DNVVN của TPBank – Hoàn Kiếm tăng từ 3,56% trong năm 2011 cũng lên 4,72% trong năm 2012.
Nợ xấu của cho vay DNVVN cũng có xu hướng tăng mạnh, từ 6,03 tỷ đồng trong
năm 2011 tăng lên đến 16,19 tỷ đồng vào năm 2012. Trong năm 2012, khi một số
DNVVN không có khả năng trả nợ cho ngân hàng, hàng tiến hành xử lý tài sản đảm bảo là bất động sản, nhưng tại thời điểm ngân hàng cho các DNVVN này vay, thị
trường bất động sản đang rất “nóng”, khiến cho giá của tài sản đảm bảo khi ngân hàng
tiến hành thẩm định là rất cao. Đến nay, thị trường bất động sản bị “đóng băng”, giá
nhà đất sụt giảm mạnh, thì có trường hợp giá bất động sản mà khách hàng thế chấp
giảm giá trị từ 50 tỷ xuống chỉ còn 5 tỷ, ngân hàng thiệt hại nặng nề, mà nhu cầu mua lại bất động sản đó cũng không nhiều. Cũng có nhiều trường hợp CBTD của Chi nhánh thân quen với DNVVN nên khi tiến hành thẩm định tài sản đảm bảo lơ là, chủ
quan dẫn đến khi khách hàng không trả được nợ, ngân hàng xử lý tài sản đảm bảo thì
giấy tờ của TSĐB đó không minh bạch, chính xác khiến cho việc phát mãi TSĐB
không thể thực hiện được. Đó chính là nguyên nhân khiến cho nợ xấu của Chi nhánh
tăng cao. Tỷ trọng nợ xấu trong tổng dư nợ cho vay DNVVN cũng vì thế mà tăng theo,
năm 2011 chiếm 1,6%, năm 2012 chiếm đến 2,28% trong tổng dư nợ cho vay
DNVVN.
Sang đến năm 2013, dư nợ cho vay DNVVN có tốc độ tăng trưởng khá tốt và bên
cạnh đó NQH cho vay DNVVN cũng giảm đáng kể. Để đạt được kết quả khả quan
trên, ngân hàng đã chú trọng hơn vào công tác thẩm định cũng như giám sát khoản
vay, thành lập khối pháp chế để hạn chế rủi ro trong hoạt động, đưa ra các biện pháp
khắc phục, ngăn ngừa và tìm mọi biện pháp xử lý và thu hồi nợ quá hạn, như xử lý
TSĐB, yêu cầu người đứng ra đảm bảo cho vay trả nợ, nếu cần thiết có thể xử lý bằng
pháp luật… cũng như đưa ra các biện pháp thắt chặt cho vay, kiểm soát cho vay chặt
chẽ hơn với những lĩnh vực có nhiều rủi ro như: bất động sản, xây dựng, chứng khoán… Chính vì vậy, NQH cho vay DNVVN năm 2013 giảm xuống còn 22, 65 tỷ đồng, tỷ lệ NQH cho vay DNVVN trong tổng dư nợ cho vay DNVVN chỉ còn là 1,89%. Nợ xấu cũng giảm xuống chỉ còn 11,30 tỷ đồng trong năm 2013, giảm 4,89 tỷ đồng so với năm 2012, chiếm 0,95% trong tổng dư nợ cho vay DNVVN.
Tỷ lệ nợ xấu trên nợ quá hạn của Chi nhánh tăng trong giai đoạn 2011-2013 lần lượt là 44,96% (năm 2011), 48,29% (năm 2012) và 49,88% (năm 2013). Năm 2012 tỷ lệ nợ xấu trên nợ quá hạn tăng cao do tốc độ tăng trưởng của nợ xấu (168,49%) tăng
cao hơn tốc độ tăng trưởng của nợ quá hạn (149,96%) và công tác thu hồi nợ, phát mãi
TSĐB gặp nhiều khó khăn. Các khoản nợ từ nhóm 3-5 tăng cao là tín hiệu đáng lo
63
ngại đối với Chi nhánh. Nếu tỷ lệ nợ xấu chiếm phần lớn nợ quá hạn sẽ gây ảnh hưởng
đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ngoài những nguyên nhân khách quan và
tình hình khó khăn của nền kinh tế, còn tồn tại những nguyên nhân chủ quan đáng lo ngại còn tồn tại ở Chi nhánh, đặc biệt là vấn đề đạo đức, nguyên tắc nghề nghiệp của
cán bộ nhân viên. Trong hai năm 2012 và 2013, ngân hàng đã sử dụng mọi biện pháp
để thu hồi nợ quá hạn. Ban đầu là đôn đốc nhắc nhở khách hàng trong việc trả nợ, tiếp
theo là sử dụng các biện pháp cứng rắn hơn như phối hợp với với các cơ quan chức năng địa phương can thiệp và cưỡng chế và cuối cùng nếu doanh nghiệp vẫn cố tình
không trả nợ Chi nhánh buộc phải tiến hành khởi kiện các khách hàng đó. Bên cạnh
đó, ngân hàng cũng cần phải có những biện pháp tích cực hơn nữa như nâng cao hiệu
quả thẩm định vốn, phân tích đánh giá phương án SXKD một cách sát sao hơn nữa,
kiểm tra giám sát các khoản vay để đảm bảo nguồn vốn được sử dụng đúng mục đích, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay DNVVN.
Tỷ lệ trích lập DPRR cho vay DNVVN
Bảng 2.11. Tỷ lệ trích lập DPRR cho vay DNVVN tại TPBank – Hoàn Kiếm
giai đoạn 2011-2013
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
DPRR cho vay DNVVN được trích 6,38 23,88 24,57
1.198,37 376,75 710,36 Dư nợ cho vay DNVVN
Tỷ lệ trích DPRR cho vay DNVVN(%) 1,69 3,36 2,06
(Nguồn: Báo cáo kết quả cho vay DNVVN tại TPBank – Chi nhánh Hoàn Kiếm)
Tỷ lệ trích lập DPRR cho vay DNVVN cho biết dự phòng RRTD trong cho vay
DNVVN được trích lập bao nhiêu so với tổng dư nợ cho vay DNVVN. Tỷ lệ này cao
chứng tỏ hoạt động cho vay DNVVN chưa thực sự tốt, ngân hàng vẫn phải trích lập dự
phòng nhiều. Năm 2011, mặc dù nền kinh tế khó khăn nhưng ít biến động, cùng với chính sách và biện pháp tín dụng hợp lý, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro của Chi nhánh chỉ là 1,69% và khoản DPRR được trích là 6,38 tỷ đồng. Sang đến năm 2012, tỷ lệ trích lập là 3,36% và khoản DPRR được trích là 23,88 tỷ đồng, tăng 17,5 tỷ đồng so với năm 2011, tương ứng 274,29%. Nguyên nhân của sự gia tăng mạnh này là do việc trích lập DPRR luôn song song với sự tăng trưởng của dư nợ cho vay DNVVN. Hơn nữa trong năm 2012, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn khiến cho rủi ro trong công tác cho vay DNVVN nhiều hơn, nợ xấu tăng cao khiến Chi nhánh càng chú trọng hơn đến công tác đảm bảo an toàn nguồn vốn vay, khả năng bù đắp khi xảy ra rủi ro cho vay
DNVVN cũng vì thế cần được nâng cao hơn. DPRR cho vay DNVVN được trích lập
64
trong năm 2012 khá tương xứng với mức tăng của dư nợ cho vay DNVVN và NQH
cho vay DNVVN, nợ xấu cho vay DNVVN. Đây cũng chính là nguyên nhân lý giải
DPRR năm 2013 tăng 0,69 tỷ đồng tương ứng 2,88% so với năm 2012. Mặc dù vậy, tỷ lệ trích lập DPRR trên dư nợ cho vay DNVVN trong năm 2013 giảm xuống còn
2,06%, do Chi nhánh đã nỗ lực hoàn thiện công tác thẩm định cho vay, giúp khoản vay
được đảm bảo an toàn hơn ngay từ ban đầu, rủi ro gặp phải sẽ ít hơn, tỷ lệ dự phòng
giảm xuống so với năm 2012. Mặc dù vậy, khoản trích lập dự phòng cho vay DNVVN năm 2013 vẫn còn khá cao là 24,57 tỷ đồng, trong khi nợ quá hạn và nợ xấu trong cho
vay DNVVN của Chi nhánh giảm mạnh trong năm 2013. Sự gia tăng của DPRR sẽ
làm giảm thu nhập của ngân hàng, thể hiện chất lượng cho vay chưa tốt; vì vậy Chi
nhánh cần chú ý hơn đến chỉ tiêu này làm sao để giảm tỷ lệ trích lập DPRR xuống mức
thấp nhất có thể.
