BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƢ TÂN MINH
SINH VIÊN THỰC HIỆN MÃ SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH
: ĐẶNG ANH QUÂN : A20115 : TÀI CHÍNH
HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƢ TÂN MINH
Giáo viên hƣớng dẫn Sinh viên thực hiện Mã sinh viên Chuyên ngành
: Ts. Trần Đình Toàn : Đặng Anh Quân : A20115 : Tài chính
HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, trước tiên tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến
thầy giáo – Ts. Trần Đình Toàn, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô trong khoa Tài chính – Ngân hàng cùng
các thầy cô đã giảng dạy tôi tại trường Đại Học Thăng Long đã tận tình truyền đạt kiến
thức cho tôi trong hơn 3 năm học tập. Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình
học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang
quý báu để tôi bước vào đời một cách vững chắc và tự tin.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các anh chị cán bộ công nhân viên
Công ty Cổ phần Đầu tư Tân Minh đã cho phép, cung cấp tài liệu và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian có hạn, trình độ, kỹ năng của
bản thân còn nhiều hạn chế nên chắc chắn đề tài khóa luận tốt nghiệp của tôi không
tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp, chỉ bảo, bổ sung
thêm của các thầy cô.
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Sinh viên
Đặng Anh Quân
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ
trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người
khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Sinh viên
Đặng Anh Quân
MỤC LỤC
CHƢƠNG 1.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP................................................................ 1
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của vốn trong doanh nghiệp ........................... 1
Khái niệm vốn .................................................................................................. 1
1.1.1.
Đặc điểm của vốn ............................................................................................ 1
1.1.2.
Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp ............................................................ 2
1.1.3.
Phân loại theo hình thức chu chuyển ............................................................ 2
1.2. Phân loại vốn ........................................................................................................... 2
1.2.1.
Phân loại theo nguồn hình thành .................................................................. 2
1.2.2.
Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng .............................................. 3
1.2.3.
1.3. Hiệu quả sử dụng vốn và phân tích hiệu quả sử dụng vốn trong doanh
nghiệp 3
Khái niệm, phân loại, tầm quan trọng và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu
1.3.1.
quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp ............................................................ 3
1.3.1.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn ................................................................. 3
1.3.1.2. Phân loại hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp ................................... 3
1.3.1.3. Tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ........................... 3
1.3.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp ...... 4
Khái niệm, mục tiêu và vai trò của việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn
1.3.2.
trong doanh nghiệp ......................................................................................... 5
1.3.2.1. Khái niệm phân tích hiệu quả sử dụng vốn ................................................. 5
1.3.2.2. Mục tiêu của phân tích hiệu quả sử dụng vốn ............................................. 5
Các phương pháp phân tích hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp ..... 6
1.3.2.3. Vai trò của phân tích hiệu quả sử dụng vốn ................................................ 6
1.3.3.
1.3.3.1. Phương pháp so sánh ................................................................................... 6
1.3.3.2. Phương pháp phân tích tỷ lệ ........................................................................ 7
Nội dung phân tích hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp ................... 7
1.3.4.
1.3.4.1. Đánh giá khái quát tình hình biến động của các thành phần vốn ................ 7
1.3.4.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp ................ 7
1.3.4.2.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung .......................... 7
1.3.4.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu ........................ 8
1.3.4.2.3. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng nợ phải trả...................................... 9
1.3.4.2.4. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định .............................. 9
1.3.4.2.5. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng Vốn lưu động ......................... 10
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÔNG TY
CHƢƠNG 2.
CỔ PHẦN ĐẦU TƢ TÂN MINH .................................................... 12
2.1. Giới thiệu về Công ty Cổ phần Đầu tƣ Tân Minh ............................................ 12
2.2. Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần Đầu tƣ Tân Minh . 13
Khái quát kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty ................. 13
Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần Đầu tư Tân Minh
2.2.1.
2.2.2.
17
2.2.2.1. Các chỉ tiêu tổng quát đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn nói chung ......................................................................................................... 17
2.2.2.1.1. Tình hình biến động và tỷ trọng của các thành phần vốn theo nguồn
hình thành của Công ty Cổ phần Đầu tư Tân Minh .............................. 19
2.2.2.1.2. Các chỉ tiêu tổng quát đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung ........ 20
2.2.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu .......... 22
2.2.2.3. Chỉ tiêu đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng nợ phải trả ........................ 28
2.2.2.4. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng Vốn cố định ................................ 32
2.2.2.5. Các chỉ tiêu đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động.............. 36
2.2.2.5.1. Các chỉ tiêu tổng hợp............................................................................. 36
2.2.2.5.2. Các chỉ tiêu thành phần ......................................................................... 43
2.3. Kết luận 48
Những kết quả đạt được và hạn chế của việc sử dụng vốn cố định ........... 48
2.3.1.
2.3.1.1. Kết quả đạt được của việc sử dụng vốn cố định ........................................ 48
2.3.1.2. Hạn chế của việc sử dụng vốn cố định ...................................................... 48
Những kết quả đạt được và hạn chế của việc sử dụng vốn lưu động ........ 49
2.3.2.
2.3.2.1. Kết quả đạt được của việc sử dụng vốn lưu động ...................................... 49
2.3.2.2. Hạn chế của việc sử dụng vốn lưu động .................................................... 50
Những kết quả đạt được và hạn chế của việc sử dụng vốn chủ sở hữu ..... 51
2.3.3.
Những kết quả đạt được và hạn chế của việc sử dụng nợ phải trả ............ 52
2.3.4.
CHƢƠNG 3.
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN Ở CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƢ TÂN MINH .............................................. 53
3.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định .......................................... 53
Với tài sản cố định ......................................................................................... 53
3.1.1.
Với các khoản đầu tư tài chính dài hạn ....................................................... 54
3.1.2.
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động ........................................ 54
Xác định nhu cầu vốn lưu động ................................................................... 54
3.2.1.
Nâng cao hiệu quả quản lý khoản phải thu khách hàng ............................ 54
3.2.2.
Nâng cao hiệu quả quản lý hàng tồn kho .................................................... 55
3.2.3.
Tổ chức tốt việc tiêu thụ nhằm đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu
3.2.4.
động ................................................................................................................ 56
3.3. Một số giải pháp khác .......................................................................................... 56
Coi trọng nhân tố con người trong tổ chức ................................................. 56
3.3.1.
3.3.1.1. Nâng cao hơn nữa tay nghề của cán bộ, công nhân viên ........................... 56
3.3.1.2. Thu hút thêm lực lượng lao động trình độ cao .......................................... 57
3.3.1.3. Thực hiện cơ chế thưởng phạt trong quá trình sử dụng vốn ...................... 57
Gia tăng nguồn vốn vay dài hạn trong tổng nguồn vốn .............................. 58
3.3.2.
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
Hình 2.1. Cơ cấu tổ chức của Công ty ........................................................................... 12
Bảng 2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh tại CTCPĐTTM từ 2011 – 2013 ................. 14
Bảng 2.2. Chi tiết nguồn vốn theo nguồn hình thành của CTCPĐTTM giai đoạn 2011 – 2013 ............................................................................................................................ 18
Bảng 2.3. Các chỉ tiêu tổng quát đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung ................ 20
Bảng 2.4. Chi tiết VCSH của CTCPĐTTM giai đoạn 2011 – 2013 ............................. 24
Bảng 2.5. Các chỉ tiêu ROE, ROA và đòn bẩy tài chính của CT từ 2011 - 2013 ......... 25
Bảng 2.6. Chi tiết nợ phải trả trong giai đoạn 2011 – 2013 .......................................... 27
Bảng 2.7. Chi tiết VCĐ tại CTCPĐTTM giai đoạn 2011 – 2013 ................................. 31
Bảng 2.8. Chi tiết TSLĐ của CTCPĐTTM trong giai đoạn 2011– 2013 ..................... 35
Bảng 2.9. Khả năng thanh toán của CTCPĐTTM giai đoạn 2011 – 2013 .................... 35
Bảng 2.10. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động ................................ 40
Bảng 2.11. Tỷ trọng các khoản phải thu ngắn hạn của CTCPĐTTM ........................... 43
Bảng 2.12. Vòng quay hàng tồn kho và thời gian luân chuyển hàng tồn kho trung bình
của CTCPĐTTM giai đoạn 2011 – 2013 ...................................................................... 45
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu tỷ trọng nguồn vốn của CTCPĐTTM giai đoạn 2011 - 2013 ...... 18
Biểu đồ 2.2. Chỉ tiêu vòng quay VCSH và biểu đồ 2.3. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên
VCSH……………………......................................................................................... 24
Biểu đồ 2.4. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên nợ phải trả .................................................... 27
Biểu đồ 2.5. Chỉ tiêu vòng quay VCĐ; biểu đồ 2.6. Chỉ tiêu suất hao phí VCĐ và
biểu đồ 2.7. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên VCĐ ............................................................. 31
Biểu đồ 2.8. Vòng quay khoản phải thu khách hàng và thời gian thu nợ trung bình của
CTCPĐTTM giai đoạn 2011 – 2013 ............................................................................. 44
DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ
CT Công ty
CTCPĐTTM Công ty Cổ phần Đầu Tư Tân Minh
DN Doanh nghiệp
ROA Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
ROE Tỷ suất sinh lời trên Vốn chủ sở hữu
TSCĐ Tài sản cố định
TSDH Tài sản dài hạn
TSLĐ Tài sản lưu động
TSNH Tài sản ngắn hạn
VCĐ Vốn cố định
VCSH Vốn chủ sở hữu
VLĐ Vốn lưu động
VNĐ Việt Nam Đồng
LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn luôn là một trong những mối quan
tâm hàng đầu của các nhà quản trị DN. Bởi việc sử dụng vốn hiệu quả sẽ góp phần giúp DN phát triển, đứng vững và giành được thắng lợi trong môi trường cạnh tranh
hiện nay ở Việt Nam. Từ thực tiễn tình hình hoạt động kinh doanh của các CT hiện
nay, ta thấy không phải CT nào cũng đạt được các mục tiêu như mong muốn. Những
CT có chiến lược phát triển phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường cộng với việc sử
dụng và quản lý các nguồn vốn hiệu quả đã mang lại những kết quả đáng khích lệ. Trong khi đó cũng có những CT làm ăn thua lỗ dẫn đến phải sáp nhập hoặc bị phá sản
một phần cũng là do sử dụng vốn kém hiệu quả.
Chính vì tầm quan trọng và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nên
trong khi thực tập tại Công ty Cổ phần Đầu tư Tân Minh tôi đã chọn đề tài: “Giải
pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Đầu tƣ Tân Minh”.
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng sử dụng vốn và hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ
phần Đầu tư Tân Minh trong những năm qua có mang lại hiệu quả như mong muốn
hay không, hiệu quả mang lại là cao hay thấp… Từ đó đưa ra những biện pháp nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn để đạt được hiệu quả kinh doanh tốt hơn trong những năm
tiếp theo cho CT.
Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Vốn và hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Đầu tư Tân Minh trong giai
đoạn từ năm 2011 đến năm 2013.
Tổng quan nghiên cứu
Sau khi có một khoảng thời gian để đọc và tìm hiểu về một số đề tài “Giải pháp
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp”, tôi thấy các hướng nghiên cứu và
cách giải quyết vấn đề của các tác giả có nhiều điểm khá giống nhau, tuy nhiên vẫn có sự khác biệt rõ nét trong việc đào sâu phân tích vấn đề.
Tác giả Đỗ Thị Hương [3]. Ở phần cơ sở lý luận tác giả nêu ra một số khái niệm về vốn được trích dẫn trong các tài liệu tham khảo, rồi cuối cùng đưa ra một lý thuyết chung về vốn cho riêng mình như sau: “Vốn của DN là biểu hiện bằng tiền của vật tư, tài sản được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh của DN nhằm thu lợi nhuận.” [3, tr.5]. Các lý thuyết tiếp theo tác giả đưa vào bài viết của mình như hiệu quả sử dụng vốn là gì?, các nhân tố ảnh hưởng,… Các phương pháp chủ yếu tác giả sử dụng
để tiến hành phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn như phương pháp so sánh,
phương pháp phân tích tỷ lệ. Về lựa chọn chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng vốn thì
tác giả sử dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ và VLĐ. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ thì có hiệu quả sử dụng TSCĐ, hệ số đảm nhiệm
VCĐ, hệ số sinh lời của TSCĐ. Với VLĐ thì có vòng quay VLĐ, tỷ suất lợi nhuận
VLĐ,... Tuy nhiên việc sắp xếp các chỉ tiêu phân tích còn chưa thực sự hợp lý khiến
bố cục bài viết bị ngắt quãng, không chặt chẽ để bổ sung tính gắn kết cho nhau. Còn
khi đi phân tích thì tác giả cũng chỉ đánh giá một cách chung chung, chưa đi sâu và làm rõ được vấn đề hiệu quả sử dụng vốn của CT, các nguyên nhân cho sự thay đổi
cũng chưa được thích đáng và còn nhiều chỗ mâu thuẫn.
Tác giả Nguyễn Hà Oanh [5], thì đưa ra một định nghĩa riêng về vốn cho mình
như sau: “Nguồn vốn của DN là nguồn hình thành nên các tài sản của DN, nguồn vốn của DN thường bao gồm 2 nguồn cơ bản là nguồn VCSH và nợ phải trả” [5, tr.2]. Để
tiến hành phân tích hiệu quả sử dụng vốn trong DN thì cũng giống như bài viết trước,
tác giả tiến hành phân loại vốn trong DN theo ba cách: Phân loại theo tính chất luân
chuyển, phân loại theo nguồn hình thành, phân loại theo thời gian huy động và sử
dụng. Các phương pháp được tác giả sử dụng cho bài viết của mình là phương pháp so
sánh, phương pháp phân tích tỷ lệ, phương pháp liên hệ đối chiếu và xếp hạng. Điểm
khác biệt của bài viết này so với bài viết trước là tác giả có đi sâu vào phân tích các chỉ tiêu thành phần khác của nguồn vốn hơn bài viết trước (như VCSH, nợ phải trả, nguồn
vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn ngoài VCĐ và VLĐ). Cách sắp xếp các chỉ tiêu
cũng khá hợp lý khiến bài đọc dễ hiểu hơn. Ví dụ với VCSH tác giả sử dụng các chỉ
tiêu như vòng quay VCSH và ROE, với vốn vay có khả năng sinh lời của tiền vay. Với
VCĐ là các chỉ tiêu vòng quay VCĐ, tỷ suất sinh lời VCĐ,… Với VLĐ thì đầu tiên
tác giả lựa chọn các chỉ tiêu tổng hợp như khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh
toán ngắn hạn, vòng quay vốn lưu động, tỷ suất sinh lời VLĐ, sau đó thì phân tích
thêm các chỉ tiêu thành phần khác của VLĐ như thời gian thu nợ trung bình, thời gian
luân chuyển hàng tồn kho trung bình. Với nguồn vốn ngắn hạn thì sử dụng một số chỉ
tiêu như vòng quay vốn ngắn hạn, tỷ suất sinh lời trên vốn ngắn hạn, với vốn dài hạn thì sử dụng hai chỉ tiêu là vòng quay vốn dài hạn và tỷ suất sinh lời trên vốn dài hạn. (Tuy nhiên việc phân tích hiệu quả sử nguồn vốn ngắn hạn và dài hạn có phần không cần thiết bởi hai ý này thực ra đã nằm trong hiệu quả sử dụng VCSH và nợ phải trả). Thông qua các chỉ tiêu trên cùng với những số liệu về sự biến động của các thành phần trong tổng nguồn vốn tác giả đã đưa ra những nhận định, đánh giá về hiệu quả sử dụng vốn của CT mình thực tập, cùng với đó cũng không quên đưa ra nguyên nhân cho sự thay đổi của các chỉ tiêu qua các năm. Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp thích hợp để khắc phục hoặc tiếp tục phát huy tốt hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn cho CT.
Tác giả Trần Thị Lan Anh [1]. Cũng như các bài viết trước, đầu tiên tác giả cũng
nêu ra một số khái niệm về vốn được trích dẫn trong các tài liệu tham khảo rồi mới
đưa ra một định nghĩa về vốn cho riêng bài viết của mình như sau: “Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền, là giá trị về tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ” [1, tr.1]. Sau
đó, tác giả cũng tiến hành lựa chọn các phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu phân
tích hiệu quả sử dụng vốn khá giống hai bài viết trước. Tuy nhiên, điểm khác biệt ở bài
viết này là tác giả có đưa thêm vào phần cơ sở lý luận một số khía cạnh khác mà hai
bài viết trước không có. Cụ thể, trước khi đi vào đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ, VLĐ, VCSH hay vốn vay tác giả còn có riêng một phần để đánh giá hiệu quả sử dụng
vốn nói chung thông qua các chỉ tiêu: vòng quay toàn bộ vốn trong kỳ; suất hao phí
vốn trong kỳ; tỷ lệ doanh lợi trên tổng vốn. Ngoài ra, tác giả còn đưa vào bài viết của
mình các chiến lược quản lý vốn trong DN: chiến lược cấp tiến, chiến lược thận trọng và chiến lược dung hòa (ý này thì trong bài viết thứ hai có nhưng bài viết đầu tiên thì
không), một số mô hình quản lý tài sản lưu động như mô hình quản lý hàng tồn kho
(EOQ) và mô hình dự trữ tiền tối ưu (Baumol),... Đó là một số điểm khác biệt của bài
viết này so với hai bài trước. Tuy nhiên, phần cơ sở lý luận mà bài viết này đưa ra có
nhiều phần rất dài nhưng lại không được sử dụng để phân tích trong chương 2 như các
phương pháp khấu hao tài sản cố định hay chính các mô hình quản lý tiền và hàng tồn
kho (Baumol, EOQ,…). Những phần này tuy có được nhắc đến trong chương 3 nhưng cũng chỉ là các giải pháp mang tính lý thuyết, không thiết thực.
Tóm lại, trong phần cơ sở lý thuyết của 3 bài luận văn trên có nhiều phần không
phục vụ cho việc đào sâu phân tích ở chương 2 nhưng các tác giả viết quá dài. Khi đi
sâu vào phân tích thì trong nội dung của các bài viết có một số nguyên nhân được đưa
ra để giải thích cho hiệu quả sử dụng vốn ở các năm thay đổi, có đôi chỗ còn mâu
thuẫn so với các phần đã viết trước đó.
Phƣơng pháp nghiên cứu
Thông qua việc tìm hiểu về kết cấu, bố cục và nội dung của một số bài luận văn
có liên quan đến đề tài tôi chọn, tôi đã có định hướng để thực hiện bài viết của mình
như sau: Đầu tiên đưa ra cơ sở lý luận về vốn và hiệu quả dụng vốn trong doanh nghiệp. Sau đó dùng phương pháp so sánh để thấy được sự thay đổi của các yếu tố trong nguồn vốn qua các năm và đưa ra lý do cho sự thay đổi ấy. Tiếp theo sử dụng phương pháp phân tích tỷ lệ để ước tính được tỷ trọng của các khoản như ROE, khả năng sinh lời,… từ đó đưa ra những nhận định, phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng của từng bộ phận trong tổng nguồn vốn một cách đúng đắn và khách quan nhất. Cuối cùng đưa ra các giải pháp giúp Công ty Cổ phần Đầu tư Tân Minh sử dụng vốn hiệu quả hơn trong những năm tiếp theo.
Kết cấu đề tài
Với hướng nghiên cứu như vậy, Luận văn được xây dựng thành 3 chương:
Chƣơng 1. Lý luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Chƣơng 2. Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần Đầu tƣ
Tân Minh
Chƣơng 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ở Công ty Cổ phần
Đầu tƣ Tân Minh
CHƢƠNG 1.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của vốn trong doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm vốn
Một số quan điểm cho rằng vốn là giá trị đem lại giá trị thặng dư. Ví dụ, theo
quan điểm của Mác:“vốn (tư bản) không phải là một vật, là tư liệu sản xuất, nó có giá
trị tạm thời trong lịch sử. Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột
lao động không công của công nhân làm thuê”. [6, tr.238]. Định nghĩa này mang một tầm khái quát lớn, nhưng do bị hạn chế bởi điều kiện khách quan lúc bấy giờ nên Mác
đã quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho DN.
Trong tài chính DN có nhiều quan niệm về vốn như:
Theo nghĩa hẹp: Vốn là tiềm lực tài chính của mỗi cá nhân, mỗi DN, mỗi quốc gia.
Theo nghĩa rộng: Vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuất
hàng hoá, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức kinh tế, kỹ thuật
của DN được tích luỹ, sự khéo léo về trình độ quản lý và tác nghiệp của các cán bộ
điều hành, cùng đội ngũ cán bộ công nhân viên trong DN, uy tín của DN. [5, tr.1 và
tr.2]. Quan điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác đầy đủ hiệu quả của
vốn trong nền kinh tế thị trường.
Vì vậy, để phù hợp cho cơ chế thị trường hiện nay, có thể khái quát: “vốn là trị
giá tính đƣợc bằng tiền của những tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp của DN, đƣợc DN sử dụng trong kinh doanh”.
Trong mọi DN, vốn đều bao gồm 2 bộ phận: VCSH và nợ; mỗi bộ phận này được
cấu thành bởi nhiều khoản mục khác nhau tùy theo tính chất của chúng. [4, tr.61]
1.1.2. Đặc điểm của vốn
Thứ nhất: Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định. Có nghĩa là vốn
phải được biểu hiện bằng giá trị tài sản hữu hình và tài sản vô hình của DN.
Thứ hai: Vốn phải vận động và sinh lời, đạt được mục tiêu trong kinh doanh.
Thứ ba: Vốn phải được tích tụ và tập trung một lượng nhất định thì mới có khả năng phát huy tác dụng khi đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh.
Thứ tư: Vốn có giá trị về mặt thời gian. Điều này có thể có vai trò quan trọng khi
bỏ vốn vào đầu tư và tính hiệu quả khi sử dụng đồng vốn.
Thứ năm: Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định, vốn sẽ không được đưa ra
để đầu tư khi mà người chủ của nó nghĩ về một sự đầu tư không có lợi nhuận.
Thứ sáu: Vốn được quan niệm như một hàng hoá đặc biệt vì nó có khả năng được
mua bán quyền sở hữu trên thị trường vốn, trên thị trường tài chính.
1
1.1.3. Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp
Thứ nhất: Vốn có vai trò quyết định cho việc thành lập, hoạt động và phát triển
của DN. Về mặt pháp lý, tất cả các DN dù ở thành phần kinh tế nào, để được thành lập và đi vào hoạt động thì nhất thiết cần phải có lượng vốn tối thiểu theo quy định của
Nhà nước hay còn gọi là vốn pháp định.
Thứ hai: Vốn giúp DN tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh một cách liên tục
có hiệu quả. Nếu DN thiếu vốn sẽ gây ra những tổn thất như: không đảm bảo thực hiện
các hợp đồng đã ký kết với khách hàng, không đủ tiền để thanh toán với nhà cung ứng kịp thời dẫn tới mất tín nhiệm trong quan hệ mua bán, do đó sẽ không giữ được khách
hàng,... Nếu những khó khăn đó kéo dài nhất định DN sẽ dẫn đến thua lỗ, phá sản.
Thứ ba: Vốn giúp DN nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường. Để đảm bảo
chiến thắng trong cạnh tranh, tất yếu các DN phải năng động nắm bắt nhu cầu thị trường, đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, cải tiến quy trình công nghệ, đa dạng hoá sản
phẩm, hạ giá thành,... Điều đó đòi hỏi các DN phải có nhiều vốn. Có vốn trong tay có
thể giúp DN nâng cao khả năng cạnh tranh để tồn tại trong thời buổi hiện nay.
