BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƢU ĐỘNG TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỸ LAN
GIÁO VIÊN HƢỚNG DẪN : Th.S NGÔ THỊ QUYÊN
SINH VIÊN THỰC HIỆN
: HÀ SƠN TÙNG
MÃ SINH VIÊN
: A16978
CHUYÊN NGÀNH
: TÀI CHÍNH
HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo Th.S Ngô Thị Quyên,
người đã hướng dẫn em trong suốt thời gian thực hiện khóa luận vừa qua. Những kiến
thức và những lời bảo ban cần thiết mà cô truyền đạt cho em đã giúp cho em có thể
hoàn thành bài khóa luận này một cách đầy đủ và đúng thời hạn quy định. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn cô vì sự chỉ dẫn nhiệt tình và chu đáo mà cô đã dành cho
em. Đó sẽ là những bài học bổ ích mà em sẽ lưu giữ và áp dụng vào công việc và cuộc
sống sau này.
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn đến tập thể các giảng viên tại trường đại học Thăng Long. Những kiến thức mà các thầy cô truyền dạy cho em trong thời gian học
tập tại trường đã giúp em có được những hiểu biết cần thiết để hoàn thành bài khóa luận này. Cuối cùng em xin được gửi lời cảm ơn đến các anh chị, cô chú tại phòng tài
chính – kế toán công ty TNHH Mỹ Lan, những người đã tận tình giúp đỡ em hoàn
thành đề tài nghiên cứu này.
Em xin chân thành cảm ơn.
Sinh viên
Hà Sơn Tùng
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ
trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong khóa luận là có nguồn gốc và được
trích dẫn rõ ràng.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này.
Sinh viên
Hà Sơn Tùng
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU………………………………………………………………………….
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN LƢU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƢU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP ..................... 1
1.1. Tài sản lƣu động trong doanh nghiệp. .................................................................. 1
1.1.1. Khái niệm tài sản lưu động. ................................................................................. 1
1.1.2. Phân loại tài sản lưu động. .................................................................................. 2
1.1.2.1. Phân loại theo lĩnh vực tham gia luân chuyển ................................................... 2
1.1.2.2. Phân loại theo biện pháp quản lý ....................................................................... 3
1.1.2.3. Phân loại theo tính thanh khoản ........................................................................ 3
1.1.2.4. Phân loại theo nguồn hình thành ....................................................................... 4
1.1.3. Vai trò của tài sản lưu động đối với doanh nghiệp. ............................................ 5
1.2. Chính sách quản lý TSLĐ ...................................................................................... 6
1.3. Quản lý tài sản lƣu động ........................................................................................ 7
1.3.1. Quản lý tiền mặt ................................................................................................... 7
1.3.2. Quản lý hoạt động thu - chi ................................................................................. 9
1.3.3. Quản lý khoản phải thu ...................................................................................... 10
1.3.4. Quản lý dự trữ, hàng tồn kho ............................................................................ 12
1.4. Hiệu quả sử dụng tài sản lƣu động. .................................................................... 15
1.4.1. Khái niệm về hiệu quả sử dụng tài sản lưu động trong doanh nghiệp............ 15
1.4.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ trong doanh nghiệp. ..... 15
1.4.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động. ............................... 17
1.4.3.1. Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động .............................................................. 17
1.4.3.2. Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng .................................................................. 19
1.4.3.3. Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán ............................................................. 21
1.4.4. Một số nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản lưu động. ................ 22
1.4.4.1. Các nhân tố khách quan ................................................................................... 22
1.4.4.2. Các nhân tố chủ quan ....................................................................................... 23
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƢU ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH MỸ LAN ....................................................................................... 24
2.1. Giới thiệu về công ty TNHH Mỹ Lan ................................................................. 24
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển ................................................................... 24
2.1.2. Lĩnh vực kinh doanh của công ty ...................................................................... 24
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của công ty ................................................................................ 25
2.2. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty TNHH Mỹ Lan ......... 26
2.2.1. Kết quả kinh doanh của công ty ........................................................................ 26
2.2.2. Quy mô và cơ cấu tài sản-nguồn vốn của công ty ............................................ 29
2.2.3. Một số chỉ tiêu cơ bản đánh giá kết quả kinh doanh của công ty .................... 32
2.3. Thực trạng hiệu quả sử dụng TSLĐ tại công ty TNHH Mỹ Lan .................... 33
2.3.1. Phân tích quy mô & cơ cấu tài sản lưu động .................................................... 33
2.3.2. Nội dung quản lý tài sản lưu động .................................................................... 35
2.3.2.1. Quản lý tài sản tiền ........................................................................................... 35
2.3.2.2. Quản lý các khoản phải thu .............................................................................. 37
2.3.2.3. Quản lý hàng tồn kho ....................................................................................... 39
2.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động ................................ 40
2.3.3.1. Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động .............................................................. 40
2.3.3.2. Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng .................................................................. 43
2.3.3.3. Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán ............................................................. 45
2.4. Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng TSLĐ của công ty TNHH Mỹ Lan .... 46
2.4.1. Thành quả đạt được ........................................................................................... 46
2.4.2. Hạn chế ............................................................................................................... 46
CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƢU ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH MỸ LAN ........................................................ 48
3.1. Định hƣớng phát triển của công ty TNHH Mỹ Lan .......................................... 48
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lƣu động tại công ty TNHH Mỹ Lan ................................................................................................................................ 48
3.2.1. Nâng cao hiệu quả quản lý tài sản tiền ............................................................. 48
3.2.2. Nâng cao hiệu quả quản lý khoản phải thu ...................................................... 49
3.2.3. Nâng cao hiệu quả quản lý hàng tồn kho ......................................................... 50
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, CÔNG THỨC
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ quản lý tài sản cấp tiến và thận trọng .................................................. 6
Sơ đồ 1.2. Sơ đồ luân chuyển tiền mặt ............................................................................ 8
Sơ đồ 1.3. Sơ đồ mô hình EOQ ..................................................................................... 13
Sơ đồ 1.4. Sơ đồ mô hình ABC ..................................................................................... 13
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy công ty .................................................................... 25
Bảng 2.1. Bảng báo cáo kết quả kinh doanh ................................................................. 27
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu tài sản ............................................................................................ 29
Biểu đồ 2.2. Cơ cấu nguồn vốn ..................................................................................... 30
Bảng 2.2. Bảng cân đối kế toán ..................................................................................... 31
Bảng 2.3. Các chỉ số về khả năng sinh lời ..................................................................... 32
Biểu đồ 2.3. Quy mô tài sản lưu động ........................................................................... 33
Bảng 2.4. Tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSLĐ của công ty .......... 34
Bảng 2.5. Tiền và các khoản tương đương tiền ............................................................. 36
Bảng 2.6. Khoản phải thu ngắn hạn .............................................................................. 37
Bảng 2.7. Hàng tồn kho ................................................................................................. 39
Bảng 2.8. Các chỉ tiêu về khả năng hoạt động .............................................................. 40
Bảng 2.9. Các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng .................................................................. 43
Bảng 2.10. Mức tiết kiệm vốn lưu động ........................................................................ 44
Bảng 2.11. Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán ........................................................... 45
DANH MỤC VIẾT TẮT
Viết tắt Nội dung
HTK Hàng tồn kho
ROA Tỉ suất sinh lời trên tổng tài sản
ROE Tỉ suất sinh lời trên tổng vốn chủ sở hữu
ROS Tỉ suất sinh lời trên doanh thu
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TSCĐ Tài sản cố định
TSLĐ Tài sản lƣu động
VLĐ Vốn lƣu động
LỜI MỞ ĐẦU
Tài sản lưu động là một bộ phận tài sản chiếm tỉ trọng lớn ở các doanh nghiệp
thương mại và nắm giữ một vai trò rất quan trọng trong mọi quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Bất kỳ một doanh nghiệp nào nếu muốn tồn tại và phát
triển đều phải quan tâm tới việc quản lý và sử dụng tài sản lưu động sao cho đạt hiệu
quả cao nhất. Việc quản lý và sử dụng tài sản lưu động trong doanh nghiệp có tác động
rất lớn đến việc tăng hay giảm chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm, từ đó ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Quản lý tốt tài sản
lưu động sẽ đem đến doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp và giúp doanh nghiệp
có thể chủ động được trước những biến đổi của môi trường kinh doanh. Do đó vấn đề
quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản lưu động đang là vấn đề rất cấp thiết đối với mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Xuất phát từ việc nhận thức được tầm quan trọng của tài sản lưu động đối với
các doanh nghiệp hiện nay. Sau một thời gian thực tập tại công ty TNHH Mỹ Lan,
được sự ủng hộ, giúp đỡ từ ban lãnh đạo và phóng tài chính- kế toán của công ty, em
đã tiến hành nghiên cứu và thực hiện bài khóa luận tốt nghiệp với đề tài :”Giải pháp
nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lƣu động tại công ty TNHH Mỹ Lan”. Bài khóa
luận của em bao gồm 3 phần:
- Chương 1: Cơ sở lý luận chung về tài sản lưu động và hiệu quả sử dụng tài
sản lưu động trong doanh nghiệp
- Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại công ty TNHH
Mỹ Lan
- Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại
công ty TNHH Mỹ Lan
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN LƢU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƢU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Tài sản lƣu động trong doanh nghiệp.
Kinh tế thị trường là một nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường trong đó người mua và người bán tương tác với nhau để xác định giá cả và sản lượng của hàng
hóa hay dịch vụ. Nền kinh tế thị trường chứa đựng 3 chủ thể là các hộ gia đình, doanh
nghiệp và chính phủ. Trong đó, doanh nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong hoạt
động và phát triển của nền kinh tế. Theo luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2005, “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có
tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy
định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.”
Các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều có một mục tiêu là tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu. Tuy nhiên để đạt được mục tiêu này
trong nền kinh tế hiện này không phải là điều đơn giản khi doanh nghiệp bị tác động
bởi những yếu tố như phương thức sản xuất mới, sự phát triển của công nghệ, sự quản
lý của nhà nước thông qua luật, các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế quản lý tài
chính và những sức ép cạnh tranh đến từ thị trường. Để phát triển bền vững, các doanh
nghiệp phải biết thích nghi với sự biến đổi của môi trường, đưa ra hàng loạt quyết định
trong quá trình tổ chức hoạt động kinh doanh như quyết định đầu tư, tài trợ hay hoạt động hằng ngày. Có thể thấy để quản lý tốt tài chính một doanh nghiệp, chúng ta phải
đối mặt với rất nhiều các quyết định tài chính dài hạn và ngắn hạn khác nhau.
Doanh nghiệp ở bất cứ loại hình sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có vốn
để mua các yếu tố đầu vào. Yếu tố đầu vào bao gồm các loại tài sản cố định và tài sản
lưu động. Trong đó, các tài sản lưu động chiếm một tỉ trọng lớn và có một vị trí quan
trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy quản lý tài sản
lưu động là một hoạt động quan trọng trong quản lý tài chính của doanh nghiệp.
1.1.1. Khái niệm tài sản lưu động.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, bộ phận chủ yếu của đối tượng lao động
cấu thành nên thực thể của sản phẩm và một bộ phận khác sẽ hao phí mất đi cùng với quá trình kinh doanh. Do các đối tượng lao động trực tiếp tham gia cấu tạo nên thực thể sản phẩm nên hình thái vật chất sẽ bị thay đổi và chỉ tham gia một lần vào chu kì sản xuất kinh doanh. Sang kì kinh doanh tiếp theo doanh nghiệp sẽ phải sử dụng đối tượng lao động mới.
Đối tượng lao động phục vụ sản xuất trong doanh nghiệp gồm:
1
- Vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất được liên tục như nguyên vật liệu, năng lượng, động lực.
- Vật tư nằm trong quá trình chế biến (sản phẩm dở dang).
Hai bộ phận trên biểu hiện dưới hình thái vật chất gọi là tài sản lưu động.
Ngoài ra để lưu thông được sản phẩm phải chi một số tiền tương ứng với một số
công việc như: chọn lọc đóng gói, xuất giao một số sản phẩm thanh toán với khách hàng.
TSLĐ là tất cả những tài sản ngắn hạn, và thường xuyên luân chuyển trong quá
trình kinh doanh. Tài sản lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh,
thay đổi hình thái vật chất và chuyển toàn bộ giá trị vào sản phẩm được sản xuất.
Trong bất cứ một doanh nghiệp nào muốn hoạt động sản xuất, kinh doanh tiến
hành bình thường đều phải cần có tài sản lưu động. Trong suốt quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp tài sản lưu động được phân bổ. Việc dự tính lượng tài sản lưu
động hay nói cách khác quá trình quản lý và sử dụng tài sản lưu động là một việc hết sức quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào. Đối với bất kì một doanh nghiệp
nào tài sản lưu động được xem là lượng tiền ứng trước nhằm thỏa mãn nhu cầu về các
đối tượng lao động. Do tài sản lưu động tồn tại ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất
kinh doanh nên nó sẽ đảm bảo cho các hoạt động đó diễn ra một cách liên tục. Nếu sử
dụng một cách hợp lý tài sản lưu động thì quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp sẽ bị gián đoạn, làm tăng chi phí và làm quá trình sản xuất kinh doanh bị ảnh
hưởng xấu. Nhu cầu về tài sản lưu động của doanh nghiệp khác nhau là khác nhau. Cơ cấu tài sản lưu động trong tổng tài sản phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh, ví dụ
như đối với doanh nghiệp thương mại TSLĐ chiếm tỉ trọng lớn hơn so với TSCĐ
nhưng trong một doanh nghiệp sản xuất thì điều này lại ngược lại. Cơ cấu về tài sản
lưu động còn cho biết tình hình tài chính hiện tại của doanh nghiệp, về khả năng thanh
toán và các rủi ro tài chính của doanh nghiệp.
Đặc điểm của TSLĐ:
- Tham gia vào một chu kì kinh doanh.
- Thay đổi hình thái vật chất ban đầu để cấu tạo nên thực thể sản phẩm.
- Giá trị luân chuyển một lần vào giá thành sản phẩm làm ra.
1.1.2. Phân loại tài sản lưu động.
1.1.2.1. Phân loại theo lĩnh vực tham gia luân chuyển
Tài sản lưu động sản xuất: bao gồm các tài sản dự trữ cho quá trình sản xuất như nguyên nhiên liệu, vật liệu, tài sản trong sản xuất như sản phẩm dở dang, bán thành
2
phẩm.
Tài sản lưu động lưu thông: là toàn bộ các tài sản dự trữ cho quá trình lưu thông của
doanh nghiệp như thành phẩm, hàng gửi bán và các tài sản trong quá trình lưu thông
như các khoản phải thu, vốn bằng tiền.
Tài sản lưu động tài chính: là những khoản đầu tư tài chính ngắn hạn với mục đích sinh lời như đầu tư chứng khoán ngắn hạn, đầu tư liên doanh.
1.1.2.2. Phân loại theo biện pháp quản lý
Tài sản lưu động thường xuyên: gồm tài sản lưu động trong sản xuất, tài sản là thành
phẩm, cần tiến hành định mức kế hoạch để có cở sở quản lý tài sản, đảm bảo bố trí hợp lý tài sản lưu động trong từng giai đoạn sản xuất kinh doanh, tạo cơ sở xác định nhu
cầu tài sản trong năm kế hoạch.
Tài sản lưu động không thường xuyên: là số tài sản lưu động có thể phát sinh trong quá
trình kinh doanh nhưng có căn cứ tính toán định mức và cũng không cần thiết để định mức, chủ yếu dùng vào việc thanh toán (nợ quá hạn, nợ khó đòi, các loại tiền phạt, tiền
bồi thường chưa thu được).
1.1.2.3. Phân loại theo tính thanh khoản
Tiền: Tất cả tiền mặt tại quỹ, tiền trên các tài khoản ngân hàng và tiền đang chuyển.
Lưu ý rằng, ở đây tiền (hay vốn bằng tiền) không phải chỉ là tiền mặt. Nhiều người
nhầm lẫn khái niệm Cash trong tiếng Anh và cho nó đồng nghĩa với khái niệm tiền mặt
trong tiếng Việt. Theo ngôn ngữ tiếng Việt Nam ,”tiền mặt “ không bao gồm tiền gửi ngân hàng. Khi các doanh nghiệp thanh toán bằng séc hoặc chuyển khoản thì được gọi
là “thanh toán không dùng tiền mặt”. Trong lĩnh vực tài chính- kế toán, tài sản bằng
tiền “Cash “của một công ty hay doanh nghiệp bao gồm:
+ Tiền mặt (Cash on hand)
+ Tiền gửi ngân hàng (Bank accounts)
+ Tiền dưới dạng séc các loại (Cheques)
+ Tiền trong thanh toán (Floating money,Advanced payment)
+ Tiền trong thẻ tín dụng và các loại tài khoản thẻ ATM
Vàng, bạc, đá quý và kim khí quý: Đây là nhóm tài sản đặc biệt, chủ yếu dùng vào mục đích dự trữ. Tuy vậy, trong một số nghành như ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, trị giá kim cương, đá qúy, vàng bạc, kim khí quý có thể rất lớn.
Các tài sản tương đương với tiền: Nhóm này gồm các tài sản tài chính có khả năng chuyển đổi cao, tức là dễ bán, dễ chuyển đổi thành tiền khi cần thiết. Tuy nhiên, không
3
phải tất cả các loại chứng khoán đều thuộc nhóm này. Chỉ có các chứng khoán ngắn hạn dễ bán mới được coi là TSLĐ thuộc nhóm này. Ngoài ra, các giấy tờ thương mại
ngắn hạn, được bảo đảm có độ an toàn cao thì cũng thuộc nhóm này. Ví dụ: hối phiếu
ngân hàng, kỳ phiếu thương mại, bộ chứng từ hoàn chỉnh…
Chi phí trả trước: Chi phí trả trước bao gồm các khoản tiền mà công ty đã trả trước
cho người bán, nhà cung cấp hoặc các đối tượng khác. Một số khoản trả trước có thể có mức độ rủi ro cao vì phụ thuộc vào một số yếu tố khó dự đoán trước.
Các khoản phải thu: Các khoản phải thu là một tài sản rất quan trọng của doanh
nghiệp, đặc biệt là các công ty kinh doanh thương mại, mua bán hàng hoá. Hoạt động
mua bán chịu giữa các bên, phát sinh các khoản tín dụng thương mại. Thực ra, các khoản phải thu gồm nhiều khoản mục khác nhau tuỳ theo tính chất của quan hệ mua
bán, quan hệ hợp đồng.