Hệ số khả năng bù đắp rủi ro cho nợ vay DNVVN Khi các khoản vay đã được xử lý, tức là đã xảy ra thất thoát trong ngân hàng thì
hệ số khả năng bù đắp rủi ro này sẽ cho biết ngân hàng có đủ khả năng bù đắp cho số
dư nợ đã mất đi bằng dự phòng rủi ro tín dụng hay không.
Nợ đã xử lý rủi ro trong năm 2011 là 3,42 tỷ đồng. Đến năm 2012 con số này
tăng mạnh lên 9,17 tỷ đồng, tăng 168,12% so với năm 2011. Năm 2013 con số này là
9,16 tỷ đồng, giảm nhẹ so với năm 2012. Trong hai năm 2012 nợ quá hạn và nợ xấu
của Chi nhánh tăng cao, ngân hàng đã xem xét và xử lý lại một số khoản nợ quá hạn,
phần lớn là các DNVVN có quan hệ tín dụng tốt với Chi nhánh trong các năm trước,
do khủng hoảng kinh tế nên hoạt động chưa thực sự đạt được hiệu quả, dẫn đến chưa
có khả năng trả nợ cho ngân hàng. Ngoài ra còn là một số khoản cho vay DNVVN đã
quá lâu, ngân hàng đã xử dụng nhiều biện pháp đòi nợ xong do doanh nghiệp đã phá
sản, TSĐB được mang đi thế chấp tại nhiều ngân hàng nên rất khó khăn trong việc
phát mãi tài sản, khả năng thu hồi nợ gần như là không thể, ngân hàng buộc phải lấy
khoản DPRR để bù đắp. Ngân hàng đã đưa ra các biện pháp xử lý các khoản nợ cho
các doanh nghiệp như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, gia hạn nợ hoặc xóa nợ… cho doanh nghiệp từ đó mà các khoản nợ đã xử lý tăng cao. Việc xử lý các khoản nợ có thể giúp ngân hàng giảm được các khoản nợ xấu, nợ quá hạn tuy nhiên ngân hàng cần phải thận trọng, xem xét kỹ càng trước khi ra quyết định vì nợ đã xử lý tăng quá cao tức là đã xảy ra thất thoát trong ngân hàng, hiệu quả của hoạt động cho vay không được đảm bảo.
Nhìn vào bảng 2.12 có thể thấy hệ số bù đắp rủi ro của Chi nhánh năm 2012 là 2,60 lần, tăng 0,74 lần so với năm 2011. Tức là khi 1 đồng cho vay bị thất thoát thì có
2,60 đồng dự trữ để bù đắp 1 đồng thất thoát đó. Mặc có hệ số khả năng bù đắp có tăng
trong năm 2012 xong so với các ngân hàng thương mại khác thì hệ số khả năng bù đắp
65
rủi ro của Chi nhánh vẫn còn khá thấp. Năm 2013 hệ số này là 2,68 lần, tăng 0,08 lần
so với năm 2012. Nguyên nhân là do trong năm 2013, nhằm đảm bảo an toàn cho
nguồn vốn của chi nhánh, DPRR cho vay DNVVN vẫn tăng so với năm 2012 tuy nhiên chỉ tăng nhẹ và nợ xử lý rủi ro của Chi nhánh lại giảm nhẹ.
Bảng 2.12. Hệ số khả năng bù đắp rủi ro cho nợ vay DNVVN đã xử lý Đơn vị: Tỷ đồng
Chênh lệch năm Chênh lệch năm
2011-2012 2012- 2013 Năm Năm Năm Chỉ tiêu 2011 2012 2013 Số tiền Số tiền Tƣơng đối (%) Tƣơng đối (%)
6,38 23,88 24,57 17,5 272,29 0,69 2,88 DPRR cho vay DNVVN được trích
Nợ đã xử lý 5,75 168,12 (0,1) (1,09) 3,42 9,17 9,16
Hệ số khả năng bù 1,86 2,60 2,68 0,74 39,78 0,08 3,07 đắp rủi ro (lần)
(Nguồn:Báo cáo kết quả cho vay DNVVN tại TPBank - Hoàn Kiếm)
Chỉ tiêu này Chi nhánh cần hết sức lưu ý vì nó phản ánh trực tiếp sự an toàn, ổn
định về vốn cũng như chất lượng tín dụng của chi nhánh. Tuy nhiên, DPRR cũng là
một khoản chi phí, DPRR được trích nhiều thì đồng vốn được đảm bảo nhưng cũng
khiến cho nguồn vốn của Chi nhánh giảm, từ đó giảm hiệu quả cho vay. Chi nhánh cần
trích lập DPRR một cách hợp lý sao cho vừa an toàn mà vẫn đảm bảo được sự hiệu
quả trong các hoạt động khác của mình.
Lợi nhuận từ hoạt động cho vay DNVVN
Bảng 2.13. Lợi nhuận từ hoạt động cho vay DNVVN tại TPBank – Hoàn
Kiếm giai đoạn 2011-2013
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Lợi nhuận từ hoạt động cho vay 4,26 9,05 28,07
Lợi nhuận từ cho vay DNVVN 2,14 4,70 14,73
Chi phí DPRR cho vay DNVVN 6,38 23,88 24,57
33,54 19,68 59,95 Tỷ lệ lợi nhuận cho vay DNVVN / Chi phí DPRR cho vay DNVVN (%)
Tỷ lệ lợi nhuận từ cho vay DNVVN / 50,20 51,99 52,50 Lợi nhuận hoạt động cho vay (%)
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của TPBank - Hoàn Kiếm)
66
Kết quả từ bảng 2.13 trên cho thấy hoạt động cho vay luôn mang lại lợi nhuận
cao cho Chi nhánh với tốc độ tăng trưởng qua các năm là trên 100%. Ta thấy được
năm 2011, lợi nhuận từ hoạt động cho vay đạt 4,26 tỷ đồng, đến năm 2012 lợi nhuận tăng lên 9,05 tỷ đồng so với năm 2011, ứng với tỷ lệ tăng trưởng 112,44%. Sang năm
2013 tăng lên 28,07 tỷ đồng, tăng 19,02 tỷ đồng tương ứng 210,16 % so với năm 2012.
Đây là kết quả của sự chỉ đạo tận tình của ban giám đốc, cùng sự phối hợp hoạt động
của các CBNV nên việc tìm kiếm các khách hàng của Chi nhánh mới diễn ra suôn sẻ, doanh số cho vay tăng đều qua các năm, lợi nhuận từ cho vay cũng tăng lên, hiệu quả
cho vay được cải thiện và nâng cao hơn.