1.2. Phân loại vốn
1.2.1. Phân loại theo hình thức chu chuyển
Vốn cố định: Là một bộ phận của vốn sản xuất biểu hiện dưới giá trị ban đầu để
đầu tư vào TSCĐ nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần vào giá trị của sản phẩm qua nhiều chu kỳ sản xuất
và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời gian sử dụng. Bộ phận VCĐ sẽ
trở về tay người sở hữu dưới hình thái tiền tệ sau khi tiêu thụ sản phẩm ra thị trường.
Vốn lưu động: Là biểu hiện bằng số tiền ứng trước về TSLĐ nhằm đảm bảo cho
quá trình tái sản xuất của DN được tiến hành một cách thường xuyên liên tục, nó được
chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và được thu hồi sau khi thu được tiền bán
sản phẩm. VLĐ của DN bao gồm những bộ phận sau: tiền và các khoản tương
đương tiền, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác.
1.2.2. Phân loại theo nguồn hình thành
Vốn chủ sở hữu: là số vốn của các chủ sở hữu đầu tư vào kinh doanh. Số vốn này không phải là một khoản nợ và DN không phải cam kết thanh toán. VCSH có thể do các chủ sở hữu góp (góp lần đầu và góp bổ sung trong quá trình hoạt động) hoặc được hình thành từ các nguồn khác (từ kết quả kinh doanh để lại, từ các nguồn tài trợ,...). [2, tr.263]
Nợ phải trả: là khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà DN có trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế. Đó là số tiền vốn mà DN đi vay, chiếm dụng của các đơn vị, tổ chức, cá nhân như: Vốn vay của ngân hàng thương mại,
2
các tổ chức tài chình khác, vốn vay thông qua phát hành trái phiếu, các khoản nợ
khách hàng chưa thanh toán. [1, tr.3]
1.2.3. Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng
Nguồn vốn dài hạn: Là nguồn vốn có tính chất ổn định và dài hạn mà DN có thể
sử dụng để đầu tư vào TSCĐ và một bộ phận TSLĐ tối thiểu thường xuyên cần thiết
cho hoạt động của DN. Nguồn vốn này bao gồm VCSH và vốn vay dài hạn của DN.
Nguồn vốn ngắn hạn: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm), được
sử dụng để đáp ứng cho các nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn
hạn và các khoản chiếm dụng của bạn hàng. [5, tr.6]
1.3. Hiệu quả sử dụng vốn và phân tích hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
1.3.1. Khái niệm, phân loại, tầm quan trọng và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu
quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
1.3.1.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả sử dụng vốn của DN là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai
thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn, làm cho đồng vốn sinh lời tối đa, nhằm mục tiêu
cuối cùng là tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu. Hiệu quả sử dụng vốn được lượng hóa hoá thông qua các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng VCĐ, VLĐ,VCSH,… Nó
phản ánh mối quan hệ giữa đầu ra và đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh thông
qua thước đo tiền tệ hay cụ thể là mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ
ra. Kết quả thu được càng cao so với chi phí bỏ ra thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao.
1.3.1.2. Phân loại hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Hiệu quả toàn bộ: thể hiện mối tương quan giữa kết quả thu được với tổng số vốn
DN bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh.
Hiệu quả bộ phận: cho thấy mối tương quan giữa kết quả thu được với từng bộ
phận vốn (VCSH, nợ phải trả, VCĐ, VLĐ). Việc tính toán, phân tích hiệu quả bộ phận sẽ chỉ ra cho chúng ta thấy hiệu quả sử dụng từng loại vốn của DN và ảnh hưởng của
chúng đối với hiệu quả sử dụng vốn chung trong DN.
1.3.1.3. Tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Thứ nhất: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của DN. Nếu sử dụng vốn có hiệu quả để sinh lời thì DN sẽ huy động vốn tài trợ một cách dễ dàng để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh hay mở rộng quy mô, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của DN.
Thứ hai: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn giúp DN nâng cao uy tín của mình trên
thị trường, nâng cao mức sống của cán bộ công nhân viên.
3
Thứ ba: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn giúp DN tăng khả năng cạnh tranh trên thị
trường. Khi DN mở rộng quy mô, để tăng hiệu quả sử dụng vốn theo thì điều tất yếu
phải đầu tư vào máy móc, công nghệ hiện đại để nâng cao chất lượng sản phẩm hơn, đào tạo đội ngũ cán bộ với chất lượng tay nghề cao hơn,... Tất cả các yếu tố trên giúp DN
hoàn thiện và mạnh mẽ hơn qua thời gian, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.
1.3.1.4. Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Chu kỳ sản xuất: Nếu như chu kỳ sản xuất ngắn, thì đồng nghĩa với việc DN sẽ
có thể thu hồi vốn nhanh hơn, có khả năng tạo ra nhiều lợi nhuận hơn, từ đó mang lại nhiều cơ hội hơn trong vấn đề đầu tư hoặc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ngược lại, nếu như chu kỳ sản xuất kinh doanh kéo dài dẫn tới việc DN sẽ mất đi các
cơ hội kinh doanh do thời gian thu hồi vốn lâu.
Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp: Bất cứ một DN nào khi tiến hành kinh doanh đều định hướng trước cho mình một kế hoạch để phát triển thông qua các chiến
lược kinh doanh. Do đó, để hiệu quả sử dụng vốn của DN được tốt thì các chiến lược
kinh doanh phải đúng hướng, phù hợp với những nguồn lực hiện có trong DN.
Giá cả các nguyên nhiên vật liệu đầu vào: Trong điều kiện giá bán sản phẩm của
DN không đổi, nếu giá cả của các yếu tố đầu vào biến động theo chiều hướng tăng lên
sẽ làm giảm lợi nhuận, thậm chí còn khiến lợi nhuận âm bởi doanh thu từ việc bán sản
phẩm của DN không đủ bù đắp được chi phí mà DN phải bỏ ra để sản xuất chúng. Từ đó làm cho hiệu quả sử dụng vốn của DN giảm xuống.
Đối thủ cạnh tranh cùng ngành: Dưới sự ảnh hưởng của yếu tố đối thủ cạnh tranh
thì các loại sản phẩm, dịch vụ ngày càng đa dạng, phong phú. Thông thường, sản phẩm
sản xuất ra muốn tiêu thụ được thì phải đáp ứng được 3 tiêu chí cơ bản: chất lượng tốt,
giá thành hạ, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Rõ ràng là dưới sức ép của đối
thủ cạnh tranh thì doanh thu tiêu thụ sản phẩm cũng như chi phí sản xuất của DN sẽ bị
ảnh hưởng. Vì thế, chắc chắn cũng sẽ tác động đến hiệu quả sử dụng vốn của DN.
Nhân tố khách hàng: Hiệu quả kinh doanh của DN phụ thuộc vào số lượng khách
hàng và sức mua của họ. DN bán được nhiều hàng hơn khi sản phẩm có uy tín, công tác quảng cáo tốt và thu được nhiều lợi nhuận nhờ thỏa mãn tốt các nhu cầu và thị hiếu của khách hàng. Mặt khác, khách hàng cũng có thể là giảm lợi nhuận của DN bằng cách đòi hỏi chất lượng cao hơn hoặc giá bán thấp hơn,... khiến DN mất nhiều chi phí hơn.
Nhà cung cấp: Muốn sản xuất kinh doanh thì DN phải có các yếu tố đầu vào như: nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, công nghệ,... Khi đó DN phải mua ở các DN khác. Nếu như DN có mối quan hệ lâu năm với nhà cung cấp thì khi mua nguyên vật liệu, máy móc,… có thể được cung cấp những sản phẩm có chất lượng tốt nhất, chi phí rẻ, góp phần tăng lợi nhuận sau thuế, gia tăng hiệu quả sử dụng vốn.
4
Tác động của máy móc, công nghệ: Ít có DN nào mà không phụ thuộc vào nhân
tố công nghệ. Công nghệ mới ra đời làm cho máy móc đã được đầu tư với lượng vốn
lớn của DN dần trở nên lạc hậu. So với công nghệ mới, công nghệ cũ đòi hỏi chi phí bỏ ra ít hơn nhưng lại đạt hiệu quả thấp hơn làm cho sức cạnh tranh của DN trên thị
trường giảm sút hay hiệu quả sử dụng vốn thấp. Đối với DN có trình độ sản xuất cao,
công nghệ hiện đại sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí sản xuất, từ đó hạ giá thành sản
phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
Trình độ tổ chức quản lý của lãnh đạo: Nếu trình độ của nhà quản lý tốt sẽ đảm bảo cho DN có khả năng thanh toán, tiết kiệm chi phí, thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản
phẩm,... góp phần gia tăng hiệu quả sử dụng vốn. Còn ngược lại, nếu trình độ nhà quản
lý yếu kém, hoạt động sản xuất kinh doanh thua lỗ kéo dài sẽ làm cho vốn của DN bị
thâm hụt sau mỗi chu kì sản xuất, dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn giảm.
Trình độ tay nghề của người lao động: Vai trò của người lao động được thể hiện
ở trình độ tay nghề cao, ý thức trách nhiệm và lòng nhiệt tình với công việc. Nếu hội tụ
đủ các yếu tố này, người lao động sẽ thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh phát triển,
hạn chế hao phí nguyên vật liệu, giữ gìn, bảo quản tốt tài sản, góp phần nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn của DN.
1.3.2. Khái niệm, mục tiêu và vai trò của việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn trong
doanh nghiệp
1.3.2.1. Khái niệm phân tích hiệu quả sử dụng vốn
Phân tích hiệu quả sử dụng vốn là một thuật ngữ được sử dụng để chỉ quá trình
nghiên cứu toàn bộ hoạt động sử dụng nguồn vốn của một DN. Nói cách khác phân tích
hiệu quả sử dụng vốn là việc phân chia nguồn vốn thành các bộ phận cấu thành nên nó
rồi dùng các phương pháp so sánh, phân tích tỷ lệ, … để làm rõ được tình hình biến
động của các thành phần vốn và sau đó tổng hợp lại nhằm rút ra xu hướng vận động,
phát triển của từng thành phần vốn trong DN, rồi đánh giá xem hiệu quả sử dụng vốn
của DN là cao hay thấp, có đạt được mục tiêu như ban đầu DN đề ra hay không. Đồng thời phải nêu ra được các nguyên nhân cho sự thay đổi của nguồn vốn trong DN qua
các năm. Cuối cùng đưa ra các giải pháp để khắc phục các nhược điểm còn tồn tại và phương hướng để phát huy các thành tích đã đạt được nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong các năm tiếp theo cho CT.
1.3.2.2. Mục tiêu của phân tích hiệu quả sử dụng vốn
Một: Đánh giá tình hình sử dụng vốn của DN trên các khía cạnh như tỷ trọng các thành phần vốn trong tổng nguồn vốn, khả năng sinh lời của từng loại vốn đó,… nhằm đáp ứng thông tin cho các đối tượng quan tâm đến hiệu quả sinh lời từ vốn của DN như các nhà đầu tư, ngân hàng,…
5
Hai: Là công cụ để kiểm soát quá trình sử dụng vốn của DN trên cơ sở kiểm tra,
đánh giá các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng vốn, kết quả đạt được so với các chỉ tiêu kế
hoạch đã dự toán trước,… Từ đó xác định được những điểm mạnh và điểm yếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp cho DN có được những quyết định và giải pháp
đúng đắn, đảm bảo cho việc sử dụng vốn đạt hiệu quả cao trong các năm tiếp theo.
Ba: Trở thành một trong những cơ sở cho dự báo tài chính DN, giúp các nhà
phân tích dự đoán được tiềm năng sinh lời từ vốn của DN trong tương lai.
1.3.2.3. Vai trò của phân tích hiệu quả sử dụng vốn
Cung cấp những thông tin hữu ích cho các đối tượng quan tâm đến hiệu quả sử dụng
vốn của DN, giúp họ có cơ sở đưa ra các quyết định phù hợp với mục đích của mình.
Với các nhà quản trị DN: cần thông tin để kiểm soát và chỉ đạo tình hình sản xuất
kinh doanh để đồng vốn được đem đi đầu tư không bị thất thoát hay lãng phí. Việc phân tích sử dụng vốn giúp họ đưa ra các định hướng cho các quyết định về cơ cấu
vốn, đánh giá lại hiệu quả sử dụng vốn để có những biện pháp điều chỉnh phù hợp.
Với các tổ chức tín dụng (Ngân hàng): cần những thông tin về việc sử dụng vốn
của DN để đem đi đầu tư. Nếu những đồng vốn này tạo ra được nhiều lợi nhuận thì sẽ
tạo được niềm tin cho ngân hàng để ngân hàng quyết định sẽ cho vay hay tiếp tục cho
vay. Ngược lại, nếu những đồng vốn đem đi đầu tư có khả năng sinh lời kém hay thậm
chí là thua lỗ thì các thông tin này cũng đều được phản ánh thông qua quá trình phân tích hiệu quả sử dụng vốn, giúp cho các ngân hàng cân nhắc kỹ trước khi có quyết
định cho DN đó vay vốn hay không để tránh rơi vào tình trạng nợ xấu.
Với cơ quan thuế: quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn của DN để nắm được tình
hình kinh doanh của DN, từ đó biết được DN có thực hiện đúng nghĩa vụ nộp thuế cho
ngân sách Nhà nước hay không.
Với người lao động: cần những thông tin về hiệu quả sử dụng vốn để biết được
sức mạnh thực sự của DN mình đang làm việc, từ đó có được niềm tin với DN và tạo
động lực làm việc tốt hơn.
1.3.3. Các phương pháp phân tích hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
1.3.3.1. Phƣơng pháp so sánh
Để áp dụng phương pháp so sánh ta cần phải đảm bảo các điều kiện so sánh được giữa các chỉ tiêu tài chính (Ví dụ như thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính,…) và theo mục đích phân tích để chọn gốc so sánh. Gốc so sánh được chọn là gốc về thời gian hoặc không gian. Kỳ phân tích được chọn là kỳ báo cáo hoặc kế hoạch. Giá trị so sách có thể được lựa chọn là số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân.
6
1.3.3.2. Phƣơng pháp phân tích tỷ lệ
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính.
Về nguyên tắc thì phương pháp tỷ lệ đòi hỏi phải xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính của DN, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của
DN với tỷ lệ tham chiếu.
1.3.4. Nội dung phân tích hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
1.3.4.1. Đánh giá khái quát tình hình biến động của các thành phần vốn
Đánh giá khái quát tình hình biến động của các thành phần vốn (như VCĐ và VLĐ; VSCH và nợ phải trả) thông qua việc so sánh các số liệu tài chính của năm nay
so với năm trước cả về số tuyệt đối lẫn tương đối. Công việc này sẽ cung cấp cho
người sử dụng thông tin biết được tình hình thay đổi về tổng quy mô vốn kinh doanh,
tỷ trọng của từng thành phần vốn trong tổng vốn qua các năm, lượng vốn mà đơn vị sử dụng trong kỳ cũng như khả năng huy động vốn từ các nguồn khác nhau của DN.
Để đánh giá tình hình biến động của các thành phần trong tổng nguồn vốn qua
các năm, ta sử dụng các thông tin (TSNH, TSDH, vay ngắn hạn, vay dài hạn, vốn đầu
tư của chủ sở hữu, lợi nhuận không chia,…) nằm trong các chỉ tiêu Tổng tài sản và
Tổng nguồn vốn của Bảng cân đối kế toán.
Tuy nhiên, việc đánh giá tình hình biến động của các thành phần trong tổng
nguồn vốn ở trên mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát. Để có thể đánh giá chi tiết hơn về hiệu quả sử dụng vốn của DN ta cần phải đi sâu phân tích các chỉ tiêu sau:
1.3.4.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
1.3.4.2.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn một cách chung nhất người ta dùng các chỉ
tiêu như: Hiệu suất sử dụng tổng nguồn vốn; suất hao phí vốn trong kỳ; tỷ suất sinh lời
trên tổng vốn.
Hiệu suất sử dụng tổng nguồn vốn (Vòng quay toàn bộ vốn trong kỳ)
Doanh thu thuần (1) Hiệu suất sử dụng tổng nguồn vốn = Tổng nguồn vốn
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn được huy động để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh sau một kỳ sẽ đem lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng lớn càng chứng tỏ trình độ sử dụng vốn của DN đem đi đầu tư có hiệu quả.
Suất hao phí vốn trong kỳ
Tổng nguồn vốn Suất hao phí vốn trong kỳ = (2) Doanh thu thuần
7
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho ta thấy để thu được một đồng doanh thu thuần thì DN
cần bỏ ra bao nhiêu đồng vốn. Chỉ tiêu này ngược lại với chỉ tiêu hiệu suất sử dụng
tổng nguồn vốn của DN nên con số này càng thấp thì càng tốt.
Tỷ suất sinh lời trên tổng vốn
Lợi nhuận ròng Tỷ suất sinh lời trên tổng vốn = (3) Tổng nguồn vốn
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn được sử dụng trong quá trình sản
xuất kinh doanh thì đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao
thì càng biểu hiện xu hướng tích cực cho hiệu quả sử dụng vốn trong DN.
Tuy nhiên, các chỉ tiêu trên chưa phản ánh được những nét riêng biệt về hiệu quả
sử dụng của từng bộ phận vốn. Do đó, để đánh giá đầy đủ hơn hiệu quả sử dụng vốn
chúng ta cần xem xét tới các chỉ tiêu cá biệt. Đó là các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử
dụng VCSH, nợ phải trả, VLĐ và VCĐ của DN.
1.3.4.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu
Vòng quay vốn chủ sở hữu
Doanh thu thuần Vòng quay vốn chủ sở hữu = (4) Vốn ủ ở ữ
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng VCSH tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu
thuần. Nếu chỉ tiêu này ngày càng cao do doanh thu thuần tăng lên đồng thời VCSH
không biến động nhiều là biểu hiện tốt, chứng tỏ DN sử dụng VCSH có hiệu quả.
Ngược lại nếu chỉ số này giảm xuống do tốc độ tăng doanh thu không bằng tốc độ gia
tăng của các khoản đầu tư từ VCSH thì cho thấy DN đang sử dụng VCSH chưa hiệu quả.
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Lợi nhuận ròng Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu = (5) Vốn chủ sở hữu
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng VCSH đưa vào sản xuất kinh doanh đem lại mấy đơn vị lợi nhuận sau thuế. Trị số của chỉ tiêu này càng lớn thì sức sinh lợi của
VCSH càng cao, hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại, trị số của chỉ tiêu này càng
nhỏ thì khả năng sinh lời của VCSH càng nhỏ, hiệu quả sử dụng VCSH càng thấp.
Để đánh giá những thay đổi của ROE là tích cực hay tiêu cực, ta cần đặt nó trong mối quan hệ với tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA). Bởi VCSH là một phần của tổng vốn, góp phần hình thành lên tài sản nên ROE phụ thuộc vào ROA.
Ta có mối quan hệ sau: ROE ROA Đ n b y tài chính. Trong đó:
Lợi nhuận ròng ROA = (6)
ổ à ả 8
Tổng nguồn vốn Đòn bẩy tài chính = (7) Vốn chủ sở hữu
Khi chỉ tiêu đòn bẩy tài chính tăng tức là DN tăng sử dụng nợ, điều này đồng nghĩa với việc phải đối mặt với những rủi ro tài chính. Nếu chỉ tiêu ROA giảm nhiều
hơn so với mức tăng của trị số đòn bẩy tài chính thì chứng tỏ việc gia tăng đòn bẩy tài
chính dẫn đến làm giảm ROE. Ngược lại, nếu ROA tăng nhiều hơn mức giảm của hệ số đòn bẩy tài chính thì dẫn đến ROE tăng và giúp DN giảm thiểu được rủi ro tài chính.
1.3.4.2.3. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng nợ phải trả
Tỷ suất sinh lời trên tổng nợ phải trả
Lợi nhuận ròng Tỷ suất sinh lời trên tổng nợ phải trả = (8) Tổng nợ phải trả
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ kinh doanh DN sử dụng 1 đồng nợ phải
trả để đầu tư thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ DN đang sử dụng nợ một cách hiệu quả. Ngược lại, nếu chỉ tiêu này thấp
chứng tỏ DN sử dụng nợ chưa hiệu quả.
1.3.4.2.4. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
Vòng quay vốn cố định
Doanh thu thuần Vòng quay VCĐ = (9) Vốn cố định
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh, một đồng VCĐ được đầu tư vào việc mua sắm
và sử dụng TSCĐ trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này
càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng VCĐ của DN càng cao và ngược lại .
Suất hao phí vốn cố định
Vốn cố định Suất hao phí VCĐ = (10) Doanh thu thuần
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra được một đồng doanh thu thuần trong kỳ
thì DN cần sử dụng bao nhiêu đồng VCĐ. Chỉ tiêu này ngược lại với chỉ tiêu vòng quay VCĐ nên chỉ tiêu này càng nhỏ càng thể hiện trình độ quản lý và sử dụng VCĐ càng cao.
Tỷ suất sinh lời trên vốn cố định
Lợi nhuận ròng Tỷ suất sinh lời trên VCĐ = (11) Vốn cố định
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết, một đồng VCĐ có thể tạo ra được bao nhiêu đồng
lợi nhuận sau thuế cho DN. Chỉ tiêu này càng cao bao nhiêu thì chứng tỏ DN sử dụng VCĐ càng có hiệu quả bấy nhiêu.
9
1.3.4.2.5. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng Vốn lưu động
(1) Các chỉ tiêu tổng hợp
Khả năng thanh toán ngắn hạn
Tổng TSLĐ Khả năng thanh toán ngắn hạn = (12) Nợ ngắn hạn
Ý nghĩa: Một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng TSLĐ. Hệ
số khả năng thanh toán ngắn hạn > 1 thì chứng tỏ rằng DN chủ động trong việc hoàn
lại số vốn do nợ ngắn hạn. Tuy nhiên, nếu tỷ số này lớn quá thì cũng không tốt do tốn nhiều chi phí để quản lý các TSLĐ, ảnh hưởng đến lợi nhuận ròng của CT.
Khả năng thanh toán nhanh
Tổng TSLĐ Hàng tồn kho Khả năng thanh toán nhanh = (13) Nợ ngắn hạn
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh chính xác hơn khả năng thanh toán ngắn hạn của DN bởi nó đã loại bỏ hàng tồn kho ra khỏi công thức tính (vì hàng tồn kho có tính
thanh khoản không cao). Hệ số khả năng thanh toán nhanh < 1 thì thanh toán kém, có
khả năng không thể đáp ứng các nhu cầu thanh toán cho các khoản nợ trong ngắn hạn.
Nếu ≥ 1 được xác định là khả quan, nhưng nếu duy trì hệ số này ở mức cao quá thì
cũng dẫn đến sử dụng vốn kém hiệu quả.
Khả năng thanh toán bằng tiền
Tiền và các khoản tương đương tiền Khả năng thanh toán bằng tiền = (14) Nợ ngắn hạn
Ý nghĩa: Nếu chỉ số này cao thì chứng tỏ khả năng DN có thể đáp ứng nhanh cho
các khoản nợ ngắn hạn đến hạn trả (bởi tiền và các chứng khoán khả thị có tính thanh
khoản cao nhất). Tuy nhiên, nếu tỷ suất này cao quá chứng tỏ DN đang bị ứ đọng vốn
hoặc đang trong tình trạng không biết tạo ra cơ hội cho đồng vốn của mình sinh lời.
Vòng quay vốn lƣu động
Doanh thu thuần Vòng quay VLĐ = (15) Vốn lưu động
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết trong một chu kì kinh doanh VLĐ quay được bao nhiêu vòng. Hệ số này càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng VLĐ càng cao, số vốn lưu động tiết kiệm được càng lớn và ngược lại.