Tiền đặt cọc: Trong nhiều trường hơp, các bên liên quan đến hợp đồng phải đặt cọc
một số tiền nhất định. Phần lớn các điều khoản về tiền đặt cọc quy định theo 2 cách:
+ Số tiền đặt cọc tính theo tỉ lệ phần trăm giá trị hợp đồng hoặc giá trị tài sản được
mua bán.
+ Số tiền đặt cọc được ấn định bằng một số tiên cụ thể, hoặc một giá trị tối thiểu
cho hợp.
Tiền đặt cọc là một tài sản không chắc chắn, độ tin cậy có thể giao động lớn, từ 90%
đến 30% hay 40%. Do tính chất là một tài sản bảo đảm như vậy nên mặc dù tiền đặt
cọc thuộc TSLĐ nhưng nó không được các ngân hàng tính đến khi xác định khả năng thanh toán bằng tiền của doanh nghiệp.
Hàng hoá vật tư: Hàng hoá vật tư được theo dõi trong một tài khoản gọi là hàng tồn
kho. “Hàng tồn kho” trong khái niệm này không có nghĩa là hàng hoá bị ứ đọng,
không bán được, mà thực chất bao hàm toàn bộ các hàng hoá vật liệu, nguyên liệu
đang tồn tại ở các kho, quầy hàng hoặc trong xưởng. Nó gồm nhiều chủng loại khác
nhau như: NVL chính, NVL phụ, vật liệu bổ trợ, nhiên liệu và các loại dầu mở, thành
phẩm.
Các chi phí chờ phân bổ: Trong thực tế ,một khối lượng NVL và một số khoản chi phí đã phát sinh nhưng có thể chưa được phân bổ vào giá thành sản phẩm hay dịch vụ.
Những khoản này sẽ được đưa vào giá thành trong khoảng thời gian thích hợp.
1.1.2.4. Phân loại theo nguồn hình thành
Trong doanh nghiệp, TSLĐ được hình thành từ nhiều nguồn vốn khác nhau, do đó mỗi một loại nguồn vốn sẽ có tính chất, đặc điểm, chi phí sử dụng khác nhau. Vấn
đề đặt ra là các doanh nghiệp phải cân nhắc lựa chọn cho mình một cơ cấu nguồn vốn
4
tối ưu vừa giảm được chi phí sử dụng vốn, vừa đảm bảo sự an toàn cho tình hình tài
chính của doanh nghiệp. Có 2 cách phân loại TSLĐ của doanh nghiệp theo nguồn hình
thành:
- TSLĐ hình thành theo quan hệ chủ sở hữu về vốn:
TSLĐ hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu: là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Từ từng loại hình doanh nghiệp mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng
như: vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, vốn do chủ doanh nghiệp tự bỏ ra, vốn góp
cổ phần, vốn góp liên doanh, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận để lại. Vốn chủ sở hữu thể
hiện khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp. Tỉ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng vốn càng lớn thì sự độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng cao.
TSLĐ hình thành từ nguồn nợ: là các khoản TSLĐ được hình thành từ các khoản
vay của các ngân hàng thương mại hay các tổ chức tài chính, vốn vay qua phát hành
trái phiếu, các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán.
- TSLĐ hình thành căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn:
TSLĐ hình thành từ nguồn vốn thường xuyên: là nguồn vốn mang tính chất ổn định
và dài hạn, bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn để tài trợ cho nhu cầu
TSLĐ thường xuyên cần thiết của doanh nghiệp. Nguồn vốn thường xuyên= Tổng
nguồn vốn – Nợ ngắn hạn.
TSLĐ hình thành từ nguồn vốn tạm thời: là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn, gồm
các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, các khoản nợ ngắn hạn, được dùng để đáp ứng nhu cầu TSLĐ có tính chất tạm thời, bất thường phát
sinh trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn tạm thời= Vốn vay
ngắn hạn + Vốn chiếm dụng hợp pháp.
1.1.3. Vai trò của tài sản lưu động đối với doanh nghiệp.
Tài sản lưu động giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
được vận hành một cách liên tục, không bị gián đoạn. Trong sản xuất, tài sản lưu động
giúp cho doanh nghiệp sản xuất thông suốt, đảm bảo quy trình công nghệ, công đoạn
sản xuất. Trong lưu thông, tài sản lưu động đảm bảo dự trữ thành phẩm đáp ứng đơn đặt hàng của khách hàng và nhu cầu tiêu thụ.
Tài sản lưu động giúp doanh nghiệp đảm bảo được khả năng thanh toán, khi duy trì ở một mức độ hợp lý nó đem lại cho doanh nghiệp những lợi thế nhất định như được hưởng chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán. Từ đó giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí, làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Tài sản lưu động giúp
doanh nghiệp tạo dựng được mối quan hệ mật thiết với khách hàng, đặc biệt là khách
5
hàng lớn và thân thuộc thông qua chính sách tín dụng thương mại.
Thời gian luân chuyển tài sản lưu động lớn khiến cho công việc quản lý và sử
dụng tài sản lưu động luôn diễn ra thường xuyên, liên tục. Với vai trò to lớn đó, việc
tăng tốc độ luân chuyển tài sản lưu động, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
trong doanh nghiệp là nhu cầu tất yếu.
1.2. Chính sách quản lý TSLĐ
Quản lý tài sản lưu động theo trường phái cấp tiến đồng nghĩa với duy trì tỉ
trọng tài sản lưu động thấp và ngược lại, quản lý tài sản lưu động theo trường phái
thận trọng là việc duy trì tỉ trọng tài sản lưu động cao.
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ quản lý tài sản cấp tiến và thận trọng
Cấp tiến Thận trọng
TSLĐ
TSLĐ TSCĐ
TSCĐ
Đặc điểm của quản lý tài sản lưu động theo trường phái cấp tiến so với trường phái thận trọng:
Mức tài sản lưu động thấp hơn nhưng được quản lý cấp tiến và hiệu quả: công
ty chỉ giữ một mức tối thiểu tiền và chứng khoán khả thị và dựa vào sự quản lý hiệu
quả và khả năng vay ngắn hạn để đáp ứng các nhu cầu bất thường. Lập luận tương tự
như vậy thì khoản hàng lưu kho và phải thu khách hàng của công ty cũng mang giá trị
thấp hơn.
Thời gian quay vòng tiền ngắn hơn: do phải thu khách hàng và hàng tồn kho giảm nên vòng quay của chúng tăng và thời gian quay vòng giảm. Do đó, chính sách
quản lý cấp tiến rút ngắn chu kỳ kinh doanh và dẫn tới rút ngắn thời gian quay vòng của tiền. Do công ty không có một tỉ trọng lớn tài sản dười hình thức phải thu khách hàng và hàng lưu kho, chính sách nằng tăng khả năng thanh khoản tiếp diễn của công ty
Chi phí thấp hơn dẫn tới EBIT cao hơn: do khoản phải thu khách hàng ở mức
6
thấp nên chi phí quản lý dành cho công nợ cùng tổng giá trị của những khoản nợ không thể thu hồi được sẽ giảm đi. Thêm vào đó, việc doanh nghiệp dự trữ ít hàng tồn
kho hơn cũng giúp tiết kiệm chi phí lưu kho. Nhờ tiết kiệm được chi phí nên EBIT của
doanh nghiệp sẽ tăng.
Vì rủi ro cao hơn nên thu nhập theo yêu cầu cũng cao hơn: Theo đuổi chiến
lược quản lý TSLĐ cấp tiến, doanh nghiệp có thể gặp phải những rủi ro: cạn kiệt tiền hay không có đủ tiền để được chính sách quản lý hiệu quả. Mất doanh thu khi dự trữ
thiếu hụt hàng lưu kho. Mất doanh thu khi sử dụng chính sách tín dụng chặt để duy trì
khoản phải thu khách hàng thấp. Những rủi ro này đánh đổi bởi chi phí thấp hơn nên
lợi nhuận kỳ vọng tăng lên.
1.3. Quản lý tài sản lƣu động
1.3.1. Quản lý tiền mặt
Tiền mặt được hiểu là tiền giấy trong quỹ hoặc tiền tại ngân hàng. Tiền mặt bản
thân nó không sinh lãi do đó mục tiêu quan trọng nhất của quản lý tiền mặt là tối thiểu hóa lượng tiền mặt phải giữ. Tuy nhiên việc giữ tiền mặt trong doanh nghiệp là điều
cần thiết, doanh nghiệp nắm giữ tiền mặt vì hai lý do lớn: Duy trì số dư tiền mặt cho
các giao dịch trong điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường và duy trì số
dư kí quỹ theo yêu cầu của ngân hàng khi ngân hàng cung cấp các khoản vay hoặc các
dịch vụ. Hai lý do thứ cấp cũng được đề cập đến là: duy trì số dư nhằm mục đích đầu
cơ để cho phép doanh nghiệp tận dụng được các cơ hội kiếm lời và duy trì số dự phòng
cho các biến động bất thường liên quan tới dòng tiền vào ra. Ngoài ra số dư tiền mặt cần được duy trì để tận dụng lợi thế chiết khấu thương mại và các cơ hội kinh doanh
tốt để giúp doanh nghiệp duy trì tín nhiệm và đáp ứng các nhu cầu chi tiêu đột xuất.
Giữ đủ tiền mặt, duy trì tốt các chỉ số thanh toán ngắn hạn giúp doanh nghiệp có thể
mua hàng với những điều kiện thuận lợi và hưởng mức tín dụng rộng rãi.
Việc quản lý tài sản lưu động gắn liền với việc quản lý các loại tài sản gắn với
tiền và các loại chứng khoán có khả năng thanh khoản cao. Các loại chứng khoán có
vai trò như là bước đệm cho tiền mặt, khi doanh nghiệp có số dư tiền nhiều có thể đầu
tư vào chứng khoán có khả năng chuyển thành tiền bất cứ lúc nào mà chi phí ít tốn kém.
Nhìn vào sơ đồ 1.2, ta thấy được tổng quát trong quản lý tiền mặt bởi cũng như các tài sản khác, tiền mặt là một hàng hóa nhưng đây là hàng hóa đặc biệt, một hàng hóa có tính lỏng nhất định.
Trong kinh doanh, doanh nghiệp phải lưu giữ tiền mặt cần thiết cho việc thanh toán hóa đơn. Do vậy, khi tiền mặt xuống thấp doanh nghiệp sẽ phải bổ sung tiền mặt
7
bằng cách bán các chứng khoán thanh khoản cao. Chi phí cho việc lưu giữ tiền mặt ở đây chính là chi phí cơ hội, là lãi suất mà doanh nghiệp bị mất đi khi doanh nghiệp
dùng số tiền ấy đầu tư vào mục đích khác. Chi phí đặt hàng chính là chi phí cho việc
bán các chứng khoán.
Sơ đồ 1.2. Sơ đồ luân chuyển tiền mặt
Các chứng khoán thanh khoản cao
Đầu tư tạm thời bằng cách mua các chứng khoán có tính thanh khoản cao Bán các chứng khoán thanh khoản cao để bổ sung cho tiền mặt
Tiền mặt Dòng thu tiền mặt Dòng chi tiền mặt
Mô hình EOQ xác định lượng dự trữ tiền mặt tối ưu M* là:
M* = √ 2 * Mn * Cb i
Trong đó:
M*: Tổng mức tiền mặt giải ngân hàng năm
Mn: Tiền mặt thanh toán hàng năm
Cb: Chi phí một lần bán chứng khoán thanh khoản
i: Lãi suất
Từ công thức trên cho thấy, nếu lãi suất càng cao thì người ta càng giữ ít tiền
mặt và ngược lại, nếu chi phí cho việc bán chứng khoán càng cao họ lại càng giữ nhiều
tiền mặt.
Bằng việc nghiên cứu và phân tích thực tiễn, các nhà kinh tế học đã đưa ra mô
hình quản lý tiền mặt để mức dự trữ luôn dao dộng trong một khoảng xác định. Theo mô hình này, doanh nghiệp sẽ xác định mức giới hạn trên và giới hạn dưới của tiền mặt, đó là các khoản mà doanh nghiệp bắt đầu tiến hành nghiệp vụ mua hoặc bán chứng khoán có tính thanh khoản cao để đưa ra mức tiền mặt dự kiến.
Khoảng dao động tiền mặt dự kiến phụ thuộc vào ba yếu tố sau: mức dao động
của thu chi ngân quỹ, chi phí cố định của việc mua bán chứng khoán và lãi suất.
8
Khoản dao động (mô hình Miller):
D = 3 * √ 3 * Cb * Vb 4 * i
Trong đó:
D: khoảng dao động tiền mặt (khoảng cách giữa giới hạn trên và giới hạn dưới
của lượng tiền mặt dự trữ).
Cb: Chi phí của mỗi lần giao dịch mua bán chứng khoán thanh khoản.
Vb: Phương sai của thu chi ngân quỹ.
i: Lãi suất.
Mức tiền mặt theo thiết kế được xác định như sau:
= + Mức tiền mặt giới hạn dưới Khoảng dao động tiền mặt 3 Mức tiền mặt theo thiết kế
Đây là mô hình mà thực tế được rất nhiều doanh nghiệp áp dụng. khi áp dụng mô hình này, mức tiền mặt giới hạn dưới thường được lấy là mức tiền mặt tối thiểu.
Phương sai của thu chi ngân quỹ được xác định bằng cách dựa vào số liệu thực tế của
một quỹ trước đó để tính toán.
1.3.2. Quản lý hoạt động thu - chi
Các biện pháp tăng cường thu chi tiền mặt: quản trị tiền mặt hiệu quả là tăng tốc độ
thu tiền và giảm tốc độ chi tiêu, doanh nghiệp duy trì mức chi tiêu tiền mặt trong nhiều
giao dịch kinh doanh ở mức thấp hơn, khi đó doanh nghiệp sẽ có nhiều tiền hơn cho
đầu tư.
Để tăng tốc độ thu tiền, doanh nghiệp thường sử dụng các cách:
- Đem lại cho khách hàng những lợi ích để khuyến khích họ trả nợ sớm hơn, bằng cách áp dụng chính sách chiết khấu đối với những khoản nợ được thanh toán trước hay
đúng kì hạn.
- Hướng dẫn khách hàng chi trả séc của họ tới ngân hàng đại diện của doanh nghiệp. Qua đó, doanh nghiệp có thể thanh toán các hóa đơn mua hàng hoặc đầu tư vào các
loại chứng khoán có khả năng thanh khoản cao.
Doanh nghiệp thường thông qua các cách sau để giảm tốc độ chi tiêu:
- Trì hoãn việc thanh toán các hóa đơn nhưng chỉ trong phạm vi thời gian mà các chi phí tài chính, tiền phạt hay sự xói mòn vị thế tín dụng thấp hơn những lợi nhuận do việc chậm thanh toán đem lại.
9
- Chậm chi trả lương. Trong thời gian trả chậm lương doanh nghiệp có thể tận dụng để đầu tư.
Có rất nhiều biện pháp để doanh nghiệp quản lý hoạt động thu - chi và thông qua mô
hình B - C để so sánh lợi ích cụ thể của từng phương pháp, doanh nghiệp sẽ đưa ra
quyết định nên sử dụng phương pháp nào có lợi nhất.
B = t * TS * i * (1 – t)
B: lợi ích tăng thêm
TS: quy mô luân chuyển tiền
t: thay đổi về thời gian chyển tiền
i: lãi suất đạt được khi lựa chọn phương án
Tính ra sự thay đổi cả chi phí:
C = C2 C1
B > C: Doanh nghiệp lựa chọn phương án
B < C: Không lựa chọn phương án
1.3.3. Quản lý khoản phải thu
Trong nền kinh tế thị trường việc mua chịu, bán chịu là điều khó tránh khỏi.
Doanh nghiệp có thể sử dụng các khoản phải trả chưa đến kì hạn thanh toán như một
nguồn vốn bổ sung để tài trợ cho các nhu cầu tài sản lưu động ngắn hạn và đương
nhiên doanh nghiệp cũng bị các doanh nghiệp khác chiếm dụng vốn. Việc bán chịu sẽ
giúp doanh nghiệp dễ dàng tiêu thụ được sản phẩm đồng thời góp phần xây dựng mối
quan hệ làm ăn tốt đẹp với khách hàng. Tuy nhiên nếu tỉ trọng các khoản phải thu quá
lớn trong tổng số tài sản lưu động thì nó sẽ gây ra những khó khăn cho doanh nghiệp
và làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản lưu động trong doanh nghiệp.
Quản trị các khoản phải thu tốt, tức là hạn chế mức tối thiểu lượng tài sản lưu
động bị chiếm dụng sẽ làm giảm số ngày của chu kì thu tiền bình quân, thúc đẩy vòng tuần hoàn của tài sản lưu động. Đồng thời sẽ làm giảm các chi phí quản lý nợ phải thu,
chi phí thu hồi nợ, chi phí rủi ro.
- Điều khoản bán hàng
Thời hạn tín dụng: là khoảng thời gian tối đa mà khách hàng phải thực hiện nghĩa vụ
thanh toán. Thời hạn tín dụng có thể có tác động rất lớn đến doanh số bán hàng đặc biệt là đối với những mặt hàng có giá trị lớn. Nếu như nhu cầu đối với một loại mặt hàng nào đó phụ thuộc vào thời hạn tín dụng, doanh nghiệp có thể thúc đẩy tăng doanh số bằng cách kéo dài thời hạn tín dụng.
Chiết khấu thanh toán: là tỉ lệ phần trăm giảm giá mà khách hàng được hưởng khi
10
thực hiện thanh toán sớm trong một khoảng thời gian nhất định. Sự thay đổi về chính
sách tín dụng này sẽ mang lại tác dụng thu hút thêm khách hàng mới vì về bản chất là
công ty thực hiện giảm giá đối với những khách hàng thanh toán sớm, đồng thời sẽ
làm cho kỳ thu tiền bình quân giảm vì chính sách này khuyến khích khách hàng thanh
toán sớm để được hưởng chiết khấu.
- Phân tích tín dụng: trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp có thể sử dụng một hệ
thống chấm điểm tự động để sàng lọc trước các đơn xin cấp tín dụng. Sau khi thu thập
đầy đủ những thông tin cần thiết liên quan đến một đơn xin cấp tín dụng, doanh ngiệp
có thể sử dụng phương pháp phân tích tuyến tính yếu tố phân biệt trong việc tính điểm tín dụng. Mục tiêu của phương pháp này là triển khai một hàm số phân biệt theo loại
sau:
Z = a1 * x1 + a2 * x2 + an * xn
Trong đó:
Z là số điểm tín dụng của khách hàng
a1, an là các hệ số cho các biến số độc lập khác nhau
x1, xn là biến số độc lập, các biến số này tùy thuộc vào khách hàng xin cấp tín
dụng là một doanh nghiệp hay cá nhân.