Trong hoạt động cho vay thì hoạt động cho vay DNVVN từ lâu đã là hoạt động
cho vay chủ chốt và đang mang lại một nguồn thu nhập lớn cho Chi nhánh. Tỷ trọng
lợi nhuận từ hoạt động cho vay DNVVN trong lợi nhuận đạt được từ hoạt động cho vay của Chi nhánh cũng không ngừng tăng qua các năm. Năm 2011, lợi nhuận từ cho vay DNVVN là 2,14 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 50,20% trong tổng lợi nhuận từ hoạt động
cho vay của Chi nhánh; sang năm 2012, lợi nhuận từ cho vay DNVVN tăng lên 4,70 tỷ
đồng, chiếm 51,99% tỷ trọng trong tổng lợi nhuận từ hoạt động cho vay. Đến năm
2013 con số này là 14,73 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 52,50% trong tổng lợi nhuận từ hoạt
động cho vay. So sánh với tỷ trọng doanh số cho vay DNVVN trong tổng doanh số
cho vay của ngân hàng thì tỷ trọng lợi nhuận từ hoạt động này mang lại là khá tương
xứng. Chứng tỏ hầu hết các khoản vay DNVVN của chi nhánh trong giai đoạn 2011 –
2013 đều mang lại lợi nhuận, chỉ có một số ít các khoản vay có vấn đề do vấn đề thẩm
định chưa thực sự tốt hoặc do các yếu tố khách quan mà khách hàng chưa trả được nợ
vay cho ngân hàng. Các khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ đã trở thành đối tượng
mục tiêu của Chi nhánh, số lượng khách hàng đến với Chi nhánh ngày càng tăng.
Công tác tìm kiếm khách hàng, thẩm định, marketing, tư vấn cho khách hàng vay là
các DNVVN ngày càng tốt và hiệu quả hơn.
Mặc dù vậy, nhìn vào bảng 2.13, xem xét tỷ lệ lợi nhuận cho vay DNVVN trên
chi phí DPRR cho vay DNVVN của chi nhánh nhận thấy rằng chi phí DPRR trong cho vay DNVVN của chi nhánh là rất lớn. Năm 2011, tỷ lệ lợi nhuận cho vay DNVVN trên chi phí DPRR cho vay DNVVN là 33,54%, tức là ngân hàng bỏ ra một khoản gần gấp 3 lợi nhuận để DPRR. Năm 2012 do nợ xấu và nợ quá hạn cho vay DNVVN tăng cao khiến chi phí DPRR cũng tăng cao, tỷ lệ lợi nhuận cho vay DNVVN trên chi phí DPRR cho vay DNVVN chỉ đạt 19,68%, ngân hàng bỏ ra một khoản chi phí gấp hơn 5 lần lợi nhuận để DPRR. Chi phí DPRR quá lớn chứng tỏ hoạt động cho vay DNVVN của chi nhánh vẫn còn nhiều yếu kém, khiến cho thu nhập của Chi nhánh giảm sút
trong năm 2012. Sang đến năm 2013, tỷ lệ này tăng lên 59,95%, là do DPRR của chi
nhánh tăng rất ít so với năm 2012, lợi nhuận của ngân hàng đạt được nhiều hơn. Mặc
67
dù DPRR là cần thiết xong ngân hàng vẫn cần phải xem xét mức dự phòng hợp lý sao
vẫn đảm bảo an toàn mà nguồn vốn của ngân hàng được sử dụng với hiệu quả cao
nhất, tăng nguồn thu nhập cho Chi nhánh.
2.6. Đánh giá hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng
Thƣơng mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm trong giai đoạn 2011- 2013
2.6.1. Những kết quả đạt được 2.6.1.1. Trên phương diện định tính
Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm đã thực hiện
khá nghiêm chỉnh các chính sách, quy định của Nhà nước, NHNN và tuân thủ các quy
chế, quy định, mục tiêu định hướng phát triển của TPBank. Qua đó, các hoạt động tại
Chi nhánh đều đạt được những kết quả tăng trưởng khá tốt, nhất là trong hoạt động cho vay DNVVN.
Khách hàng ngày càng cảm thấy thoả mãn hơn khi đến giao dịch với Ngân hàng,
uy tín của Ngân hàng không ngừng được nâng cao; duy trì được các tỷ lệ đảm bảo an
toàn trong cho vay. Ngân hàng cũng đã đưa ra các chính sách hỗ trợ là các gói tín dụng
ưu đãi về lãi suất, về điều kiện cho vay, quy trình cho vay DNVVN qua đó giúp cho
các DNVVN có thể tiếp cận với nguồn vốn dễ dàng hơn.
Chi nhánh cũng ngày càng chú trọng hơn đến việc thu hút thêm các khách hàng
mới là cá nhân và doanh nghiệp đến vay vốn. Các sản phẩm dịch vụ được đa dạng hóa
kết hợp với công nghệ cao tạo sự thuận tiện cho khách hàng cũng vì thế nâng cao khả
năng cạnh tranh của Chi nhánh. Chất lượng phục vu ngày càng được cải thiện, phong
cách phục vụ tận tình, chu đáo, nhanh chóng đã từng bước tạo niềm tin cho khách
hàng. Hoạt động cho vay DNVVN đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động cũng như
gia tăng thêm lợi nhuận cho Chi nhánh.
Chiến lược Marketing đã được chi nhánh quan tâm trong giai đoạn 2011-2013,
ngân hàng đã xây dựng được một bộ phận chuyên đảm nhiệm công tác Marketing.
Việc quảng bá, giới thiệu sản phẩm của Ngân hàng, nhằm tăng uy tín cũng như thị phần của Ngân hàng thực hiện khá tốt, khá triệt để. Bộ nhận diện thương hiệu của Chi nhánh được thay đổi với màu sắc bắt mắt và logo đơn giản, ý nghĩa tạo dấu ấn trong lòng khách hàng.
Doanh số cho vay và dư nợ cho vay đối với DNNVV ở Chi nhánh vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng khá đều đặn trong cả ba năm từ 2011 đến 2012. Doanh số cho vay DNVVN tăng 457,51 tỷ đồng, dư nợ cho vay DNVVN tăng 821,62 tỷ đồng trong ba năm 2011 – 2013, với tốc độ tăng trưởng từ 40,72% đến 88,54%. Với phương châm
lấy hiệu quả kinh tế lên hàng đầu, Chi nhánh đã hướng đầu tư vào những ngành, những
lĩnh vực có tiềm năng, có khả năng sinh lời và ưu tiên cho những dự án đầu tư có
68
chiều sâu của DNVVN, tránh hiện tượng đầu tư tràn lan, không hiệu quả. Chi nhánh
đã tăng khả năng cạnh tranh với NHTM khác trên địa bàn, tạo tiền đề quan trọng trong
đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp này.
Công tác thẩm định dự án và khách hàng được thực hiện ngày càng tốt, áp dụng
nhiều phương pháp mang tính khoa học, kỹ thuật thẩm định hoàn chỉnh hơn.
Việc kiểm tra, giám sát quy trình cho vay, công tác thu hồi nợ ngoại bảng cũng được
tiến hành một cách sát sao, nhịp nhàng giữa các phòng ban có liên quan. Cùng với sự chỉ đạo quyết liệt, nhanh chóng từ Ban Giám đốc, các phòng ban nên trong năm 2012
và năm 2013 doanh số thu nợ cho vay DNVVN của Chi nhánh đạt được những kết quả
khả quan. Năm 2012 doanh số thu nợ cho vay DNVVN tăng trưởng 56,31% so với
năm 2011, năm 2013 con số này tăng lên 93,22% so với năm 2012.