Tỷ suất sinh lời trên vốn lƣu động
Lợi nhuận ròng Tỷ suất sinh lời trên VLĐ = (16) Vốn lưu động
10
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết một đồng VLĐ tham gia vào hoạt động sản xuất
kinh doanh thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ. Hệ số sinh lời của VLĐ theo
lợi nhuận sau thuế càng lớn thì hiệu quả sử dụng VLĐ càng cao.
(2) Các chỉ tiêu thành phần
Hệ số thu nợ (Vòng quay khoản phải thu khách hàng)
Hệ số thu nợ = (17) Doanh thu thuần Phải thu khách hàng
Ý nghĩa: Trong một năm hay một kỳ khoản phải thu quay được bao nhiêu vòng.
Hệ số này càng cao chứng tỏ DN thu hồi các khoản nợ càng nhanh. Điều này được
đánh giá là tốt vì giảm được vốn bị chiếm dụng. Tuy nhiên, nếu hệ số này quá cao có
thể ảnh hưởng không tốt đến quá trình tiêu thụ, làm giảm doanh thu do chính sách tín dụng quá hạn chế.
Thời gian thu nợ trung bình
360 ngày Thời gian thu nợ trung bình = (18) Hệ số thu nợ
Ý nghĩa: Kể từ khi DN bán chịu đến khi thu được tiền trung bình là bao nhiêu
ngày. Chỉ số này càng thấp thì chứng tỏ khả năng thu hồi nợ của DN là tốt, cho thấy
DN kiểm soát tốt các khoản phải thu của mình. Nếu thời gian thu nợ trung bình quá
dài thì là dấu hiệu không tốt cho DN do làm tăng vốn bị chiếm dụng, tăng chi phí nợ
quá hạn và có thể dẫn đến không thu hồi được nợ.
Hệ số lƣu kho (V ng quay hàng tồn kho)
Giá vốn hàng bán Hệ số lưu kho = (19) Hàng tồn kho
Ý nghĩa: Trong một năm hay một kỳ, hàng tồn kho quay được bao nhiêu vòng.
Thông thường, nếu số vòng quay hàng tồn kho càng cao thì càng thể hiện công việc
sản xuất kinh doanh của DN là tốt, tạo ra các sản phẩm chất lượng nên thời gian tiêu
thụ nhanh. Nếu số vòng quay hàng tồn kho thấp, chứng tỏ một lượng vốn đáng kể bị ứ
đọng lại do dự trữ vật tư, hàng hóa quá mức hoặc việc tiêu thụ sản phẩm là khó khăn.
Thời gian luân chuyển hàng tồn kho trung bình
360 (20) Thời gian luân ch yển hàng tồn kho trung bình = Hệ số lưu kho
Ý nghĩa: Kể từ khi DN mua hàng đến khi bán được hàng trung bình là bao nhiêu ngày. Do vậy, ngược với hệ số lưu kho, chỉ tiêu này càng nhỏ, thời gian quay vòng càng ngắn thì tốc độ luân chuyển hàng tồn kho càng lớn, khả năng hoạt động kinh doanh của DN càng tốt và ngược lại.
11
CHƢƠNG 2.
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƢ TÂN MINH
2.1. Giới thiệu về Công ty Cổ phần Đầu tƣ Tân Minh
CTCPĐTTM thành lập ngày 16 tháng 8 năm 2005, có trụ sở chính tại Tầng 5 -
Số 475 – Nguyễn Trãi – Phường Thanh Xuân Nam – Quận Thanh Xuân – Hà Nội.
Trong thời gian đầu mới thành lập từ năm 2005 đến năm 2008, mô hình CT còn nhỏ và
dịch vụ cung cấp còn hạn chế. Đến cuối năm 2008, CT đã có những chiến lược mạnh
dạn như: thay đổi cơ cấu thành viên, tăng vốn điều lệ, thay đổi đăng ký kinh doanh và cải tổ đội ngũ nhân sự. Kết quả là CT đã mở rộng thêm các ngành nghề lĩnh vực kinh
doanh như: sản xuất các sản phẩm nội thất (bàn ghế, tủ gỗ, nhôm, sắt),… (ngoài thi
công xây dựng và tư vấn thiết kế xây dựng như hồi mới thành lập).
Trong ba năm gần đây, CTCPĐTTM chủ yếu cung cấp cho thị trường các công trình xây dựng cho các hộ gia đình và khu công nghiệp, mở rộng đường bộ, xây dựng
cầu cống ở một số nơi trên địa bàn Thủ đô Hà Nội, tư vấn thiết kế và giám sát xây
dựng theo các yêu cầu cụ thể của khách hàng. Ngoài ra, CT còn sản xuất và bán các
sản phẩm nội thất cho các cơ quan hành chính và hộ gia đình.
Hiện nay, CT có 150 cán bộ công nhân viên, trong đó có 8 kỹ sư, 12 đại học, 17
cao đẳng, 30 trung cấp thuộc các ngành nghề, còn lại là công nhân và lao động phổ
thông. Trong ba năm trở lại đây (2011, 2012, 2013). Lợi nhuận sau thuế của CT luôn dương, đóng góp một khoản thuế không nhỏ cho Ngân sách Nhà nước.
Hình 2.1. Cơ cấu tổ chức của Công ty
Đại hội đồng cổ đông
Ban kiểm soát Hội đồng quản trị
Tổng Giám đốc
Phó Tổng Giám
Phòng Phòng Phòng Các đội Phòng Xưởng Tư vấn Tài chính Tổ chức Thi công Thiết kế sản xuất Giám sát Kế toán Hành chính Xây dựng
(Nguồn: Phòng Tổ chức – Hành chính)
12
Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận
Đại hội đồng cổ đông: đưa ra các quyết định quan trọng liên quan đến tình hình
hoạt động, kế hoạch phát triển lâu dài, bầu ra cơ quan quản lý của CT.
Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý của CT, có toàn quyền nhân danh CT để
quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích và quyền lợi của CT, ngoại trừ các vấn
đề thuộc quyền hạn của Đại hội đồng cổ đông quyết định.
Ban kiểm soát: Ban kiểm soát thực hiện giám sát Hội đồng quản trị, Tổng giám
đốc trong việc quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của CT, chịu trách nhiệm
trước Đại hội đồng cổ đông trong thực hiện các nhiệm vụ được giao.
Tổng Giám đốc: là người người đại diện theo pháp luật, điều hành các hoạt động
hàng ngày của CT và chịu trách nhiệm trước Hội đồng Quản trị về các nhiệm vụ và
quyền hạn được giao phó.
Phó tổng giám đốc (PTGĐ): Dưới Tổng Giám đốc có 3 PTGĐ. Mỗi PTGĐ có
một chức năng và nhiệm vụ riêng nhưng đều có chức năng là giúp việc cho Tổng giám
đốc. Quyền hạn và trách nhiệm của mỗi PTGĐ được giao trong lĩnh vực chuyên môn
mà họ quản lý.
Phòng Tài chính - Kế toán: Có nhiệm vụ và chức năng là ghi chép, phản ánh
hàng hoá và thời gian lao động dưới hình thức giá trị và sử lý số liệu nhằm giúp cho Tổng Giám đốc giám sát, quản lý, kiểm tra tình hình tài chính vốn, tài sản của CT và
hoạt động sản xuất kinh doanh.
Phòng Tổ chức - Hành chính: Có nhiệm vụ tổ chức tuyển dụng lao động, quản
lý nhân sự, tiền lương, bảo hiểm xã hội, các chính sách cho người lao động về an toàn
lao động, bảo hiểm lao động, các chính sách đào tạo, bồi dưỡng, kỷ luật.
Phòng thiết kế: Chuyên thực hiện thiết kế các công trình kiến trúc, quy hoạch xây
dựng, các đồ dùng, vật dụng thường dùng trong nội thất của các công trình xây dựng.
Xưởng sản xuất: Là nơi tiếp nhận các mẫu thiết kế về nội thất trong nhà của
phòng thiết kế để tiến hành công đoạn sản xuất theo số lượng mà khách hàng yêu cầu.
Các đội thi công xây dựng: Thực hiện các hợp đồng xây lắp do CT giao khoán.
Phòng Tư vấn - Giám sát: Hướng dẫn và kiểm tra các nhân viên trong CT về thực hiện các tiêu chuẩn thiết kế, các quy định về lập, thẩm định, phê duyệt các loại đồ án quy hoạch xây dựng. Ngoài ra còn thành lập ban các ban quản lý, lập kế hoạch triển khai các biện pháp để thực hiện toàn bộ các giai đoạn của quy trình xây dựng từ lập kế hoạch, thiết kế, đấu thầu, thi công, kết thúc công trình bàn giao cho chủ đầu tư.
2.2. Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần Đầu tƣ Tân Minh
2.2.1. Khái quát kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
13
Bảng 2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh tại CTCPĐTTM từ 2011 – 2013
Đơn vị tính: VNĐ
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Tuyệt đối Tuyệt đối
(I) (III) (II)
DT bán hàng và cung cấp dịch vụ (IV) = (II) – (I) 4.911.423.052 11.009.944.684 10.553.931.876 6.098.521.632 Chênh lệch 2012-2011 Tƣơng đối (%) (IV) / (I) 124,17 Chênh lệch 2013- 2012 Tƣơng đối (%) (V) / (II) (4,14) (V) = (III) – (II) (456.012.808)
Các khoản giảm trừ doanh thu 0 272.615.904 58.378.010 272.615.904 100,00 (214.237.894) (78,59)
Doanh thu thuần 4.911.423.052 10.737.328.780 10.495.553.866 5.825.905.728 118,62 (241.774.914) (2,25)
Giá vốn hàng bán 2.479.942.573 6.679.016.262 7.280.591.549 4.199.073.689 169,32 601.575.287 9,01
Lợi nhuận gộp 2.431.480.479 4.058.312.518 3.214.962.317 1.626.832.039 66,91 (843.350.201) (20,78)
Doanh thu hoạt động tài chính 1.307.678 1.628.326 1.495.134 320.648 24,52 (133.192) (8,18)
Chi phí tài chính 101.765.583 227.865.516 218.677.171 126.099.933 123,91 (9.188.345) (4,03)
Chi phí quản lý kinh doanh 1.755.228.643 1.961.981.476 1.948.304.295 206.752.833 11,78 (13.677.181) (0,70)
Lợi nhuận thuần từ kinh doanh 575.793.931 1.870.093.852 1.049.475.985 1.294.299.921 224,79 (820.617.867) (43,88)
Thu nhập khác 17.372.148 33.423.369 25.609.530 16.051.221 92,40 (7.813.839) (23,38)
Chi phí khác 4.371.534 18.635.776 15.425.455 14.264.242 326,30 (3.210.321) (17,23)
Lợi nhuận khác 13.000.614 14.787.593 10.184.075 1.786.979 13,75 (4.603.518) (31,13)
Lợi nhuận kế toán trƣớc thuế 588.794.545 1.884.881.445 1.059.660.060 1.296.086.900 220,13 (825.221.385) (43,78)
Chi phí thuế thu nhập DN 172.640.032 0 264.915.015 (172.640.032) (100,00) 264.915.015 100,00
Lợi nhuận sau thuế thu nhập DN 416.154.513 1.884.881.445 794.745.045 1.468.726.932 352,93 (1.090.136.400) (57,84)
(Nguồn: Tính toán dựa vào bảng báo cáo kết quả kinh doanh giai đoạn 2011 - 2013)
14
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: của CTCPĐTTM vào năm 2012 đạt 11.009.944.684 VNĐ, tăng 6.098.521.632 VNĐ so với cùng thời điểm năm 2011 (tương ứng tăng 124,17%) và nhiều hơn 456.012.808 VNĐ so với năm 2013. Doanh thu này trong cả ba năm chủ yếu là từ lĩnh vực thi công xây dựng, tư vấn thiết kế, giám sát xây dựng và bán sản phẩm nội thất. Trong hai năm 2012 và 2013, CT có nhiều đơn đặt hàng thiết kế trang thiết bị nội thất, trúng thầu được nhiều công trình lớn như mở rộng đường bộ, xây dựng cầu cống,… và các khoản thu từ việc tư vấn thiết kế, giám sát thi công công trình cho các DN trong Thủ đô Hà Nội cho nên việc doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của CT trong hai năm 2012 và 2013 cao hơn hẳn năm 2011 là điều dễ hiểu khi trong năm 2011 CT chủ yếu chỉ thực hiện các dự án có quy mô vừa và nhỏ trong các khu công nghiệp, hộ gia đình và số lượng đồ nội thất bán cho khách hàng còn chưa nhiều. Mặc dù, số lượng các công trình mới trúng thầu trong năm 2013 cũng tương đương so với năm 2012 nhưng ta thấy doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của CTCPĐTTM trong năm 2013 có phần thấp hơn so với năm 2012 (456.012.808 VNĐ) là do doanh thu từ việc tư vấn thiết kế, giám sát xây dựng và bán bàn ghế nội thất trong năm 2013 giảm.
Các khoản giảm trừ doanh thu: Năm 2011 là 0 VNĐ, năm 2012 là 272.615.904 VNĐ và năm 2013 là 58.378.010 VNĐ. Các khoản giảm trừ doanh thu này chủ yếu là do trong hai năm 2012 và 2013 CT có áp dụng chính sách chiết khấu thương mại cho khách hàng khi mua với số lượng lớn đồ nội thất, nhất là trong năm 2012 để đẩy nhanh tốc độ bán hàng.
Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ: Năm 2012, doanh thu thuần là 10.737.328.780 VNĐ, năm 2013 thấp hơn một chút là 10.495.553.866 VNĐ. Cả hai năm đều lớn hơn gấp đôi so với năm 2011 cho thấy khách hàng ngày càng yêu thích dịch vụ do CT khi cung cấp hơn khi CT bán được nhiều đồ nội thất và xây dựng được nhiều công trình hơn (bởi giá bán sản phẩm và công thợ xây dựng của CT trong ba năm qua chỉ tăng nhẹ).
Giá vốn hàng bán: Thông qua bảng 2.1, ta thấy giá vốn hàng bán có quan hệ tỷ
lệ thuận với doanh thu, bởi khi doanh thu tăng do bán được nhiều hàng hơn thì chi phí để mua nguyên nhiên vật liệu đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất cũng tăng theo. Trong năm 2011, giá vốn hàng bán là 2.479.942.57 VNĐ, năm 2012 là 6.679.016.262 VNĐ, tăng 4.199.073.689 VNĐ (tương ứng tăng 169,32%) so với năm 2011. Còn vào năm 2013, giá vốn hàng bán tăng 601.575.287 VNĐ so với năm 2012, tương đương
tăng 9,01%. Ở đây, ta thấy có một thắc mắc cần giải thích là: tại sao doanh thu từ bán
hàng và cung cấp dịch vụ của năm 2013 thấp hơn năm 2012 nhưng giá vốn hàng bán của năm 2013 lại cao hơn hơn 600 triệu VNĐ? Điều này xảy ra là do trong năm 2013,
15
chi phí các nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho việc thi công công trình, sản xuất đồ nội
thất tăng lên, nhất là giá xăng dầu tăng liên tục, sau đó là giá sắt, thép, xi măng,…
cũng tăng vì thế giá vốn hàng bán năm 2013 đã tăng so với năm 2012.
Doanh thu từ hoạt động tài chính: Trong cả ba năm khoản thu này đều chiếm tỷ
trọng rất nhỏ trong tổng doanh thu của CT. Con số này trong 3 năm lần lượt là
1.307.678; 1.628.326 và 1.495.134 VNĐ. Các khoản doanh thu này chủ yếu đến từ
việc CT được hưởng chiết khấu do thanh toán sớm cho một số nhà cung cấp khi mua
nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất.
Chi phí từ hoạt động tài chính: trong ba năm qua lần lượt là 101.765.583;
227.865.516 và 218.677.171 VNĐ. Chi phí từ hoạt động tài chính của CT trong hai
năm 2012 và 2013 đều lớn hơn gấp đôi so với năm 2011 chủ yếu là do chiến lược kinh
doanh dài hạn trong thời gian sắp tới của CT (mở rộng phạm vi hoạt động ra ngoài khu vực Thủ đô Hà Nội vào năm 2015) nên khá nới lỏng chính sách tín dụng thương mại
nhằm tìm kiếm thêm các khách hàng mới, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Việc nới lỏng tín dụng thương mại tuy góp phần tăng doanh thu nhưng lại khiến CT bị
chiếm dụng khá nhiều vốn trong hoạt động kinh doanh. Do đó, để thu hồi lại vốn nhanh
hơn từ các khoản phải thu khách hàng, CT đã áp dụng một hệ thống tỷ lệ chiết khấu
thanh toán với từng sản phẩm và dịch vụ cụ thể cho khách hàng khi họ thanh toán sớm.
Vì vậy, chi phí cho hoạt động tài chính của hai năm 2012 và 2013 cao hơn năm 2011 chủ yếu là do các khoản chi phí trả cho khách hàng khi họ thanh toán tiền sớm cho CT.
Chi phí quản lý kinh doanh: Lần lượt từ năm 2011 đến năm 2013 là
1.755.228.643; 1.961.981.476 và 1.948.304.295 VNĐ. Hai năm 2012 và 2013 cao hơn
khá nhiều so với năm 2011 là do trong hai năm 2012 và 2013, CT trúng thầu được
nhiều công trình xây dựng, các đơn đặt hàng về sản xuất đồ nội thất cho nhà ở hơn
khiến chi phí quản lý giám sát tốn nhiều hơn để cho các hoạt động sản xuất được thực
hiện đúng thời gian theo quy định trong hợp đồng. Ngoài ra, việc tăng ca, mua thêm
trang thiết bị để mở rộng quy mô sản xuất, đáp ứng nhu cầu kinh doanh hiện tại khiến
lượng tiền trả cho chi phí dịch vụ mua ngoài như điện, nước tăng đáng kể cũng khiến
chi phí quản lý kinh doanh ở hai năm 2012 và 2013 tăng lên khá cao so với năm 2011.
Thu nhập khác: Năm 2011 là 17.372.148 VNĐ. Năm 2012 là 33.423.369 VNĐ, tăng 16.051.221 VNĐ so với năm 2011. Năm 2013 là 25.609.530 VNĐ, giảm 7.813.839 VNĐ so với năm 2012 nhưng vẫn cao hơn 7 triệu VNĐ so với năm 2011. Có điều này là do trong hai năm 2012, 2013; CT có nhập mua một số TSCĐ mới (máy cắt sắt, thép, máy trộn bê tông,…) để thay thế dần cho cho các TSCĐ cũ, lạc hậu. Số lượng máy móc cũ này được thanh lý trong năm 2012 là nhiều nhất trong ba năm qua nên tiền thu từ thanh lý TSCĐ tăng dẫn đến thu nhập khác của năm 2012 là cao nhất trong ba năm.
16
Chi phí khác: Trong ba năm thì năm 2012 cũng có chi phí khác cao nhất với giá
trị 18.635.776 VNĐ, nhiều hơn năm 2011 là 14.264.242 VNĐ và năm 2013 là
3.210.321 VNĐ. Nguyên nhân cũng đến từ việc thanh lý các TSCĐ cũ. Đó là do số lượng máy móc cũ được thanh lý trong năm 2012 nhiều nhất nên chi phí thanh lý,
nhượng bán TSCĐ cũ cũng cao nhất.
Lợi nhuận sau thuế thu nhập DN: năm 2011 là 416.154.513 VNĐ. Vào năm
2012, lợi nhuận sau thuế của CT là 1.884.881.445 VNĐ, tăng hẳn 1.468.726.932 VNĐ
so với năm 2011, tương đương tăng 352,93%. Tuy nhiên, con số này trong năm 2013 chỉ còn 794.745.045 VNĐ, tức là giảm 1.090.136.400 VNĐ so với năm 2012, tương
đương giảm 57,84%. Nếu như lợi nhuận ròng của CT trong năm 2011 thấp hơn 2 năm
2012 và 2013 là đều dễ hiểu khi quy mô hoạt động của DN thời điểm đó còn nhỏ,
doanh thu thuần được tạo ra của năm 2011 chưa bằng một nửa của hai năm còn lại. Còn lợi nhuận ròng của năm 2013 lại thấp hơn 1 tỷ VNĐ so với năm 2012 là do đâu?
Từ việc phân tích các thành phần tạo ra doanh thu và chi phí của CTCPĐTTM ở
trên ta thấy nguyên nhân của sự sụt giảm này đầu tiên xuất phát từ việc giá vốn hàng
bán của năm 2013 lớn hơn 601.575.287 VNĐ so với năm 2012 là do chi phí các nguyên nhiên vật liệu đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất tăng cao1. Một nguyên nhân quan trọng không kém khiến lợi nhuận ròng năm 2013 giảm so với năm 2012 là
việc trong năm 2012 CT có khoản chi phí thuế thu nhập DN phải nộp là 0 VNĐ, còn năm 2013 CT phải nộp khoản thuế này là 264.915.015 VNĐ. Sở dĩ trong năm 2012 CT
có chi phí thuế thu nhập DN bằng 0 VNĐ là do trong năm 2011 CT thanh toán tiền thuế
lớn hơn mức thực tế phải nộp nên sang năm 2012 CT được khấu trừ toàn bộ phần thuế
đã nộp này. Còn năm 2013 thì vẫn nộp chi phí thuế thu nhập DN như bình thường (bằng
25% lợi nhuận kế toán trước thuế của CT). Đó là hai nguyên nhân chính khiến lợi nhuận
ròng của năm 2013 lại thấp hơn năm 2012 đến hơn 1 tỷ VNĐ.
2.2.2. Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần Đầu tư Tân Minh
2.2.2.1. Các chỉ tiêu tổng quát đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn nói chung
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung của một CT ta có thể sử dụng ba chỉ
1 Phần giá vốn hàng bán (trang 15,16)
tiêu: Hiệu suất sử dụng tổng nguồn vốn, suất hao phí vốn trong kỳ và tỷ suất sinh lời trên tổng vốn. Nhưng trước khi đi vào đánh giá hiệu quả sử dụng tổng nguồn vốn của CTCPĐTTM, ta phân tích tỷ trọng và tình hình biến động của các thành phần trong tổng nguồn vốn của CT giai đoạn 2011 – 2013 trước để biết được nguyên nhân tăng hay giảm của các thành phần này và ảnh hưởng của những sự tăng, giảm ấy đến hiệu quả sử dụng vốn nói chung của CT.