Nếu khách hàng là một doanh nghiệp thì x1, xn có thể là các chỉ số tài chính quan trong về khả năng tín dụng cũng như chỉ số khả năng thanh toán hiện hành, chỉ
số khả năng thanh toán nhanh, hệ số nợ…
Nếu khách hàng là một cá nhân thì x1, xn có thể là các khoản thu nhập của
khách hàng trong thời gian qua, những tài sản mà khách hàng có được.
- Quyết định tín dụng : để đưa ra lựa chọn về các khoản tín dụng được đề nghị để
quyết định có nên cấp hay không dựa trên việc tính NPV của luồng tiền.
NPV = CF0 CFt k
CFt: dòng tiền sau thuế mỗi kỳ
K: tỷ lệ thu nhập theo yêu cầu
CF0: chi phí vào khoản phải thu
Trong đó:
CF0 = VC * S * ACP/365
CFt = [S * (1 – VC) S * BD – CD] * (1 – t)
VC: tỷ lệ chi phí biến đổi CFin/CFout (%)
11
S: CFin dự kiến mỗi ngày
ACP: thời gian thu tiền trung bình
BD: tỷ lệ nợ xấu trên doanh thu (%)
CD: CFout tăng thêm của bộ phận tín dụng
T: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
NPV > 0: cấp tín dụng cho khách hàng.
NPV = 0: bàng quan.
NPV < 0: không cấp tín dụng cho khách hàng.
- Quản lý nợ phải thu : để giúp doanh nghiệp có thể nhanh chóng thu hồi các khoản phải thu, hạn chế rủi ro và các chi phí không cần thiết phát sinh làm giảm hiệu quả sử
dụng tài sản lưu động, doanh nghiệp cần coi trọng các biện pháp chủ yếu sau:
+ Phải mở sổ theo dõi chi tiết các khoản nợ phải thu trong và ngoài doanh nghiệp và
thường xuyên đôn đốc để thu hồi đúng hạn.
+ Có biện pháp phòng ngừa rủi ro không được thanh toán (lựa chọn khách hàng,
giới hạn giá trị tín dụng, yêu cầu đặt cọc.)
+ Tiến hành xác định và trích lập dự phòng phải thu khó đòi vào chi phí sản xuất
kinh doanh. Quỹ này có thể được sử dụng trong trường hợp có khoản phải thu của
doanh nghiệp nhưng không thể thu hồi được thì sẽ trích từ quỹ ra để bù vào với mục
đích bảo toàn vốn kinh doanh cho doanh nghiệp.
+ Có sự ràng buộc chặt chẽ trong hợp đồng bán hàng, nếu vượt quá thời hạn thanh toán theo hợp đồng sẽ bị phạt hoặc được thu lãi suất như lãi suất quá hạn của ngân
hàng. Hiện nay ở nước ta còn chưa có luật rõ ràng về vấn đề này. Tuy nhiên đối với
các nước phát triển thì họ đã có luật để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp trong
trường hợp không đòi được nợ. Các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần quan tâm đến
vấn đề này khi có luật có thể áp dụng được ngay hoặc trong trường hợp làm ăn với
đối tác nước ngoài có thể áp dụng.
+ Phân loại các khoản nợ quá hạn, tìm nguyên nhân của từng khoản nợ để có biện pháp xử lý thích hợp như gia hạn nợ, thỏa ước xử lý nợ, xóa một phần nợ cho khách
hàng hoặc yêu cầu tòa án giải quyết.
1.3.4. Quản lý dự trữ, hàng tồn kho
Đối với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thì dự trữ là yếu tố quan trọng quyết định việc doanh nghiệp có sản xuất được ổn định hay không. Do vậy việc quản lý tồn kho dự trữ đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng
12
TSLĐ. Để tối thiểu hóa chi phí tồn kho dự trữ nguyên vật liệu, nhiên liệu thì doanh nghiệp phải xác định được số lượng vật tư, hàng hóa tối ưu mỗi lần đặt mua sao cho vẫn đáp ứng được nhu cầu sản xuất. Ngoài ra doanh nghiệp cũng cần phải có những
biện pháp quản lý hữu hiệu để đảm bảo nguyên vật liệu trong kho không bị hư hỏng,
biến chất, mất mát.
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để xác định mức dự trữ tối ưu, công thức
chung để tính quy mô dự trữ tối ưu cho doanh nghiệp là:
Q* = √ 2 * D * C2 C1
Q*: Mức dự trữ tối ưu
D: Toàn bộ lượng hàng hóa cần sử dụng
C1: Chi phí lưu kho đơn vị hàng hóa (Chi phí bốc xếp, bảo quản, bảo hiểm…)
C2: Chi phí mỗi lần đặt hàng (Chi phí quản lý giao dịch và vận chuyển hàng hóa)
Sơ đồ 1.3. Sơ đồ mô hình EOQ
Chi phí
TC
C1
C2
Số lƣợng
Q*
Về mặt lý thuyết, người ta giả định khi nào lượng hàng hóa kì trước hết mới
nhập kho hàng hóa mới, nhưng thực tế hầu như không bao giờ như vậy. Sẽ có rủi ro
nếu hàng không về kho kịp, doanh nghiệp sẽ dự trữ thêm để hạn chế rủi ro nghĩa là đặt
hàng khi trong kho chưa hết hàng. Tuy vậy nếu đặt hàng quá sớm có thể làm tăng lượng hàng tồn kho và làm phát sinh nhiều chi phí. Chính vì vậy doanh nghiệp cần tìm ra được điểm đặt hàng hợp lý thông qua công thức:
= + Độ dài thời gian giao hàng Thời điểm đặt hàng mới Số lượng nguyên liệu sử dụng mỗi ngày
Thêm nữa doanh nghiệp còn phải quan tâm đến lượng dự trữ an toàn, dự trữ an toàn, nguyên vật liệu sử dụng hàng ngày không cố định mà biến đổi liên tục. Do đó để
đảm bảo tính ổn định trong sản xuất, doanh nghiệp phải duy trì một lượng hàng tồn 13
kho dự trữ an toàn. Lượng dự trữ an toàn tùy thuộc vào tình hình cụ thể của doanh
nghiệp. Lượng dự trữ an toàn là lượng hàng hóa dự trữ thêm vào lượng dự trữ tại thời
điểm đặt hàng. Ngoài phương pháp quản lý dự trữ theo mô hình đặt hàng hiệu quả nhất
(EOQ), một số doanh nghiệp còn sử dụng phương pháp cung cấp đúng lúc hay dự trữ bằng 0.
Các loại hàng hóa tồn kho còn có thể được phân loại theo mức độ quan trọng
tương xứng với giá trị của lượng vốn đầu tư cho chúng, đây là cách phân loại theo hệ
thống ABC. Trong kho, mỗi khu vực được chất một loại hàng (A, B hoặc C), được phân chia theo tỉ lệ phần trăm dựa vào giá trị và số lượng hàng hóa. Nhóm A bao gồm
những hàng hóa chỉ tạo thành khoảng 15% của danh mục tất cả các loại hàng, nhưng
chiếm khoảng 80% lượng vốn đầu tư của công ty. Đây là những hàng hóa có giá trị
cao và cũng là loại hàng tồn kho có thời gian quay vòng chậm nhất. Những hàng hóa nhóm B tạo thành 30% danh mục hàng hóa và chiếm khoảng 20% vốn đầu tư. Nhóm
C chiếm xấp xỉ 55% số lượng của danh mục hàng hóa nhưng chỉ chiếm khoảng 5% giá
trị vốn đầu tư.
Sơ đồ 1.4. Sơ đồ mô hình ABC
% Giá trị 100%
Nhóm A
80%
Nhóm B
20%
Nhóm C
5%
15%
30%
55%
% Số lƣợng
Phân chia hàng hóa tồn kho của doanh nghiệp thành các nhóm A, B và C là một
14
phương pháp rất hiệu quả để tách riêng những hàng hóa có giá trị cao và tập trung mọi nỗ lực kiểm soát chúng.
1.4. Hiệu quả sử dụng tài sản lƣu động.
1.4.1. Khái niệm về hiệu quả sử dụng tài sản lưu động trong doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì vấn đề
quan trọng nhất cần được quan tâm đến đó là tính hiệu quả. Chỉ khi hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì doanh nghiệp mới có thể tự trang trải chi phí đã bỏ ra, làm
nghĩa vụ với ngân sách nhà nước và quan trọng hơn là duy trì và phát triển quy mô
hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Hiệu quả kinh tế là kết quả tổng
hợp của một loạt các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các yếu tố bộ phận. Trong đó, hiệu quả sử dụng TSLĐ gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp cũng như hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó các doanh nghiệp phải luôn tìm mọi biện pháp để
nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ.
Hiệu quả sử dụng TSLĐ có vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, bởi khác với tài sản cố định, TSLĐ cần các biện pháp linh
hoạt, kịp thời phù hợp với từng thời điểm thì mới đem lại hiệu quả cao. Hiệu quả sử
dụng TSLĐ là một trong những căn cứ đánh giá năng lực sản xuất, chính sách dự trữ,
tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp và nó cũng có ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh
doanh cuối cùng của doanh nghiệp.
Có thể nói rằng mục tiêu lâu dài của mỗi doanh nghiệp là tối đa hóa giá trị tài
sản của chủ sở hữu. Việc quản lý sử dụng tốt TSLĐ sẽ góp phần giúp doanh nghiệp thực hiện được mục tiêu đã đề ra. Bởi vì quản lý TSLĐ không những đảm bảo sử dụng
TSLĐ hợp lý, tiết kiệm mà còn có ý nghĩa đối với việc hạ thấp chi phí sản xuất, thúc
đẩy việc tiêu thụ sản phẩm và thu tiền bán hàng, từ đó sẽ làm tăng doanh thu và lợi
nhuận của doanh nghiệp.
Tóm lại, hiệu quả sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp có thể hiểu là một phạm trù
kinh tế phản ánh trình độ khai thác và quản lý TSLĐ của doanh nghiệp, đảm bảo lợi
nhuận tối đa với số lượng TSLĐ sử dụng với chi phí thấp nhất. Nâng cao hiệu quả sử
dụng TSLĐ là yêu cầu tất yếu khách quan của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
1.4.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ trong doanh nghiệp.
Quá trình hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp là quá trình hình thành và sử dụng vốn kinh doanh. Ngày nay các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường yêu cầu về TSLĐ là rất lớn, có thể coi TSLĐ là nhựa sống tuần hoàn trong doanh nghiệp.
15
Để đánh giá trình độ quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, người ta sử dụng thước đo hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó. Hiệu quả sản xuất kinh doanh được đánh giá trên hai góc độ là hiệu quả kinh tế và hiệu
quả xã hội. Vì thế, việc nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ là yêu cầu mang tính bắt
buộc và thường xuyên đối với doanh nghiệp
- Xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp: Trong nền kinh tế thị trường,
các doanh nghiệp hoạt động với mục tiêu xuyên suốt là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Để đảm bảo mục tiêu này, doanh nghiệp thường xuyên phải đưa ra và giải quyết tập
hợp các quyết định tài chính dài hạn và ngắn hạn. Quản lý và sử dụng hiệu quả TSLĐ
là một nội dung trọng tâm trong các quyết định tài chính ngắn hạn và là nội dung có
ảnh hưởng lớn đến mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Với bản chất và định hướng mục tiêu như trên, doanh nghiệp luôn luôn tìm mọi biện pháp để tồn tại và phát
triển. Xuất phát từ vai trò to lớn đó khiến cho yêu cầu doanh nghiệp phải nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn nói chung và TSLĐ nói riêng là một yêu cầu khách quan, gắn
liền với bản chất của doanh nghiệp.
- Xuất phát từ vai trò quan trọng của tài sản lưu động: Trong nền kinh tế thị trường,
một doanh nghiệp muốn hoạt động kinh doanh thì cần phải có vốn. TSLĐ là một thành
phần quan trọng trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Trong khâu
dự trữ và sản xuất, TSLĐ đảm bảo cho sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành liên
tục, đảm bảo quy trình công nghệ, công đoạn sản xuất. Trong lưu thông, TSLĐ đảm
bảo dự trữ thành phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ được liên tục, nhịp nhàng và đáp ứng
nhu cầu tiêu thụ được liên tục, nhịp nhàng và đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Thời gian luân chuyển TSLĐ lớn khiến cho công việc quản lý và sử dụng TSLĐ luôn
luôn diễn ra thường xuyên, hàng ngày với vai trò to lớn như vậy, việc tăng tốc độ luân
chuyển TSLĐ, nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ trong doanh nghiệp là một yêu cầu
tất yếu.
- Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ: Nâng cao hiệu quả
sử dụng TSLĐ tức là có thể tăng tốc độ luân chuyển TSLĐ, rút ngắn thời gian tài sản
lưu động nằm trong lĩnh vực dự trữ, sản xuất và lưu thông, từ đó giảm bớt số lượng
TSLĐ chiếm dùng, tiết kiệm TSLĐ trong luân chuyển. Tăng tốc độ luân chuyển TSLĐ
có ảnh hưởng tích cực đối với việc hạ thấp giá thành sản phẩm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có đủ vốn thỏa mãn nhu cầu sản xuất và hoàn thành nghĩa vụ nộp các
khoản thuế cho ngân sách Nhà nước, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong cả nước.
- Xuất phát từ thực trạng hiệu quả sử dụng TSLĐ ở các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường: Trên thực tế, có rất nhiều nguyên nhân khiến một doanh nghiệp làm ăn
thiếu hiệu quả thậm chí thất bại trên thương trường. Có thể có các nguyên nhân chủ
16
quan, nguyên nhân khách quan, tuy nhiên một nguyên nhân phổ biến vẫn là việc sử dụng vốn không hiệu quả. Trong việc mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Điều này dẫn đến việc sử dụng lãng phí , tốc độ luân chuyển TSLĐ thấp, mức sinh lợi
kém và thậm chí có doanh nghiệp còn gây thất thoát không kiểm soát được TSLĐ dẫn
đến mất khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh, khả năng thanh toán. Xét từ góc độ
quản lý tài chính, yêu cầu cần phải nâng cao năng lực quản lý tài chính trong đó chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ là một nội dung quan trọng không chỉ đảm bảo
lợi ích riêng doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa chung đối với nền kinh tế quốc dân.
1.4.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động.
1.4.3.1. Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động
Tốc độ luân chuyển TSLĐ là một chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả sử dụng
TSLĐ của doanh nghiệp. Tốc độ luân chuyển TSLĐ nhanh hay chậm nói lên tình hình
tổ chức các mặt mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp có hợp lý hay
không, các khoản vật tư dự trữ sử dụng tốt hay không, các khoản phí tổn trong quá trình sản xuất kinh doanh cao hay thấp. Thông quá phân tích chỉ tiêu tốc độ luân
chuyển TSLĐ có thể giúp cho doanh nghiệp đẩy nhanh được tốc độ luân chuyển, nâng
cao hiệu quả sử dụng TSLĐ.
Vòng quay tài sản lưu động trong kỳ
Vòng quay TSLĐ trong kỳ = Doanh thu thuần TSLĐ trong kỳ
Đây là chỉ tiêu nói lên số lần quay vòng của TSLĐ trong một thời kì nhất định,
thường là một năm, chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động trên mối
quan hệ so sánh giữa kết quả sản xuất (tổng doanh thu thuần) và số TSLĐ bỏ ra trong
kỳ. Hay nói cách khác, chỉ tiêu vòng quay tài sản lưu động phản ánh trong một năm
TSLĐ của doanh nghiệp luân chuyển được bao nhiêu vòng hay một đồng TSLĐ trong
năm tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Số vòng quay tài sản lưu động trong
kì càng cao thì càng tốt.
Thời gian 1 vòng luân chuyển TSLĐ
= 360 Vòng quay TSLĐ trong kỳ Thời gian 1 vòng luân chuyển TSLĐ
Thời gian 1 vòng luân chuyển tài sản lưu động cho biết trong khoảng thời gian bao nhiêu ngày thì tài sản lưu động luân chuyển được một vòng. Chỉ tiêu này càng bé cho thấy tốc độ lưu chuyển tài sản lưu động càng nhanh.
Vòng quay hàng tồn kho
17
Giá vốn = Vòng quay hàng tồn kho Giá trị hàng tồn kho
Chỉ số này thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho hiệu quả như thế nào. Chỉ
số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và
hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều trong doanh nghiệp. Có nghĩa là doanh nghiệp sẽ
ít rủi ro hơn nếu nhìn thấy trong báo cáo tài chính, khoản mục hàng tồn kho có giá trị giảm qua các năm. Tuy nhiên chỉ số này quá cao cũng không tốt vì như thế có nghĩa là
lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất
có thể khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị
phần. Thêm nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến cho dây chuyền bị ngưng trệ. Vì vậy chỉ số vòng quay hàng tồn kho cần
phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất đáp ứng được nhu cầu khách hàng.
Kỳ luân chuyển hàng tồn kho
360 = Kỳ luân chuyển hàng tồn kho Vòng quay hàng tồn kho
Chỉ tiêu này cho biết một vòng quay của hàng tồn kho mất bao nhiêu ngày, hay
chính là số ngày tồn kho bình quân để từ hàng tồn kho chuyển thành doanh thu. Chỉ
tiêu này càng thấp, chứng tỏ hàng tồn kho vận động càng nhanh. Sự luân chuyển hàng
tồn kho càng nhanh thì sẽ giúp doanh nghiệp có thể giảm bớt được vốn dự trữ nhưng
vẫn đảm bảo vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tốt
hơn và ngược lại, sự luân chuyển vốn chậm thì doanh nghiệp sẽ phải mất nhiều vốn dự
trữ hơn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh.
Vòng quay các khoản phải thu
= Vòng quay các khoản phải thu Doanh thu thuần Các khoản phải thu
Đây là một chỉ số cho thấy tính hiệu quả của chính sách tín dụng mà doanh
nghiệp áp dụng đối với các bạn hàng. Chỉ số vòng quay càng cao sẽ cho thấy doanh
nghiệp được khách hàng trả nợ càng nhanh. Nhưng nếu so sánh với các doanh nghiệp
cùng ngành mà chỉ số này vẫn quá cao thì có thể doanh nghiệp sẽ bị mất khách hàng vì các khách hàng sẽ chuyển sang tiêu thụ sản phẩm của các đối thủ canh tranh cung cấp
thời gian tín dụng dài hơn và như vậy thì doanh nghiệp sẽ bị sụt giảm doanh số. Khi so sánh chỉ số này qua từng năm, nhận thấy sự sụt giảm thì rất có thể là doanh nghiệp đang gặp khó khăn với việc thu nợ từ khách hàng và cũng có thể là dấu hiệu cho thấy doanh số đã vượt quá mức.