Thu nhập từ hoạt động cho vay với DNNVV ngày càng tăng lên, đóng góp thêm tỷ trọng cho thu từ hoạt động cho vay trong tổng lợi nhuận của Chi nhánh. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, khi các doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp lớn gặp phải
nhiều vướng mắc trong sản xuất kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn bị giảm sút,
không tương xứng với các nguồn lực được đầu tư thì các DNNVV lại phát huy được
ưu thế của mình về quy mô nhỏ gọn và tính chất linh hoạt, dễ thích nghi. Thu nhập từ
cho vay với các DNNVV khá ổn định và có nhiều tiềm năng phát triển. Các mục tiêu
về lợi nhuận và chất lượng luôn được đảm bảo. Với những đổi mới không ngừng trong
chất lượng quản lý và phục vụ khách hàng theo hướng thuận tiện, văn minh, hiện đại,
Chi nhánh đã tạo lập và duy trì mối quan hệ tín dụng tốt đẹp với nhiều khách hàng.
Gia tăng tỉ lệ số khách hàng thường xuyên và tỉ lệ số khách hàng quay trở lại giao
dịch.
Chi nhánh đã áp dụng nhiều biện pháp đảm bảo tiền vay linh hoạt, tạo điều kiện
thuận lợi nhất cho khách hàng. Khách hàng có thể áp dụng nhiều biện pháp đảm bảo
cũng một lúc, từ nhiều nguồn khác nhau để đảm bảo cho món vay của mình. Chi
nhánh cũng cho phép khách hàng đảm bảo tiền vay bằng một phần tài sản thế chấp,
phần còn lại có thể dùng bão lãnh của bên thứ ba. Đối với những khách hàng truyền thống, uy tín cao, Chi nhánh cũng xem xét cho vay không cần TSĐB.
Tỷ trọng Nợ quá hạn cho vay DNVVN so với Nợ quá hạn của cả Chi nhánh đã có chiều hướng giảm đáng kể, năm 2012 là 4,72% trên dư nợ cho vay giảm xuống còn 1,89% trong năm 2013, cho thấy công tác giám sát, thu hồi nợ của Chi nhánh đạt hiệu quả cao. Nợ xấu cũng giảm mạnh, năm 2012 là 2,28% nhưng đến năm 2013 đã giảm xuống 0,95%. Điều đó cho thấy hoạt động cho vay DNVVN của Chi nhánh khá tốt, tuy nhiên, chi nhánh vẫn cần chú ý hơn trong quá trình cho vay DNVVN vẫn luôn
tiềm ẩn nhiều rủi ro.
2.6.2. Những hạn chế trong hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
69
Hoạt động cho vay của Chi nhánh đã đạt được kết quả khả quan trong giai đoạn
2011-2013, mặc dù vậy vẫn còn có một số những hạn chế nhất định trong công tác cho
vay DNVVN cần phải khắc phục, cụ thể:
Mặc dù Ngân hàng đã quan tâm hơn tới đối tượng cho vay là các DNVVN,
nhưng với nhu cầu về tín dụng của các doanh nghiệp ngày càng tăng như hiện nay,
đặc biệt là DNVVN thì hoạt động cho vay đối với loại hình doanh nghiệp này vẫn
chưa thực sự tương xứng với khả năng của Ngân hàng.
Trong quá trình cho vay vốn, do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan
mà việc xác minh thông tin cũng như thẩm định khách hàng chưa thực sự hiệu quả.
Nhất là trong thẩm định TSĐB, một số CBTD đã vì mối quan hệ với Doanh nghiệp mà
lơ là trong công tác thẩm đinh, khiến cho các khoản nợ khó đòi và việc xử lý tài sản
đảm bảo vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn khi khó phát mại tài sản hoặc chi phí phát mại lớn, giá trị thu về thường nhỏ hơn giá trị khoản vay.
Quy trình cho vay vẫn còn khá phức tạp, điều kiện cho vay DNVVN mặc dù đã
linh hoạt hơn xong vẫn ngặt nghèo nên làm chậm quá trình vay vốn và làm cho nhiều
DNVVN không thể tiếp cận vốn kịp thời nên làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh
của ngân hàng.
Tỷ lệ NQH cho vay DNVVN và nợ xấu tăng cao trong giai đoạn 2011-2013, điều
này chứng tỏ hiệu quả hoạt động cho vay giảm sút, chi nhánh có khả năng mất vốn rất
cao. Nợ quá hạn và nợ xấu cho vay DNVVN vẫn ở mức cao trong năm 2012 (tỷ lệ nợ
quá hạn trong cho vay DNVVN trên dư nợ cho vay DNVVN là 4,72%, tỷ lệ nợ xấu
trong cho vay DNVVN trên dư nợ cho vay DNVVN là 2,28%). Mặc dù trong năm
2013 tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu đã giảm xuống giới hạn cho phép (tỷ lệ NQH cho vay
DNVVN là 1,89% và tỷ lệ nợ xấu cho vay DNVVN là 0,95%) xong nhiều khoản cho
vay DNVVN phải xử lý gia hạn, cơ cấu lại nợ, thậm chí có những khoản vay phải gia
hạn nhiều lần. Điều này làm ảnh hưởng đến an toàn nguồn vốn vay cũng như làm giảm
vòng quay vốn của Chi nhánh. Do đó, chi nhánh cần có các biện pháp kiên quyết hơn
nữa để hạn chế tối đa các khoản nợ quá hạn và nợ xấu phát sinh.
2.6.3. Nguyên nhân hạn chế 2.6.3.1. Từ phía Ngân hàng
Chính sách cho vay của Chi nhánh mặc dù đã được bổ sung, sửa chữa cho phù hợp với đặc điểm của DNVVN hiện nay nhưng so với yêu cầu của nền kinh tế thị trường trong nước cũng như khu vực, trên thế giới thì đòi hỏi Chi nhánh cần phải có sự hoàn thiện hơn nữa về cơ chế, thủ tục pháp lý và cải cách thủ tục hành chính linh hoạt, nhanh chóng hơn nữa. Hệ thống chấm điểm tín dụng của Ngân hàng xây dựng chưa rõ
ràng, vẫn còn đang trong quá trình cải thiện nên trong thời gian qua vẫn còn những
70
khó khăn, vướng mắc, chưa đánh giá đúng, thực chất được năng lực của khách hàng và
hiệu quả của khoản vay.
Mặc dù chính sách cho vay của Chi nhánh đã chú trọng hơn vào đẩy mạnh phát triển cho vay DNVVN xong các hình thức cho vay cũng như sản phẩm cho vay còn
khá ít, chưa thực sự đáp ứng được hết nhu cầu của các DNVVN. Các chính sách lãi
suất ưu đãi đưa ra chỉ áp dụng với một số các DNVVN là khách hàng cũ có uy tín với
ngân hàng, đối với những khách hàng mới thì do phần lớn họ chưa có các phương án SXKD hiệu quả, chưa chứng minh được năng lực của doanh nghiệp hoặc không có tài
sản đảm bảo nên lãi suất cho vay vẫn còn khá cao. Chi nhánh vẫn còn đặt nặng vấn đề
tài sản bảo đảm khi thẩm định và đưa ra các quyết định cho vay đối với DNNVV.