17
Bảng 2.2. Chi tiết nguồn vốn theo nguồn hình thành của CTCPĐTTM giai đoạn 2011 – 2013
Đơn vị tính: VNĐ
Chênh lệch 2012-2011 Chênh lệch 2013-2012
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Tuyệt đối Tuyệt đối
(1) (2) (3) (4)=(2)-(1) Tƣơng đối (%) (4)/(1) (5)=(3)-(2) Tƣơng đối (%) (5)/(2)
2.573.792.849 4.700.396.665 1.031.565.714 2.126.603.816 82,63 (3.668.830.951) (78,05)
1.680.864.799 892.928.050 2.865.961.035 1.834.435.630 434.509.521 597.056.193 1.185.096.236 941.507.580 70,51 105,44 (2.431.451.514) (1.237.379.437) (84,84) (67,45)
3.461.616.604 13.193.337.290 20.809.425.559 9.731.720.686 281,13 7.616.088.269 57,73
6.035.409.453 17.893.733.955 21.840.991.273 11.858.324.502 196,48 3.947.257.318 22,06 A – NỢ PHẢI TRẢ I. Nợ ngắn hạn II. Nợ dài hạn B – VỐN CHỦ SỞ HỮU TỔNG CỘNG NGUỒN VỐN
(Nguồn: Tính toán dựa vào bảng cân đối kế toán giai đoạn 2011 - 2013)
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu tỷ trọng nguồn vốn của CTCPĐTTM giai đoạn 2011 - 2013
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
14,79%
10,25% 27,85% 2,73% 26,27% 73,73% 57,36% 42,64% 4,72% 16,02% 95,28%
1,99% Nợ phải trả Vốn chủ sở hữu
Nợ ngắn hạn Nợ dài hạn
(Nguồn: Tính toán dựa vào bảng cân đối kế toán giai đoạn 2011 - 2013 )
18
2.2.2.1.1. Tình hình biến động và tỷ trọng của các thành phần vốn theo nguồn hình
thành của Công ty Cổ phần Đầu tư Tân Minh
Dựa vào bảng 2.2 và biểu đồ 2.1 (trang 18) ta thấy, nợ phải trả chiếm tỷ trọng không cao trong tổng nguồn vốn kinh doanh và đang giảm mạnh qua các năm so với tỷ
trọng VCSH. Năm 2011, nợ phải trả là 2.573.792.849 VNĐ, chiếm 42,64% trong tổng
vốn kinh doanh. Năm 2012, nợ phải trả là 4.700.396.665 VNĐ, tăng 2.126.603.816
VNĐ (tương ứng tăng 82,63%) so với năm 2011, nhưng chỉ còn chiếm 26,27% trong
tổng vốn kinh doanh cuả CT. Năm 2013, tỷ trọng nợ phải trả chỉ còn chiếm 4,72% trong tổng nguồn vốn, tương đương với số tiền là 1.031.565.714 VNĐ, giảm
3.668.830.951 VNĐ so với cùng thời điểm năm 2012.
Qua đó ta thấy, Tỷ trọng nợ phải trả của CT đang ngày càng bé đi. Tỷ trọng nợ
thấp hơn cho thấy rủi ro mất khả năng thanh toán của CT là thấp đi. Tuy nhiên, khi chỉ số này thấp cho thấy khả năng huy động vốn của DN là kém đi. Ở cả ba năm 2011,
2012 và 2013 CT đều không vay một đồng nào trong ngắn hạn. Trong khi đó, các
khoản khác của nợ ngắn hạn đang có xu hướng thuyên giảm do để chuẩn bị cho chiến
lược kinh doanh mới là mở rộng phạm vi hoạt động ra các tỉnh thành lân cận Thủ đô
Hà Nội vào năm 2015, nhằm tạo dựng thêm nhiều mối quan hệ với các nhà cung cấp
mới và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, do đó hạn chế mua chịu từ các nhà
cung cấp và giảm số tiền đặt cọc trước cho khách hàng. Khoản vay ngắn hạn của CT trong cả ba năm đều bằng 0 VNĐ có thể được hiểu như sau: do sản phẩm của CT chủ
yếu là các công trình xây dựng có thời gian hoàn thành và nghiệm thu thường từ hơn
một năm trở lên nên CT sợ chưa thu được tiền từ các dự án dài hạn để chi trả cho các
khoản vay ngắn hạn đến hạn trả (bởi các khoản vay ngắn hạn có thời gian trả nợ dưới 1
năm). Như vậy, do chính đặc thù kinh doanh của ngành xây dựng với chu kỳ sản xuất
dài mà CTCPĐTTM chưa hoặc không dám nghĩ tới việc vay ngắn hạn của ngân hàng
để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, khiến CT mất hẳn đi một kênh huy động
vốn lớn. Còn đối với các khoản nợ dài hạn thì do loại hình của CT là “DN nhỏ” nên
việc tiến hành đi vay vốn của ngân hàng cũng khá hạn chế, do đó mà tỷ trọng nợ dài
hạn trong tổng nợ phải trả của CT cũng không cao, luôn thấp hơn tỷ trọng nợ ngắn hạn (chỉ có duy nhất năm 2013 là tỷ trọng nợ dài hạn cao hơn tỷ trọng nợ ngắn hạn).
Trong khi đó, VCSH của CTCPĐTTM lại không ngừng tăng lên mạnh mẽ qua các năm. Năm 2011 chỉ là 3.461.616.604 VNĐ thì đến năm 2012 con số này tăng lên thành 13.193.337.290 VNĐ, tăng 9.731.720.686 VNĐ so với năm 2011 (tương ứng tăng 281,13%). Con số này tiếp tục tăng lên 7.616.088.269 VNĐ trong năm 2013 giúp nguồn VCSH đạt 20.809.425.559 VNĐ. Nguyên nhân của sự gia tăng mạnh mẽ này là để chuẩn bị cho chiến lược mở rộng kinh doanh của CT ra ngoài Thủ đô Hà Nội trong
19
năm 2015, nên để phục vụ cho chiến lược này cần huy động một lượng vốn thật lớn.
Những đồng VCSH tăng thêm này được bổ sung từ chính kết quả sản xuất, kinh doanh
có lãi của CT theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông và đóng góp thêm hàng năm của các cổ đông trong CT.
Tỷ trọng VCSH: đại diện cho mức độ tự chủ và khả năng bù đắp tổn thất bằng
VCSH của CT. Hệ số này tăng lên rất cao sau từng năm hoạt động, năm 2011 chiếm
57,36% tổng nguồn vốn, năm 2012 là 73,73%, còn năm 2013 là 95,28%. Tỷ trọng
VCSH tăng lên rất mạnh một phần là do lượng vốn đầu tư thêm của các chủ sở hữu tăng cao sau các năm, trong khi đó nợ phải trả có năm tăng nhưng không bằng lượng
tăng của VCSH (năm 2012) và thậm chí còn giảm xuống gần 3,7 tỷ VNĐ (năm 2013),
dẫn đến tỷ trọng nợ giảm mạnh, còn tỷ trọng VCSH lại tăng mạnh. VCSH phản ánh
toàn bộ vốn thuộc chủ sở hữu của DN, nguồn hình thành nên tài sản của DN. Khi VCSH chiếm tỷ trọng cao như trên trong tổng nguồn vốn thì chứng tỏ CTCPĐTTM có
khả năng tự chủ về mặt tài chính là rất tốt, từ đó CT sẽ chủ động hơn trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của mình. Kết hợp với tỷ trọng nợ ta thấy được mức độ tự chủ của
CT trong năm 2013 cao hơn và nếu có tổn thất xảy ra, việc bù đắp tổn thất sẽ là dễ dàng
hơn so với năm 2012 và 2011.
Tất cả các điều trên cho thấy để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh doanh trong năm
2012 và năm 2013, CT chủ yếu huy động và sử dụng nguồn VCSH. Hệ số tự tài trợ của CT luôn ở mức cao và so với thực trạng tài chính của các DN hiện nay thì
CTCPĐTTM có khả năng tự chủ về tài chính quá tốt.
2.2.2.1.2. Các chỉ tiêu tổng quát đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung
Qua việc phân tích cơ cấu và tình hình biến động nguồn vốn của CTCPĐTTM
giai đoạn 2011 – 2013, ta đi vào đánh giá hiệu quả sử dụng tổng nguồn vốn của CT.
Bảng 2.3. Các chỉ tiêu tổng quát đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung
Đơn vị tính: VNĐ
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Hiệu suất sử dụng tổng nguồn vốn 0,814 0,600 0,481 1,229 1,666 2,081 Suất hao phí vốn trong kỳ 0,069 0,105 0,036 Tỷ suất sinh lời trên tổng vốn Chênh lệch tuyệt đối 2012- 2011 2013-2012 (0,119) 0,415 (0,069) (0,214) 0,437 0,036
(Nguồn: Tính toán dựa vào báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán
giai đoạn 2011 - 2013)
Hiệu suất sử dụng tổng nguồn vốn: Ta thấy chỉ tiêu này đang giảm dần qua các năm. Năm 2011 là 0,814, năm 2012 là 0,600 và năm 2013 chỉ còn 0,481. Năm 2012, 1
đồng vốn CT bỏ ra chỉ thu được 0,600 đồng doanh thu thuần, giảm 0,214 đồng so với
20
năm 2011. Sự suy giảm của chỉ tiêu này được lý giải là do lượng vốn được đầu tư vào
hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng tăng cao, trong khi đó doanh thu thuần cũng
tăng nhưng lượng tăng chậm hơn so với số vốn bỏ ra. Cụ thể, năm 2012, doanh thu thuần của CT tăng 5.825.905.728 VNĐ so với năm 2011 (tương ứng tăng 118,62%),
tuy nhiên, lượng vốn bỏ vào để làm ra khoản tăng cho doanh thu trên lại lên tới
11.858.324.502 VNĐ (tương đương tăng 196,48%), làm cho hiệu quả sử dụng vốn nói
chung giảm). Năm 2013, chỉ tiêu này tiếp tục giảm 0,119 so với năm 2012, xuống còn
0,481. Nguyên nhân là do trong khi doanh thu thuần giảm 241.774.914 VNĐ so với năm 2012 thì tổng nguồn vốn bỏ vào kinh doanh lại tiếp tục tăng 3.947.257.318 VNĐ
so với năm 2012 khiến chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lại tiếp tục giảm.
Nhận xét: Từ đó, ta có thể thấy khả năng sử dụng vốn của CT đang kém hiệu
quả đi qua từng năm, giá trị doanh thu thuần sinh ra chưa tương ứng với lượng vốn mà CT bỏ ra đầu tư hàng năm.
Suất hao phí vốn trong kỳ: Chỉ tiêu này thì đang có xu hướng tăng qua các
năm. Điều này là dấu hiệu không tốt cho CT bởi để tạo ra 1 đồng doanh thu thuần thì
số vốn mà CT phải bỏ ra qua các năm là tăng. Năm 2011 để thu được 1 đồng doanh
thu thuần CT phải bỏ ra 1,229 đồng vốn. Đến năm 2012, số vốn phải bỏ ra này là
1,666 đồng, nhiều hơn 0,437 đồng so với năm 2011. Vào năm 2013, con số này còn
tiếp tục tăng lên 0,415 đồng so với năm 2013 để thu được 1 đồng doanh thu thuần.
Nhận xét: Chỉ tiêu suất hao phí vốn trong kỳ càng tăng lên hàng năm cho thấy
hiệu quả sử dụng vốn của CT càng giảm. Nguyên nhân có thể là do CT sử dụng vốn
còn lãng phí, chưa tiết kiệm hoặc chưa đầu tư vào được các dự án mang lại hiệu quả cao.
Tỷ suất sinh lời trên tổng vốn: vào năm 2011 là 0,069. Năm 2012, 1 đồng vốn
được bỏ ra đem lại 0,105 đồng lợi nhuận sau thuế, tăng 0,036 đồng so với năm 2011.
Điều này là do lợi nhuận ròng năm 2012 tăng 352,93% so với năm 2011, trong khi
tổng vốn bỏ ra chỉ tăng 196,48% so với năm 2011. Tuy nhiên, vào năm 2013 tỷ suất
sinh lời trên tổng vốn lại giảm 0,069 so với năm 2012, còn 0,036. Nguyên nhân là do lợi nhuần ròng của năm 2013 giảm 57,84% so với năm 2012, còn lượng vốn đầu tư
cho hoạt động kinh doanh lại tăng thêm 22,06% so với năm 2012.
Nhận xét: Qua ba năm gần đây ta thấy chỉ số này của CT còn chưa cao (chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn còn thấp) và không ổn định lúc tăng (trong năm 2012), lúc giảm (trong năm 2013). Nguyên nhân chủ yếu đến từ sự không ổn định của giá cả các nhân tố đầu vào như xăng dầu, sắt, thép,... phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của CT tăng quá cao. Hay một nguyên nhân nữa là do lượng vốn được đầu tư vào các CT liên kết rất lớn (sẽ phân tích nguyên nhân biến động ở phần hiệu quả sử dụng VCĐ). Cụ thể, năm 2012 là 5.921.000.000 VNĐ chiếm toàn bộ các khoản đầu tư tài chính dài
21
hạn của CT, năm 2013 tăng thêm 853.500.000 VNĐ so với năm 2012) nhưng chưa
mang lại khoản thu nhập nào cho CT bởi trong các CT liên kết này có cả các CT làm
ăn thua lỗ và cũng có CT làm ăn có lãi nhưng lại chưa chia cổ tức hàng năm mà sử dụng khoản lợi nhuận không chia đó để tăng nguồn vốn kinh doanh nhằm mở rộng quy
mô hoạt động cho các năm tiếp theo. Hai nguyên nhân trên ảnh hưởng khá nhiều đến
lợi nhuận ròng của CT, làm tỷ suất sinh lời trên tổng vốn qua các năm khá nhỏ.
Tuy nhiên, các chỉ tiêu trên chưa phản ánh được những nét riêng biệt về hiệu quả
sử dụng của từng bộ phận vốn. Do đó, để đánh giá đầy đủ và chi tiết hơn hiệu quả sử dụng vốn của CTCPĐTTM, chúng ta cần xem xét tới các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử
dụng VCSH, nợ phải trả, VLĐ và VCĐ của CT.
2.2.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu
Để đánh giá hiệu quả sử dụng VCSH ta sử dụng các chỉ tiêu như vòng quay VCSH và tỷ suất sinh lời trên VCSH. Để thấy được CT sử dụng VCSH có hiệu quả
hay không thì trong quá trình đánh giá ta cần phân tích thêm cả tình hình biến động
của các thành phần cấu tạo nên VCSH để biết được những nguyên nhân nào ảnh
hưởng đến hiệu quả sử dụng VCSH. Theo hướng nghiên cứu như vậy, ta xây dựng
bảng 2.4 và hai biểu đồ 2.2; 2.3 (trang 24) để đánh giá hiệu quả sử dụng VCSH của CT.
Vòng quay VCSH: Đang có xu hướng giảm dần qua các năm. Năm 2011 là
1,419 vòng, năm 2012 là 0,814 vòng và năm 2013 chỉ còn 0,504 vòng. Năm 2012, chỉ số này giảm 0,605 vòng so với năm 2011, tức là 1 đồng VCSH của DN đem đi đầu tư
chỉ thu về được 0,814 đồng doanh thu thuần, thấp hơn năm 2011 là 0,605 đồng. Vào
năm 2012, mặc dù doanh thu thuần của CT tăng 5.825.905.728 VNĐ (tăng 118,62%)
so với năm 2011 do CT thực hiện được nhiều công trình xây dựng, tư vấn thiết kế,
giám sát xây dựng và bán được nhiều trang thiết bị nội thất hơn cho khách hàng nhưng
chỉ tiêu vòng quay VCSH vẫn giảm là do lượng VCSH của CT trong năm 2012 được
đưa vào đầu tư tăng lên 9.731.720.686 VNĐ so với năm 2011 (tương ứng tăng
281,13%) để hoàn thiện tiếp cho các công trình xây dựng còn dở dang, chưa hoàn thành trong năm 2011 và một lượng lớn các công trình mới trúng thầu trong năm 2012,
đồng thời mở rộng dần quy mô vốn nhằm chuẩn bị một nền tảng tài chính thật mạnh để phục vụ cho chiến lược mở rộng phạm vi hoạt động ra các tỉnh thành lân cận Thủ đô Hà Nội vào năm 2015. Ngoài ra, CT còn tham gia hoạt động đầu tư tài chính dài hạn bằng cách góp vốn vào các CT liên kết nhằm hưởng cổ tức hàng năm.
Như vậy, tuy trong năm 2012, doanh thu thuần của CT có tăng 118,62% nhưng mức tăng nhỏ hơn mức tăng 281,13% của VCSH được đưa vào đầu tư cho hoạt động sản xuất, kinh doanh nên chỉ tiêu vòng quay VCSH trong năm 2012 giảm. Chỉ tiêu này giảm do lượng VCSH ngoài việc đầu tư một phần để mua nguyên vật liệu và các máy
22
móc (máy trộn bê tông, mắt cắt sắt, thép,…) phục vụ cho việc thi công xây thì lượng
vốn này trong năm 2012 được sử dụng tới hơn 5,5 tỷ VNĐ để đầu tư vào các CT liên
kết (trong khoản đầu tư tài chính dài hạn) nhằm hưởng cổ tức hàng năm (tuy nhiên các khoản thu được từ việc đầu tư vào CT liên kết lại được cho vào doanh thu từ hoạt động
tài chính mà không cho vào doanh thu thuần). Tức là lượng doanh thu thuần tạo ra còn
phải gánh cả cho một lượng VCSH khá lớn đem đi đầu tư vào CT liên kết khiến vòng
quay VCSH của năm 2012 giảm so với năm 2011.
Năm 2013, chỉ tiêu vòng quay VCSH của CT lại tiếp tục giảm 0,310 so với năm 2012, xuống còn 0,504. Nguyên nhân thì vẫn là do lượng VCSH ngày càng tăng lên mạnh mẽ (tiếp tục tăng 7.616.088.269 VNĐ so với năm 2012) với: 6.797.000.000 VNĐ tăng lên từ số tiền góp thêm của các cổ đông trong năm 2013, 794.438.258 VNĐ từ lợi nhuận không chia, 24.650.011 VNĐ vốn khác của chủ sở hữu để tiếp tục đầu tư mua thêm nguyên nhiên vật liệu, máy móc mới phục vụ cho việc thi công xây dựng và tiếp tục góp thêm vốn vào các công ty liên kết để hưởng cổ tức hàng năm,... Trong khi đó, doanh thu thuần đem lại trong năm 2013 lại thấp hơn 241.774.914 VNĐ so với năm 2012 (do sự sụt giảm của khoản tư vấn thiết kế, giám sát xây dựng bởi ngày càng có nhiều CT xây dựng hoạt động trong lĩnh vực này và một phần là do số lượng đồ nội thất trong năm 2013 bán được ít hơn năm 2012) dẫn đến chỉ tiêu vòng quay VCSH giảm.
Nhận xét: Chỉ tiêu vòng quay VCSH giảm dần trong 3 năm qua cho thấy hiệu quả sử dụng VCSH của CT vào năm 2013 đang kém hơn so với các năm trước, doanh thu của CT tạo ra chưa tương xứng với đồng VCSH bỏ ra để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Nguyên nhân là do sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của các DN cùng ngành (đặc biệt trong lĩnh vực tư vấn thiết kế, giám sát xây dựng và sản xuất đồ nội thất) làm doanh thu mang lại chưa thật như ý với số VCSH đã bỏ ra.
Tỷ suất sinh lời trên VCSH (ROE): Tỷ suất này vào năm 2011 cho biết: cứ 1
đồng VCSH thì tạo ra 0,120 đồng lợi nhuận ròng. Vào năm 2012 thì 1 đồng VCSH tạo
ra 0,143 đồng lợi nhuận sau thuế, nhiều hơn 0,023 đồng so với năm 2011. Điều này
cho thấy dấu hiệu khả quan hơn trong việc sử dụng VCSH của CT để tạo ra lợi nhuận.
Trong năm 2012, mặc dù doanh thu thuần tăng lên đến 5.825.905.728 VNĐ so với năm 2011 nhưng các nhu cầu về VLĐ như mua thêm nguyên nhiên vật liệu đầu vào để phục vụ cho nhu cầu xây dựng và sản xuất đồ nội thất tăng cao khiến giá vốn hàng bán cũng tăng lên 4.199.073.689 VNĐ so với năm 2011 và đặc biệt là việc CT sử dụng một lượng VCSH khá lớn để đầu tư vào các CT liên kết nhưng chưa thu được khoản lợi nhuận nào (do các CT liên kết không chia cổ tức mà giữ lại để tái đầu tư cho năm tiếp theo với các CT làm ăn có lãi và cũng có cả những CT làm ăn thua lỗ) khiến lợi nhuần ròng mang lại tuy tăng nhưng cũng chưa đạt được mức cao nhất so với lượng VCSH thực sự bỏ ra để đầu tư nên ROE cũng chỉ tăng nhẹ.
23
Bảng 2.4. Chi tiết VCSH của CTCPĐTTM giai đoạn 2011 – 2013
Đơn vị tính: VNĐ
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Tuyệt đối Tuyệt đối
(1) (3)
(2) 3.461.616.604 13.193.337.290 20.809.425.559 3.461.616.604 13.193.337.290 20.809.425.559 3.000.000.000 10.797.000.000 17.594.000.000 74.489.252 49.839.241 0 Chênh lệch 2012 - 2011 Tƣơng đối (%) (4)/(1) 281,13 281,13 259,90 100,00 (4)=(2)-(1) 9.731.720.686 9.731.720.686 7.797.000.000 49.839.241 Chênh lệch 2013 - 2012 Tƣơng đối (%) (5)/(2) 57,73 57,73 62,95 49,46 (5)=(3)-(2) 7.616.088.269 7.616.088.269 6.797.000.000 24.650.011
461.616.604 2.346.498.049 3.140.936.307 1.884.881.445 408,32 794.438.258 33,86 B –VỐN CHỦ SỞ HỮU I. Vốn chủ sở hữu 1.Vốn đầu tư của chủ sở hữu 3.Vốn khác của chủ sở hữu 7. Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối
(Nguồn: Tính toán dựa vào bảng cân đối kế toán giai đoạn 2011 – 2013)
Biểu đồ 2.2. Chỉ tiêu vòng quay VCSH Biểu đồ 2.3. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên VCSH
1,419 0,143 0,16 1,6 0,120
0,12 1,2 0,814
0,08 0,8 0,504 0,038
0,4
0,04
0 0 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Tỷ suất sinh lời trên VCSH Chỉ tiêu vòng quay VCSH
(Nguồn:Tính toán dựa vào báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán giai đoạn 2011 – 2013)
24
Năm 2013, chỉ tiêu ROE giảm xuống chỉ còn 0,038, nghĩa là 1 đồng VCSH chỉ tạo
ra được 0,038 đồng lợi nhuận sau thuế, giảm 0,105 đồng so với năm 2012. Lý do dẫn
đến sự sụt giảm của ROE trong năm 2013 so với năm 2012 là do lợi nhuận sau thuế của CT trong năm 2013 giảm 1.090.136.400 VNĐ2, tương ứng giảm 57,84%, trong khi đó VCSH lại tăng lên đến 7.616.088.269 VNĐ, tương đương tăng 57,73% (để chuẩn bị cho
chiến lược dài hạn của CT là mở rộng phạm vi hoạt động trong năm 2015, rồi tiếp tục
đầu tư thêm cho các nhu cầu về VLĐ, TSCĐ và góp thêm vốn vào các CT liên kết nhằm
hưởng cổ tức các năm sau) làm cho ROE giảm khá mạnh so với năm 2013.
Nhận xét: Có nhiều nguyên nhân khiến ROE trong năm 2012 chỉ tăng nhẹ so với
năm 2011 và sự sụt giảm của ROE trong năm 2013 (thấp nhất trong 3 năm qua) là do:
người quản lý còn chưa đưa ra được những phương án đầu tư hợp lý và hiệu quả nhất
khi sử dụng khá nhiều vốn để đầu tư vào một số CT liên kết làm ăn thua lỗ khiến đồng vốn mang đi đầu tư không thể sinh lời (mà còn có thể dẫn tới mất không do một số CT
này liên tục kinh doanh thua lỗ và có thể dẫn đến nguy cơ bị phá sản). Thêm vào đó là
sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của các DN cùng ngành trong lĩnh sản xuất đồ nội thất
không chỉ về mẫu mã hay chất lượng sản phẩm mà còn có cả giá bán khiến khoản thu
từ bán đồ nội thất trong năm 2013 có phần giảm so với năm 2012. Ngoài ra thì còn có
những nguyên nhân khách quan như: không thể lường trước được những biến động
phức tạp của thị trường khiến giá cả của các nguyên vật liệu đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất tăng cũng ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả sử dụng VCSH của CT.