Kỳ thu tiền bình quân
18
= Kỳ thu tiền bình quân 360 Vòng quay các khoản phải thu
Chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá khả năng thu hồi vốn trong thanh toán
trên cơ sở các khoản phải thu và doanh thu tiêu thụ bình quân một ngày. Nó cho biết
bình quân trong bao nhiêu ngày, doanh nghiệp có thể thu hồi các khoản phải thu của
mình. Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền trung bình càng nhỏ và ngược lại. Kỳ thu tiền trung bình cao hay thấp trong nhiều trường hợp chưa thể có kết
luận chắc chắn mà còn phải xem xét lại các mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp
như mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng.
Vòng quay các khoản phải trả
Giá vốn hàng bán + Chi phí quản lý, bán hàng = Vòng quay các khoản phải trả Các khoản phải trả + lương, thuế phải trả
Chỉ tiêu này cho biết bao nhiêu đồng chi phí của doanh nghiệp thì sẽ phát sinh
một đồng nợ.
Kỳ trả nợ bình quân
= Kỳ trả nợ bình quân 360 Vòng quay các khoản phải trả
Thời gian trả nợ bình quân một kỳ của doanh nghiệp, kể từ khi phát sinh đến
khi hoàn thành việc thanh toán.
Chu kỳ kinh doanh
Chu kỳ kinh doanh = + Kỳ thu tiền bình quân Kỳ luân chuyển hàng tồn kho
Chu kỳ kinh doanh là thời gian để doanh nghiệp hoàn thành các công tác từ sản
xuất đến bán hàng và cuối cùng là thu tiền về.
Thời gian luân chuyển tiền
= Chu kỳ kinh doanh – Kỳ trả nợ bình quân Thời gian luân chuyển tiền
Chỉ tiêu này cho biết khoảng thời gian kể từ khi các khoản tiền của doanh nghiệp được chi ra nhằm phục vụ các hoạt động của doanh nghiệp cho đến khi được
thu hồi lại. Thời gian này càng ngắn thì khả năng thanh khoản của doanh nghiệp càng
cao và ngược lại.
1.4.3.2. Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng
Mức tiết kiệm vốn lưu động
19
Mức tiết kiệm vốn lưu động cho ta biết được giá trị vốn lưu động tiết kiệm được khi số vòng luân chuyển vốn thay đổi. Để tính mức tiết kiệm người ta thường dùng 2 chỉ số tuyệt đối và tương đối. Kết quả từ 2 chỉ số này có sự chênh lệch với
nhau nhưng không lớn và có thể chấp nhận được. Để tính giá trị tuyệt đối ta dùng công
thức sau:
) * (KT – KS) VTuyệt đối = ( MT 360
VTuyệt đối: giá trị vốn lưu động tuyệt đối tiết kiệm được
MT: tổng lượng tiền luân chuyển năm trước
KS: Kỳ luân chuyển vốn lưu động năm sau
KT: Kỳ luân chuyển vốn lưu động năm trước
VTuyệt đối cho biết mức vốn lưu động giảm đi khi doanh nghiệp muốn giữ mức doanh thu không đổi nhờ vào việc tăng số vòng luân chuyển vốn lưu động. Hay nói cách
khác, nếu không tăng số vòng quay doanh nghiệp vẫn phải bỏ ra cùng 1 mức giá trị
vốn lưu động để có doanh thu như cũ, còn nếu tăng số vòng thì doanh nghiệp chỉ cần
một lượng vốn lưu động ít hơn.
Với giá trị tương đối ta có:
* (KT – KS) VTương đối = MS 360
VTương đối: giá trị vốn lưu động tương đối tiết kiệm được
MS: Tổng mức luân chuyển vốn lưu động năm sau
Để đạt được doanh thu MS trong năm báo cáo doanh nghiệp phải bỏ ra một lương vốn lưu động A nếu không tăng số vòng quay vốn. Nhưng nếu tăng số vòng quay thì doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được một lượng đúng bằng VTương đối so với A, hay lượng vốn thực tế doanh nghiệp phải bỏ ra chỉ là A – VTương đối
Hệ số đảm nhiệm tài sản lưu động
Tài sản lưu động Hệ số đảm nhiệm TSLĐ = Doanh thu thuần
Hệ số này cho biết để đạt được mỗi đơn vị doanh thu, doanh nghiệp phải sử
dụng bao nhiêu % đơn vị TSLĐ. Hệ số này càng thấp thì hiệu quả sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp càng cao, vì khi đó tỉ suất lợi nhuận của một đồng tài sản lưu động sẽ tăng lên.
Hệ số sinh lời tài sản lưu động
20
Hệ số sinh lời TSLĐ = Lợi nhuận sau thuế TSLĐ trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản lưu động có thể tạo ra được bao nhiêu
đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt. Mức doanh lợi tài sản lưu động càng
cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản lưu động càng cao.
Hệ số đảm nhiệm hàng tồn kho
Hàng tồn kho Hệ số đảm nhiệm hàng tồn kho = Tổng doanh thu
Chỉ tiêu này cho biết, doanh nghiệp muốn có được một đồng doanh thu thì phải
bỏ ra bao nhiêu đồng đầu tư vào hàng tồn kho. Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu
quả vốn đầu tư sử dụng cho hàng tồn kho càng cao.
1.4.3.3. Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán hiện hành
Tài sản lưu động = Khả năng thanh toán hiện hành Nợ ngắn hạn
Đây là chỉ số đo lường khả năng doanh nghiệp đáp ứng các nghĩa vụ tài chính
ngắn hạn. Nói chung thì chỉ số này ở mức 2-3 được xem là tốt. Chỉ số này càng thấp
ám chỉ doanh nghiệp sẽ gặp khóa khắn đối với việc thực hiện các nghĩa vụ của mình
nhưng một chỉ số thanh toán hiện hành quá cao cũng không luôn là dấu hiệu tốt bởi vì
nó cho thấy tài sản của doanh nghiệp bị cột chặt vào tài sản lưu động quá nhiều và như
vậy thì hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp là không cao.
khả năng thanh toán nhanh
Tài sản lưu động – Hàng tồn kho = Khả năng thanh toán nhanh Nợ ngắn hạn
Hệ số này cho biết khả năng thanh toán của tiền và các khoản phải thu nghĩa là
các tài sản có thể chuyển nhanh thành tiền đối với các khoản nợ ngắn hạn của doanh
nghiệp. Chỉ số thanh toán nhanh đo lường mức thanh khoản cao hơn. Chỉ những tài sản có tính thanh khoản cao mới được đưa vào để tính toán. Hàng tồn kho và các tài
sản ngắn hạn khác được bỏ ra vì khi cần tiền để trả nợ; tính thanh khoản của chúng rất thấp. Thông thường, hệ số thanh toán nhanh >1 được xem là hợp lý
Khả năng thanh toán tức thời
Tiền + Các khoản tương đương tiền = Khả năng thanh toán tức thời Nợ ngắn hạn
21
Hệ số này cho biết khả năng đáp ứng ngay các nhu cầu thanh toán đến hạn của doanh nghiệp. nói cách khác nó cho biết, cứ một đồng nợ ngắn hạn thì có bao nhiêu tiền mặt đảm bảo chi trả.
Các chỉ tiêu trên đây tuy không phản ánh trực tiếp hiệu quả sử dụng tài sản lưu
động nhưng nó cũng là những công cụ mà người quản lý tài chính cần xem xét để điều
chỉnh việc sử dụng tài sản lưu động sao cho đạt hiệu quả cao nhất.
1.4.4. Một số nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản lưu động.
1.4.4.1. Các nhân tố khách quan
Môi trường tự nhiên: là toàn bộ các yếu tố tự nhiên tác động đến doanh nghiệp. Nhân
tố này ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến quyết định quản lý TSLĐ của doanh nghiệp như
mức dự trữ. Sở dĩ như vậy là do tính mùa vụ của thị trường cung ứng lẫn thị trường tiêu thụ. Hơn nữa, khi điều kiện tự nhiên không thuận lợi thì doanh nghiệp sẽ phải chi
phí nhiều hơn cho công tác dự trữ (chi phí vận chuyển, bảo quản), từ đó làm giảm hiệu
quả sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp.
Môi trường chính trị - xã hội: Mỗi doanh nghiệp đều mong muốn có một sự ổn định, nhất quán lâu dài trong hệ thống luật pháp và các chính sách kinh tế để có thể yên tâm
đầu tư sản xuất. Chính vì vậy mà sự ổn định về chính trị sẽ là một điều kiện thuận lợi
cho kinh doanh. Bên cạnh đó, vì các hoạt động của doanh nghiệp đều hướng tới phục
vụ khách hàng tốt hơn nên các yếu tố xã hội như cơ cấu giới tính, cơ cấu độ tuổi, đời
sống văn hóa, phong tục tập quán, sở thích tiêu dùng của người dân cũng sẽ ảnh hưởng
đến hoạt động của doanh nghiệp.
Môi trường kinh doanh: có nhiều nhân tố trong môi trường kinh doanh có ảnh hưởng đến doanh nghiệp như
+ Biến động cung cầu hàng hóa: tác động vào khả năng cung ứng của thị trường đối
với nhu cầu nguyên vật liệu của doanh nghiệp hay khả năng tiêu thụ của doanh
nghiệp trên thị trường. Từ đó sẽ làm tăng hay giảm mức dự trữ của doanh nghiệp và
ảnh hưởng tới khả năng quay vòng của TSLĐ, đến mức sinh lợi.
+ Mức độ cạnh tranh trên thị trường: để đạt được hiệu quả hoạt động cao nhất trong
nền kinh tế thị trường thì mỗi doanh nghiệp phải có những biện pháp hấp dẫn hơn
so với đối thủ cạnh tranh như chấp nhận bán chịu, cung ứng đầu vào ổn định, chi phí thấp. như vậy doanh nghiệp sẽ phải đề ra các biện pháp, các chiến lược thích
hợp để tăng vòng quay TSLĐ và giảm chi phí, tăng lợi nhuận.
+ Sự điều chỉnh của chính sách kinh tế vĩ mô: bằng luật pháp kinh tế và các chính sách kinh tế, nhà nước thực hiện việc quản lý và điều tiết nguồn lực trong nền kinh tế, tạo môi trường và hành lang cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh
doanh theo định hướng nhất định. Chỉ một sự thay đổi nhỏ trong chế độ chính sách
22
hiện hành cũng có ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược kinh doanh và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói chung và hiệu quả sử dụng TSLĐ nói riêng.
+ Thông tin: hiện nay thông tin đã trở thành một yếu tố cực kì quan trọng tác động
đến mọi hoạt động của doanh nghiệp. Những thông tin chính xác, đầy đủ mà doanh
nghiệp nhận được sẽ là căn cứ quan trọng cho việc xây dựng chính sách quản lý
ngân quỹ, các khoản phải thu và dự trữ.
Môi trường khoa học công nghệ: sự phát triển của khoa học công nghệ không những
làm thay đổi chất lượng, số lượng sản phẩm mà còn làm phát sinh những nhu cầu mới,
khách hàng trở nên khó tính hơn. Ngoài ra nó còn ảnh hưởng đến tốc độ chu chuyển
tiền, các khoản dự trữ, tồn kho nhờ tăng năng suất, rút ngắn thời gian sản xuất. Do vậy các doanh nghiệp phải nắm được điều này để có biện pháp đầu tư đổi mới công nghệ
cho phù hợp.
1.4.4.2. Các nhân tố chủ quan
Ngoài các nhân tố khách quan nêu trên còn rất nhiều nhân tố chủ quan xuất phát từ bản thân doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng TSLĐ cũng như toàn
bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Trong đó phải kể đến
một số nhân tố chủ yếu sau:
Vấn đề xác định nhu cầu TSLĐ: do xác định nhu cầu TSLĐ thiếu chính xác dẫn đến
tình trạng thừa hoặc thiếu vốn trong sản xuất kinh doanh. Nếu thừa vốn sẽ gây lãng phí
còn nếu thiếu vốn thì lại không đảm bảo cho quá trình sản xuất. Điều này sẽ ảnh
hưởng không tốt đến quá trình hoạt động kinh doanh cũng như hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Việc lựa chọn phương án đầu tư: là một nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả
sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp đầu tư sản xuất ra những sản
phẩm lao vụ dịch vụ chất lượng cao, đồng thời giá thành hạ thì doanh nghiệp thực hiện
được quá trình tiêu thụ nhanh, tăng vòng quay của tài sản lưu động, nâng cao hiệu quả
sử dụng TSLĐ và ngược lại.
Do trình độ quản lý: trình độ quản lý của doanh nghiệp mà yếu kém sẽ dẫn đến thất
thoát vật tư hàng hóa trong quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, dẫn đến sử dụng lãng phí TSLĐ, hiệu quả sử dụng vốn thấp.
23
Do kinh doanh thua lỗ kéo dài, do lợi dụng sơ hở của các chính sách gây thất thoát TSLĐ, điều này trực tiếp làm giảm hiệu quả sử dụng TSLĐ.
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƢU ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH MỸ LAN
2.1. Giới thiệu về công ty TNHH Mỹ Lan
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
- Tên công ty: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Mỹ Lan - Địa chỉ: Số 42, Ngõ 124, Âu Cơ, Tây Hồ, Hà Nội - Mã số thuế: 0101245461 - Giám đốc: Nguyễn Như Mỹ - Hình thức sở hữu: Công ty Trách nhiệm hữu hạn
Với sự mở rộng nền kinh tế của nhà nước trong những năm qua, chất lượng cuộc sống
của người dân ngày càng được nâng cao và cải thiện, bên cạnh những nhu cầu thiết
yếu của cuộc sống, người dân ngày càng có yêu cầu cao hơn với trang trí nội thất và các thiết bị sử dụng trong đời sống sinh hoạt hằng ngày. Sớm nắm bắt được nhu cầu và
thị hiếu của quần chúng, công ty TNHH Mỹ Lan ngay từ khi mới thành lập đã tập
trung hướng đến phát triển và cung cấp thiết bị vệ sinh cao cấp, trang trí nội thất phòng
tắm, bếp cùng các dịch vụ tư vấn, lắp đặt cho thị trường tại Hà Nội. Được sở Kế hoạch
và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp giấy phép kinh doanh vào ngày 13 tháng 05 năm
2002, công ty là đơn vị hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân, được mở tài khoản tại
ngân hàng và có con dấu riêng. Với mục tiêu phát triển bền vững, hiệu quả và đúng đắn. Công ty đã tạo việc làm cho
16 cán bộ, công nhân viên, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống cho người lao
động. Công ty có đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn cao, nhân viên tư vấn giàu
kinh nghiệm được đào tạo bài bản, tác phong làm việc chuyên nghiệp, phương thức
phục vụ uy tín góp phần tạo nên sự hài lòng và tin tưởng của khách hàng. Trong quá
trình phát triển của mình, công ty luôn đề cao chất lượng, uy tín, đặt khách hàng và đối
tác lên hàng đầu nhằm tạo dựng chỗ đứng trên thị trường hiện nay.
2.1.2. Lĩnh vực kinh doanh của công ty
Công ty TNHH Mỹ Lan hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực kinh doanh thiết bị vệ sinh,
gạch ốp lát. Thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty tập trung tại thành phố Hà Nội bao gồm các khách hàng cá nhân và các đại lý bán buôn. Là nhà phân phối của những thương hiệu nổi tiếng hàng đầu trong lĩnh vực thiết bị vệ sinh như Inax, American Standard, Toto và nhiều thương hiệu khác. Các sản phẩm của công ty khá đa dạng, từ các thiết bị phòng bếp như máy hút bụi, các loại bếp gas, bếp hồng ngoại, bếp điện…
24
đến các thiết bị phòng tắm như bình nước nóng lạnh, bồn tắm…. Ngoài hoạt động buôn bán chính kể trên, công ty còn tham gia vào lĩnh vực thiết kế, xây dựng và lắp đặt nội thất cho các công trình phòng tắm, nhà bếp nếu khách hàng có nhu cầu.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của công ty
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy công ty
Giám Đốc
Phó Giám Đốc
Phòng Hành Phòng Tài Phòng Kinh Phòng Kỹ Chính – Kế Doanh Thuật Vật Tư Chính Tổng Hợp Toán
Giám đốc điều hành: là người điều hành mọi hoạt động kinh doanh hằng ngày của
công ty, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ
được giao. Giúp việc cho giám đốc là các phó giám đốc và các trưởng phòng.
Phó giám đốc: công ty có 1 phó giám đốc có nhiệm vụ giúp giám đốc quản lý điều
hành một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực được giám đốc phân công, chịu trách nhiệm
trước giám đốc và trước pháp luật về lĩnh vực mình được phân công phụ trách.
Phòng tài chính – kế toán: có nhiệm vụ lập kế hoạch sử dụng và quản lý nguồn tài
chính của công ty, phân tích các hoạt động kinh tế, tổ chức công tác hạch toán kế toán
theo đúng chế độ kế toán và quản lý tài chính của nhà nước, tổng hợp, phân tích và lập
báo cáo tình hình hoạt động và tình hình kinh doanh tháng, quý, 6 tháng, cả năm theo
yêu cầu của ban giám đốc. Tổ chức phổ biến, hướng dẫn các đơn vị trong công ty và
thi hành kịp thời các chế độ về tài chính kế toán của công ty và nhà nước.
Phòng kỹ thuật vật tư: chịu trách nhiệm kiểm tra, theo dõi, đôn đốc và tham mưu giúp ban giám đốc về lĩnh vực quản lý, sử dụng phương tiện, máy móc, thiết bị, vật tư trong
toàn công ty. Tham mưu công tác xây dựng quy định các phương pháp thử nghiệm và kiểm tra chất lượng của nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ và hàng hóa mua về. Kết hợp với các bộ phận liên quan xây dựng và thực hiện nội dung chương trình đào tạo, tổ chức thi nâng bậc kỹ thuật cho nhân viên hàng năm.