Trong khi có rất nhiều DNNVV dù có những phương án sản xuất kinh doanh khả thi,
có tiềm năng phát triển và thu lợi nhuận lớn, nhưng do quy mô hoạt động nhỏ, khả năng tài chính cũng như tiềm lực tài chính thấp đã làm cho họ không đáp ứng đủ điều kiện này.
Các cán bộ tín dụng của Ngân hàng hầu hết đã được đào tạo các kỹ năng cần
thiết. Tuy nhiện một số cán bộ lâu năm lại chưa nắm bắt được những yêu cầu mới, đặc
biệt là việc triển khai các nghiệp vụ mới như: Nghiệp vụ bảo lãnh, tín dụng có yếu tố
nước ngoài… đang còn nhiều hạn chế hay việc áp dụng nhiều công nghệ ngân hàng
mới vào làm việc với họ là một việc khó khăn. Bên cạnh đó một số cán bộ mới vào
làm còn rất trẻ về tuổi đời cũng như tuổi nghề do vậy còn thiếu nhiều kinh nghiệm
chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác tín dụng hiện nay như: Khả năng thẩm định
cho vay các dự án, nhất là trong tín dụng cho vay DNNVV, kiểm tra nắm bắt thông tin
từ DN, theo dõi cập nhật các kỳ hạn nợ gốc, lãi; kiểm soát dòng tiền ra, vào của khách
hàng vay vốn còn hạn chế.
2.6.3.2. Từ phía khách hàng (DNVVN)
Các DNVVN thường có quy mô nguồn vốn thấp, công nghệ thiết bị lạc hậu do
đó không có sức cạnh tranh trên thị trường dẫn đến làm ăn không hiệu quả.
Tình hình tài chính của doanh nghiệp không minh bạch, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thẩm định cũng như đánh giá, xem xét, giải quyết cho vay. Với nguồn tài chính hạn hẹp, khả năng xây dựng dự án khả thi yếu nên không ít doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chạy theo thương vụ, không có chiến lược hoạt động, phát triển cụ thể nên mức độ rủi ro là rất cao.
Các DNVVN thường chưa thực sự năng động để tìm ra các phương án sản xất kinh doanh khả thi để ngân hàng đầu tư vốn hiệu quả. Do hiệu quả của việc sử dụng vốn luôn là quan tâm hàng đầu của các ngân hàng nên việc cho vay đối với DNVVN
phải gắn với những điều kiện nhất định trong đó phải có những phương án kinh doanh
hiệu quả và khả thi. Đây là một điều kiện quan trọng vì chỉ có phương án sản xuất kinh
71
doanh tốt thì doanh nghiệp mới có thể có lãi và từ đó mới có khả năng trả nợ cho ngân
hàng
Trình độ kỹ thuật, khả năng làm việc của đội ngũ lao động tại các DNVVN còn chưa cao, năng lực lãnh đạo, điều hành, quản lý còn đôi chút bất cập. Bên cạnh đó tình
hình sản xuất kinh doanh của DNVVN thường không ổn định, khả năng cạnh tranh
chưa cao, chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc tiếp cận với nguồn vốn vay từ bên
ngoài, để có thể tối đa hóa cơ cấu tài chính trong doanh nghiệp mình.
Có nhiều các DNNVV thiếu vốn sản xuất kinh doanh nhưng cũng không đủ tài
sản thế chấp vay vốn ngân hàng, thậm chí có những doanh nghiệp không đủ tự tin vào
phương án sản xuất kinh doanh nhưng muốn vay vốn ngân hàng mà không thế chấp tài
sản để khi xảy ra rủi ro ngân hàng sẽ là người chịu. Hoặc có thế chấp thì hầu hết là các
tài sản lạc hậu, khó xử lý, tính thị trường không cao.
Các DNNVV chưa có khả năng liên kết, hợp tác với nhau, với hiệp hội, với phòng thương mại, với ngân hàng. Thêm vào đó là các DNNVV còn thiếu điều kiện
tiếp cận với công nghệ mới, các sản phẩm thị trường chưa có tính cạnh tranh cao, dẫn
đến năng lực cạnh tranh của các DNNVV còn hạn chế.
2.6.3.3 Từ phía nền kinh tế
Nền kinh tế trong những năm vừa qua có nhiều biến động như: tốc độ lạm phát
cao (ở mức 2 con số), chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng, cùng với sự biến động liên tục của
tỷ giá trên thị trường ngoại hối và lãi suất trên thị trường tiền gửi … đã gây ra những
khó khăn cho cả Ngân hàng và khách hàng muốn tiếp cận nguồn vốn của Ngân hàng.
Ngoài ra, còn do một số nguyên nhân khác như: thiên tai, bão lụt, hệ thống pháp luật
còn thiếu những chính sách để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển nên số doanh nghiệp có
thể vay vốn của Ngân hàng vẫn còn thấp.
Môi trường pháp lý chưa đầy đủ và đồng bộ, vẫn còn những vướng mắc trong
việc cưỡng chế thi hành theo pháp luật gây trở ngại cho các hoạt động giao dịch tín
dụng. Sự kiểm tra, giám sát của Nhà nước đối với hoạt động của các DNVVN chưa
thường xuyên và bộc lộ nhiều thiếu sót. Bên cạnh đó hiệu lực của các cơ quan hành pháp chưa đáp ứng được yêu cầu về giải quyết tranh chấp, tố tụng về hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự, phát mại tài sản cầm cố, thế chấp… chưa bảo vệ chính đáng quyền lợi của người cho vay. Quá trình xử lý sai phạm của các doanh nghiệp còn chưa triệt để, mới chỉ mang tính răn đe nên các tranh chấp vẫn thường xuyên xảy ra.
72
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2
Chương 2 đã giới thiệu sơ qua về lịch sử hình thành và phát triển, cơ cấu tổ chức
của TPBank nói chung và của TPBank - Hoàn Kiếm nói riêng. Bên cạnh đó, chương nêu lên những số liệu, thông tin tổng quan về tình hình hoạt động kinh doanh của
TPBank - Hoàn Kiếm trong năm 2011 - 2013. Chương 2 cũng đã đưa ra những phân
tích, đánh giá về đẩy mạnh hoạt động cho vay DNVVN, từ đó đưa ra được những ưu
điểm và hạn chế để cần khắc phục trong thời gian tới. Đó cũng là cơ sở để có thể đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động cho vay DNVVN tại TPBank
- Hoàn Kiếm trong chương 3.
73
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ
PHẦN TIÊN PHONG CHI NHÁNH HOÀN KIẾM
3.1. Định hƣớng phát triển của Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Tiên Phong Chi
nhánh Hoàn Kiếm trong vài năm tới 3.1.1. Định hướng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân
hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm trong những năm tới Việt Nam đã chính thức ra nhập tổ chức thương mại thế giới WTO vào ngày 11
- 1- 2007, đánh dấu mốc quan trọng của Việt Nam trên con đường hội nhập kinh tế thế
giới. Đây là cơ hội tốt để các DNNVV của Việt Nam có điều kiện tiếp cận thị trường
thế giới. Cùng với tiến trình hội nhập, thuế nhập khẩu và các rào cản phi thuế quan
giảm, việc giảm giá nguyên vật liệu nhập khẩu phục vụ chi phí đầu vào giúp các doanh nghiệp Việt Nam thuận lợi hơn trong việc đưa hàng hoá thâm nhập vào thị trường thế giới. Việt Nam được hưởng qui chế tối huệ quốc tại 164 nước trên thế giới nên nhiều
ngành hàng, mặt hàng được miễn giảm thuế, xoá bỏ hạn ngạch. Đây là nguyên nhân cơ
bản tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu của các DNNVV; cạnh tranh trên thị
trường tăng, tạo điều kiện thúc đẩy các DNNVV đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao
chất lượng sản phẩm, giảm chi phí để nâng cao sức cạnh tranh…
Bên cạnh những cơ hội đó, các DNNVV của Việt nam cũng không tránh khỏi
những khó khăn, thách thức. Nguồn vốn đầu tư trong nước tại các DNNVV còn hạn
chế, điều kiện nâng cấp và hiện đại hoá cơ sở vật chất rất thấp, khó có khả năng hội
nhập sâu rộng trong điều kiện cạnh tranh gay gắt.