Để đánh giá rõ hơn sự thay đổi của ROE là tích cực hay tiêu cực ta phân tích nó
trong mối quan hệ sau: ROE = ROA Đ n b y tài chính
Bảng 2.5. Các chỉ tiêu ROE, ROA và đ n b y tài chính của CT từ 2011 - 2013
Chênh lệch 2012-2011 Chênh lệch 2013-2012 Chỉ tiêu ĐVT Tuyệt đối Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Tuyệt đối
VNĐ VNĐ 0,120 0,143 0,038 0,069 0,105 0,036 0,023 0,036 Tƣơng đối (%) 19,167% 52,174% (0,105) (0,069) Tƣơng đối (%) (73,427%) (65,714%)
Lần 1,744 1,356 1,050 (0,388) (22,248%) (0,306) (22,566%) ROE ROA Đòn bẩy tài chính
(Nguồn: Tính toán dựa vào báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán
giai đoạn 2011 - 2013)
2 do hai nguyên nhân chính là giá vốn hàng bán tăng cao (trang 15,16) và chi phí thuế thu nhập DN phải nộp (trang 17)
Vào năm 2012, chỉ tiêu đòn bẩy tài chính giảm 0,388 lần, tức là giảm 22,248% so với năm 2011. Nguyên nhân là do CT đã huy động thêm một lượng lớn VCSH (tăng gần 10 tỷ VNĐ so với năm 2011 thành 13.193.337.290 VNĐ), trong khi đó tổng nợ phải trả chỉ tăng 2.126.603.816 VNĐ so với năm 2011 thành 4.700.396.665 VNĐ
25
làm chỉ tiêu đòn bẩy tài chính giảm. Chỉ tiêu này giảm có thể không phải là biểu hiện tốt vì khi nó giảm sẽ dẫn đến sự sụt giảm của ROE. Tuy nhiên, chỉ tiêu ROE vẫn tăng 0,023; tương ứng tăng 19,167% so với năm 2011 là do sự tăng lên của ROA trong năm 2012 nhiều hơn năm 2011 là 0,036; tương đương tăng 52,174%. Điều này cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản của CT vào năm 2012 là tốt hơn so với năm 2011 nên làm cho tỷ suất sinh lời trên VCSH tăng, đồng thời cũng CT giảm thiểu được rủi ro tài chính khi hệ số đòn bẩy tài chính giảm.
Năm 2013, chỉ tiêu đòn bẩy tài chính tiếp tục giảm 0,306 lần so với năm 2012 xuống còn 1,050 lần. Nguyên nhân làm chỉ tiêu đòn bẩy tài chính giảm mạnh như vậy là do trong năm 2013, CT đã thanh toán bớt các khoản vay dài hạn đến hạn trả (từ 1.834.435.630 VNĐ trong năm 2012 xuống chỉ còn 597.056.193 VNĐ năm 2013). Trong khi đó, các khoản nợ ngắn hạn cũng giảm hơn 2,4 tỷ VNĐ so với năm 2012 do chuẩn bị cho chiến lược mở rộng phạm vi hoạt động trong năm 2015 để tăng khả năng cạnh tranh, tìm kiếm thêm nhiều mối quan hệ với khách hàng và nhà cung cấp mới nên các khoản phải trả người bán và người mua ứng tiền trước sụt giảm hẳn. Năm 2013, tiếp tục có sự gia tăng trưởng mạnh mẽ từ nguồn VCSH lên 7.616.088.269 VNĐ so với năm 2012 thành 20.809.425.559 VNĐ khiến tổng nguồn vốn của CT năm 2013 chủ yếu là VCSH khi nó chiếm tới 95,28% còn nợ phải trả chỉ còn 4,72%3. Hai lý do trên đã giải thích lý do tại sao chỉ tiêu đòn bẩy tài chính của năm 2013 lại tiếp tục giảm mạnh xuống chỉ còn 1,050 lần. Trong khi chỉ tiêu đòn bẩy tài chính giảm thì chỉ tiêu ROA của năm 2013 cũng giảm 65,714% so với năm 2012 còn 0,036; khiến tích của hai chỉ tiêu này là ROE cũng giảm tới 73,427% so với năm 2012 chỉ còn 0,038.
3 Biểu đồ 2.1. Cơ cấu tỷ trọng nguồn vốn của CTCPĐTTM giai đoạn 2011 – 2013 (trang 18)
Nhận xét: Ta thấy sự biến động của hai chỉ tiêu ROA và đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc tăng hay giảm của ROE. Đối với chỉ tiêu đòn bẩy tài chính: nếu giảm xuống quá thấp thì CT sẽ không tận dụng được nguồn vốn dồi dào từ vay của các tổ chức tín dụng, các khoản vốn chiếm dụng từ nhà cung cấp hoặc khách hàng để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh bởi lượng vốn đầu tư của các chủ sở hữu DN cũng chỉ có hạn. Ngược lại, nếu chỉ tiêu này tăng lên quá cao thì sau này CT sẽ gặp phải gánh nặng trả nợ. Giả sử hoạt động kinh doanh của CT không được thuận lợi, hàng hóa ế ẩm, việc tăng cường sử dụng vốn vay để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh ban đầu sẽ đặt DN vào tình trạng vô cùng khó khăn (không thu hồi được vốn do không bán được hàng mà vẫn phải thực hiện việc trả lãi vay,…), mà nếu như không có biện pháp hữu hiệu để tháo gỡ thì khả năng DN bị phá sản là rất cao. Đối với chỉ tiêu ROA: nếu DN có kế hoạch đầu tư và sử dụng tài sản có hiệu quả sẽ giúp ROA tăng, từ đó kéo theo sự gia tăng của ROE. Ngược lại, nếu DN sử dụng tài sản không tốt sẽ khiến ROA giảm, kéo theo sự sụt giảm của ROE.
26
Bảng 2.6. Chi tiết nợ phải trả trong giai đoạn 2011 – 2013
Đơn vị tính: VNĐ
Chênh lệch 2012 so với 2011 Chênh lệch 2013 so với 2012 Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Tuyệt đối Tuyệt đối
(1) 2.573.792.849 1.680.864.799 436.945.520 1.098.005.812 (2) 4.700.396.665 2.865.961.035 837.500.483 985.214.932 (3) 1.031.565.714 434.509.521 185.445.534 0 (4)=(2)-(1) 2.126.603.816 1.185.096.236 400.554.963 (112.790.880) Tƣơng đối (%) (4)/(1) 82,63 70,51 91,67 (10,27) (5)=(3)-(2) (3.668.830.951) (2.431.451.514) (652.054.949) (985.214.932) Tƣơng đối (%) (5)/(2) (78,05) (84,84) (77,86) (100.00)
77.669.340 224.688.816 130.151.015 147.019.476 189,29 (94.537.801) (42,07)
63.980.836 818.556.804 118.912.972 754.575.968 1.179,38 (699.643.832) (85,47)
A – NỢ PHẢI TRẢ I. Nợ ngắn hạn 2. Phải trả người bán 3. Người mua trả tiền trước 4. Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước 7. Các khoản phải trả ngắn hạn khác II. Nợ dài hạn 892.928.050 1.834.435.630 597.056.193 941.507.580 105,44 (1.237.379.437) (67,45)
(Nguồn: Tính toán dựa vào bảng cân đối kế toán giai đoạn 2011 – 2013)
Biểu đồ 2.4. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên nợ phải trả
0,770
0,401
0,162 Tỷ suất sinh lời trên nợ phải trả
1 0,8 0,6 0,4 0,2 0
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
(Nguồn:Tính toán dựa vào báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán giai đoạn 2011 – 2013)
27
2.2.2.3. Chỉ tiêu đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng nợ phải trả
Để đánh giá hiệu quả sử dụng nợ, ta sử dụng chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên nợ phải
trả (biểu đồ 2.4). Trong quá trình đánh giá, để biết được những nguyên nhân nào ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nợ phải trả ta cũng cần phân tích tình hình biến động của
các thành phần cấu tạo nên nó (bảng 2.6) để từ đó có thể đưa ra các giải pháp tối ưu
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nợ.
Từ biểu đồ 2.4, ta thấy tỷ số này đang tăng dần lên qua các năm, năm 2011 là
0,162, năm 2012 là 0,401 và năm 2013 là 0,770. Con số này vào năm 2012 có nghĩa là 1 đồng nợ phải trả được đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì mang lại 0,401
đồng lợi nhuận sau thuế, tăng 0,239 đồng so với năm 2011.
Nguyên nhân là do vào năm 2012, tổng số nợ phải trả của CT tăng
2.126.603.816 VNĐ (tương ứng tăng 82,63%) so với năm 2011 thành 4.700.396.665 VNĐ. Đặc biệt, hầu hết các thành phần của nợ phải trả ở năm 2012 đều tăng lên trừ
khoản người mua trả tiền trước. Với nợ ngắn hạn, tăng 1.185.096.236 VNĐ, tương
ứng tăng 70,51% so với năm 2011. Cụ thể:
Khoản phải trả người bán: Tăng từ 436.945.520 VNĐ trong năm 2011 lên thành
837.500.483 VNĐ trong năm 2012. Điều này là do trong năm 2012 CT đã trúng thầu
nhiều công trình xây dựng và có nhiều đơn đặt hàng sản xuất đồ nội thất hơn so với
năm 2011 nên các khoản nợ khi mua nguyên vật liệu và máy móc, thiết bị phục vụ cho quá trình sản xuất tăng nhiều hơn khiến khoản phải trả người bán tăng lên.
Khoản người mua trả tiền trước: Năm 2011 là 1.098.005.812 VNĐ, năm 2012 là
985.214.932 VNĐ. Năm 2012, khoản người mua trả tiền trước giảm 112.790.880 VNĐ
(tương ứng giảm 10,27%) so với năm 2011. Có điều này là do giữa CT và các nhà đầu
tư cho các dự án năm 2012 đã có sự tin tưởng lẫn nhau sau một số công trình CT đã
thực hiện trước đây nên số tiền đặt cọc ban đầu cho các dự án có phần giảm xuống.
Thuế và các khoản phải nộp cho Nhà nước: Trong năm 2012 tăng 147.019.476
VNĐ so với năm 2011, tương đương tăng 189,29%. Nguồn thuế phải nộp này chủ yếu
là phần thuế giá trị gia tăng đầu ra CT phải nộp. Sự gia tăng này là do trong năm 2012, CT đã hoàn thành và bàn giao được nhiều công trình xây dựng, bán được nhiều bàn, ghế nội thất hơn cho khách hàng so với năm 2011.
Các khoản phải trả ngắn hạn khác: Cũng tăng từ 63.980.836 VNĐ trong năm 2011 lên con số 818.556.804 VNĐ vào năm 2012. Nguyên nhân chủ yếu là do các khoản đi vay, đi mượn vật tư, tiền vốn có tính chất tạm thời để phục vụ kịp thời cho tiến độ sản xuất kinh doanh của CT trong năm 2012, khiến cho các khoản phải trả ngắn hạn khác gia tăng rõ rệt.
28
Với nợ dài hạn: Trong năm 2012 các khoản nợ dài hạn là 1.834.435.630 VNĐ,
tăng 941.507.580 VNĐ so với năm 2011, tương ứng tăng 105,44%. Nguyên nhân của
sự gia tăng này là do để đáp ứng cho các công trình lớn mới trúng thầu trong năm 2012, CT cần có một số lượng máy móc (máy trộn bê tông, máy cắt sắt, nhôm, thép,…) mới
và nhiều hơn để phục vụ cho việc thi công tại các công trình đang thực hiện dở dang và
các công trình mới kịp tiến độ theo hợp đồng đã ký với khách hàng. Do đó, CT đã tiến
hành thực hiện thêm các khoản vay nợ dài hạn tại ngân hàng Thương mại Cổ phần
Quân đội khiến cho nợ dài hạn trong năm 2012 tăng gần 1 tỷ VNĐ so với năm 2011.
Trong khi đó, lợi nhuận ròng của CT vào năm 2012 là 1.884.881.445 VNĐ do
doanh thu nhận được từ các công trình mới và các đơn đặt hàng sản xuất đồ nội thất là
khá cao để bù trừ cho các khoản chí phí cũng tăng mạnh như giá vốn hàng bán, giúp lợi nhuân sau thuế của CT tăng đến 352,93% so với năm 20114, cao hơn rất nhiều so với mức tăng 82,63% của tổng nợ phải trả giúp cho tỷ suất sinh lời trên nợ phải trả
tăng thành 0,401, tăng 0,239 so với năm 2011. Điều này cho thấy hiệu quả sử dụng nợ
của CT trong năm 2012 là tốt hơn so với năm 2011.
Nhận xét: Nguyên nhân làm tỷ suất sinh lời trên nợ phải trả của CTCPĐTTM
trong năm 2012 cao hơn trong năm 2011 là do kỹ thuật sản xuất trang thiết bị nội thất
và chất lượng thi công các công trình xây dựng của đội ngũ công nhân có phần tốt hơn
do đã có kinh nghiệm từ quá trình sản xuất ở các năm trước. Với việc chất lượng sản phẩm được tạo ra tốt hơn, dẫn đến việc bán hàng được nhiều hơn, góp phần tăng tỷ
suất sinh lời trên nợ phải trả.
Năm 2013, lợi nhuận sau thuế của CT giảm 1.090.136.400 VNĐ5 (tương đương giảm 57,84% so với năm 2012). Tuy nhiên, tỷ suất sinh lời trên nợ phải trả của CT
trong năm 2013 vẫn cao hơn 0,369 so với năm 2012 là do các thành phần trong tổng
nợ phải trả của CT đều sụt giảm một cách đồng loạt như:
Nợ ngắn hạn: vào năm 2013 con số này sụt giảm một cách nhanh chóng hơn 2,4
tỷ VNĐ so với năm 2012, chỉ còn 434.509.521 VNĐ. Trong đó:
Khoản phải trả người bán: Giảm từ 837.500.483 VNĐ trong năm 2012 xuống
4 Bảng 2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh tại CTCPĐTTM từ 2011 – 2013 (trang 14) 5 do hai nguyên nhân chính là giá vốn hàng bán tăng cao (trang 15,16) và chi phí thuế thu nhập DN phải nộp (trang 17)
còn 185.445.534 VNĐ trong năm 2013. Điều này là do CT đang muốn thiết lập thêm nhiều mối quan hệ lâu năm với các nhà cung cấp để khi mua nguyên vật liệu với số lượng lớn ngoài chiết khấu thanh toán được hưởng thì còn được giảm giá. Do đó khi mua hàng thì thường trả tiền ngay khiến các khoản nợ khi mua nguyên vật liệu và máy móc, thiết bị phục vụ cho quá trình sản xuất giảm đi.
29
Khoản người mua trả tiền trước: Vào năm 2012, khoản người mua trả tiền trước
là 985.214.932 VNĐ, còn năm 2013 thì con số này là 0 VNĐ. Nguyên nhân đến từ
chiến lược dài hạn của CT, nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho chiến lược mở rộng thị trường vào năm 2015 nên mối quan hệ thân thiết thứ hai ngoài các nhà cung cấp là đến
các khách hàng. Tất cả số tiền đặt cọc ban đầu cho các công trình mới và hợp đồng sản
xuất đồ nội thất của CTCPĐTTM trong năm 2013 đều là 0, dẫn đến việc số tiền người
mua ứng trước giảm.
Các khoản phải trả ngắn hạn khác: Giảm khá mạnh từ 818.556.804 VNĐ ở năm 2012 xuống còn 118.912.972 VNĐ trong năm 2013 tức là giảm 85,47%. Các khoản
phải trả ngắn hạn khác giảm đi là do các khoản đi vay, đi mượn vật tư, tiền vốn có
tính chất tạm thời để phục vụ kịp thời cho tiến độ sản xuất kinh doanh của
CTCPĐTTM trong năm 2012 đã được thanh toán trong năm 2013 và lúc này các khoản phải trả ngắn hạn khác chỉ còn bao gồm số tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
bảo hiểm thất nghiệp và kinh phí công đoàn,… khiến cho các khoản phải trả ngắn hạn
khác sụt giảm.
Ngoài ra, thuế và các khoản phải nộp cho Nhà nước: trong năm 2013 cũng giảm
94.537.801 VNĐ so với năm 2012, xuống còn 130.151.015 VNĐ.
Nợ dài hạn: Vào năm 2013, CT phải thanh toán bớt các khoản các khoản vay dài
hạn đến hạn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội khiến cho các khoản nợ dài hạn giảm 1.237.379.437 VNĐ so với năm 2012 xuống còn 597.056.193 VNĐ,
tương ứng giảm 67,45%.
Nhận xét: Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên nợ phải trả của năm 2013 cao hơn năm
2012 cho thấy CT sử dụng các khoản nợ để đem đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh
doanh đang ngày càng hiệu quả, 1 đồng nợ phải trả ngày càng tạo ra được nhiều đơn vị
lợi nhuận sau thuế hơn. Đây là một tín hiệu đáng mừng bởi trong hai năm qua chỉ tiêu
này luôn tăng. Điều này có thể khuyến khích CT mạnh dạn đi vay vốn ngân hàng hơn,
cả trong ngắn hạn và dài hạn (bởi lượng vốn được góp thêm hàng năm từ các cổ đông cũng chỉ có hạn) để có thể mở rộng quy mô vốn đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh
doanh, nhất là khi vào năm 2015 CTCPĐTTM lại dự định cung cấp cả các dịch vụ của mình đến một số tỉnh thành lân cận Thủ đô Hà Nội như: Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hòa Bình, Hải Dương nên lại càng cần nhiều vốn để đáp ứng cho chiến lược kinh doanh dài hạn này (còn các khoản chiếm dụng từ nhà cung cấp hay khách hàng thì khó có thể tăng được do CT muốn tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường mới nên phải tạo dựng thật nhiều mối quan hệ với các nhà cung cấp và khách hàng mới do đó phải giảm thiểu việc mua chịu từ các nhà cung cấp và số tiền đặt cọc trước của khách hàng trong các hợp đồng…).
30
Bảng 2.7. Chi tiết VCĐ tại CTCPĐTTM giai đoạn 2011 – 2013
Đơn vị tính: VNĐ
Chênh lệch 2012 so với 2011 Chênh lệch 2013 so với 2012 Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Tuyệt đối Tuyệt đối
(1) 1.386.240.910 1.055.061.480 (2) 7.721.803.549 1.516.265.605 (3) 9.031.647.189 1.954.780.731 (4)=(2)-(1) 6.335.562.639 461.204.125 Tƣơng đối (%) (4)/(1) 457,03 43,71 (5)=(3)-(2) 1.309.843.640 438.515.126 Tƣơng đối (%) (5)/(2) 16,96 28,92
71.000.000 5.921.000.000 6.774.500.000 5850.000.000 8.239,44 853.500.000 14,41
B- Vốn cố định I. Tài sản cố định III. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn IV. Tài sản dài hạn khác 260.179.430 284.537.944 24.358.514 17.828.514 9,36
302.366.458 6,27 (Nguồn: Tính toán dựa vào bảng cân đối kế toán giai đoạn 2011 - 2013)
Biểu đồ 2.5. Chỉ tiêu v ng quay VCĐ Biểu đồ 2.6. Chỉ tiêu suất hao phí VCĐ Biểu đồ 2.7. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên VCĐ
3,543 0,861 0,300 1 4
0,244
0,719 0,8 3
0,6 2 1,391 1,162 0,282 0,4 0,088
1 0,2
0 0,35 0,3 0,25 0,2 0,15 0,1 0,05 0 0
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Vòng quay VCĐ Suất hao phí VCĐ Tỷ suất sinh lời trên VCĐ
(Nguồn: Tính toán dựa vào báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán giai đoạn 2011 - 2013)
31
2.2.2.4. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng Vốn cố định
Để đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ của CTCPĐTTM trong giai đoạn 2011 –
2013, ta đánh giá thông qua các chỉ tiêu vòng quay VCĐ, suất hao phí VCĐ và tỷ suất
sinh lời trên VCĐ (trang 31). Tương tự như các phần đánh giá hiệu quả sử dụng của
các loại vốn trước ta cũng cần xem xét tình hình biến động của các thành phần trong
VCĐ (trang 31) để đưa ra các nguyên nhân giải thích cho hiệu quả sử dụng VCĐ của CT trong thời gian qua là tốt hơn hay kém đi.
Vòng quay VCĐ: Chỉ tiêu này trong ba năm gần đây nhất đang có xu hướng giảm
dần, lần lượt trong ba năm 2011, 2012, 2013 là: 3,543; 1,391; 1,162 vòng. Năm 2012,
vòng quay VCĐ giảm 2,152 vòng so với năm 2011 còn 1,391 vòng. Điều này có nghĩa là 1 đồng VCĐ bỏ vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm 2012 chỉ tạo ra được
1,391 đồng doanh thu thuần, giảm tới 2,152 đồng so với năm 2012. Nguyên nhân vòng
quay VCĐ giảm là do lượng VCĐ được đầu tư vào năm 2012 tăng 6.335.562.639 VNĐ
so với năm 2011 (tương ứng tăng 457,03%) để mua thêm các TSCĐ mới như máy trộn
bê tông, máy cắt sắt, thép,… nhằm đáp ứng kịp cho tiến độ thi công tại các công trình
còn đang dở dang trong năm 2011 và một loạt các công trình mới trúng thầu trong năm
2012. Tuy nhiên, lượng vốn được đầu tư cho TSCĐ cũng chỉ tăng 461.204.125 VNĐ
(chênh lệch giữa TSCĐ của hai năm 2011 và 2012 sau khi trừ nguyên giá cho giá trị hao mòn lũy kế, rồi cộng với chi phí xây dựng cơ bản dở dang6), còn lại chủ yếu lượng vốn này được CT sử dụng để đầu tư vào các CT liên kết nhằm hưởng cổ tức hàng năm, khi
khoản mục này tăng tới 5850.000.000 VNĐ so với năm 2011. Còn lại một phần rất nhỏ
tăng lên 24.358.514 VNĐ của TSDH khác. Trong khi đó, khi lượng doanh thu thuần của
năm 2012 cũng tăng 5.825.905.728 VNĐ, tương đương tăng 118,62% so với năm 2011
nhưng do mức tăng 457,03% của VCĐ quá cao khiến chỉ tiêu vòng quay VCĐ sụt giảm.
Năm 2013, 1 đồng VCĐ mà CT đưa vào sản xuất kinh doanh tạo ra 1,162 đồng
doanh thu thuần, giảm 0,229 đồng so với năm 2012. Chỉ tiêu này tiếp tục giảm trong
năm 2013 là do lượng VCĐ được đầu tư nhiều hơn 1.309.843.640 VNĐ (tăng 16,96%)
so với năm 2012. Khoản vốn này vẫn chủ yếu được đầu tư vào các CT liên kết với con số 853.500.000 VNĐ, 438.515.126 VNĐ cho việc mua thêm các TSCĐ mới và 17.828.514 VNĐ cho TSDH khác. Trong khi đó doanh thu thuần trong năm 2013 lại
sụt giảm 2,25% so với năm 2012 do doanh thu từ việc tư vấn thiết kế, giám sát xây dựng và bán đồ nội thất của năm 2013 sụt giảm so với năm 20127. Khi mà VCĐ được đầu tư nhiều hơn trong khi doanh thu thuần mang lại lại giảm khiến vòng quay VCĐ
6 Phụ lục 01: Bảng cân đối kế toán năm 2012 của CTCPĐTTM 7 Bảng 2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh tại CTCPĐTTM từ 2011 – 2013 (trang 14)
trong năm 2013 tiếp tục giảm.