Phòng hành chính – tổng hợp: có chức năng xây dựng phương án kiện toàn bộ máy tổ
25
chức trong công ty, quản lý nhân sự và thực hiện các công tác hành chính quản trị. Tiếp nhận hồ sơ và quản lý hồ sơ người lao động, đánh giá sử dụng lao động và thực
hiện các quyền lợi của người lao động. Đảm bảo cho đời sống cán bộ công nhân viên
được đầy đủ về tinh thần.
Phòng kinh doanh: có chức năng xây dựng kế hoạch tháng, quý, năm về chiến lược
kinh doanh, phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Có nhiệm vụ căn cứ vào các thông tin trên thị trường để xây dựng giá thành, tham mưu cho ban giám đốc
công ty giao chỉ tiêu kinh doanh, theo dõi, thúc đẩy tiến độ thực hiện kế hoạch kinh
doanh và chương trình công tác của công ty. Ngoài ra tổng hợp, phân tích và lập báo
cáo tình hình hoạt động và tình hình kinh doanh tháng, quý, 6 tháng, cả năm và theo yêu cầu của ban giám đốc công ty. Lập các báo cáo về tình hình hoạt động và kinh
doanh theo yêu cầu của cấp trên. Thu thập, phân tích, tổng hợp thông tin thị trường,
xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch tiếp thị, quảng cáo của công ty. Quản lý hệ
thống kỹ thuật, ứng dụng công nghệ kỹ thuật, thông tin trong công tác quản lý và hoạt động kinh doanh của công ty.
2.2. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty TNHH Mỹ Lan
2.2.1. Kết quả kinh doanh của công ty
Doanh thu: Dựa vào bảng 2.1 về báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, có thể thấy
tổng doanh thu mà công ty Mỹ Lan đạt được từ năm 2011 đến 2013 không có sự ổn
định. Năm 2011, công ty có được tổng doanh thu là 1,62 tỷ đồng, một con số khả quan
đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh kinh tế hiện tại. Thế nhưng, đến năm 2012, con số này lại chỉ còn 1,12 tỷ, tức giảm 499.426.819 đồng so với năm 2011,
tưởng ứng mức giảm 30,73%. Sự sụt giảm này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác
nhau, như việc công ty phải chịu sự cạnh tranh từ những doanh nghiệp lớn đã và đang
có được nhiều uy tín với khách hàng trên thị trường, các doanh nghiệp mới thành lập
đang cố gắng thu hút thêm khách hàng thông qua nhiều phương cách, mức giá ưu đãi
khác nhau. Sự cạnh tranh này khiến cho công ty không thể tăng giá bán sản phẩm lên
thêm để tăng lợi nhuận dù mức giá vốn hàng bán phải bỏ ra trong năm 2012 đã tăng
hơn so với năm trước. Chưa kể trong tình hình lạm phát vẫn ở mức cao, dù nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách kiềm chế lạm phát trong năm, đã khiến giá cả nhiều mặt
hàng thiết yếu trên thị trường gia tăng. Tiền lương, thưởng thì không tăng mấy khiến người dân phải thắt chặt chi tiêu, nhu cầu cho những mặt hàng thiết bị vệ sinh, gia dụng mà công ty đang kinh doanh vì thế càng giảm khiến hoạt động buôn bán của công ty gặp nhiều khó khăn hơn.
Đến năm 2013, doanh thu lại có sự biến động lớn và đạt được con số 2,3 tỷ đồng, tăng
26
hơn 1.183.222.647 đồng so với năm 2012 tương ứng với mức tăng 105,11% . Có được sự tăng trưởng mạnh này là do công ty ngoài việc duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh còn đã nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ của mình, giúp tạo dựng được
Bảng 2.1. Bảng báo cáo kết quả kinh doanh
Đơn vị tính: đồng
Chênh lệch 2011-2012 Chênh lệch 2012-13 Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Tuyệt đối Tƣơng đối (%) Tuyệt đối Tƣơng đối (%)
Doanh thu 1.625.109.727 1.125.682.908 2.308.905.555 -499.426.819 -30,73 1.183.222.647 105,11
Doanh thu thuần 1.625.109.727 1.125.682.908 2.308.905.555 -499.426.819 -30,73 1.183.222.647 105,11
Giá vốn hàng bán 1.314.545.126 1.031.552.847 1.922.251.021 -282.992.279 -21,52 890.698.174 86,34
Lợi nhuận gộp 310.564.601 94.130.061 386.654.534 -216.434.540 -69,69 292.524.473 75,65
Doanh thu hoạt động TC 5.159.491 944.182 2.156.881 -4.215.309 -81,7 1.212.699 128,43
Chi phí tài chính 511.950 301.400 885.940 -210.550 -41,12 584.540 193,9
Chi phí quản lý DN 299.711.651 227.306.969 371.977.581 -72.404.682 -24,15 144.670.612 63,64
Lợi nhuận thuần 15.500.491 -132.534.126 15.947.894 -148.034.617 -955,03 148.482.020 112,03
Thu nhập khác 24.545.455 0 0 -24.545.455 -100 0 0
Chi phí khác 25.454.545 0 0 -25.454.545 -100 0 0
Lợi nhuận khác -909.090 0 0 909.090 100 0 0
Lợi nhuận trƣớc thuế 14.591.401 -132.534.126 15.947.894 -147.125.527 -1.008,3 148.482.020 112,03
Lợi nhuận sau thuế 12.037.906 -132.534.126 11.960.920 -144.572.032 -1.200,9 144.495.046 109,02
27
(Nguồn: Phòng Tài chính – Kế toán)
uy tín và lòng tin từ nhiều khách hàng. Việc mở rộng chính sách bán chịu cho khách
hàng trong năm 2012, dù khiến công ty gặp nhiều rủi ro hơn nhưng cũng đã làm tăng
được số lượng khách hàng lên đáng kể. Bên cạnh đó, công ty còn đưa ra nhiều chính
sách ưu đãi đối với khách hàng như: tặng kèm sản phẩm, bảo hành, giúp thu hút được thêm nhiều khách hàng.
Giá vốn hàng bán: Giá vốn hàng bán là một trong những yếu tố quan trọng thiết yếu,
có tác động đến lợi nhuận của công ty. Nó có quan hệ ngược chiều với lợi nhuận, giá
vốn hàng bán tăng sẽ làm cho lợi nhuận giảm và ngược lại. Năm 2012 giá vốn hàng bán của công ty giảm 282.992.279 đồng, giảm 21,52% so với năm 2011. Năm 2013,
giá vốn hàng bán là 1.922.251.021 đồng, tăng hơn năm trước 86,3%. Nhìn chung, Nếu
như năm 2011, cứ 100 đồng doanh thu thuần của công ty cần phải bỏ ra 80,88 đồng
giá vốn thì sang đến năm 2012, số tiền phải bỏ ra là 91,63 đồng và năm 2013 là 83,25 đồng. Việc giá vốn hàng bán tăng là vì giá vật liệu và hàng hóa do các cơ sở cung cấp
nguồn hàng tăng nhiều hơn so với mức giá bán ra các hàng hóa đó của công ty. Ngoài
ra, việc doanh thu của công ty tăng hay giảm cũng là một nguyên nhân dẫn đến sự thay
đổi của giá vốn hàng bán. Sự biến đổi liên tục của mức giá vốn hàng bán như thế này
cũng cho thấy công ty vẫn còn phụ thuộc nhiều vào các đơn vị cung ứng. Vẫn chưa có
được các biện pháp cần thiết như đa dạng hóa mặt hàng kinh doanh, đầu tư vào lĩnh
vực khác để kiểm soát giá vốn, nâng cao lợi nhuận cho công ty.
Doanh thu từ hoạt động tài chính: Doanh thu từ hoạt động tài chính bao gồm lãi tiền
gửi ngân hàng, lãi do bán hàng trả chậm và hưởng chiết khấu thanh toán. Ở đây, doanh
thu hoạt động tài chính của công ty là lãi từ tiền gửi, tiền cho vay. Năm 2012, doanh
thu từ hoạt động tài chính chỉ đạt 944.182 đồng, giảm 4.215.309 đồng, tương ứng giảm
81,7% so với năm 2011. Năm 2013 thì ngược lại, tăng 128,4%, tức 1.212.699 đồng.
Việc tăng doanh thu từ hoạt động tài chính năm 2013 cũng giúp tăng một phần nhỏ
doanh thu của công ty.
Chi phí tài chính: Chi phí tài chính của công ty chủ yếu là các khoản chi phí phát sinh
trong hoạt động cho vay của công ty và chi phí cho các hoạt động giao dịch gửi, rút tiền với ngân hàng. Năm 2012, khoản chi phí này của công ty giảm 210.550 đồng,
tương ứng với mức giảm 41,12% . năm 2013, chi phí này của công ty tăng thêm 584.540 đồng, tương ứng với mức tăng 193,9%.
Chi phí quản lý doanh nghiệp: Chi phí quản lý doanh nghiệp trong năm 2012 giảm 72.404.682 đồng tức giảm 24,15% so với năm 2011. Có sự sụt giảm này là do doanh
thu trong năm 2012 giảm khiến công ty phải cắt bớt các khoản tiền thưởng, trợ cấp cho
28
nhân viên và nhiều chi phí khác, việc làm này tuy có thể khiến nhiều nhân viên cảm thấy không hài lòng nhưng là cách cần thiết để giúp công ty cắt giảm chi phí trong giai
đoạn khó khăn. Năm 2013, cùng với việc doanh thu tăng cao, công ty đã quyết định
đầu tư thêm trang thiết bị phục vụ văn phòng, đồng thời duy trì các khoản tiền thưởng,
trợ cấp. Điều này có tác động thúc đẩy tinh thần làm việc và trách nhiệm của công
nhân viên đối với công việc của mình. Tuy vậy, để kiểm soát chi phí quản lý doanh nghiệp tốt hơn, công ty nên đưa ra quy định tránh sự lãng phí, giảm thiểu những chi
phí không cần thiết khác.
Lợi nhuận sau thuế: Năm 2012, trong tình hình nền kinh tế đất nước gặp nhiều khó
khăn, lạm phát vẫn còn ở mức cao khiến công ty cũng bị rơi vào tình trạng kinh doanh thua lỗ như nhiều doanh nghiệp khác khi mức lợi nhuận sau thuế là -132.534.126.
Sang năm 2013, Mức lợi nhuận sau thuế của công ty đạt 11.960.920 đồng, nhìn chung
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đã đạt hiệu quả hơn so với năm 2012,
doanh thu là lợi nhuận đều tăng cho thấy việc kinh doanh đã có hiệu quả trở lại và quản lý chi phí tốt hơn.
2.2.2. Quy mô và cơ cấu tài sản-nguồn vốn của công ty
100%
17.36%
18.21%
30.54%
80%
60%
Tài sản cố định
82.64%
Tài sản lưu động
81.79%
40%
69.46%
20%
0%
2011
2012
2013
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu tài sản
Nhìn vào bảng 2.2 có thể thấy, Mỹ Lan là một công ty chưa có sự tăng trưởng
bền vững về tài sản trong nhiều năm qua. Từ mức tổng tài sản hơn 1,3 tỉ năm 2011 tăng vọt lên hơn 2,3 tỉ năm 2012, tương ứng với mức tăng 72,12%, thế nhưng đến năm 2013, tổng tài sản của công ty lại đi xuống với mức giảm 448.145.347 đồng, tức giảm 18,7%. Qua biểu đồ 2.1 ở trên, có thể thấy sự gia tăng về tổng tài sản trong những năm qua chủ yếu là do tài sản lưu động của công ty đã tăng lên đáng kể từ 964.921.144
29
đồng năm 2011 lên đến 1.955.594.598 đồng năm 2012. Tỉ trọng TSLĐ của năm 2011 là 69,46% tức là trong 100 đồng tổng tài sản thì có 69,46 đồng TSLĐ, trong các năm
tiếp theo, con số này lần lượt là 81,79% và 82,64%, trong khi TSCĐ, chủ yếu là tài sản
cố định phục vụ cho hoạt động quản lý công ty, lại chiếm tỉ trọng tương đối thấp và có
xu hướng giảm dần. Điều này cho thấy công ty đang tập trung vào đầu tư ngắn hạn và
nó phù hợp với loại hình kinh doanh chủ yếu là thương mại của công ty. Ngoài ra, công ty là loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ nên trong tình hình kinh tế đầy biến
động, việc huy động vốn không phải là việc dễ dàng, do đó công ty sẽ ưu tiên đầu tư
cho TSLĐ nhiều hơn là đầu tư TSCĐ vì tính lỏng của TSLĐ lớn hơn TSCĐ.
100%
36.96%
80%
46.10%
73.16%
60%
Vốn CSH
Nợ
40%
63.04%
53.90%
20%
26.84%
0%
2011
2012
2013
Biểu đồ 2.2. Cơ cấu nguồn vốn
Tương tự như tài sản, nguồn vốn của công ty cũng có nhiều biến động khi tăng
hơn 1 tỉ trong năm 2012 và giảm 448 triệu trong năm kế tiếp. Nhìn một cách tổng quát,
nguồn vốn chủ sở hữu có xu hướng giảm dần trong 3 năm cả về số lượng lẫn tỉ trọng,
từ 1.016.306.588 đồng năm 2011 (73,16%) xuống còn 895.733.382 đồng năm 2013
(46,1%).Trong khi đó, khoản nợ phải trả lại tăng khá mạnh sau 3 năm. Năm 2012, tỉ
trọng nợ của công ty chiếm 63,04% tức là 100 đồng vốn của công ty được hình thành
từ 63,04 đồng nợ, tăng mạnh hơn 36,2% so với năm 2011. Năm 2013, con số này giảm
9,14 %, tức cứ 100 đồng vốn của công ty được hình thành từ 53,9 đồng nợ. Tỉ trọng nợ
30
cao cho thấy mức độ tài trợ tài sản hiện có của doanh nghiệp phải phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn từ bên ngoài, dẫn tới công ty luôn phải chịu nhiều sức ép tăng doanh thu để trả các chi phí lãi vay và nợ gốc đúng hạn. Tuy vậy, việc tỉ trọng nợ giảm trong năm 2013 cũng cho thấy công ty đang có những nỗ lực nhằm giảm bớt sự phụ thuộc, tăng cường tính tự chủ.
Bảng 2.2. Bảng cân đối kế toán
Đơn vị tính: Đồng
Chênh lệch 2011-2012 Chênh lệch 2012-13 Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Tuyệt đối Tƣơng đối (%) Tuyệt đối Tƣơng đối (%)
Tài sản ngắn hạn 964.921.144 1.955.594.598 1.605.685.615 990.673.454 102,6 -349.908.983 -17,89
Tiền 430.072.438 717.313.270 671.583.716 287.240.832 66,78 -45.729.554 -6,37
Phải thu ngắn hạn 447.825.950 1.036.237.031 747.230.531 588.411.081 131,4 -289.006.500 -27,88
Hàng tồn kho 87.022.756 202.044.297 186.871.368 115.021.541 132,2 -15.172.929 -7,51
Tài sản dài hạn 424.222.016 435.387.420 337.151.056 11.165.404 2,63 -98,236,364 -22,56
TSCĐ 361.752.020 366.467.425 257.421.970 4.715.405 1,3 -109.045.455 -29,75
Tổng tài sản 1.389.143.160 2.390.982.018 1.942.836.671 1.001.838.858 72,12 -448.145.347 -18,74
Nợ phải trả 372.836.572 1.507.209.556 1.047.103.289 1.134.372.984 304,25 -460.106.267 -30,52
Nợ ngắn hạn 372.836.572 1.507.209.556 1.047.103.289 1.134.372.984 304,25 -460.106.267 -30,52
Vốn chủ sở hữu 1.016.306.588 883.772.462 895.733.382 -132.534.126 -13,04 11.960.920 1,35
Vốn góp của chủ 1.016.306.588 883.772.462 895.733.382 -132.534.126 -13,04 11.960.920 1,35
Lợi nhuận giữ lại 16.306.588 -116.227.538 -104.266.618 -132.534.126 -812,76 11.960.920 10,3
Tổng nguồn vốn 1.389.143.160 2.390.982.018 1.942.836.671 1.001.838.858 72,12 -448.145.347 -18,74
31
(Nguồn: Phòng Tài chính – Kế toán)
2.2.3. Một số chỉ tiêu cơ bản đánh giá kết quả kinh doanh của công ty
Bảng 2.3. Các chỉ số về khả năng sinh lời
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Đơn vị tính
Lợi nhuận sau thuế Đồng 12.037.906 -132.534.126 11.960.920
Doanh thu thuần Đồng 1.625.109.727 1.125.682.908 2.308.905.555
Tổng tài sản Đồng 1.389.143.160 2.390.982.018 1.942.836.671
Vốn chủ sở hữu Đồng 1.016.306.588 883.772.462 895.733.382
% ROS 0,74 -11,77 0,52
% ROA 0,87 -5,54 0,62
% ROE 1,18 -15 1,34
Tỉ suất sinh lời trên doanh thu (ROS): chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng doanh thu
trong kỳ phân tích thì thu về bao nhiêu đồng lợi nhuận, tỉ suất này càng cao thì chứng
tỏ doanh nghiệp càng có lãi. Năm 2011, mỗi 100 đồng doanh thu thuần của công ty tạo
ra được 0,74 đồng lợi nhuận sau thuế. Có nghĩa là để tạo ra được 1 đồng lợi nhuận sau
thuế, công ty cần phải có 135 đồng doanh thu thuần. Năm 2012, chỉ số này nhận giá trị
âm do công ty kinh doanh thua lỗ, mà nguyên nhân bắt nguồn từ việc công ty phải
chịu sự cạnh tranh từ các đối thủ trên thị trường và nhu cầu của khách hàng cho các
sản phẩm của công ty giảm sút. Mức tăng giá bán sản phẩm và nguồn thu từ các hoạt
động kinh doanh khác lại không đủ để bù đắp cho những khoản chi phí vốn tăng cao.
Sang đến năm 2013, Mặc dù các hoạt động kinh doanh của công ty dần được khôi
phục trở lại, doanh thu thuần tăng cao hơn so với cả 2 năm trước nhưng các chi phí
hoạt động của công ty lại tăng cao, khiến lợi nhuận sau thuế của công ty giảm so với
năm 2011 và chỉ tiêu ROS chỉ đạt mức 0,52%, tức 100 đồng doanh thu thuần thu về được 0,52 đồng lợi nhuận. Nhìn chung, nếu so sánh trong cả 3 năm đã qua, chỉ tiêu
này vẫn thể hiện xu hướng đi xuống, cho thấy công ty cần có những biện pháp quản lý tốt hơn nữa nhằm giảm thấp chi phí để gia tăng lợi nhuận sau thuế.