Như vậy, để các DNNVV có thể nắm bắt những cơ hội khi đất nước ta đã gia
nhập WTO cần phải có sự hỗ trợ từ nhiều phía, đặc biệt là nguồn cung cấp tín dụng
của ngân hàng thương mại. Vì vậy, các ngân hàng thương mại cần có những định
hướng để phát triển hoạt động tín dụng đối với các DNNVV.
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp
vừa và nhỏ, trên cơ sở phân tích đánh giá thực tế tình hình cho vay bộ phận doanh nghiệp này, để nâng cao hiệu quả kinh doanh và an toàn vốn vay, Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm đã đề ra định hướng trong hoạt động cho vay đối với DNNVV trong năm 2014 như sau:
Chi nhánh tập trung cho vay đối với DNNVV, gắn tăng trưởng với kiểm soát chất lượng và đảm bảo tỷ trọng cho vay hợp lý, nâng cao tỷ trọng cho vay đối với các DNNVV ngoài quốc doanh. Trong điều kiện hiện nay, khi nhiều doanh nghiệp nhà nước đã và đang cổ phần hoá cho phù hợp với điều kiện kinh tế hiện đại, Chi nhánh
cần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đó vay vốn để góp phần nâng cao khả năng sản
xuất kinh doanh của họ. Như vậy, hoạt động cho vay của Chi nhánh cũng được đẩy
74
mạnh do đa dạng hoá đối tượng cho vay. Chi nhánh cũng cần xây dựng chính sách tín
dụng phù hợp với hoạt động cho vay DNNVV.
Chi nhánh cần có chính sách ưu đãi về lãi suất với khách hàng. Trong thời buổi cạnh tranh, các ngân hàng thương mại cổ phần không ngừng lôi kéo khách hàng với
những ưu đãi về lãi suất, nếu Chi nhánh không đổi mới cho phù hợp sẽ không thể đứng
vững trên thị trường.
Duy trì tỷ lệ nợ quá hạn ở mức thấp (dưới 0,5%) để nâng cao chất lượng tín dụng. Chi nhánh cần cải thiện những quy định thủ tục rườm rà, phiền toái cho các
doanh nghiệp khi tiến hành vay vốn. Chi nhánh cũng cần quan tâm nhiều hơn tới việc
đào tạo, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ nhân viên của Chi nhánh. Khi công
nghệ ngân hàng ngày một hiện đại hơn, việc cập nhật cho cán bộ những kỹ năng mới
là rất quan trọng. Có như vậy Chi nhánh mới hoạt động hiệu quả, bắt kịp với sự phát triển nhanh chóng của hệ thống các ngân hàng.
Chi nhánh luôn đẩy mạnh công tác tiếp cận các DNNVV. Không chỉ quan tâm
đến các khách hàng truyền thống mà Chi nhánh sẽ luôn quan tâm tìm kiếm cho vay
các khách hàng là DNNVV mới đi vào hoạt động nhưng có khả năng kinh doanh hiệu
quả. Đẩy mạnh phát triển công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giảm thiểu rủi
ro đồng thời tạo ra mạng lưới hoạt động rộng lớn, tiếp cận được nhiều đối tượng khách
hàng DNNVV.
3.2. Các giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm
3.2.1. Xây dựng chính sách khách hàng linh hoạt
Trong tổng dư nợ tín dụng tại chi nhánh TPBank - Hoàn Kiếm cũng như các
ngân hàng thương mại khác thì các khoản cho vay đổi với các DNNN luôn chiếm tỷ
trọng cao. Tuy nhiên cùng với việc phát triển mạnh mẽ, sự làm ăn có hiệu quả thì khối
doanh nghiệp tư nhân (trong đó chủ yếu là các DNVVN) đang đóng vai trò ngày càng
quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế. Do đó các ngân hàng thương mại cần có
một chính sách khách hàng hợp lý và linh hoạt hơn nữa nhằm phù hợp với những biến đổi mạnh mẽ đó, tăng lợi nhuận cho ngân hàng và cho toàn bộ nền kinh tế.
Chi nhánh TPBank - Hoàn Kiếm mặc dù đã có được một chính sách khách hàng tương đối hợp lý, tuy nhiên vẫn còn nhiều tồn tại chưa giải quyết được như: vấn đề về lãi suất, thời hạn cho vay… để đẩy mạnh được hoạt động cho vay DNVVN hơn nữa thì chi nhánh cần chú trọng đến những vấn đề cụ thể sau:
Nghiên cứu nhu cầu của khách hàng Nghiên cứu nhu cầu khách hàng là việc trả lời chính xác và thoả đáng các câu
hỏi: khối lượng khách cần vay là bao nhiêu, phương thức vay, loại tiền, thời hạn vay,
lãi suất món vay, những ưu đãi mà khách hàng được hưởng… tuy nhiên một thực tế là
75
có sự mâu thuẫn giữa lợi nhuận của khách hàng và ngân hàng (lãi suất). Do đó ngân
hàng cần giải quyết hài hoà, đảm bảo mục tiêu lợi nhuận cho cả ngân hàng và khách
hàng, giải quyết được vấn để đó hay tìm hiểu và đáp ứng được nhu cầu của khách hàng là một bước quan trọng trong việc xây dựng chính sách khách hàng linh hoạt nhằm thu
hút ngày càng đông khách hàng làm ăn tốt.
Củng cố mối quan hệ với các khách hàng cũ và tìm kiếm thêm những khách
hàng mới
Ngân hàng cần có chiến lược tìm kiếm, thu hút các khách hàng mới cũng như
củng cố mối quan hệ bền vững với các khách hàng truyền thống thông qua những
chiến lược xây dựng sản phẩm hấp dẫn nhằm đạt hiệu quả cao trong hoạt động kinh
doanh và đảm bảo tăng trưởng tín dụng.
Trong nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ hiện nay thì thị trường chứng khoán và các tổ chức tín dụng cho vay ngoài ngân hàng chiếm một số lượng động đảo, là những kênh cung cấp vốn tương đối lớn trên thị trường tài chính. Bên cạnh đó một
số lượng không nhỏ các doanh nghiệp còn rất hạn chế trong việc tiếp cận các thông tin
về ngân hàng, e ngại trong việc vay vốn ngân hàng. Từ những lý do đó cho thấy việc
chủ động tìm kiếm khách hàng là hết sức cần thiết đối với chi nhánh TPBank - Hoàn
Kiếm.
Xây dựng chiến lƣợc sản phẩm hấp dẫn Các sản phẩm dịch vụ giữa các ngân hàng thường mang tính chất tương đối
giống nhau và dễ bị sao chép, do đó để thu hút khách hàng cần phải tạo được sự khác
biệt trong việc thực hiện các sản phẩm truyền thống, xây đựng được một chiến lược
sản phẩm hấp dẫn giúp cho khách hàng thấy được những lợi ích từ các đổi mới của
ngân hàng.
Xây dựng được một chiến lược sản phẩm hấp dẫn cho ngân hàng là rất khó
khăn và cần sự cố găng lớn, nó giúp hoàn thiện chính sách khách hàng linh hoạt của
chi nhánh.