32
Suất hao phí VCĐ: Qua biểu đồ 2.6 (trang 31), ta thấy chỉ tiêu suất hao phí VCĐ đang tăng dần qua các năm 2011, 2012 và 2013, khi con số này lần lượt là 0,282;
0,719; 0,861. Tức là trong năm 2011 để có được 1 đồng doanh thu thuần DN chỉ phải
bỏ ra 0,282 đồng VCĐ. Hệ số này tăng lên khá nhanh trong năm 2012 thành 0,719;
tức là để tạo ra 1 đồng doanh thu thuần thì cần bỏ ra 0,719 đồng VCĐ, nhiều hơn
0,437 đồng so với năm 2011. Năm 2012, CT có nhiều hợp đồng xây dựng và các đơn đặt hàng thiết kế đồ nội thất hơn nên doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ
tăng mạnh nhưng mức tăng không bằng lượng VCĐ được CT đầu tư (chủ yếu đầu tư
vào các công ty liên kết nhưng doanh thu từ việc nhận cổ tức ở các CT liên kết lại cho
vào doanh thu từ hoạt động tài chính) khiến lượng VCĐ được sử dụng để đầu tư cho việc xây dựng công trình và sản xuất đồ nội thất phải gánh cả một lượng VCĐ rất lớn
được đem đi đầu tư vào CT liên kết nên chỉ tiêu suất hao phí VCĐ tăng lên khá cao.
Năm 2013, suất hao phí VCĐ tiếp tục tăng lên thành 0,861. Đây là biểu hiện
không tốt bởi nó cho thấy để tạo ra 1 đồng doanh thu thuần cần bỏ ra 0,861 đồng
VCĐ, nhiều hơn năm 2012 là 0,142 đồng. Lý do thì có hai nguyên nhân, một là doanh
thu thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh giảm 2,25% do có ít hợp đồng tư vấn thiết
kế, giám sát thi công xây dựng và bán được ít đồ nội thất hơn năm 2012 bởi sự cạnh
tranh ngày càng gay gắt của các DN cùng ngành và lượng VCĐ được đưa vào đầu tư
tiếp tục tăng lên 16,96% so với năm 2012.
Tỷ suất sinh lời trên VCĐ: Qua biểu đồ 2.7 (trang 31), ta thấy chỉ tiêu này đang
có xu hướng giảm qua các năm. Ý nghĩa của con số này trong năm 2011 là 1 đồng
VCĐ được đưa vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra 0,300 đồng lợi nhuận sau thuế.
Năm 2012 thì 1 đồng VCĐ chỉ tạo ra 0,244 đồng lợi nhuận ròng, giảm 0,056 đồng so
với năm 2011. Nguyên nhân của sự sụt giảm này là do lượng VCĐ của năm 2012 tăng 457,03% (hơn 6,3 tỷ VNĐ) so với năm 20118 nhưng lợi nhuận ròng chỉ tăng 352,93% so với năm 2011. Tuy lượng VCĐ được đầu tư tăng lên rất cao nhưng CT
lại chủ yếu góp vốn vào cho các CT liên kết với hơn 5,8 tỷ VNĐ. Vào thời điểm này
một số CT liên kết mà CTCPĐTTM đã đầu tư vốn vào làm ăn thua lỗ nên không thể tiến hành chia cổ tức, tuy nhiên cũng có CT có lợi nhuận sau thuế dương nhưng lại không chia cổ tức mà giữ lại để tái đầu tư cho các năm tiếp theo khiến khoản lợi nhuận ròng sau thuế của CTCPĐTTM bị mất đi hẳn một khoản doanh thu khá lớn mà
họ rót phần lớn vốn kinh doanh vào để đầu tư.
Nhận xét: Tỷ suất sinh lời trên VCĐ giảm cho thấy CT sử dụng VCĐ để đem
đi đầu tư ở năm 2012 kém hiệu quả hơn năm 2011. Nguyên nhân chủ yếu là do kinh
8 Bảng 2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh tại CTCPĐTTM từ 2011 – 2013 (trang 14)
nghiệm của các nhà quản lý còn chưa nhiều, chưa đưa ra được những phương án đầu
33
tư hợp lý và hiệu quả nhất khi sử dụng phần lớn VCĐ để đầu tư vào một số CT liên kết làm ăn thua lỗ khiến đồng vốn mang đi đầu tư không thể sinh lời. Nhưng ở một
khía cạnh tích cực khác thì chỉ với một lượng VCĐ 461.204.125 VNĐ được đầu tư
để mua thêm các TSCĐ mới (sau khi trừ đi nguyên giá cho giá trị hoa mòn lũy kế,
rồi cộng với chi phí xây dựng cơ bản dở dang) nhằm phục vụ cho các công trình mới
trúng thầu và các đơng đặt hàng sản xuất đồ nội thất nhưng lợi nhuận sau thuế của CT cũng tăng lên khá cao (hơn 1,4 tỷ VNĐ so với năm 2011). Điều này cho thấy CT
đã quan tâm đến việc đầu tư thêm công nghệ, máy móc, thiết bị mới nhằm nâng cao
năng suất lao động cho công nhân viên góp phần tạo ra các sản phẩm chất lượng hơn,
tăng sức cạnh tranh trên thị trường (Đồng nghĩa với việc CT đã sử dụng VCĐ khá tốt để đầu tư vào các TSCĐ mới giúp lợi nhuận từ hoạt động sản xuất trong năm 2012
tốt hơn năm 2011).
Sang năm 2013, với việc doanh thu từ cung cấp công trình xây dựng và sản xuất
đồ nội thất trong năm 2012 tăng cao, CT lại tiếp tục mạnh dạn đầu tư thêm
1.309.843.640 VNĐ VCĐ cho: một bộ phận TSCĐ như các máy móc, thiết bị phục vụ
cho thi công xây dựng, sản xuất đồ nội thất với 438.515.126 VNĐ và một lượng
853.500.000 VNĐ tiếp tục mang đi đầu tư vào các CT liên kết với mong muốn được
hưởng cổ tức hàng năm. Tuy nhiên, lợi nhuận ròng trong năm 2013 lại giảm hơn 1 tỷ VNĐ so với năm 20129 khiến tỷ suất sinh lời trên VCĐ của CT trong năm 2013 tiếp tục giảm 0,156 so với năm 2012 còn 0,088.
Nhận xét: Việc chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên VCĐ tiếp tục sụt giảm trong năm
2013 có rất nhiều nguyên nhân. Đầu tiên là do giá cả các nguyên nhiên vật liệu đầu
vào để phục vụ cho quá trình sản xuất trong năm 2013 tăng lên quá cao khiến giá vốn
hàng bán lớn làm giảm khá nhiều lợi nhuận ròng. Trong khi đó DN lại không thể tăng
cao giá bán sản phẩm, dịch vụ của mình so với các năm trước bởi sự cạnh tranh ngày
càng gay gắt của các đối thủ cùng ngành trong lĩnh vực sản xuất đồ nội thất không chỉ
về mẫu mã hay chất lượng sản phẩm mà còn có cả giá bán và lĩnh vực tư vấn thiết kế,
giám sát xây dựng. Điều này cũng tác động khá lớn đến hiệu quả sử dụng VCĐ của CTCPĐTTM. Mặt khác, các khoản đầu tư tài chính dài hạn vào các CT liên kết của CTCPĐTTM trong năm 2013 cũng chưa mang lại khoản thu nhập nào như năm 2012 bởi việc giữ lại lợi nhuận sau thuế để bổ sung cho vốn kinh doanh vào năm tiếp theo
của các CT làm ăn có lãi, còn các CT liên kết làm ăn thua lỗ thì thậm chí không thể trả cổ tức cho CT đã đành mà còn có thể gây rủi ro tài chính cho CTCPĐTTM khi họ liên
9 do hai nguyên nhân chính là giá vốn hàng bán tăng cao (trang 15,16) và chi phí thuế thu nhập DN phải nộp (trang 17)
tục thua lỗ, làm mất đi những đồng vốn mà CT đầu tư vào.
34
Bảng 2.8. Chi tiết TSLĐ của CTCPĐTTM trong giai đoạn 2011– 2013
Đơn vị tính: VNĐ
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Tuyệt đối Tuyệt đối
(1) (3)
(2) 4.649.168.543 10.171.930.406 12.809.344.084 Chênh lệch 2012 - 2011 Tƣơng đối (%) (4)/(1) 118,79 (4)=(2)–(1) 5.522.761.863 Chênh lệch 2013 - 2012 Tƣơng đối (%) (5)/(2) 25,93 (5)=(3)-(2) 2.637.413.678
217.850.033 769.754.911 244.990.670 551.904.878 253,34 (524.764.241) (68,17)
1.575.253.440 4.849.467.570 7.036.808.836 3.274.214.130 207,85 2.187.341.266 45,10
1.552.663.440 22.590.000 0 2.324.869.676 531.195.394 4.785.452.311 61.127.209 2.888.050 110.644.844 4.442.063.081 7.032.252.536 0 4.556.300 135.200.850 5.392.343.728 3.232.788.871 38.537.209 2.888.050 (2.214.224.832) 3.910.867.687 208,21 170,59 100,00 (95,24) 736,24 2.246.800.225 (61.127.209) 1.668.250 24.556.006 950.280.647 46,95 100,00 57,76 22,19 21,39 A – Tài sản lƣu động I. Tiền và các khoản tương đương tiền III. Các khoản phải thu ngắn hạn 1. Phải thu cho khách hàng 2. Trả trước cho người bán 3. Các khoản phải thu khác IV. Hàng tồn kho V.Tài sản ngắn hạn khác
(Nguồn: Tính toán dựa vào bảng cân đối kế toán giai đoạn 2011 - 2013)
Bảng 2.9. Khả năng thanh toán của CTCPĐTTM giai đoạn 2011 – 2013
Đơn vị tính: lần
Chênh lệch tuyệt đối Năm Năm Năm Chỉ tiêu 2011 2012 2013 2013 so 2012
Khả năng thanh toán ngắn hạn Khả năng thanh toán nhanh Khả năng thanh toán bằng tiền 2,766 1,383 0,130 29,480 29,169 0,564 2012 so 2011 0,783 2,128 0,139 25,931 25,658 0,295 3,549 3,511 0,269
(Nguồn: Tính toán dựa vào báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán giai đoạn 2011 - 2013)
35
2.2.2.5. Các chỉ tiêu đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lƣu động
2.2.2.5.1. Các chỉ tiêu tổng hợp
(1) Khả năng thanh toán
Để đánh giá khả năng thanh toán của 1 CT ta có thể sử dụng 3 chỉ tiêu sau đây:
Khả năng thanh toán ngắn hạn, khả năng thanh toán nhanh và khả năng thanh toán
bằng tiền. Tuy nhiên, trong quá trình đánh giá cần phân tích cả tình hình biến động của
TSLĐ trong các năm qua để thấy rõ nguyên nhân tăng hay giảm của các chỉ tiêu khả
năng thanh toán và sự tăng hay giảm ấy có ảnh hưởng gì đến DN hay không?
Khả năng thanh toán ngắn hạn: vào năm 2011 là 2,766; tức là một đồng nợ
ngắn hạn của CT được đảm bảo bởi 2,766 đồng TSLĐ. Năm 2012, chỉ số này tăng
0,783 lần so với năm 2011, tức là khi cần thanh toán các khoản nợ ngắn hạn thì DN có
thể đảm bảo cho khoản nợ này bằng 3,579 đồng TSLĐ, nhiều hơn năm 2011 là 0,783 đồng. Điều này là do trong năm 2012, CT trúng thầu được nhiều hợp đồng xây dựng
cho các hộ gia đình, khu công nghiệp hơn, cùng với đó cũng có nhiều đơn đặt hàng sản
xuất đồ nội thất hơn nên nhu cầu đầu tư cho các TSLĐ cũng tăng cao 5.522.761.863
VNĐ so với năm 2011 (tương ứng tăng 118,79%).
Trong đó, các nguyên nhiên vật liệu được phục vụ cho quá trình sản xuất tăng
mạnh nhất. Điều này thường đồng nghĩa với việc hàng tồn kho phải tăng mạnh, nhưng
ngược lại hàng tồn kho lại giảm đến 2.214.224.832 VNĐ so với năm 2011, chỉ còn 110.644.844 VNĐ. Nguyên nhân là do số lượng công trình nhận thầu của CT tăng
nhiều hơn và nằm trên khắp Thủ đô Hà Nội nên nếu vận chuyển nguyên vật liệu từ
trong kho đến các công trình xây dựng thì chi phí vận chuyển là khá lớn, do đó các
đội, các tổ xây dựng của CT tự mua ở gần khu vực xây dựng rồi vận chuyển đến tận
chân công trình nơi đang thi công nhằm giúp CT tiết kiệm chi phí vận chuyển. Việc
này kéo theo các khoản chi tạm ứng cho nhân viên mua nguyên vật liệu tăng mạnh
(chiếm phần lớn sự tăng lên 3.910.867.687 VNĐ so với năm 2011 của TSNH khác)
còn lượng nguyên vật liệu được dự trữ trong kho thì giảm mạnh trong giai đoạn này. Ngoài ra, việc hàng tồn kho giảm nhiều như vậy là do vào năm 2012, số lượng đồ nội
thất còn tồn đọng trong năm 2011 đã bán được rất nhiều sau khi đội ngũ nhân công của CT có chỉnh sửa lại một số yếu tố như: sơn lại màu cho phù hợp với đơn đặt hàng của khách hàng với bàn ghế bằng nhôm hoặc sắt, thêm một số họa tiết trang trí và điêu khắc cho bàn ghế gỗ,… Việc chất lượng và mẫu mã của các sản phẩm tốt hơn so với chính chúng của năm trước giúp thời gian bán hàng của CT nhanh hơn, góp phần làm lượng hàng tồn kho của năm 2012 giảm.
Chiếm một con số khá lớn trong tổng TSLĐ tăng lên là các khoản phải thu khách hàng, với việc tăng 3.232.788.871 VNĐ, tương ứng tăng 208,21% so với năm 2011.
36
Lý do là CT đã thực hiện chính sách nới lỏng tín dụng thương mại nhằm gia tăng số lượng khách hàng mới, tăng tính cạnh tranh trên thị trường sản xuất đồ nội thất. Ngoài ra, trong tổng TSLĐ tăng lên còn có một khoản tăng rất nhỏ 2.888.050 VNĐ của các khoản phải thu khác. Có điều này là do trong năm 2012, việc nhập mua nguyên vật liệu của các đội thi công trong quá trình vận chuyển đến công trường xuất hiện tình trạng hao hụt ngoài định mức nên phát sinh số tiền phải thu từ bồi thường vật chất của các cá nhân; tập thể trong hoặc ngoài CT.
Để đáp ứng cho những nhu cầu tăng lên của các thành phần trong TSLĐ thì nguồn vốn bỏ vào đầu tư cũng phải tăng lên, trong đó, các khoản nợ ngắn hạn tăng 1.185.096.236 VNĐ, tương ứng tăng 70,51% so với năm 2011. Nhưng do mức tăng 118,79% của TSLĐ (chủ yếu được tài trợ bằng nguồn VCSH) lớn hơn mức tăng 70,51% của nợ ngắn hạn nên chỉ số khả năng thanh toán ngắn hạn của CT trong năm 2012 tăng.
Nhận xét: Ưu điểm của hệ số này khi tăng lên cho thấy rủi ro mất khả năng thanh toán của DN là thấp. Tuy nhiên, nó cũng cho thấy các khoản bị chiếm dụng của DN khá nhiều như các khoản phải thu khách hàng, khiến DN tốn nhiều chi phí để quản lý như chi phí đòi nợ, chi phí nợ xấu,…
Trong giai đoạn 2012 – 2013, khả năng thanh toán ngắn hạn của CT tăng lên rất mạnh. Chỉ số này cho ta biết vào năm 2013 cứ 1 đồng nợ ngắn hạn thì được đảm bảo bằng 29,480 đồng TSLĐ, nhiều hơn đến 25,931 đồng so với 2012. Điều này có nghĩa là khả năng đảm bảo thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn đến hạn tốt hơn, nguy cơ mất khả năng thanh toán của CT là thấp. Nguyên nhân chính là do các khoản phải thu khách hàng và TSNH khác trong TSLĐ của năm 2013 tăng lên quá nhiều với hơn 2,2 tỷ VNĐ cho khoản phải thu khách hàng (do DN tiếp tục thực hiện chính sách nới lỏng tín dụng thương mại nhằm tìm kiếm thêm các khách hàng mới) và 950.280.647 VNĐ cho TSNH khác (trong đó thì chủ yếu vẫn là sự tăng lên của các khoản tạm ứng cho nhân viên để mua nguyên vật liệu ở gần các công trình xây dựng nhằm giảm thiểu chi phí vận chuyển cho CT). Trong khi đó, khoản nợ ngắn hạn lại giảm đi hơn 2,4 tỷ VNĐ10 khiến khả năng thanh toán ngắn hạn của CT tăng lên rất mạnh trong năm 2013.
Nhận xét: Cũng giống như sự tăng lên của chỉ số khả năng thanh toán ngắn hạn trong năm 2012 thì việc chỉ số này tiếp tục tăng lên mạnh mẽ trong năm 2013 sẽ làm giảm khả năng sinh lời của CT. Bởi khi khoản phải thu khách hàng tăng lên quá cao
thì CT sẽ mất thêm các chi phí như: chi phí đòi nợ, chi phí quản lý khoản phải thu khách hàng. Và trường hợp xấu nhất là các khách hàng của CT mất khả năng thanh
toán, sẽ không trả được tiền cho CT, khiến CT có thể lâm vào khó khăn trong kinh
10 Nợ ngắn hạn năm 2013 (trang 29, 30)
doanh do không thu hồi được vốn để tiếp tục đầu tư.
37
Khả năng thanh toán nhanh: Chỉ tiêu này thể hiện khả năng chuyển đổi thành
tiền của TSLĐ (sau khi đã trừ đi hàng tồn kho) để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn.
Năm 2011, CT có thể chuyển đổi 1,383 đồng TSLĐ của mình thành tiền để chi trả cho 1 đồng nợ ngắn hạn mà không cần bán hàng tồn kho. Chỉ số này trong năm 2012 tăng
2,128 lần so với năm 2011 thành 3,511 lần. Nguyên nhân là do sự gia tăng mạnh mẽ
đến 3.232.788.871 VNĐ của các khoản phải thu khách hàng, 551.904.878VNĐ tiền và
các khoản tương tiền để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh hàng ngày, cùng với đó
là sự sụt giảm đến 2.214.224.832 VNĐ hàng tồn kho mà thay vào đó là sự gia tăng của các khoản tạm ứng cho nhân viên nằm trong TSNH hạn đến hơn 3 tỷ VNĐ để mua
nguyên nhiên vật liệu ngay gần các công trình xây dựng mới trúng thầu nằm rải rác
khắp nơi trên Thủ đô Hà Nội (nhằm tiết kiệm chi phí vận chuyển cho CT),… Do đó,
hiệu của tổng TSLĐ và hàng tồn kho trong năm 2012 tăng (5.522.761.863 – / (2.214.224.832) = 7.736.986.695 VNĐ, tương đương tăng ((7.736.986.695
2.324.298.867) ×100% = 332,87% so với năm 2011). Trong khi đó, các khoản nợ ngắn
hạn của CT tuy có tăng nhưng chỉ hơn năm 2011 là 1.185.096.236 VNĐ, tương ứng
tăng 70,51%; do đó khả năng thanh toán nhanh của CT tăng.
Sang năm 2013, khả năng thanh toán nhanh của CT lại tiếp tục tăng lên 25,658 lần
so với năm 2012. Nguyên nhân là do trong năm 2013 tổng TSLĐ của CT tăng
2.637.413.678 VNĐ (chủ yếu vẫn đến từ các khoản phải thu khách hàng 2.246.800.225 VNĐ và khoản tạm ứng cho nhân viên đi mua nguyên vật liệu xây dựng và thực hiện
các công việc phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày với 950.280.647
VNĐ, còn các khoản như tiền và tương đương tiền, trả trước cho người bán tuy có giảm
nhưng chỉ giảm rất nhỏ so với sự tăng lên của hai khoản phải thu khách hàng và TSNH
khác). Do vậy, đây là một mức tăng quá cao so với mức tăng 24.556.006 VNĐ của hàng
tồn kho (Tức là Tổng TSLĐ – Hàng tồn kho tăng lên 2.612.857.672 VNĐ so với năm
2012). Trong khi đó nợ ngắn hạn của năm 2013 lại giảm so với năm 2012 là
2.431.451.514 VNĐ do đó khả năng thanh toán nhanh tăng lên rất mạnh.
Nhận xét: Qua chỉ tiêu này, ta thấy khả năng đảm bảo thanh toán của TSLĐ sau
khi trừ đi hàng tồn kho là cao, do CT dự trữ hàng tồn kho ít nên khoản mục này chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu TSLĐ (ngoại trừ năm 2011) khiến khả năng thanh toán nhanh cao. Nhưng cũng giống chỉ tiêu thanh toán ngắn hạn, chỉ tiêu này cao quá cũng không tốt. Bởi khi nới lỏng chính sách tín dụng thương mại thì CT ngày càng bị chiếm dụng vốn nhiều hơn, ảnh hưởng đến tốc độ luân chuyển vốn, làm mất cơ hội kinh doanh do chưa thu hồi đủ vốn để đầu tư cho các hợp đồng mới.
Hay chính sách tạm ứng tiền cho nhân viên mua nguyên nhiên vật liệu tại gần các công trình xây dựng khi có đơn đặt hàng cụ thể của khách hàng cũng mang lại hai mặt
38
tốt, xấu. Tốt ở chỗ tiết kiệm được chi phí vận chuyển vì các công trình nằm rải rác khắp
nơi trên Thủ đô Hà Nội. Nhưng không tốt ở chỗ là: khi CT có yêu cầu cụ thể của khách
hàng thì mới tạm ứng tiền cho nhân viên đi mua nguyên vật liệu để sản xuất. Điều này có thể khiến CT rơi vào tình trạng cạn kiệt hàng tồn kho bởi các nhà cung cấp có thể
hết hàng hay không cung cấp đủ nguyên vật liệu cho CT, từ đó dẫn tới rủi ro làm gián
đoạn sản xuất, gây mất doanh thu do CT không có hàng để bán, tạo cơ hội cho chính
các đối thủ cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường. Hoặc một trường hợp xấu nữa cũng không
thể không kể đến đó là: giá cả các nguyên nhiên vật liệu đầu vào phục vụ cho hoạt động sản xuất đồ nội thất, thi công xây dựng lại tăng giá mạnh vào thời điểm mà CT đang
cần mua gấp để phục vụ cho các hợp đồng mới. Minh chứng cụ thể là vào năm 2013,
khi mà giá cả của hầu hết các nguyên nhiên vật liệu đầu vào như xăng dầu, sắt thép,…
tăng mạnh thì nhu cầu mua nguyên vật liệu của CT để đáp ứng cho việc sản xuất cũng tăng (nếu không mua thì không có vật liệu để sản xuất, tạo cơ hội cho đối thủ cạnh
tranh chiếm lĩnh thị trường, mất đi khách hàng,…). Điều này dẫn tới việc CT phải chấp
nhận mua nguyên vật liệu xây dựng khi giá của chúng tăng cao khiến giá vốn hàng bán
tăng, ảnh hưởng không nhỏ đến lợi nhuận ròng và hiệu qủa sử dụng vốn trong hoạt
động kinh doanh của CT.