Tỉ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA): chỉ tiêu này thể hiện tính hiệu quả của quá trình tổ chức, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Kết quả chỉ tiêu cho biết bình quân cứ một đồng tài sản được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh
doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Nếu như trong năm 2011, chỉ số này đạt mức 0,87% , tức 100 đồng tài sản của công ty tạo ra được 0,87 đồng lợi nhuận thì đến năm 2012 lại tụt xuống con số âm mà nguyên nhân chính bắt nguồn từ việc hoạt 32
động kinh doanh thua lỗ của công ty, lượng tài sản của công ty gia tăng đáng kể, trong
đó lượng tài sản ngắn hạn bao gồm các khoản mục tiền, phải thu khách hàng, hàng tồn
kho tăng mạnh. Sang năm 2013, tỉ suất sinh lời trên tổng tài sản của công ty tăng trở
lại lên mức 0,62%, tức 100 đồng tổng tài sản của công ty tạo ra được 0,62 đồng lợi nhuận. Để đạt được điều này, bên cạnh kết quả kinh doanh đã khởi sắc trở lại còn phải
thấy rằng công ty đã có những nỗ lực trong hoạt động quản lý tài sản của mình, đặc
biệt là tài sản ngắn hạn. Tuy vậy, nhìn chung sau 3 năm, chi tiêu này vẫn có sự đi
xuống và cho thấy công ty ngoài việc tập trung vào mục tiêu lợi nhuận cũng cần phải quan tâm hơn nữa đến việc tổ chức sử dụng tài sản của mình.
Tỉ suất sinh lời trên tổng vốn chủ sở hữu (ROE): chỉ tiêu này cho biết số lợi nhuận
được thu về cho các chủ sở hữu doanh nghiệp sau khi họ đầu tư một đồng vốn vào sản
xuất kinh doanh. Tỉ suất này của công ty giữ ở mức 1,18% năm 2011 tức 100 đồng vốn chủ sở hữu tạo ra được 1,18 đồng lợi nhuận. Tuy nhiên đến năm 2012, tỉ suất này
lại nhận giá trị âm mà nguyên nhân chủ yếu đã được đề cập từ trước là do công ty làm
ăn thua lỗ. Thông qua biểu đồ 2.2 và bảng 2.3, có thể thấy mặc dù lợi nhuận sau thuế
của công ty năm 2013 thấp hơn so với 2011 nhưng cơ cấu nguồn vốn của công ty lại
có sự thay đổi lớn khi vốn chủ sở hữu từ mức tỉ trọng 73,16% năm 2011 giảm xuống
còn 46,1% năm 2013, nhờ đó tỉ suất ROE của năm 2013 tăng cao hơn năm 2011, lên
mức 1,34% tức 100 đồng vốn chủ sở hữu tạo ra được 1,34 đồng lợi nhuận. Nhìn chung tỉ suất này của công ty vẫn ở mức thấp và nguồn vốn mà công ty bỏ ra vẫn chưa được
sử dụng một cách có hiệu quá.
2.3. Thực trạng hiệu quả sử dụng TSLĐ tại công ty TNHH Mỹ Lan
2.3.1. Phân tích quy mô & cơ cấu tài sản lưu động
2,500
1,955.59
2,000
1,605.69
1,500
964.92
1,000
500
0
2011
2012
2013
33
Biểu đồ 2.3. Quy mô tài sản lƣu động
Bảng 2.4. Tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSLĐ của công ty
Đơn vị tính: Đồng
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Chỉ tiêu Tỷ Tỷ Tăng so Tỷ Tăng so Tăng so Số tiền Số tiền Số tiền trọng trọng với 2011 trọng với 2011 với 2012
964.921.144 100% 1.955.594.598 100% 102,6% 1.605.685.615 100% 66,4% -18% Tổng tài sản lƣu động
430.072.438 44,57% 717.313.270 36,7% 67% 671.583.716 41,8% 56,15% -6,4% I. Tiền
1. Tiền mặt 17.792.993 1,84% 44.688.325 2,3% 151% 12.563.268 0,8% -29,4% -71,8%
2. Tiền gửi ngân hàng 412.279.445 42,73% 673.624.945 34,4% 63,4% 659.020.448 41% 59,8% -2,16%
447.825.950 46,41% 1.036.237.031 53% 131,4% 747.230.531 46,5% 67% -28% II. Khoản phải thu ngắn hạn
1. Phải thu khách hàng 423.107.950 43,85% 1.031.830.931 52,7% 144% 742.824.431 46,2% 75,6% -28%
2. Trả trước cho người bán 24.718.000 2,56% 0 0% -100% 0 0% -100% 0%
4. Các khoản phải thu khác 0% 4.406.100 0,4% 4.406.100 0,3% 0% - 0 -
87.022.756 9,02% 202.044.297 10,3% 132,2% 186.871.368 11,7% 115% -7,5% III. Hàng tồn kho
1. Nguyên liệu, vật liệu 0% 105.021.541 5,4% 0 0% 0% -100% 0 -
2. Chi phí SX, KD dở dang 87.022.756 9.02% 97.022.756 4,9% 11,5% 52.636.368 3,34% -39,5% -45,7%
3. Hàng hóa 0% 0 0% 0% 134.235.000 8,36% - - 0
34
(Nguồn: Phòng Tài chính – Kế toán)
Tài sản lưu động của công ty TNHH Mỹ Lan bao gồm có tiền mặt, tiền gửi tại
ngân hàng, các khoản phải thu ngắn hạn và hàng hóa tồn kho. Là một doanh nghiệp
hoạt động chính trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, tài sản lưu động luôn chiếm tỉ
trọng lớn trong tổng tài sản của công ty. Qua bảng số liệu 2.4 và biểu đồ 2.3, ta có thể thấy quy mô tài sản lưu động của công ty Mỹ Lan có nhiều biến động trong 3 năm trở
lại đây. Từ mức 964.921.144 đồng năm 2011, trong đó chủ yếu là tiền và các khoản
phải thu ngắn hạn, đã tăng lên mức 1.955.594.598 đồng năm 2012, tương ứng với mức
tăng 102,6% so với năm 2011. Nguyên nhân của sự gia tăng mạnh này là do công ty trong năm 2012 đã thực hiện nới lỏng chính sách bán chịu của mình nhằm thu hút
thêm khách hàng trong tình hình hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó khăn. Năm
2013, lượng tài sản lưu động của công ty đã có sự điều chỉnh và giảm xuống mức
1.605.685.615 đồng, tức giảm 18% so với năm 2012, do công ty đã tăng cường thu hồi các khoản nợ của khách hàng nhằm giảm thiểu rủi ro. Công ty hiện không có khoản
đầu tư tài chính ngắn hạn nào.
Bảng 2.4 cho ta thấy trong tổng tài sản lưu động của công ty Mỹ Lan hiện nay,
chỉ tiêu chiếm tỉ trọng lớn nhất là khoản phải thu ngắn hạn và sau đó là khoản mục
tiền. Tỉ trọng khoản phải thu và tiền chiếm rất lớn trong cơ cấu tài sản lưu động với
mức tỉ trọng khoảng trên dưới 90%. Năm 2011, khoản phải thu ngắn hạn chỉ chiếm
46,41% trong tỉ trọng tài sản lưu động còn hàng tồn kho chiếm 9,02%. Mức tỉ trọng của hàng tồn kho nhìn chung tăng dần sau 3 năm trong khi tỉ trọng của các chỉ tiêu còn
lại có nhiều biến động và thay đổi. Việc hai mục khoản phải thu và tiền luôn chiếm tỉ
trọng lớn trong tài sản lưu động của công ty là một điều hợp lý vì My Lan một đơn vị
kinh doanh thương mại, công ty luôn cần phải tìm kiếm cũng như duy trì lượng khách
hàng lớn truyền thống thông qua hoạt động mua bán chịu, cũng như luôn phải duy trì
một lượng tiền mặt tại công ty nhằm đảm bảo khả năng thanh toán trong các hoạt động
giao dịch của mình.
2.3.2. Nội dung quản lý tài sản lưu động
2.3.2.1. Quản lý tài sản tiền
Tài sản tiền có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nó không những đáp ứng kịp thời cho các nhu cầu chi tiêu của doanh nghiệp, mà còn giúp doanh nghiệp tăng được khả năng thanh toán, sự an toàn trong hoạt động kinh doanh. Tuy vậy để xác định xem lượng tài sản tiền mà công ty cần là bao nhiêu không phải là một việc dễ dàng. Một lượng tiền mặt hợp lý phải đáp ứng đủ các nhu
cầu chi tiêu của doanh nghiệp, đồng thời cũng phải có sự thay đổi tăng giảm sao cho
35
phù hợp với từng khoảng thời gian nhất định.
Bảng 2.5. Tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền
Đơn vị: Đồng
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Chỉ tiêu Tỉ Tỉ Tỉ Số tiền Số tiền Số tiền trọng trọng trọng
Tiền mặt 17.792.993 4,1% 44.688.325 6% 12.563.268 1,9%
Tiền gửi 412.279.445 95,9% 673.624.945 94% 659.020.448 98,1% ngân hàng
Tiền 430.072.438 100% 717.313.270 100% 671.583.716 100%
Từ bảng 2.4 và bảng 2.5, có thể thấy chỉ riêng năm 2012, các khoản tiền của
công ty đã có sự tăng lên nhanh chóng với mức tăng 67% so với năm 2011, từ
430.072.438 đồng lên 717.313.270 đồng, trong đó lượng tiền mặt đã tăng thêm 151%
lên 44.688.325 đồng. Tuy vậy nếu so sánh về mức tỉ trọng, các khoản mục tiền lại có
sự sụt giảm so với năm trước còn các khoản phải thu của công ty lại tăng lên. Nếu như
năm 2011, tiền và các khoản tương đương tiền chiếm tỉ trọng 44,57% thì sang đến năm
2012, tỉ trọng này giảm xuống còn 36,7%. Điều này là phù hợp tình hình hoạt động
của Mỹ Lan trong năm 2012 khi công ty thực hiện việc nới lỏng các chính sách bán
chịu của mình nhằm thu hút thêm khách hàng đồng thời cần thêm lượng tiền mặt lớn nhằm đảm bảo khả năng thanh toán hơn. Năm 2013, khi công ty thực hiện việc cắt
giảm các khoản phải thu nhằm hạn chế rủi ro, qua đó khiến tỉ trọng các khoản phải thu
giảm xuống, trong khi tỉ trọng của tài sản tiền lại tăng nhẹ lên mức 41,8%. các khoản
tiền, đặc biệt là lượng tiền mặt trong công ty vì thế cũng giảm theo với mức giảm
71,8% so với năm 2012. Trong khoản mục tiền của công ty, tiền gửi ngân hàng chiếm
tỉ trọng cao khi gần như toàn bộ tiền của doanh nghiệp đều được gửi tại ngân hàng ở
cả 3 năm kể trên, lượng tiền mặt tại công ty chỉ được duy trì ở mức đảm bảo nhu cầu chi tiêu. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp giảm bớt phần nào chi phí dự trữ tiền mặt do
hưởng lãi của ngân hàng, tuy nhiên có thể khiến công ty không đáp ứng được kịp thời mọi nhu cầu chi tiêu, không đảm bảo được khả năng thanh toán nhanh cũng như sự an toàn trong kinh doanh.
Công ty thực hiện bán hàng trực tiếp nên tất cả các khoản tiền thu vào đều được chuyển trực tiếp vào tài khoản của công ty tại ngân hàng. Đối với hoạt động chi tiêu
36
tiền, công ty dựa trên cơ sở nhu cầu chi tiêu hằng ngày để cân đối và thực hiện thanh toán cho các đối tác. Do lượng tiền mặt luôn được duy trì đảm bảo nhu cầu chi thường
xuyên nên công ty không chú trọng công tác hoạch định ngân sách tiền mặt, không xây
dựng mô hình mức dự trữ tiền mặt tối ưu.
2.3.2.2. Quản lý các khoản phải thu
Bảng 2.6. Khoản phải thu ngắn hạn
Đơn vị: Đồng
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Chỉ tiêu Số tiền Số tiền Số tiền Tỉ trọng Tỉ trọng Tỉ trọng
Phải thu 423.107.950 94,5% 1.031.830.931 99,6% 742.824.431 99,4% khách hàng
Trả trước 24.718.000 5,5% 0 0% 0 0% người bán
Khoản phải 0 0% 4.406.100 0,4% 4.406.100 0,6% thu khác
Khoản phải 447.825.950 100% 1.036.237.031 100% 747.230.531 100% thu NH
Là một doanh nghiệp kinh doanh thương mại, có nhiều khách hàng nên các
khoản phải thu ngắn hạn luôn là khoản mục chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng tài sản
lưu động của công ty Mỹ Lan, với tỉ trọng đều ở mức trên 45% trong 3 năm. Trong các
khoản phải thu ngắn hạn, phải thu khách hàng chiếm tỉ trọng cao nhất với 94,5% năm
2011, 99,6% năm 2012 và giảm xuống còn 99,4% năm 2013. Việc khoản phải thu khách hàng ở mức cao cho thấy nỗ lực mở rộng thị trường và tìm kiếm các khách hàng
tiềm năng mới, duy trì lượng khách hàng trung thành cũ của công ty. Tuy vậy, mức tỉ
trọng lớn kéo dài trong 3 năm cũng cho thấy công tác thu hồi nợ của công ty vẫn chưa đạt hiệu quả. Số vốn mà doanh nghiệp bị khách hàng chiếm dụng còn nhiều và nguy
cơ rủi ro không thu hồi được nợ cũng lớn, ngoài ra công ty hiện vẫn chưa trích một khoản tiền nào để lập dự phòng cho các khoản phải thu ngắn hạn để hạn chế các rủi ro trong việc thu hồi các khoản nợ khó đòi. Bên cạnh các khoản phải thu khách hàng, công ty còn phát sinh thêm khoản phải trả trước cho người bán trong năm 2011 do công ty mở rộng hoạt động kinh doanh thêm ở một số mặt hàng mới, uy tín của công
37
ty với các nhà cung cấp mới chưa cao nên việc phải trả trước cho người bán một khoản tiền là điều hợp lý.
Với quy mô tương đối nhỏ, nhu cầu chi thường xuyên cao và thường vay ngắn
hạn ngân hàng, công ty hiện không có bất cứ hình thức chiết khấu thanh toán nào dành
cho các khoản phải thu khách hàng. Việc không đưa ra một khoản chiết khấu nào có
thể giúp công ty tiết kiệm chi phí và bảo đảm lợi nhuận nhưng cũng gây ảnh hưởng đến công tác thu hồi nợ của công ty, không tạo ra được sự khuyến khích cần thiết để
khách hàng trả nợ đúng hạn khiến khoản vốn của công ty bị khách hàng chiếm dụng
rất lớn. Các khách hàng của Mỹ Lan nhìn chung chủ yếu là các khách hàng quen
thuộc, các đại lý, cửa hàng đã có một thời gian làm ăn lâu dài, uy tín cũng như độ tin cậy cao. Tuy vậy không phải vì thế mà công ty xem nhẹ việc đánh giá cũng như đưa ra
các tiêu chuẩn tín dụng dành cho khách hàng của mình. Thông qua các yếu tố như vị
thế của khách hàng trên thị trường, thời gian quan hệ kinh doanh với công ty, khả năng
thanh toán trong thời gian gần đây, kỳ hạn thanh toán bình quân, giá trị thanh toán trên mỗi hóa đơn và doanh thu hàng năm khách hàng mang lại cho công ty, công ty sẽ tiến
hành phân tích, đánh giá mức độ rủi ro và cuối cùng đưa ra quyết định có nên cấp tín
dụng cho khách hàng hay không. Công ty cũng quy định mức nợ tối đa cho mỗi khách
hàng, theo đó khách hàng chỉ được nợ tối đa đến một mức nào đó và sẽ không được
tiếp tục nợ nữa nếu vượt quá mức cho phép đó. Ngoài ra, nhằm đảm bảo tính hiệu quả
trong việc thực hiện chính sách bán chịu và quản lý khách hàng của mình, công ty còn
sắp xếp các đối tác theo các nhóm khác nhau. Đối với các khách hàng lớn, truyền thống và có mối quan hệ làm ăn lâu năm, công ty xếp họ vào nhóm A do đã có sự tin
tưởng hiểu biết lẫn nhau. Đối với các doanh nghiệp có tiềm lực tài chính và quy mô
hoạt động nhỏ hơn, việc giao dịch mua bán có thể không thường xuyên, từng thanh
toán chậm nhưng chưa phát sinh nợ khó đòi, công ty sẽ xếp họ vào nhóm B. Cuối cùng
là nhóm C, dành cho các khách hàng có uy tín thấp, tài chính không chắc chắn, các
khách hàng mới. Với nhóm khách hàng này, công ty vẫn có thể ký hợp đồng với họ
nhằm tạo thêm doanh thu nhưng luôn phải đi kèm theo đó là các ràng buộc về tài chính
và thanh toán.
Từ năm 2012 đến 2013, với tình hình các khoản phải thu tăng cao, công ty đã có những biện pháp cần thiết để quản lý và tăng cường công tác thu hồi nợ như thiết
lập các sổ sách theo dõi chi tiết các khoản nợ hiện có của công ty, phân loại các khoản nợ theo các nhóm khác nhau nhằm đưa ra các biện pháp xử lý thích hợp. Trong chính sách thu nợ của công ty luôn có kèm theo chính sách thu nợ bằng pháp luật, tuy vậy công ty ít áp dụng đến phương pháp này do nó gây nhiều phiền phức, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty, uy tín của khách hàng. Với các khoản nợ có giá trị
38
không lớn lắm và thời hạn thanh toán không quá muộn, công ty chỉ thực hiện nhắc nhở, tránh hối thúc liên tục làm ảnh hưởng đến hình ảnh công ty trong mắt bạn hàng.