3.2.2. Xây dựng chính sách tín dụng ưu đãi phù hợp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Xây dựng chính sách lãi suất phù hợp với từng khách hàng: Lãi suất của mỗi khoản vay là nguồn thu đối với ngân hàng nhưng lại là chi phí đối với khách hàng. Từ thực tế cho thấy có sự trái ngược về lợi ích và mong muốn về vấn đề lãi suất giữa ngân hàng và khách hàng. Khách hàng luôn mong muốn được vay ở mức lãi suất thấp nhất có thể làm giảm chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, trong đó ngân hàng cần một mức lãi suất thoả đáng để bù đắp chi phí huy động vốn và mang lại lợi
nhuận cho ngân hàng. Do đó xây dựng một chính sách lãi suất phù hợp, giải quyết hài
hoà lợi ích, mặt khác phù hợp với quy chế pháp luật là hết sức cần thiết. Nhất là cho
76
vay đối với DNVVN chứa đựng nhiều rủi ro, các món vay nhỏ dẫn đến chi phí cho vay
cao hơn các doanh nghiệp có quy mô lớn. Để làm tốt công tác này đòi hỏi một khâu
quan trọng của hoạt động cho vay là định giá tiền vay, làm sao lãi suất đặt ra ở một mức giá hợp lý và phù hợp với thị trường, thu hút được khách hàng và đảm bảo lợi
nhuẫn hợp lý cho ngân hàng. Ngân hàng có thể xây dựng nhiều mức lãi suất khác nhau
cho những khoản vay cùng khối lượng, cùng thời hạn tuỳ thuộc vào đối tượng khách
hàng sao cho phù hợp nhất. Ví dụ như đối với các khách hàng truyền thống, có uy tín tốt với ngân hàng trong vấn đề trả nợ… thì lãi suất cho vay mà ngân hàng đưa ra sẽ ưu
đãi hơn các khách hàng mới.
3.2.3. Nâng cao trình độ cán bộ ngân hàng
Con người là yếu tố giữ vai trò quyết định trong mọi hoạt động. Một trong
những nguyên nhân dẫn đến rủi ro cho vay trong thời gian qua là do trình độ bất cập của đội ngũ cán bộ cho vay không theo kịp yêu cầu của nền kinh tế thị trường, ý thức chấp hành thể lệ, chế độ nghiệp vụ của một số cán bộ chưa nghiêm túc, thậm chí còn
có biểu hiện vi phạm về đạo đức. Vì vậy, việc tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục
cán bộ điều hành và cán bộ trực tiếp cho vay là nhiệm vụ hàng đầu của ngân hàng sao
cho mỗi cán bộ cho vay đều đạt tiêu chuẩn về bằng cấp, năng lực, sở trường, kinh
nghiệm công tác, khả năng giao tiếp, nắm vững kiến thức về kinh tế thị trường, về
quản lý vĩ mô của nhà nước, có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác. Trong nền
kinh tế thị trường như hiện nay, những lợi thế cạnh tranh còn bao gồm cả kỹ năng và
kiến thức về kinh tế thị trường của cán bộ phụ trách khoản vay.
Việc thẩm định dự án và ra quyết định cho vay đều chứa đựng những nhận định
mang tính chủ quan của cán bộ tín dụng. Vì vậy, TPBanh - Hoàn Kiếm cần có các biện
pháp nhằm đảm bảo tư cách đạo đức của cán bộ tín dụng, tránh tình trạng cán bộ tín
dụng cấu kết với kẻ gian nhằm thu lợi bất chính, gây thiệt hại cho ngân hàng. Do vậy,
Chi nhánh cần phải xây dựng một môi trường làm việc lành mạnh, có chính sách
lương bổng, thưởng phạt hợp lý nhằm thoả mãn những nhu cầu chính đáng của nhân
viên. Đồng thời phải biết nhận biết người tài, trọng dụng người tài để khuyến khích những nhân viên có tâm huyết với ngân hàng.
3.2.4. Nâng cao chất lượng thẩm định
Chất lượng thẩm định cho vay luôn là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng khoản vay, nó là yếu tố sống còn không những chỉ với ngân hàng mà còn cả đối với khách hàng. Bởi vì khoản vay được thẩm định tốt sẽ đem lại an toàn vốn vay cũng như hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, bên cạnh đó nó còn đảm bảo phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng là đúng đắn và đem lại hiệu quả cho DNVVN.
Để công tác thẩm định đạt được hiệu quả cao và đảm bảo đáp ứng được kịp thời
cơ hội kinh doanh của các DNVVN, kết hợp với công tác Marketing yêu cầu cán bộ
77
ngân hàng phải tiếp cận với phương án, dự án sản xuất kinh doanh của khách hàng
ngay từ khi DNVVN có nhu cầu vay vốn. Qua đó giúp cho cán bộ ngân hàng có nhiều
thời gian hơn trong việc tham khảo, nghiên cứu phương án, dự án sản xuất kinh doanh của DNVVN để từ đó có được quyết định đầu tư đúng đắn, cũng như qua đó hướng
dẫn DNVVN tạo lập hồ sơ vay vốn một cách đầy đủ và thuận lợi hơn.
Về thẩm định khách hàng Mục đích của việc thẩm định là xác định xem khách hàng có đủ khả năng thanh toán nợ vay và lãi vay hay không. Các cán bộ tín dụng cần chú ý các điểm sau khi
thẩm định khách hàng: Kiểm tra hồ sơ khách hàng: ngân hàng cần kiểm tra về tư cách
pháp lý của khách hàng, các ngành nghề lĩnh vực sản suất kinh doanh mà khách hàng
được phép hoạt động; Kiểm tra mục đích vay vốn của khách hàng: xem xét mục đích
vay vốn của khách hàng có phù hợp với ngành nghề mà doanh nghiệp được phép hoạt động không, và nếu khách hàng vay vốn ngoại tệ thì cần xem xét khoản vay đó để đảm bảo việc cho vay phù hợp với quy định quản lý về ngoại hối; Phân tích đánh giá tình
hình hoạt động và khả năng tài chính của khách hàng: thông qua báo cáo thường niên
của đơn vị đi vay kết hợp với các tiêu chí đánh giá của ngân hàng, cán bộ tín dụng tiến
hành đồng thời để xác định phương thức cho vay cũng như hạn mức tín dụng có thế
chấp.
Về thẩm định dự án đầu tƣ Đây được xem là nội dung thẩm định mang tính quyết định đến khả năng được
vay vốn của khách hàng.
Thẩm định dự án đầu tư cần thẩm định về nguồn cung cấp nguyên vật liệu đầu
vào và thị trường đầu ra của dự án, phải xem xét xem nguồn nguyên vật liệu đầu vào
có đảm bảo đầy đủ, kịp thời đáp ứng nhu cầu của dự án hay không, bởi nếu không có
nguyên vật liệu thì không thể tiến hành sản xuất được hoặc có nguyên vật liệu nhưng
không đáp ứng kịp thời sẽ ảnh hưởng đến sản xuất, đến thời gian và khối lượng sản
phẩm dự kiến tung ra thị trường làm giảm tính cạnh tranh và gây tổn thất cho doanh
nghiệp. Do đó đáp ứng đầy đủ kịp thời cho sản xuất là điều kiện cần cho thành công của dự án. Bên cạnh đó đầu ra cũng là yếu tố không kém phần quan trọng, nếu sản phẩm của dự án không được thị trường chấp nhận: về chất lượng, giá cả hay hình thức… thì doanh nghiệp sẽ không tiêu thụ được sản phẩm và do đó không thể trả nợ cho ngân hàng. Với tất cả những yêu tố quan trọng trên đây ngân hàng cần quan tâm tìm hiểu cả đầu vào và đầu ra của dự án hay còn gọi là đánh giá tính khả thi của dự án. Bên cạnh những lợi ích về kinh tế mà dự án trực tiếp mang lại cho ngân hàng, bán bộ tín dụng cũng cần quan tâm đến lợi ích về kinh tế mà dự án đem lại cho xã hội ,
khuyến khích những dự án có tính chất xã hội hóa cao.