Khả năng thanh toán bằng tiền: của CT vào năm 2011 là 0,130. Sang năm
2012 chỉ tiêu này tăng lên 0,139 lần thành 0,269. Nguyên nhân là do vào năm 2011, CT trúng thầu được nhiều công trình xây dựng và đơn đặt hàng mua đồ nội thất hơn
nên cần nhiều tiền hơn để phục vụ cho sự gia tăng của các TSLĐ như nguyên vật liệu
hay các TSCĐ mới để phục vụ cho quá trình xây dựng công trình và sản xuất đồ nội
thất. Do đó, lượng tiền trong năm 2012 tăng 551.904.878 VNĐ so với năm 2011
(tương ứng tăng 253,34%). Trong khí đó, khoản nợ ngắn hạn được dùng để đầu tư cho
các TSLĐ cũng tăng nhưng chỉ tăng 70,51% so với năm 2011 nên dẫn đến chỉ tiêu khả
năng thanh toán bằng tiền trong năm 2012 tăng lên.
Trong năm 2013, chỉ số này tăng so với năm 2012 là 0,295 lần, tức là một đồng
nợ ngắn hạn trong năm 2013 được đảm bảo bằng 0,564 đồng (tiền mặt và tiền gửi
ngân hàng), nhiều hơn năm 2012 là 0,295 đồng. Nguyên nhân là do vào năm 2013, tuy các khoản tiền giảm 524.764.241 VNĐ so với năm 2012, tương ứng giảm 68,17% nhưng các khoản nợ ngắn hạn lại giảm tới 2.431.451.514 VNĐ (nguyên nhân của sự suy giảm này đã được viết ở trang 29, 30), tức là giảm 84,84% so với năm 2012.
Nhận xét: Ta thấy trong các năm qua, CT luôn tính toán sự tăng giảm của các khoản tiền và tương đương tiền một cách hợp lý theo sự tăng giảm của các khoản nợ ngắn hạn của CT. Khi mà các khoản nợ ngắn hạn tăng lên (trong năm 2012) thì lượng tiền cũng tăng theo để đáp ứng cho nhu cầu trả nợ các khoản này (bởi tiền luôn có tính
39
thanh khoản cao nhất so với hàng tồn kho hay khoản phải thu khách hàng). CT luôn
chuẩn bị, dự tính tình huống xấu nhất là khi một số khoản nợ ngắn hạn đến hạn trả mà
các khoản phải thu của khách hàng chưa thu hồi được thì luôn có một lượng tiền mặt trong CT hoặc các tài khoản gửi trong ngân hàng để sẵn sàng đáp ứng cho nhu cầu trả
nợ. Điều này cho thấy CT luôn cố gắng tránh trường hợp xấu nhất là: khi các khoản nợ
đến hạn trả mà CT không trả được thì sẽ gây mất uy tín của CT đối với các nhà cung
cấp,..). Còn khi các khoản nợ ngắn hạn giảm (trong năm 2013) thì lượng tiền của CT
cũng được dự trữ ít hơn nhưng vẫn có thể đảm bảo khả năng đáp ứng cho các nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn, còn lại thì CT tiếp tục mang tiền đi để đầu tư vào các dự án án
mới, tránh để tiền dữ trữ quá nhiều vì không tạo ra lợi nhuận.
(2) Vòng quay VLĐ, Tỷ suất sinh lời trên VLĐ
VLĐ đóng vai trò quan trọng đối với kết quả sản xuất kinh doanh. Các chỉ số đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ như vòng quay VLĐ, tỷ suất sinh lời trên VLĐ là các
chỉ số giúp cho các nhà quản lý, các nhà đầu tư có các nhận định về hiệu quả hoạt
động sản xuất kinh doanh hàng ngày của CT.
Bảng 2.10. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lƣu động
Chênh lệch tuyệt đối Chỉ tiêu ĐVT Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 2012 so 2011
2013 so 2012 (0,237) 0
0,090 0,185 0,062 VNĐ 0,095 (0,123) Vòng quay VLĐ Vòng 1,056 1,056 0,819 Tỷ suất sinh lời trên VLĐ
(Nguồn: Tính toán dựa vào báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán
giai đoạn 2011 – 2013)
Vòng quay VLĐ: Chỉ số này trong 3 năm 2011, 2012 và 2013 lần lượt là 1,056;
1,056 và 0,819 vòng. Trong năm 2011 chỉ số này có ý nghĩa là 1 đồng VLĐ tạo ra
được 1,056 đồng doanh thu thuần. Năm 2012, 1 đồng VLĐ được đưa vào sản xuất
kinh doanh cũng tạo ra 1,056 đồng doanh thu thuần. Ta thấy trong năm 2012, doanh
thu thuần được tạo ra nhiều hơn 5.825.905.728 VNĐ (tăng 118,62%) so với năm 2011
do CT cung cấp và sản xuất được nhiều công trình xây dựng và các trang thiết bị nội thất hơn. Tuy nhiên, chỉ tiêu vòng quay VLĐ trong năm 2012 không tăng lên là do lượng VLĐ được đưa vào đầu tư cũng tăng 118,79% so với năm 2011 (xấp xỉ với mức tăng 118,62% của doanh thu thuần). Một phần VLĐ tăng lên của CT vào thời điểm này được sử dụng để mua nguyên nhiên vật liệu xây dựng như sắt, thép, xi măng, xăng dầu,… (thể hiện ở các khoản tạm ứng cho nhân viên nằm trong TSNH khác) nhằm phục vụ cho các hợp đồng xây dựng, thiết kế đồ nội thất tăng cao trong năm 2012. Một khoản khác chiếm tỷ trọng khá cao trong mức tăng lên 5.522.761.863 VNĐ VLĐ của
40
CT trong năm 2012 là các khoản phải thu khách hàng (tăng 3.232.788.871 VNĐ so với
năm 2011). Nguyên nhân là do CT đã thực hiện chính sách nới lỏng tín dụng thương
mại nhằm gia tăng số lượng khách hàng mới, tăng tính cạnh tranh trên thị trường sản xuất đồ nội thất và thi công xây dựng. Như vậy, lượng VLĐ được CT đưa vào sử dụng
trong năm 2012 tương đương với mức tăng lên của doanh thu thuần dẫn đến chỉ tiêu
vòng quay VLĐ trong hai năm 2011 và 2012 là bằng nhau. Điều này cho thấy hiệu quả
sử dụng VLĐ của CT trong hai năm là ngang nhau.
Năm 2013, chỉ tiêu vòng quay VLĐ của CT giảm xuống chỉ còn 0,819 vòng, tức là 1 đồng VLĐ được đưa vào sản xuất kinh doanh chỉ còn tạo ra được 0,819 đồng
doanh thu thuần, giảm 0,237 đồng so với năm 2012. Nguyên nhân của sự sụt giảm này
là do trong năm 2013 doanh thu thuần của CT giảm 241.774.914 VNĐ so với năm
2012 (tương ứng giảm 2,25%). Doanh thu thuần giảm chủ yếu là do khoản thu từ tư vấn thiết kế thi công, giám sát xây dựng và bán đồ nội thất giảm (bởi sự cạnh tranh
ngày càng gay gắt của các đối thủ cùng ngành). Trong khi đó, lượng VLĐ được CT
đưa vào sử dụng trong năm 2013 lại tiếp tục gia tăng 2.637.413.678 VNĐ so với năm
2012, tăng 25,93%, làm chỉ tiêu vòng quay VLĐ của CT giảm (Trong đó thì các thành
phần của VLĐ có cả các khoản tăng lên và giảm đi, nhưng các khoản tăng lên như
phải thu ngắn hạn, TSNH khác và hàng tồn kho có mức tăng cao hơn mức giảm của
khoản tiền và tương đương tiền). Cụ thể, trong những khoản tăng lên của VLĐ thì gia tăng mạnh nhất chính là các khoản phải thu khách hàng. Vào năm 2013, con số này
tiếp tục tăng 2.246.800.225 VNĐ so với năm 2012 thành 7.032.252.536 VNĐ. Có hai
nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng mạnh mẽ này của các khoản phải thu khách hàng.
Một là do để chuẩn bị cho chiến lược kinh doanh dài hạn sắp tới của CT là mở rộng
quy mô hoạt động ra các tỉnh thành lân cận quanh Hà Nội vào năm 2015, nên để gia
tăng khả năng cạnh tranh CT đã mạnh dạn nới lỏng tín dụng thương mại hơn cả năm
2012, tăng lượng hàng (đồ nội thất) bán chịu cho khách hàng để chiếm thị phần trên thị
trường. Một lý do nữa thì đến từ chính chu kỳ sản xuất kinh doanh của CT bởi như đã
phân tích ở phần tỷ trọng nợ phải trả (trang 19) thì sản phẩm của CT ngoài đồ nội thất
chủ yếu là các công trình xây dựng thường có thời gian hoàn thành và nghiệm thu từ 1 năm trở, do đó dẫn đến tình trạng các khoản phải thu khách hàng trong CT còn chậm.
Nhận xét: Chỉ tiêu vòng quay VLĐ của CTCPĐTTM trong năm 2013 là thấp nhất trong ba năm qua cho thấy việc sử dụng VLĐ của CT để tạo ra doanh thu là kém hiệu quả đi. Nguyên nhân chủ yếu của việc sử dụng VLĐ kém hiệu quả đi là do sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của các đối thủ cùng ngành về mẫu mã, chất lượng đồ nội thất, chi phí của dịch vụ tư vấn thiết kế và giám sát xây dựng (khiến doanh thu của CT tạo ra trong năm 2013 giảm so với năm 2012). Ngoài ra, chu kỳ sản xuất kéo dài (trong lĩnh vực thi công xây dựng) và chuẩn bị cho chiến lược kinh doanh dài hạn vào
41
năm 2015 của CT như đã nói ở phần tăng lên của khoản phải thu khách hàng trong năm 2013 ở trên cũng khiến hiệu quả sử dụng VLĐ của CT trong năm 2013 là kém hơn các năm trước.
Tỷ suất sinh lời trên VLĐ: Vào năm 2011 cứ 1 đồng VLĐ được đưa vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra 0,090 đồng lợi nhuận ròng. Vào năm 2012, 1 đồng VLĐ được CT sử dụng mang lại 0,185 đồng lợi nhuận ròng, tăng 0,095 đồng so với năm 2012. Điều này cho thấy CT sử dụng VLĐ để tạo ra lợi nhuận trong năm 2012 là tốt hơn so với năm 2011. Nguyên nhân của sự tăng lên này là do lợi nhuận sau thuế của CT trong năm 2012 tăng 1.468.726.932 VNĐ so với năm 2011, tương ứng tăng 352,93%. Trong khi đó, lượng VLĐ mà CT đưa vào đầu tư chỉ tăng 118,79% so với năm 2011 (tương ứng với số tiền tăng lên 5.522.761.863 VNĐ) để mua nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất, gia tăng lượng vốn bằng tiền để đáp ứng cho các nhu cầu chi trả cho các khoản chi phí kinh doanh hàng ngày như tiền điện, nước,… do CT mở rộng quy mô hoạt động để đáp ứng cho việc ký được nhiều hợp đồng xây dựng, sản xuất các đơn đặt hàng đồ nội thất mới, hay việc nới lỏng chính sách tín dụng thương mại khiến lượng vốn bị khách hàng chiếm dụng nhiều hơn.
Năm 2013, tỷ suất sinh lời trên VLĐ chỉ còn 0,062, giảm 0,123 so với năm 2012. Nguyên nhân của sự suy giảm này đến từ hai lý do. Lý do đầu tiên là sự sụt giảm 1.090.136.400 VNĐ (tương ứng giảm 57,84%) của lợi nhuận ròng trong năm 2013 so với năm 2012 do hai nguyên nhân chính là giá vốn hàng bán tăng cao (trang 15,16) và chi phí thuế thu nhập DN phải nộp (trang 17). Lý do thứ hai là việc CT tiếp tục đầu tư thêm 2.637.413.678 VNĐ VLĐ (tăng 25,93% so với năm 2012) để phục vụ chủ yếu cho nhu cầu mua nguyên nhiên vật liệu, và gia tăng chính sách tín dụng thương mại nhằm tìm kiếm thêm các khách hàng mới.
Nhận xét: Việc chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên VLĐ giảm cho thấy trong năm 2013 CT sử dụng VLĐ kém hiệu quả hơn so với năm 2012. Điều này là do những nguyên nhân khách quan như không thể lường trước được những biến động phức tạp của thị trường các nhân tố đầu vào: giá cả của các nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất tăng mạnh vào thời điểm mà CT có nhu cầu sử dụng để thi công các công trình mới, trong khi lượng nguyên vật liệu trong kho lại dự trữ quá ít (nhằm tiết kiệm chi phí bảo quản), khiến giá vốn của các sản phẩm được sản xuất trong năm 2013 tăng cao, ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả sử dụng VLĐ của CT. Ngoài ra, việc CT ngày càng nới lỏng chính sách tín dụng thương mại cũng khiến hiệu quả sử dụng VLĐ giảm đi. Nới lỏng tín dụng thương mại tuy giúp CT tăng doanh thu, mở rộng các mối quan hệ hợp kinh doanh bền chặt,… nhưng cũng khiến CT phải đối mặt với các rủi ro như thu hồi vốn chậm hay mất không vốn do khách hàng không còn khả năng thanh toán.
42
2.2.2.5.2. Các chỉ tiêu thành phần
VLĐ là biểu hiện bằng tiền của TSLĐ. Do đó, việc sử dụng và quản lý TSLĐ tốt
sẽ góp tăng hiệu quả sử dụng VLĐ cho một CT. Vì vậy để có thể hiểu rõ hơn về hiệu quả sử dụng VLĐ của CTCPĐTTM, ta đi vào phân tích các vấn đề sau:
Quản lý khoản phải thu ngắn hạn: Các khoản phải thu ngắn hạn của
CTCPĐTTM bao gồm 3 khoản: phải thu cho khách hàng, trả trước cho người bán và
các khoản phải thu khác. Để thấy được sự ảnh hưởng của các thành phần này tới hiệu
quả hoạt động của CT trong ba năm qua ta có bảng sau:
Bảng 2.11. Tỷ trọng các khoản phải thu ngắn hạn của CTCPĐTTM
Đơn vị tính: VNĐ
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Chỉ tiêu
Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%)
1.575.253.440 100 4.849.467.570 100 7.036.808.836 100
1.552.663.440 98,57 4.785.452.311 98,68 7.032.252.536 99,94
22.590.000 1,43 61.127.209 1,26 0 0,00
0 0,00 2.888.050 0,06 4.556.300 0,06 Các khoản phải thu ngắn hạn 1.Phải thu cho khách hàng 2.Trả trước cho người bán 3.Các khoản phải thu khác
(Nguồn: Tính toán dựa vào bảng cân đối kế toán giai đoạn 2011 – 2013)
Nhìn vào bảng 2.11, ta thấy trong khoản phải thu ngắn hạn của CT ở giai đoạn trên
thì chiếm tỷ trọng cao nhất là khoản phải thu khách hàng (luôn chiếm hơn 98%), còn hai
khoản trả trước cho người bán, các khoản phải thu khác chiếm tỷ trọng không đáng kể.
Trả trước cho người bán: lần lượt trong ba năm gần đây là 22.590.000,
61.127.209 và 0 VNĐ. Con số này qua các năm khá nhỏ là do CT đang ngày càng
khẳng định được uy tín của mình, thiết lập được thêm nhiều mối quan hệ lâu năm và
được các nhà cung cấp tin tưởng vì thế mà khoản trả trước khá nhỏ.
Các khoản phải thu khác: tăng nhẹ từ 0 VNĐ trong năm 2011 lên 2.888.050 VNĐ trong năm 2012 và tiếp tục gia tăng thành 4.556.300 VNĐ ở năm 2013. Có điều này là do trong các năm 2012 và 2013, việc nhập mua nguyên vật liệu của các đội thi công trong quá trình vận chuyển đến công trường xuất hiện tình trạng hao hụt ngoài định mức
nên phát sinh số tiền phải thu từ bồi thường vật chất của các cá nhân; tập thể. Tuy nhiên việc thiếu hụt nguyên vật liệu ngoài định mức này trong quá trình vận chuyển ít khi xảy ra do tính tự giác của nhân viên và cách quản lý chặt chẽ của CT (sẽ nói cụ thể hơn ở
phần quản lý hàng tồn kho) nên các khoản phải thu khác trong ba năm qua cũng rất ít.
43
Do hai khoản trả trước cho người bán và các khoản phải thu khác chiếm tỷ trọng
rất nhỏ trong tổng các khoản phải thu ngắn hạn so với khoản phải thu khách hàng nên
sự ảnh hưởng của hai khoản này là rất ít đến hiệu quả sử dụng vốn nói chung, hay VLĐ của CT. Qua đó, ta thấy việc quản lý các khoản phải thu ngắn hạn của
CTCPĐTTM chủ yếu là quản lý các khoản phải thu khách hàng.
Để đánh giá công tác quản lý khoản phải thu khách hàng của CT ta có biểu đồ sau:
Biểu đồ 2.8. Vòng quay khoản phải thu khách hàng và thời gian thu nợ trung
bình của CTCPĐTTM giai đoạn 2011 – 2013
250 3,5
Vòng
241,208
Ngày
3
200 2,5
3,163 2 160,446 150 2,244 1,5 1,492 113,808 100 1
Năm 2011 Năm 2013 Năm 2012 Vòng quay khoản phải thu khách hàng Thời gian thu nợ trung bình
(Nguồn: Tính toán dựa vào báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán
giai đoạn 2011 - 2013)
Số vòng quay các khoản phải thu khách hàng: Nhìn chung vòng quay khoản
phải thu khách hàng của CT đang giảm dần qua mỗi năm. Cụ thể, năm 2011, vòng
quay khoản phải thu khách hàng là 3,163 vòng. Sang năm 2012, chỉ tiêu này là 2,244
vòng, giảm 0,919 vòng so với năm 2011. Nguyên nhân là do trong năm 2012, khoản
phải thu khách hàng tăng 3.232.788.871 VNĐ so với năm 2011 (tương ứng tăng
208,21%) do CT thực hiện chính sách nới lỏng tín dụng thương mại nhằm tìm kiếm
thêm các khách hàng mới và tăng khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực thi công xây
dựng, thiết kế đồ nội thất. Trong khi đó, tuy doanh thu thuần vào năm 2012 nhiều hơn
5.825.905.728 VNĐ so với năm 2011 nhưng con số tương đối chỉ tăng 118,62% nên vòng quay khoản phải thu khách hàng trong năm 2012 nhỏ hơn năm 2011. Sang năm 2013, chỉ tiêu này tiếp tục giảm 0,751 vòng so với năm 2011, xuống còn 1,492 vòng. Do doanh thu thuần của năm 2013 giảm 2,25% so với năm 2012 do các khoản thu từ dịch vụ tư vấn thiết kế, giám sát xây dựng và bán trang thiết bị nội thất của CT không có nhiều như năm 2012, còn khoản phải thu khách hàng lại tiếp tục tăng 2.246.800.225 VNĐ, tương đương tăng 46,95% so với năm 2012 (bởi thời kỳ này CT đang muốn chiếm thị phần trên thị trường, tạo thêm nhiều mối quan hệ với các khách hàng mới). Do đó, CT càng mạnh dạn nới lỏng tín dụng thương mại hơn so với năm 2012.
44
Thời gian thu nợ trung bình: Năm 2011, thời gian thu nợ trung bình của CT là
113,808. Năm 2012, kể từ khi CT bán chịu đến khi thu được tiền trung bình là
160,446 ngày, tăng 46,638 ngày so với năm 2011. Năm 2013, thời gian thu nợ trung bình của CT còn dài hơn, lớn nhất trong 3 năm gần đây là 241,208 ngày.
Nhận xét: Thời gian thu nợ trung bình của CTCPĐTTM trong các năm qua đang
tăng lên có thể được giải thích như sau: do chu kỳ sản xuất của CT có thời gian dài với
sản phẩm chủ yếu là các công trình xây dựng có thời gian hoàn thành và nghiệm thu từ
1 năm trở lên nên việc thu tiền từ khách hàng chắc chắn sẽ chậm hơn rất nhiều so với các loại hình hình kinh doanh như bán hàng ăn hay dịch vụ du lịch,… Ngoài ra, giá
thành của các công trình xây dựng là khá cao nên khi hoàn thành, quyết toán xong
công trình thì CT chưa hẳn đã thu hồi luôn được vốn từ các chủ đầu tư .Việc này cũng
làm thời gian thu nợ dài hơn qua các năm. Một nguyên nhân nữa cũng làm thời gian thu nợ dài hơn đến từ chiến lược kinh doanh dài hạn sắp tới của CT là mở rộng quy mô
hoạt động ra các tỉnh thành lân cận quanh Hà Nội vào năm 2015, nên để gia tăng khả
năng cạnh tranh CT đã mạnh dạn nới lỏng tín dụng thương mại (năm sau các tiêu
chuẩn bán chịu cho khách hàng còn dễ dàng hơn năm trước), nhằm tăng lượng hàng
(đồ nội thất) bán chịu cho khách hàng để chiếm thị phần trên thị trường.
Để hiểu rõ hơn về hiệu quả sử dụng VLĐ của CTCPĐTTM, ta phân tích tiếp các
chỉ tiêu về Quản lý hàng tồn kho
Bảng 2.12. V ng quay hàng tồn kho và thời gian luân chuyển hàng tồn kho trung
bình của CTCPĐTTM giai đoạn 2011 – 2013
Chỉ tiêu ĐVT Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch tuyệt đối 2012-2011 2013-2012
Vòng 1,067 60,364 53,850 59,297 (6,514)
Ngày 337,489 5,964 6,685 (331,525) 0,721 Vòng quay hàng tồn kho Thời gian luân chuyển hàng tồn kho trung bình
(Nguồn: Tính toán dựa vào báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán
giai đoạn 2011 - 2013)
Trong năm 2011, hàng tồn kho bình quân quay được 1,067 vòng, trung bình mỗi vòng quay hết 337,489 ngày. Năm 2011, số vòng quay hàng tồn kho quay được ít là do giá vốn hàng bán có giá trị 2.479.942.573 VNĐ, không cao hơn là mấy so với 2.324.869.676 VNĐ hàng tồn kho. Hàng tồn kho trong năm 2011 của CT cao là có hai nguyên nhân. Thứ nhất là do trong năm 2011, CT dự trữ khá nhiều nguyên vật liệu trong kho để phục vụ cho việc thi công xây dựng nhưng các công trình xây dựng của CT trong năm 2011 chủ yếu là các công trình cho các hộ gia đình nên lượng nguyên
45
vật liệu mua về không xây dựng hết dẫn đến còn tồn đọng một lượng khá lớn trong kho của CT. Trong khi đó, lượng bàn ghế nội thất được sản xuất trong năm 2011 cũng ở mức cao nhưng bán được không nhiều bởi đây là lĩnh vực mới được đăng ký kinh doanh của CT nên kỹ thuật sản xuất của công nhân còn chưa cao, chưa đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng. Do đó, lượng hàng đồ nội thất còn tồn đọng trong kho do chưa bán được cũng là nguyên nhân thứ hai khiến khoản hàng tồn kho trong năm 2011 có giá trị lớn, dẫn đến chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho thấp, làm thời gian luân chuyển hàng tồn kho trung bình dài. Điều này cho thấy tốc độ bán hàng của CT còn chậm.
Sang năm 2012, số vòng quay hàng tồn kho là 60,364 vòng và bình quân chỉ mất 5,964 ngày để hoàn thành 1 vòng quay, tương ứng số vòng quay hàng tồn kho tăng 59,297 vòng, còn số ngày luân chuyển hàng tồn kho giảm tới 331,525 ngày so với năm 2011. Đi vào sâu vào tìm hiểu ta thấy có được điều này là do hai nguyên nhân. Thứ nhất, giá vốn hàng bán năm 2012 tăng 4.199.073.689 VNĐ, tương đương tăng 169,32% so với năm 2011 do trong năm 2012 CT hoàn thành được nhiều CT xây dựng lớn và bán được nhiều trang thiết bị nội thất hơn.