2.3.2.3. Quản lý hàng tồn kho
Bảng 2.7. Hàng tồn kho
Đơn vị: Đồng
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Chỉ tiêu Tỉ Tỉ Tỉ Số tiền Số tiền Số tiền trọng trọng trọng
Nguyên liệu, 0 0% 105.021.541 52% 0 0% vật liệu
Chi phí SX, 87.022.756 100% 97.022.756 48% 52.636.368 28,2% KD dở dang
0 0% 0 0% 134.235.000 71,8% Hàng hóa
Hàng tồn 87.022.756 100% 202.044.297 100% 186.871.368 100% kho
Đối với một doanh nghiệp kinh doanh thương mại như Mỹ Lan thì việc luôn
phải dự trữ trong kho một lượng nguyên vật liệu, thành phẩm hàng hóa, công cụ dụng
cụ để đảm bảo tính liên tục cho hoạt động kinh doanh là điều hết sức quan trọng. Dựa
vào bảng 2.4 và bảng 2.7 có thể thấy, lượng hàng tồn kho trong cả 2 năm đầu của công
ty luôn chỉ ở mức tỉ trọng thấp tức số vốn không sinh lời là nhỏ, chi phí lưu kho, bảo
quản thấp. Tuy vậy lượng hàng hóa trong hàng tồn kho của công ty trong 2 năm này
luôn bằng 0 khiến công ty có thể gặp khó khăn trong việc cung cấp hàng hóa cho
khách hàng, nhất là vào những thời điểm nhu cầu tiêu thụ tăng cao trong năm. Năm 2013, tỉ trọng của hàng tồn kho trong tổng tài sản lưu động của công ty vẫn được giữ ở
mức thấp trong khi đó số lượng hàng hóa lại có sự thay đổi với mức tăng lên đến
134.235.000 đồng so với năm 2012 và giữ tỉ trọng cao hơn trong khoản mục hàng tồn kho của công ty. Điều này chứng tỏ công ty đang có những nỗ lực để đảm bảo sự liên
tục của quá trình kinh doanh tiêu thụ sản phẩm, giữ uy tín với khách hàng. Công ty hiện dựa vào tình hình, xu hướng của thị trường, khả năng tiêu thụ của các loại hàng hóa qua các năm để quyết định lượng hàng trong kho của mình. Việc Công ty đặt hàng theo biện pháp tính thời gian chuyển hàng và lượng hàng cần dùng trong thời gian đó và vẫn chưa áp dụng việc sử dụng lượng dự trữ an toàn vì mức chi phí phát
39
sinh đi kèm theo.
2.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
Trong chương 1 đã trình bày hệ thống các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả sử dụng
tài sản lưu động. Thông qua việc đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động, phân tích
hệ thống chỉ số đó, Chúng ta sẽ có một cái nhìn tổng quát hơn về thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp, thấy được điểm mạnh, điểm yếu nhằm đưa
ra các cách khắc phục tốt nhất.
2.3.3.1. Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động
Bảng 2.8. Các chỉ tiêu về khả năng hoạt động
Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Vòng 1,68 0,57 1,43 Vòng quay TSLĐ
Thời gian luân chuyển Ngày 214,2 631,5 251,7 TSLĐ
Vòng 15,1 5,1 10,2 Vòng quay HTK
Ngày 23,8 70,6 35,3 Kỳ luân chuyển HTK
Vòng quay các khoản phải Vòng 3,62 1,08 3,09 thu
Ngày 99,4 333,3 116,5 Kỳ thu tiền bình quân
Vòng quay các khoản phải Vòng 4,33 0,83 2,2 trả
Ngày 83,1 433,7 163,6 Kỳ trả nợ bình quân
Ngày 123,2 403,9 151,8 Chu kỳ kinh doanh
Ngày 40,1 -29,8 -11,8 Thời gian luân chuyển tiền
40
Vòng quay tài sản lưu động: chỉ tiêu này nói lên số lần quay vòng của TSLĐ của công ty trong một năm và đánh giá hiệu quả sử dụng TSLĐ trên mối quan hệ so sánh giữa kết quả sản xuất và số TSLĐ bỏ ra. Số vòng quay TSLĐ càng cao thì càng tốt. Năm 2012, số vòng quay giảm 66,07% so với năm 2011 do lượng tài sản lưu động ở năm này tăng cao mà chủ yếu do các khoản phải thu khách hàng tăng cao, trong khi nhu cầu thị trường lại đi xuống khiến mức doanh thu giảm thấp dẫn đến sự tụt giảm của số vòng quay TSLĐ. Tuy vậy, sang đến năm 2013 lại cho thấy nhiều tín hiệu tích cực khi doanh thu của công ty đã tăng trong khi lượng TSLĐ đã được điều chỉnh giảm kéo
theo số vòng quay TSLĐ tăng trở lại. Tuy vậy, nếu xét cả 3 năm qua, số vòng quay
TSLĐ về cơ bản vẫn bị sụt giảm khi chỉ số này ở năm 2013 giảm 14,88% so với năm
2011 dù rằng quy mô của TSLĐ cũng như mức doanh thu đạt được đều lớn hơn năm
2011. Qua đó có thể thấy công ty sử dụng tài sản lưu động vẫn chưa hoàn toàn thực sự hiệu quả.
Thời gian luân chuyển tài sản lưu động: chỉ tiêu này cho biết khoảng thời gian để
TSLĐ luân chuyển được một vòng. Chỉ tiêu này mặc dù đã được cải thiện đi rất nhiều
khi năm 2013 đã giảm xuống còn 251,7 ngày, tức là đã giảm được gần 380 ngày so với năm 2012 nhưng đây vẫn còn là một con số lớn và thể hiện việc sử dụng TSLĐ còn
kém hiệu quả của công ty.
Vòng quay hàng tồn kho: Cho biết công ty quay được bao nhiêu vòng kho hàng trong
một năm. Chỉ tiêu này có xu hướng giảm sau 3 năm, năm 2012 chỉ đạt 5,1 vòng/năm, giảm 66,2% so với năm 2011. Năm 2013 giảm 32,4% so với năm 2011, xuống còn
10,2 vòng/năm. Mặc dù chỉ số vòng quay hàng tồn kho giảm xuống nhưng vẫn đang ở
mức cao và có thể thấy doanh nghiệp vẫn bán được hàng và không bị ứ đọng nhiều.
Tuy vậy việc chỉ số này trong năm 2013 thấp hơn năm 2011 cũng cho thấy hiệu quả
trong công tác quản lý hàng tồn kho của công ty đang đi xuống. Công ty cần phải
nghiên cứu và đưa ra những biện pháp mới khác nhằm quản lý hàng tồn kho một cách
tốt hơn nữa, giảm mức chi phí cho lưu kho hàng hóa, giảm lượng vốn bị ứ đọng để tăng cường nguồn vốn đầu tư cho hoạt động kinh doanh.
Kỳ luân chuyển hàng tồn kho: chỉ số này cho biết số ngày tồn kho bình quân để hàng
tồn kho chuyển thành doanh thu. Mặc dù có xu hướng tăng trong 3 năm vừa qua, từ
23,8 ngày vào năm 2011 tăng thêm 196,6% lên mức 70,6 ngày năm 2012 và giảm
xuống còn 35,3 ngày năm 2013 nhưng chỉ số này vẫn còn khá thấp và chứng tỏ được
hàng tồn kho của doanh nghiệp vẫn được luân chuyển nhanh. Giúp đảm bảo vốn cho
nhu cầu kinh doanh và giảm bớt được vốn dự trữ.
Vòng quay các khoản phải thu: Chỉ số này cho ta biết rằng bao nhiêu đồng doanh thu của công ty thì cho nợ một đồng. Hệ số này càng cao chứng tỏ tốc độ thu hồi các
khoản phải thu càng cao. Năm 2011, vòng quay các khoản phải thu là 3,62 vòng. Năm 2012, công ty thực hiện chính sách bán chịu nhằm thu hút thêm khách hàng khiến các khoản phải thu khách hàng của công ty tăng hơn 131,4%. Tuy rằng đã có những nỗ lực nhằm cải thiện hoạt động kinh doanh nhưng trong một năm đầy khó khăn này, doanh thu thuần của công ty vẫn giảm 30,7% và chỉ đạt được con số 1.125.682.908 đồng.
Chính việc tăng và giảm ngược nhau của 2 chỉ tiêu trên khiến vòng quay khoản phải
41
thu của công ty năm 2012 giảm mạnh 70,16% so với năm 2011 tức còn 1,08 vòng. Đến năm 2013, nhận thấy việc để tồn đọng 1 lượng lớn các khoản phải thu có thể ảnh
hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty do lượng vốn chiếm dụng tăng cao, công
ty đã tăng cường việc thu hồi các khoản nợ của khách hàng, chuyển khoản phải thu
thành tiền, đi cùng với đó là hoạt động kinh doanh đã có hiệu quả hơn so với năm
2012 khi doanh thu tăng 105,1% lên 2.308.905.555 đồng, nhờ đó chỉ tiêu vòng quay của công ty đã tăng được 186,1% lên 3,09 vòng. Việc chỉ tiêu này tăng lên cho thấy
công tác thu hồi nợ của công ty đã có cải thiện đáng kể so với năm 2012, tuy vậy, nhìn
chung chỉ tiêu này còn thấp và công ty vẫn cần phải linh hoạt hơn trong việc thực hiện
bán chịu và thu tiền trước để vừa thu được tiền bán hàng nhanh chóng, vừa không bị mất khách hàng và sức cạnh tranh so với đối thủ.
Kỳ thu tiền bình quân: cũng chính vì vòng quay các khoản phải thu giảm xuống dẫn
đến kì thu tiền bình quân của công ty tăng lên đến 333,3 ngày năm 2012 và 116,5 ngày
năm 2013, tương đương với mức tăng 235,3% và 17,2% khi so sánh với năm 2011. Kì thu tiền bình quân ở mức cao khiến công tác thu hồi các khoản phải thu của công ty bị
kéo dài, tăng nguy cơ mất vốn, rủi ro tín dụng. Tuy vậy, việc kéo dài thời gian thu tiền
cũng giúp tăng khả năng thu hút việc mua hàng của khách hàng. Tùy thuộc từng đối
tượng khách hàng lớn hay nhỏ, việc thanh toán đúng thời hạn hay chây ì mà công ty
đưa ra chính sách bán hàng phù hợp.
Vòng quay các khoản phải trả: hệ số này cho biết bao nhiêu đồng chi phí của công ty
thì được nợ một đồng. Năm 2012, chỉ số này đạt mức 0,83 vòng tức giảm 80,83% so với năm 2011. Năm 2013 chỉ số này có sự tăng lên với mức tăng 1,37 vòng, tương ứng
với mức tăng 165% so với năm 2012. Tuy vậy nếu so sánh với năm 2011, chỉ số này
vẫn cho thấy sự sụt giảm trong 3 năm qua, qua đó cho thấy khả năng chi trả cho các
hoạt động của công ty không thực sự tốt. Việc thanh toán muộn có thể khiến công ty
gặp nhiều áp lực đồng thời cũng khiến công ty đánh mất cơ hội được hưởng các chính
sách chiết khấu thanh toán của nhà cung cấp.
Kỳ trả nợ bình quân: Chỉ số này cho biết thời gian trả nợ bình quân của công ty kể từ
khi phát sinh khoản nợ đến khi hoàn thành việc thanh toán. Năm 2012, thời gian trả nợ
của công ty tăng mạnh lên thêm 350,6 ngày, tương ứng với mức tăng 422%. Sang đến năm 2013, chỉ số này đã có sự điều chỉnh giảm xuống nhưng nếu so sánh với năm
2011 vẫn cho thấy sự gia tăng đáng kể với mức tăng 96,87%. Việc thời gian trả nợ tăng mạnh trong 3 năm vừa qua chủ yếu là do công ty đang gặp khó khăn trong các hoạt động kinh doanh dẫn đến khả năng thanh toán nợ, chi phí hoạt động bị ảnh hưởng. Công ty cần có những nỗ lực cần thiết hơn nữa nhằm giảm bớt các khoản nợ,
giảm bớt áp lực thanh toán cũng như rủi ro cho công ty.
42
Chu kỳ kinh doanh: là khoảng thời gian cần thiết kể từ khi doanh nghiệp bỏ vốn vào kinh doanh dưới hình thái tiền tệ lại thu được vốn đó dưới hình thái tiền tệ. Nhìn
chung trong 3 năm vừa qua chỉ số này có xu hướng tăng cao với mức tăng 280,7 ngày
trong năm 2012 tức tăng 227,84% so với năm 2011. Năm 2013, mặc dù đã có sự giảm
sút nhưng nếu so sánh với năm 2011, chỉ số này vẫn thể hiện sự gia tăng lớn và là một
dấu hiệu cho thấy công ty không thể tiến hành sản xuất kinh doanh nhiều hơn trong một năm để tăng năng suất và doanh thu tiêu thụ.
Thời gian luân chuyển tiền: là một chỉ số được sử dụng để đánh giá khả năng quản lý
dòng tiền của doanh nghiệp. Chỉ số này nhìn chung từ năm 2011 đến năm 2013 có xu
hướng giảm dần. Đặc biệt trong năm 2012, thời gian luân chuyển tiền của công ty giảm mạnh xuống mức -29,8, tương ứng với mức giảm 174,3 % mà nguyên nhân là do
công ty trong năm 2012 đã đẩy mạnh thực hiện chính sách bán chịu cho khách hàng,
khiến thời gian thu tiền trung bình tăng mạnh lên mức 333,3 ngày. Để đảm bảo tính
hiệu quả trong việc quản lý vòng quay của tiền mặt, công ty đã tiến hành kéo dài thời gian thanh toán thông qua việc trì hoãn trả nợ khiến thời gian trả nợ bình quân tăng
mạnh. Cách làm này giúp cho công ty không cần sử dụng vốn lưu động mà vẫn có
doanh thu nhờ chiếm dụng vốn của doanh nghiệp cung ứng, tuy vậy việc tự ý thay đổi
ngày thanh toán để mang lại lợi ích riêng cho mình có thể gây ảnh hưởng lớn đến mối
quan hệ giữa công ty với các bên cung cấp và có thể khiến cho công ty bị các bạn hàng
tẩy chay.
2.3.3.2. Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng
Bảng 2.9. Các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng
Đơn vị tính:Lần
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Hệ số đảm nhiệm 0,6 1,73 0,69 TSLĐ
Hệ số sinh lời 0,012 -0,067 0,0074 TSLĐ
Hệ số đảm nhiệm 0,05 0,18 0,08 HTK
43
Hệ số đảm nhiệm tài sản lưu động: hệ số này cho biết để đạt được một đồng doanh thu, công ty đã phải bỏ ra bao nhiêu đồng TSLĐ. Qua bảng số liệu có thể thấy, hệ số đảm nhiệm của công ty có xu hướng tăng dần sau 3 năm, dù rằng năm 2013 đã giảm được rất nhiều so với năm 2012 nhưng hệ số đảm nhiệm của công ty vẫn ở mức khá
cao khi 0,69 đồng TSLĐ mới tạo được 1 đồng doanh thu. Điều này cho thấy công ty
vẫn cần phải nỗ lực thêm nữa để cải thiện hiệu quả sử dụng TSLĐ.
Hệ số sinh lời tài sản lưu động: chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản lưu động có t hể
tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. lợi nhuận sau thuế của công ty không ổn định khi năm 2012 bị lỗ 132.534.126 đồng và đến năm 2013 thì tăng lên 11.960.920 đồng, dù
vậy vẫn giảm 0,64% so với năm 2011. Năm 2011, hệ số sinh lời là 0,012, tức 1 đồng
tài sản lưu động tạo ra được 0,012 đồng lợi nhuận nhưng đến năm 2013, hệ số này đã
giảm mất 38,3% và chỉ còn ở mức 0,0074, tức 1 đồng tài sản lưu động của công ty chỉ đem về được 0,0074 đồng lợi nhuận. Qua đó có thể thấy, công ty đang sử dụng TSLĐ
không được hiệu quả và khiến khả năng sinh lời của tài sản lưu động của công ty đi
xuống.
Hệ số đảm nhiệm hàng tồn kho: chỉ tiêu này cho biết để có được 1 đồng doanh thu, doanh nghiệp phải đầu tư bao nhiêu đồng vào hàng tồn kho. Năm 2012, chỉ số này
tăng mạnh với mức tăng 260% so với năm 2011. Năm 2013 có giảm xuống nhưng nếu
so với năm 2011, chỉ số này vẫn tăng thêm 60%. Tuy vậy, các chỉ số này dù tăng
nhưng vẫn ở mức thấp, thể hiện sự hiệu quả của vốn đầu tư sử dụng cho hàng tồn kho.
Bảng 2.10. Mức tiết kiệm vốn lƣu động
Đơn vị tính: Đồng
Chỉ tiêu Năm 2011-2012 Năm 2012-2013
1.304.822.835 -2.447.247.480 Tuyệt đối
1.883.727.883 -1.193.130.076 Tƣơng đối
Mức tiết kiệm vốn lưu động: là số vốn lưu động mà doanh nghiệp tiết kiệm được trong
kỳ kinh doanh. Năm 2012, mức tiết kiệm tuyệt đối và tương đối của công ty đều >0,
qua đó cho thấy sự lãng phí trong việc sử dụng vốn lưu động của công ty. Mức tiết
kiệm tuyệt đối cho biết để đạt được doanh thu như năm 2012 thì công ty cần giảm giá trị vốn lưu động của mình 1.304.822.835 đồng so với mức vốn lưu động năm 2011 nếu
như không có sự thay đổi về số vòng quay. Còn mức tiết kiệm tương đối cho biết nếu không có sự thay đổi về số vòng quay vốn lưu động thì công ty chỉ cần giảm đi một lượng 1.883.727.883 đồng so với giá trị năm 2012 để đạt được doanh thu như vậy. Năm 2013, cả 2 chỉ số này đều âm cho thấy công ty đã tiết kiệm được một giá trị vốn lưu động nhất định so với năm 2012. Cụ thể chỉ số tuyệt đối cho ta biết để đạt dược doanh số như năm 2013 nếu công ty không tăng số vòng luân chuyển vốn thì số vốn lưu động mà công ty cần sẽ phải tăng thêm 2.447.247.480 đồng so với năm 2012. Chỉ
44
số tương đối cho ta biết nếu không có sự thay đổi về số vòng luân chuyển vốn thì để
đạt được doanh thu như năm 2013, công ty phải tăng thêm 1.193.130.076 đồng vốn
lưu động so với số vốn bỏ ra năm 2013.
2.3.3.3. Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Bảng 2.11. Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Đơn vị: Đồng
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
TSLĐ 964.921.144 1.955.594.598 1.605.685.615
Tiền 430.072.438 717.313.270 671.583.716
Khoản phải thu 447.825.950 1.036.237.031 747.230.531
Hàng tồn kho 87.022.756 202.044.297 186.871.368
Nợ ngắn hạn 372.836.572 1.507.209.556 1.047.103.289
Khả năng thanh toán 2,58 1,3 1,53 hiện hành
Khả năng thanh toán 2,35 1,16 1,35 nhanh
Khả năng thanh toán 1,15 0,47 0,64 tức thời
Khả năng thanh toán hiện hành: thể hiện mức độ đáp ứng các nghĩa vụ tài chính ngắn
hạn của doanh nghiệp. Hệ số này tại công ty Mỹ Lan, mặc dù có xu hướng giảm dần từ
năm 2011 đến 2013 nhưng vẫn lớn hơn 1 và khá cao, qua đó có thể khả năng thanh
toán chung của công ty là đảm bảo và sự tăng lên của tài sản lưu động đã được tài trợ
bằng nợ ngắn hạn huy động thêm.