3.2.5. Đơn giản hoá các thủ tục cho vay
78
Hiện này TPBank đang áp dụng quy trình cho vay bao gồm 6 bước được coi là
khá chặt chẽ và đã có nhiều sửa đổi trong những năm gần đây nhằm ngày càng đáp
ứng tốt hơn nhu cầu phục vụ khách hàng. Tuy nhiên trong quy trình tín dụng đó vẫn còn nhiều điểm nên rút ngọn nhằm tiết kiệm thời gian và tiền của, của cả ngân hàng và
khách hàng. Như đối với các DNVVN thường vay các khoản vay nhỏ, việc ngân hàng
tái thẩm định, phân tích khả năng tài chính đối với các khách hàng truyền thống và có
uy tín đôi khi là không cần thiết, làm tăng chi phí trong thẩm định của ngân hàng, kéo dài thời gian, ảnh hưởng đến kế hoạch thực hiện dự án của khách hàng. Thủ tục đơn
giản rõ ràng sẽ là động lực thúc đẩy các khách hàng mở rộng giao dịch với ngân hàng.
Bên cạnh đó ngân hàng cũng nên thường xuyên hướng dẫn các doanh nhiệp, cung cấp
thông tin cần thiết để khách hàng có thể hoàn thiện hổ sơ một cách nhanh nhất, tiết
kiệm thời gian chi phí.
3.2.6. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát
Công tác kiểm tra, kiểm soát là công tác quan trọng để xác định xem khách hàn
có đủ khả năng trả nợ đúng hạn, có sử dụng tiền vay đúng mục đích. Chi nhánh đã có
những công tác kiểm tra theo đúng quy trình nhưng chất lượng của các cuộc kiểm tra
còn thấp, do các CBTD chỉ nhận thông tin từ các khách hàng mà chưa có những cuộc
kiểm tra thực tế tới các xưởng, công ty của khách hàng. Vì vậy, Chi nhánh cần tăng
cường công tác kiểm tra, kiểm soát hơn nữa. Bởi vì hiện nay, tình hình sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, các phân tích tài chính doanh nghiệp
cho thấy một bộ phận lớn các DNVVN đều ở mức thấp hơn tiêu chuẩn cho vay. Vì
vậy, Ngân hàng phải thường xuyên theo dõi quá trình sử dụng vốn và hiệu quả sử
dụng vốn vay của doanh nghiệp để hạn chế rủi ro mất vốn. Đồng thời, việc kiểm tra,
kiểm soát thường xuyên sẽ giúp cán bộ ngân hàng nắm được nguồn thu của khách
hàng, nắm được biến động bất thường trong hoạt động sản xuất kinh doanh của khách
hàng để từ đó có biện pháp xử lý khách quan và chính xác. Ngân hàng cũng phải
thường xuyên đánh giá lại các khoản cho vay, phát hiện kịp thời các khoản cho vay
cần xử lý để đưa ra những biện pháp đối phó thích hợp.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3
Toàn bộ chương 3 đã nêu lên định hướng hoạt động kinh doanh cũng như mục tiêu cụ thể của Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong nói chung và Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm nói riêng trong những năm tới. Từ đó, chương 3 nêu lên sự cần thiết phải đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng và nêu lên các giải pháp cụ thể giúp cho ngân hàng cải thiện được những khó khăn, hạn chế và từ đó hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa
và nhỏ được đẩy mạnh.
79
KẾT LUẬN
Qua quá trình học tập trên ghế nhà trường và thời gian thực tập tại Ngân hàng
Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm, em nhận thức rằng đi đôi với việc học tập nghiên cứu, lý luận thì việc tìm hiểu thực tế cũng là một giai đoạn hết sức
quan trọng không thể thiếu. Đó chính là thời gian sinh viên vận dụng, thử nghiệm
những kiến thức đã học được trên ghế nhà trường vào thực tế. Mặt khác nó còn tạo
điều kiện cho sinh viên hiểu đúng hơn, sâu sắc hơn những kiến thức mà mình đã có, bổ sung thêm những kiến thức mà chỉ qua công tác thực tế mới có được.
Nhận thấy rằng các DNNVV đang ngày càng khẳng định được vai trò quan
trọng của mình đối với nền kinh tế thị trường Việt Nam tuy nhiên DNNVV thường gặp
nhiều khó khăn về tài chính, thiếu hụt nguồn vốn để sản xuất kinh doanh. Vì vậy, sự
giúp đỡ của ngân hàng trong việc cung cấp vốn cho DNVVN là hết sức cần thiết bởi nguồn vốn của ngân hàng là nguồn vốn an toàn và ổn định nhất đối với các doanh nghiệp này. Vì thế, việc tìm ra giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động cho vay DNNVV
tại ngân hàng là một vấn đề vô cùng cần thiết. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực
tiễn tại ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm khóa luận
đã tiến hành hệ thống hóa những lý luận cơ bản về DNNVV cũng như cho vay
DNNVV của các NHTM và qua đó phân tích đánh giá hoạt động cho vay DNNVV tại
Chi nhánh Hoàn Kiếm, những mặt đạt được và chưa đạt được, những nguyên nhân gây
ảnh hưởng đến việc đẩy mạnh hoạt động cho vay DNNVV tại Chi nhánh. Qua đó,
khóa luận đã đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động cho vay đối
với các DNNVV tại Chi nhánh này.
Do trình độ và kiến thức của bản thân còn hạn chế nên trong bài khóa luận này
em không thể tránh khỏi những thiếu sót và nhầm lẫn nhất định. Em rất mong được
nhận thêm nhiều sự giúp đỡ, chỉ bảo của các thầy cô, các anh chị và bạn bè để em nhận
thêm được nhiều tiến bộ.
Một lần nữa, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo - Th.S Lê Thị Hà Thu cùng toàn thể các cô chú, anh chị tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm đã giúp em hoàn thành bài khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 28 tháng 10 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Nhung
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. PGS.TS Mai Văn Bạn (2009), Giáo trình Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, NXB
Tài chính.
2. TS. Nguyễn Minh Kiều (2009), Giáo trình Ngiệp vụ ngân hàng thương mại, NXB
Thống kê.
3. Học viện ngân hàng (2010), Giáo trình tiền tệ ngân hàng, NXB Thống kê 4. Sinh viên Đại học Thăng Long, (2013), Luận văn “Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay DNNVV tại Ngân hàng TMCP Quân đội - Chi nhánh Trần Duy Hưng” 5. Ngân hàng Nhà nước (2001), Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN về việc ban
hành Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng.
6. Ngân hàng Nhà nước (2005), Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt
động ngân hàng của tổ chức tín dụng.
7. Ngân hàng Nhà nước (2007), Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để
xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành
theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN.
8. Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm, Báo cáo kết
quả hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2011,2012,2013.
9. Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm, Báo cáo tài
chính năm 2011,2012,2013.
10. Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong, Bản cáo bạch năm 2013. 11. Các website: www..vn www.cafef.vn www.vneconomy.vn www.vietstock.vn www.vcci.com.vn