Khả năng thanh toán nhanh: được hiểu là khả năng doanh nghiệp dùng tiền hoặc tài
sản chuyển đổi thành tiền để trả nợ ngay khi đến hạn và quá hạn. Hệ số này nhìn chung giảm dần từ năm 2011 đến năm 2013 do doanh nghiệp đầu tư và mở rộng hàng
tồn kho nhiều. Năm 2013, hệ số này của công ty là 1,35 tức một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng 1,35 đồng TSLĐ không kể hàng tồn kho. Hệ số này trong 3 năm
đều lớn hơn 1 chứng tỏ rằng lượng tiền mặt trong công ty vẫn đủ để chi trả ngay lập
45
tức các khoản nợ ngắn hạn.
Khả năng thanh toán tức thời: Hệ số này thể hiện mối quan hệ giữa tài sản có khả
năng thanh toán ngay lập tức và thanh toán trực tiếp (như tiền mặt, chứng khoán bán
được ngay) với khoản nợ hiện hành. Khả năng thanh toán tức thời của công ty đang có
khuynh hướng giảm dần khi từ 1,15 năm 2011 xuống còn 0,64 năm 2013, điều này khiến công ty dễ gặp rủi ro trong kinh doanh do không có đủ khả năng trả ngay mà cần
có thời gian để chuyển các TSLĐ khác thành tiền mới trả được nợ ngắn hạn.
2.4. Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng TSLĐ của công ty TNHH Mỹ Lan
2.4.1. Thành quả đạt được
Tình hình huy động và sử dụng tài sản lưu động của công ty đã có nhiều biến
chuyển tốt, quy mô tài sản lưu động đã tăng cao hơn so với năm 2011. Cơ cấu tài sản
lưu động nhìn chung tương đối ổn định sau 3 năm.
Công tác quản lý tài sản lưu động luôn được công ty quan tâm và chú trọng, việc quản lý tiền mặt dù còn tồn tại một vài vấn đề nhưng vẫn được duy trì, đảm bảo
khả năng thanh toán thường xuyên của doanh nghiệp. Các chỉ số về khả năng thanh
toán của công ty, bao gồm khả năng thanh toán hiện hành và khả năng thanh toán
nhanh, dù có sự sụt giảm trong năm 2012 nhưng đã dần hồi phục trong năm 2013 và
vẫn ở mức lớn hơn 1. Qua đó có thể thấy khả năng thanh toán của công ty vẫn được
giữ ở mức an toàn.
Công tác quản lý hàng tồn kho đã được công ty quan tâm và bảo đảm, hàng tồn kho của công ty qua các năm luôn chỉ ở mức tỉ trọng thấp giúp cho chi phí lưu kho,
bảo quản cũng như số vốn không sinh lời thấp. Vòng quay hàng tồn kho ở mức cao
trong khi kỳ luân chuyển hàng tồn kho giảm xuống trong năm 2013 cho thấy hàng tồn
kho của công ty vẫn được luân chuyển nhanh và không bị ứ đọng nhiều. Hệ số đảm
nhiệm hàng tồn kho ở mức thấp, cho thấy vốn đầu tư mà công ty sử dụng cho hàng tồn
kho là có hiệu quả.
2.4.2. Hạn chế
Mức dự trữ tiền của công ty nhìn chung vẫn chiếm tỉ trọng khá cao trong tổng tài sản lưu động, gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty khi
công ty không thể sử dụng lượng tiền đó để đầu tư phát triển. Việc quản lý tiền mặt tại công ty chủ yếu chỉ dựa qua kinh nghiệm của người quản lý, chưa chú trọng công tác hoạch định ngân sách tiền mặt và xây dựng mô hình mức dự trữ tiền mặt tối ưu. Mặc dù các chỉ tiêu về khả năng thanh toán vẫn trong mức an toàn nhưng về lâu về dài có thể tiềm ẩn nhiều rủi ro xảy ra. Lượng tiền gửi trong ngân hàng chiểm phần lớn trong
46
các khoản tiền và tương đương tiền, tuy việc làm này giúp khả năng sinh lợi được tăng cao nhưng cũng làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nhanh, sự an toàn trong kinh
doanh của công ty. Ngoài ra việc thiếu các khoản đầu tư vào chứng khoán cũng làm
giảm khả năng sinh lợi của công ty.
Công ty đã duy trì các khoản phải thu chiếm tỉ trọng lớn trên tổng tài sản lưu
động, trong đó phần lớn là các khoản phải thu khách hàng. Mặc dù những chính sách trả chậm hay bán chịu là rất cần thiết trong quá trình gia tăng tiêu thụ nhưng các khoản
phải thu này có khả năng thanh khoản không cao và có thể ảnh hưởng đển khả năng
thanh toán của công ty. Về công tác quản lý các khoản phải thu, mặc dù đã được quan
tâm một cách tương đối khi các doanh nghiệp, khách hàng đều được công ty đánh giá, phân tích thông qua nhiều tiêu chí khác nhau, đảm bảo việc phân loại khách hàng được
thực hiện một cách chính xác, công bằng, giúp công ty biết được khách hàng nào có
khả năng thanh toán tốt và có uy tín trong kinh doanh, song vẫn còn tồn tại nhiều thiếu
sót. Chẳng hạn, công ty hiện vẫn chưa có các khoản chiết khấu thanh toán cần thiết để thúc đẩy khách hàng thanh toán nợ sớm hơn. Chưa có các biện pháp nào phòng ngừa
rủi to tài chính đối với các khoản phải thu cũng như để xử lý các khoản nợ xấu trong
tương lai. Việc quản lý thu nợ của công ty, do mối quan hệ hợp tác lâu năm uy tín, sự
tin tưởng giữa công ty và khách hàng, do công ty hiện có ít khách hàng truyền thống
lớn, nên vẫn chỉ dừng lại ở việc nhắc nhở, đốc thúc thanh toán. Vẫn chưa có nhiều chế
tài cần thiết để xử lý các khoản nợ khó đòi, chậm thanh toán.
Việc quản lý hàng tồn kho, tương tự như hoạt động quản lý tiền mặt của công ty, cũng chỉ dựa trên kinh nghiệm của người quản lý là chủ yếu, chưa đưa vào việc sử
dụng lượng dự trữ an toàn, khiến công ty thường rơi vào tình trạng thiếu hụt hàng hóa
vào nhiều thời điểm trong năm hoặc tình trạng kho hàng không sử dụng hết diện tích
gây ra lãng phí.
Hệ số sinh lời của tài sản lưu động giảm thấp sau 3 năm. Năm 2013, 1 đồng tài
sản lưu động chỉ tạo ra được 0,0074 đồng lợi nhuận sau thuế. Trong khi đó hệ số đảm
nhiệm tài sản lưu động của công ty trong năm 2013 dù đã giảm rất nhiều so với năm
2013 nhưng vẫn ở mức khá cao. Điều này cho thấy việc sử dụng tài sản lưu động của
47
công ty vẫn còn chưa thực sự hiệu quả.
CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƢU ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH MỸ LAN
3.1. Định hƣớng phát triển của công ty TNHH Mỹ Lan
Trong 3 năm vừa qua, mặc dù gặp phải rất nhiều khó khăn và thử thách nhưng công ty vẫn đạt được những thành tựu nhất định. Doanh thu và lợi nhuận của công ty
đã có những biểu hiện khôi phục trở lại trong năm 2013. Trong những năm sắp tới, để
có thể đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, góp phần thúc đẩy sự phát triển của công ty. Ngoài
quyết tâm nỗ lực phấn đấu không ngừng và phát huy mọi tiềm năng sẵn có của mình, công ty cũng cần phải có những định hướng phát triển đúng đắn cho tương lai, bao
gồm:
- Cải tiến mẫu mã, đa dạng hóa sản phẩm. Hiện nay, các mẫu mã sản phẩm của công ty
tập trung chủ yếu trong lĩnh vực thiết bị vệ sinh và vật liệu xây dựng. Việc đa dạng hóa sản phẩm sẽ là một biện pháp quan trọng giúp công ty không những tăng được
doanh thu tiêu thụ mà còn có cơ hội tìm kiến nhiều bạn hàng mới.
- Nâng cao chất lượng sản phẩm hiện có của công ty. Hiện nay, các sản phẩm của công
ty Mỹ Lan luôn được khách hàng trên thị trường đánh giá rất cao. Tuy nhiên, công ty
vẫn cần phải đề ra mục tiêu nâng cao chất lượng sản phẩm vì đây chính là một biện
pháp giúp công ty tạo được uy tín và thương hiệu trên thị trường.
- Giữ vững thị trường hiện có tại thành phố Hà Nội đồng thời tìm cách phát triển mở rộng ra thị trưởng các tỉnh thành lân cận. Đây là một thị trường có tiềm năng lớn nên
việc khai thác tốt thị trường này có ý nghĩa quan trọng đối với công ty. Nếu mở rộng
được vào các thị trường này thì công ty sẽ có nhiều cơ hội để phát triển sản xuất kinh
doanh, tìm kiếm những khách hàng mới và tăng cường doanh thu và lợi nhuận
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lƣu động tại công ty TNHH Mỹ
Lan
Công ty TNHH Mỹ Lan là một đơn vị kinh doanh độc lập, có quyền tự chủ
trong hoạt động kinh doanh. Việc chỉ hoạt động chủ yếu trong lĩnh kinh doanh thương mại cũng khiến cho công ty luôn phải chú trọng vào việc sử dụng và quản lý tài sản
lưu động sao cho hiệu quả hơn. Để hoạt động kinh doanh diễn ra tốt hơn nữa trong những năm tới đây, công ty cần phải chú ý tới một số giải pháp hữu hiệu sau để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động.
3.2.1. Nâng cao hiệu quả quản lý tài sản tiền
Dù không phải là một doanh nghiệp lớn, song công ty Mỹ Lan luôn cần phải
duy trì một lượng tiền mặt cần thiết để đảm bảo cho các hoạt động thanh toán trong kinh doanh. Hiện tại công ty thực hiện việc quản lý tài sản tiền chủ yếu dựa trên kinh nghiệm chứ chưa chú trọng đến việc hoạch định ngân sách và xây dựng mức dự trữ 48
tiền an toàn. Việc làm này sẽ mang đến nhiều rủi ro đối với hoạt động thanh toán của
công ty và để khắc phục điều này, công ty nên xác định một cách chính xác khoảng
tiền mặt tại quỹ cho công ty đủ để đáp ứng nhu cầu thanh toán hàng ngày và những
trường hợp cần thiết. Công ty cần phải có các biện pháp nhằm tăng lượng tiền mặt như thu hồi các khoản phải thu hoặc đầu tư vào các chứng khoán có khả năng thanh khoản
cao. Việc đầu tư vào chứng khoán này tuy khả năng sinh lợi không phải là quá lớn
song trong trường hợp công ty cần đến tiền mặt thì việc đem đến ngân hàng xin chiết
khấu là rất dễ dàng, nhanh chóng và không tốn nhiều chi phí. Ngoài ra, trong quá trình sử dụng, các khoản thu chi ngân quỹ cũng cần được theo dõi ,kiểm soát chặt chẽ, tránh
tình trạng chi tiêu phung phí không đúng mục đích, không hợp lý. Xây dựng các quy
chế thu-chi tiền mặt áp dụng cho từng trường hợp cụ thể.
3.2.2. Nâng cao hiệu quả quản lý khoản phải thu
Trong năm 2013, công ty đã làm tốt công tác thu hồi nợ với việc giảm nhanh
các khoản phải thu. Tuy nhiên, khoản phải thu vẫn là một khoản mục chiếm tỉ trọng
lớn trong tổng tài sản lưu động của công ty. Trong điều kiện hiện nay, khi mà việc
kinh doanh của công ty đang có bước chuyển biến tích cực thì việc quản lý tốt khoản
phải thu có ý nghĩa quyết định tới việc nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ của công ty.
Do đó công ty cần lưu ý một số vấn đề sau :
- Trước khi ký kết hợp đồng và chấp nhận tín dụng công ty cần phải thẩm định về uy tín và khả năng thanh toán của khách hàng một cách đầy đủ và chính xác. Cụ thể phải
xem xét : khả năng thanh toán, hệ số tín nhiệm, uy tín của khách hàng trên thị trường,
tình hình hoạt động kinh doanh và cả những yếu tố tiềm năng của khách hàng đó. Nếu
việc công tác thẩm định chưa đạt được nhiều hiệu quả thì công ty phải sử dụng đến các
biện pháp như đặt cọc, trả trước một phần giá trị hợp đồng đối với các đối tác của
mình.
- Trong hợp đồng công ty cần phải quy định rõ thời hạn thanh toán, phương thức thanh
toán và yêu cầu các bên đối tác phải chịu trách nhiệm thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các điều khoản quy định trong hợp đồng. Nếu thanh toán chậm so với thời hạn quy
định đối tác sẽ phải chịu phạt vi phạm hợp đồng, phạt nợ quá hạn. Ngược lại, với những khách hàng thanh toán nợ sớm, công ty cũng nên có những khoản chiết khấu cần thiết nhằm tạo động lực, khuyến khích khách hàng thanh toán nợ sớm hơn
- Ngoài ra, công ty cũng phải áp dụng các biện pháp theo dõi, quản lý chặt chẽ các khoản phải thu. Phải mở sổ theo dõi chi tiết các khoản nợ phải thu trong và ngoài công
49
ty, thường xuyên nhắc nhở, đốc thúc khách hàng trả nợ đúng hạn, phân loại khách hàng, các khoản nợ quá hạn, tìm nguyên nhân của từng khoản nợ để có biện pháp xử lý kịp thời và thích hợp.
3.2.3. Nâng cao hiệu quả quản lý hàng tồn kho
Hiện nay công ty đang quản lý hàng tồn kho theo kiểu dựa vào kinh nghiệm là
chính nên vẫn còn một số nhược điểm như có những thời điểm lượng hàng trong kho
không đủ đáp ứng nhu cầu của khách hàng, dẫn đến tình trạng thiếu hụt hàng trong thời gian chờ nhập mới, hay tình trạng kho hàng không sử dụng hết diện tích gây ra
lãng phí đang xảy ra khá thường xuyên. Lượng hàng tồn kho trong 3 năm trở lại đây
nhìn chung tăng cao cho thấy công ty cần phải tập trung nâng cao hơn nữa hiệu quả
trong công tác quản lý hàng tồn kho của mình. Để có thể nâng cao hiệu quả của việc quản lý, công ty có thể áp dụng những cách thức sau:
- Tính toán nhu cầu về hàng hóa sẽ sử dụng trong kỳ tới của công ty. Dựa vào việc
tổng hợp các đơn hàng trong thời điểm hiện tại và xu hướng biến động của nhu cầu
hàng hóa trong các kỳ gần đây công ty có thể tính toán và ước lượng một cách tương đối chính xác lượng hàng cần cho kỳ tới. Đây là sự tính toán dựa trên thực tế đã qua và
các yếu tố thay đổi trong kỳ nên khả năng chính xác được đảm bảo ở mức cao.
- Xác định công suất lữu trữ của kho hàng, kết hợp với nhu cầu trong kỳ để tìm ra số
lượng hàng hóa nhập kho thích hợp sao cho vừa có thể đáp ứng được nhu cầu về hàng
hóa vừa có thể tận dụng tối đa diện tích kho hàng. Ngoài ra có thể lập các phương án
khai thác hiệu quả phần diện tích kho còn trống của công ty để tránh lãng phí. Có thể
cho thuê một phần kho hoặc chia lại diện tích để sử dụng cho bộ phận khác nếu diện tích kho còn thừa nhiều và công ty không có nhu cầu tăng lượng hàng lưu kho trong
dài hạn.
- Bảo quản hàng hóa theo đúng quy cách trong điều kiện tốt nhất để giảm thiểu đến
mức thấp nhất lượng hàng bị hỏng hóc trong thời gian lưu kho, tránh dẫn đến việc
hàng hóa còn lại sau một kỳ không thể sử dụng tiếp cho kỳ sau mà phải nhập mới gây
50
lãng phí.
KẾT LUẬN
Nâng cao hiệu quả sử dụng và quản lý tài sản, đặc biệt là tài sản lưu động, tại
các doanh nghiệp là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của các doanh nghiệp nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị, tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường.
Với luận văn này, em mong muốn đưa ra một số vấn đề cơ bản về lý luận và
thực tiễn để hoàn thiện công tác quản lý và sử dụng tài sản lưu động của công ty Mỹ
Lan. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của công ty. Em hy vọng rằng với những giải pháp này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh nói chung và hiệu quả quản lý tài sản lưu động của công ty nói riêng.
Do thời gian có hạn và trình độ vẫn còn hạn chế nên luận văn chắc chắn còn
nhiều thiếu sót. Vì vậy, em mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo từ các thầy cô để luận
văn này được hoàn thiện và đầy đủ hơn. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn
nhiệt tình, chu đáo của cô giáo Th.S Ngô Thị Quyên cùng mọi người tại phòng tài
chính kế toán của công ty TNHH Mỹ Lan đã giúp đỡ tận tình và tạo nhiều điều kiện
thuận lợi để em hoàn thành bài luận văn này.
Hà Nội, Ngày 07 tháng 07 năm 2014
Sinh viên
51
Hà Sơn Tùng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
52
1. Nguyễn Hoàng Nam, Bùi Anh Tuấn (2006), Giáo trình quản trị tài chính doanh nghiệp, NXB Nông Nghiệp, Đại học Thăng Long. 2. Nguyễn Hải Sản (2004), Quản trị doanh nghiệp, NXB Thống Kê. 3. Nguyễn Thu Thủy (2011), Giáo trình quản trị tài chính doanh nghiệp, NXB Lao Động, Đại học Ngoại Thương. 4. Báo cáo tài chính và thuyết minh, bảng cân đối kế toán các năm 2012 và 2013 của công ty TNHH Mỹ Lan. 5. Các luận văn, luận án và khóa luận, các tài liệu trên mạng khác.
PHỤ LỤC
53
1. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2012 2. Bảng cân đối kế toán năm 2012 3. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2013 4. Bảng cân đối kế toán năm 2013 5. Xác nhận của đơn vị thực tập