Thứ hai là việc hàng tồn kho của CT sụt giảm 2.214.224.832 VNĐ, tương ứng giảm 95,24% so với năm 2011, chỉ còn 110.644.844 VNĐ. Việc hàng tồn kho giảm mạnh là do CT muốn tiết kiệm chi phí vận chuyển nguyên vật liệu sản xuất, bởi trong năm 2012 CT thực hiện khá nhiều dự án xây dựng nằm rải rác trên khắp Thủ đô Hà Nội nên nếu CT thực hiện việc vận chuyển nguyên vật liệu từ trong kho đến các công trình xây dựng thì chắc chắn sẽ mất rất nhiều thời gian và chi phí cho quá trình này. Do đó, các đội, các tổ xây dựng của CT tự mua nguyên vật liệu ở gần nơi đang thi công nhằm tiết kiệm chi phí vận chuyển. Việc mua bán này luôn có sự quản lý chặt chẽ của CT để tránh tình trạng thất thoát. Cụ thể như sau: khi các đội có nhu cầu mua sắm nguyên vật liệu thì phải viết giấy xin tạm ứng kèm theo bảng báo giá để gửi về CT. Khi đó, phòng thiết kế sẽ căn cứ vào quy mô công trình để tính toán lượng vật tư cần thiết rồi gửi lên để Tổng giám đốc ký duyệt. Sau đó, các giấy tờ này được chuyển đến phòng kế toán để viết phiếu chi và xuất tiền tạm ứng cho các đội thi công để mua nguyên vật liệu (do vậy mà việc hao hụt ngoài định mức do mua bán nguyên vật liệu của nhân viên trong CT là rất ít khi xảy ra). Chính nguyên nhân trên đã dẫn tới việc nguyên vật liệu được dự trữ trong kho của CT ở năm 2012 thấp hơn hẳn năm 2011.
Ngoài ra, CT cũng đã bán được một lượng lớn bàn ghế nội thất còn tồn kho trong năm 2011 cho khách hàng sau khi cải thiện chất lượng, mẫu mã cho các sản phẩm này (như đối với bàn ghế bằng nhôm hay sắt thì sơn lại màu cho phù hợp với đơn đặt hàng của các khách hàng trong năm 2012, đối với đồ gỗ thì vẽ hoặc điêu khắc thêm các họa tiết hay hoa văn trang trí,…). Hay việc cho khách hàng hưởng chiết khấu thương mại khi họ mua với một số lượng lớn đồ nội thất. Làm những việc trên có thể
46
tốn nhiều thời gian và chi phí hơn nhưng CT đã bán được hàng nhanh hơn, góp phần đẩy nhanh tốc độ thu hồi vốn.
Nhận xét: Hệ số vòng quay hàng tồn kho trong năm 2012 cao đã làm cho số ngày lưu kho thấp cho thấy khách hàng đang dần dần yêu thích dịch vụ do CT cung cấp hơn khi CT bán được nhanh và nhiều các công trình, đồ nội thất hơn. Ngoài ra, việc bán được nhiều sản phẩm hơn một phần cũng là do CT thực hiện chính sách nới lỏng tín dụng thương mại nhằm tìm kiếm thêm các khách hàng mới.
Năm 2013, hệ số vòng quay hàng tồn kho giảm 6,514 vòng so với năm 2012 xuống còn 53,850 vòng, kéo theo thời gian luân chuyển kho trung bình tăng lên 0,721 ngày, thành 6,685 ngày. Điều này là do giá trị của hàng tồn kho trong năm 2013 cao hơn 24.556.006 VNĐ so với năm 2012, tương ứng tăng 22,19%. Trong khi đó, khoản chi phí cho giá vốn hàng bán trong năm 2013 tăng lên khá cao 601.575.287 VNĐ so với năm 2012, tuy nhiên con số tăng tương đối chỉ là 9,01%; dẫn đến vòng quay hàng tồn kho trong năm 2013 giảm so với năm 2012. Việc giá vốn hàng bán trong năm 2013 tăng lên hơn 600 triệu VNĐ là do chi phí của các nguyên vật liệu đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất tăng lên quá cao (mặc dù số lượng đơn đặt hàng sản xuất đồ nội thất giảm so với năm 2012 còn các công trình xây dựng của hai năm khá tương đương nhau). Điều này là mặt trái của việc CT dự trữ ít hàng tồn kho. Bởi giống như năm 2012, khi trúng thầu được các công trình xây dựng, hay nhận được các đơn đặt hàng mua đồ nội thất cụ thể của khách hàng thì CT mới bắt đầu mua nguyên vật liệu thông qua việc tạm ứng tiền cho nhân viên để mua nguyên vật liệu ở gần các công trình xây dựng nhằm tiết kiệm chi phí vận chuyển và chi phí lưu kho, bảo quản đồ nội thất hay nguyên vật liệu sản xuất. Do vậy, thật không may khi nhu cầu mua nguyên vật liệu của CT tăng lên lại cùng với thời điểm giá cả của hầu hết các nhân tố đầu vào trong năm 2013 tăng mạnh (nếu không mua thì không có vật liệu để sản xuất, tạo cơ hội cho đối thủ cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường, mất đi khách hàng,…). Điều này dẫn tới việc CT phải chấp nhận mua nguyên vật liệu xây dựng khi giá của chúng tăng cao, ảnh hưởng không nhỏ đến lợi nhuận ròng và hiệu qủa sử dụng vốn trong hoạt động kinh doanh của CT.
Nhận xét: Từ những đánh giá ở trên cho thấy, công tác quản lý hàng tồn kho ở CTCPĐTTM đang gặp một vấn đề cần xử lý: Lượng hàng tồn kho dự trữ thấp tuy giúp CT tiết kiệm được chi phí lưu kho, chi phí bảo quản,… nhưng dự trữ thấp quá đến khi nhu cầu sử dụng nhiều mà giá cả thị trường lại tăng sẽ khiến chi phí giá vốn hàng bán tăng cao ảnh hưởng mạnh đến lợi nhuận ròng cuối cùng của CT. Ngoài ra còn có thể rơi vào tình trạng xấu nhất là khi CT cần mua nguyên vật liệu để sản xuất thì các nhà cung cấp lại hết hay không đáp ứng đủ cho CT thì sẽ dẫn đến rủi ro mất các hợp đồng xây dựng hay sản xuất đồ nội thất cho chính các đối thủ cạnh tranh của CT (do không có nguyên vật liệu để sản xuất).
47
2.3. Kết luận
Qua những phân tích ở chương 2 về thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của CTCPĐTTM, ta có thể tổng quát những kết quả đạt được và hạn chế của CT như sau:
2.3.1. Những kết quả đạt được và hạn chế của việc sử dụng vốn cố định
2.3.1.1. Kết quả đạt đƣợc của việc sử dụng vốn cố định
Hằng năm, CT luôn đầu tư thêm TSCĐ mới, hiện đại11 (máy trộn bê tông, máy cắt sắt thép,..) để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh tăng cao. Ngoài ra, CT cũng đã kịp thời thanh lý các TSCĐ cũ, lỗi thời, lạc hậu, không phù hợp với quy trình sản xuất kinh doanh hiện tại12. Việc luôn đầu tư thêm máy móc mới giúp CT nâng cao năng suất lao động cho công nhân viên góp phần tạo ra các công trình xây dựng, đồ nội thất có chất lượng cao hơn, tăng sức cạnh tranh trên thị trường dẫn tới doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong hai năm 2012 và 2013 đều lớn hơn gấp đôi so với năm 201113.
2.3.1.2. Hạn chế của việc sử dụng vốn cố định
Mặc dù CT đã liên tục đầu tư thêm TSCĐ mới nhằm gia tăng hiệu quả kinh doanh nhưng hiệu quả sử dụng VCĐ trong ba năm qua đều lần lượt giảm xuống. Nguyên nhân là do mức độ gia tăng của doanh thu thuần và lợi nhuận ròng của các năm 2012 và 2013 so với năm 2011 không tương xứng với lượng VCĐ đã bỏ ra để đầu tư. Lượng VCĐ của CT trong hai năm 2012 và 2013 chủ yếu được đầu tư vào các CT liên kết. Trong các CT này, một số thì làm ăn thua lỗ nên không thể chia cổ tức cho CTCPĐTTM, một số thì làm ăn có lãi nhưng lại không tiến hành chia cổ tức mà giữ lại lợi nhuận để đầu tư vào các năm tiếp theo khiến CTCPĐTTM mất đi hẳn những khoản thu khá lớn từ hoạt động tài chính mà CT bỏ phần lớn VCĐ vào để đầu tư14. Điều này cho thấy kinh nghiệm của các nhà quản lý còn chưa nhiều nên chưa đưa ra được những phương án đầu tư hợp lý và hiệu quả nhất khi sử dụng phần lớn VCĐ để đầu tư vào một số CT liên kết làm ăn thua lỗ khiến đồng vốn mang đi đầu tư không thể sinh lời.
11 Chỉ tiêu vòng quay VCĐ trong năm hai năm 2012 và 2013 (trang 32) 12 Thu nhập khác và chi phí khác (trang 16, 17) 13 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (trang 15) 14 Tỷ suất sinh lời trên VCĐ – phần đầu tư vào các CT liên kết năm 2012 và năm 2013 (trang 33 và trang 34) 15 Giá vốn hàng bán (trang 15,16) 16 Suất hao phí VCĐ năm 2013 (trang 33)
Hiệu quả sử dụng VCĐ của CT trong năm 2013 kém hơn so với các năm trước còn do một số nguyên nhân khác như: giá cả các nguyên nhiên vật liệu đầu vào để phục vụ cho quá trình sản xuất trong năm 2013 tăng lên quá cao khiến giá vốn hàng bán lớn15 làm giảm khá nhiều lợi nhuận ròng. Trong khi đó, DN lại không thể tăng cao giá bán sản phẩm, dịch vụ của mình hơn so với các năm trước bởi sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của các đối thủ cùng ngành không chỉ về mẫu mã hay chất lượng sản phẩm mà còn có cả giá bán dẫn đến doanh thu bán hàng năm 2013 giảm so với năm 201216.
48
2.3.2. Những kết quả đạt được và hạn chế của việc sử dụng vốn lưu động
2.3.2.1. Kết quả đạt đƣợc của việc sử dụng vốn lƣu động
Trong cả ba năm gần đây nhất, các chỉ tiêu khả năng thanh toán ngắn hạn và khả năng thanh toán nhanh của CTCPĐTTM đều lớn hơn 1. Đặc biệt vào năm 2013, hai hệ
số này đều ở mức lớn hơn 29 lần – tức là 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo đến hơn 29 đồng TSLĐ17. Điều này cho thấy khả năng thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn của CT luôn trên mức an toàn. CT luôn chủ động trong việc hoàn trả số vốn do vay và
chiếm dụng trong ngắn hạn. Điều này chắc chắn sẽ tạo ra niềm tin rất lớn cho các tổ chức tín dụng nếu CT muốn vay tiền trong ngắn hạn.
Lượng hàng tồn kho của CTCPĐTTM vào năm 2011 lên tới 2.324.869.676 VNĐ,
chiếm một tỷ trọng gần 50% của tổng TSLĐ năm đó. Nguyên nhân là do các nhà quản
lý chưa dự tính đúng nhu cầu sản xuất trong năm nên lượng nguyên vật liệu được mua để phục vụ cho việc thi công xây dựng là quá nhiều dẫn đến tồn đọng một lượng khá lớn trong kho của CT18. Trong khi đó, lượng bàn ghế nội thất được bảo quản trong kho do chưa bán được cũng khá nhiều do kinh nghiệm thiết kế và kỹ thuật sản xuất của
công nhân còn chưa cao, chưa đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng (do đây là lĩnh vực CT mới đưa vào kinh doanh19). Điều này làm cho thời gian luân chuyển hàng tồn kho trung bình vào năm 2011 rất dài là 337,489 ngày.
Tuy nhiên, trong hai năm 2012 và 2013, thời gian luân chuyển hàng tồn kho của CT chỉ còn lần lượt là 5,964 và 6,685 ngày. Điều này cho thấy khách hàng ngày càng
yêu thích dịch vụ do CT cung cấp hơn khi CT bán được nhanh và nhiều các công trình,
đồ nội thất hơn so với năm 2011. Việc CT bán được sản phẩm của mình nhanh hơn đến
từ một số nguyên nhân như: tay nghề của người lao động ngày một nâng cao, trình độ
sản xuất và kỹ thuật cải tiến, khắc phục chất lượng cho các sản phẩm cũ, còn tồn kho
17 Bảng 2.9. Khả năng thanh toán của CTCPĐTTM giai đoạn 2011 – 2013 (trang 35) 18 Vòng quay hàng tồn kho năm 2011 (trang 45, 46) 19 Giới thiệu về CTCPĐTTM (trang 12) 20 Vòng quay hàng tồn kho và thời gian luân chuyển hàng tồn kho trung bình năm 2012 (trang 46, 47) 21 Các khoản giảm trừ doanh thu (trang 15) 22 Chi phí từ hoạt động tài chính (trang 16) và vòng quay khoản phải thu khách hàng (trang 44)
ngày càng kinh nghiệm góp phần đẩy nhanh tốc độ bán hàng đối với cả các sản phẩm mới làm ra và các sản phảm còn tồn kho từ nhiều năm trước20. Công tác tiêu thụ của CT trong hai năm 2011 và 2013 nhanh hơn nhiều năm 2011 một phần cũng là do CT thường áp dụng những khoản chiết khấu thương mại cho khách hàng khi họ mua đồ nội thất với số lượng lớn21, cũng như các chính sách tín dụng thương mại nhằm thu hút khách hàng22. Trong hai năm 2012 và 2013, CT dự trữ rất ít nguyên vật liệu trong kho để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh. Thay vào đó là việc tạm ứng tiền cho các đội, các tổ xây dựng của CT để họ tự mua nguyên vật liệu ở gần nơi đang thi công nhằm
49
tiết kiệm chi phí vận chuyển. Việc mua bán này chắc chắn sẽ tạo ra rủi ro như khai tăng
số lượng cần thiết hay đánh cắp nguyên vật liệu trong quá trình vận chuyển để kiếm lợi
của công nhân. Tuy nhiên, việc hao hụt ngoài định mức trong quá trình vận chuyển hay các rủi ro khác đều hiếm khi xảy ra là nhờ sự quản lý chặt chẽ của CT23. Điều này giúp cho CT ít tổn hại về VLĐ do ý thức tuân thủ quy tắc làm việc của người lao động.
2.3.2.2. Hạn chế của việc sử dụng vốn lƣu động
Đối với khoản phải thu khách hàng: Trong vài năm qua, các khoản phải thu khách hàng của CT luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng TSLĐ. Đây là một dấu hiệu không tốt, bởi nó cho thấy CT đang gặp nhiều khó khăn trong việc đòi nợ, và bị chiếm dụng khá nhiều vốn. Nguyên nhân chính là do chu kỳ sản xuất kéo dài của CT với sản phẩm chủ yếu là các công trình xây dựng có thời gian hoàn thành và nghiệm thu từ 1 năm trở lên nên việc thu tiền từ khách hàng còn chậm. Ngoài ra, giá thành của các công trình xây dựng khá lớn nên khi hoàn thành và quyết toán xong công trình thì chưa hẳn CT đã thu hồi luôn được vốn từ các chủ đầu tư24. Mặt khác, việc áp dụng chính sách nới lỏng tín dụng thương mại nhằm tăng khả năng khả năng cạnh tranh, tìm kiếm thêm các khách hàng mới trong lĩnh vực sản xuất đồ nội thất25 cũng khiến khoản phải thu khách hàng trong hai năm gần đây ngày một cao. Điều này có thể mang đến rủi ro mất không vốn của CT do bán hàng cho những khách hàng không đủ khả năng thanh toán.
Đối với hàng tồn kho: Chính sách hàng tồn kho hiện tại khiến cho mức dự trữ nguyên vật liệu gần như bằng không. Việc nhập nguyên vật liệu chỉ được thực hiện khi có nhu cầu cụ thể của khách hàng. Điều này giúp CT tiết kiệm được chi phí bảo quản và chi phí lưu kho, nhưng lại khiến cho việc đáp ứng nhu cầu của các khách hàng lẻ hoặc nhu cầu phát sinh ngoài hợp đồng của các khách hàng dự án sẽ bị động và không kịp thời. Mặt khác, với chính sách này, CT sẽ phải đối mặt với hai rủi ro. Một giá cả của các nhân tố đầu vào tăng cao khi nhu cầu nhập nguyên nhiên vật liệu tăng mạnh để đáp ứng cho các hợp đồng mới (nếu không mua thì không thể sản xuất) sẽ khiến giá vốn hàng bán tăng cao, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng VLĐ26. Hai có thể rơi vào tình trạng xấu nhất là khi CT cần mua nguyên vật liệu để sản xuất thì các nhà cung cấp lại hết hay không đáp ứng đủ cho CT thì sẽ dẫn đến rủi ro mất các hợp đồng xây dựng hay thiết kế đồ nội thất cho chính các đối thủ cạnh tranh của CT27 .
Tỷ suất sinh lời trên VLĐ: của CT trong năm 2013 kém hơn các năm trước đó. Nguyên nhân chủ yếu của việc sử dụng VLĐ kém hiệu quả đi là do sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của các đối thủ cùng ngành về mẫu mã, chất lượng đồ nội thất, chi phí
23 Vòng quay hàng tồn kho năm 2012 (trang 46, 47) 24 Thời gian thu nợ trung bình (trang 44) 25 Phần phải thu khách hàng trong chỉ tiêu vòng quay VLĐ năm 2012 và năm 2013 (trang 40, 41) 26 Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho năm 2013 (trang 47) 27 Phần nhận xét của chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho năm 2013 (trang 47) 50
của dịch vụ tư vấn thiết kế và giám sát xây dựng (khiến doanh thu của CT tạo ra trong năm 2013 chưa tương xứng với lượng VLĐ được bỏ ra để đầu tư). Hay giá cả của các nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất tăng mạnh vào thời điểm mà CT có nhu cầu sử dụng để thi công các công trình mới, trong khi lượng nguyên vật liệu trong kho lại dự trữ quá ít, khiến giá vốn của các sản phẩm được sản xuất trong năm 2013 tăng cao, ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả sử dụng VLĐ của CT. Ngoài ra, chu kỳ sản xuất kéo dài (trong lĩnh vực thi công xây dựng) và nới lỏng chính sách tín dụng thương mại của CT như đã nói ở phần tăng lên của khoản phải thu khách hàng ở trên cũng khiến hiệu quả sử dụng VLĐ của CT để tạo ra lợi nhuận trong năm 2013 là kém hơn các năm trước.
2.3.3. Những kết quả đạt được và hạn chế của việc sử dụng vốn chủ sở hữu
Trong ba năm qua, VCSH của CT ngày càng gia tăng mạnh mẽ, luôn chiếm một tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn của CT (năm 2011 chiếm 57,36% tổng nguồn vốn,
năm 2012 là 73,73%, còn năm 2013 là 95,28%). Lượng VCSH được huy động ngày
một nhiều nhằm chuẩn bị cho chiến lược kinh doanh dài hạn là mở rộng phạm vi hoạt động ra các tỉnh thành lân cận Thủ đô Hà Nội vào năm 201528. Mặc dù, tình hình kinh tế biến động theo hướng ngày càng khó khăn, khiến nhiều nhà đầu tư không dám mạnh
dạn mở rộng kinh doanh, nhưng riêng với CTCPĐTTM lượng vốn do các cổ đông
đóng góp ngày càng nhiều. Điều này cho thấy cái nhìn tích cực và niềm tin vào khả
năng phát triển của CT trong tương lai của các nhà đầu tư.
Khi VCSH chiếm tỷ trọng cao như trên trong tổng nguồn vốn thì chứng tỏ hầu
hết các hoạt động sản xuất, kinh của CT như các nhu cầu về VCĐ hay VLĐ đều được
tài trợ từ nguồn VCSH. Điều này giúp CT ít phải đối mặt với các áp lực trả nợ do
chiếm dụng vốn của nhà cung cấp hay khách hàng trong ngắn hạn và chi trả cho lãi
vay (do tỷ trọng nợ phải trả trong các năm gần đây là khá thấp). Điều này cho thấy
mức độ tự chủ tài chính của CT ngày càng cao hơn và nếu có tổn thất xảy ra, việc bù đắp
tổn thất sẽ là dễ dàng hơn.
Tuy VCSH tăng lên rất nhiều nhưng hiệu quả sử dụng nguồn vốn này của CT lại
28 Vòng quay VCSH vào hai năm 2012 và 2013 (trang 22, 23) 29 Biểu đồ 2.2. Chỉ tiêu vòng quay VCSH và biểu đồ 2.3. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên VCSH (trang 24) 30 Tỷ suất sinh lời trên VCSH vào hai năm 2012 và 2013 (trang 23,25)
chưa cao (hai chỉ tiêu vòng quay VCSH và Tỷ suất sinh lời trên VCSH của năm 2013 là thấp nhất trong ba năm29). Có một nguyên nhân chính giải thích cho sự sụt giảm này là do: người quản lý sử dụng những đồng vốn nhàn rỗi để đầu tư vào các khoản đầu tư tài chính dài hạn chưa tốt, chưa đưa ra được những phương án đầu tư hợp lý và hiệu quả nhất khi sử dụng khá nhiều vốn để đầu tư vào một số CT liên kết làm ăn thua lỗ30 khiến đồng vốn mang đi đầu tư không thể sinh lời (mà còn có thể dẫn tới mất không do
51
một số CT này liên tục thua lỗ và có thể dẫn đến nguy cơ bị phá sản). Ngoài ra thì còn
có những nguyên nhân khách quan như: không thể lường trước được những biến động
phức tạp của thị trường, lạm phát khiến giá cả của các nguyên vật liệu đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất tăng; hay sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của các DN cùng
ngành cũng ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả sử dụng VCSH của CT.
2.3.4. Những kết quả đạt được và hạn chế của việc sử dụng nợ phải trả
Tỷ trọng nợ phải trả trong tổng nguồn vốn của CTCPĐTTM khá thấp. Tỷ trọng nợ
ngày càng thấp là do để chuẩn bị cho chiến lược mở rộng phạm vi hoạt động ra các tỉnh thành lân cận Hà Nội vào năm 2015 nhằm tạo dựng thêm nhiều mối quan hệ với các nhà
cung cấp mới và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Do đó, CT đã hạn chế mua
chịu từ các nhà cung cấp và giảm số tiền đặt cọc trước cho khách hàng. Ngoài ra, nợ
phải trả thấp còn do chính chu kỳ sản xuất kéo dài của CT với sản phẩm chủ yếu là các công trình xây dựng có thời gian hoàn thành và nghiệm thu thường từ hơn một năm trở
lên nên CT sợ chưa thu được tiền từ các dự án xây dựng để chi trả cho các khoản vay
ngắn hạn đến hạn trả. Điều này làm CTCPĐTTM chưa hoặc không dám nghĩ tới việc
vay ngắn hạn của ngân hàng để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, quy
mô của CT chỉ là “DN nhỏ” nên việc tiến hành đi vay vốn dài hạn của ngân hàng cũng khá hạn chế 31.
Tuy những đồng vốn được huy động từ nợ còn khá hạn chế nhưng tỷ suất sinh lời trên nợ phải trả đang có xu hướng tăng dần qua các năm32 cho thấy việc sử dụng nợ của CTCPĐTTM để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng hiệu quả.
Điều này một phần là do trình độ sản xuất của người lao động ngày càng cải thiện, sản
phẩm được tạo ra đẹp và chất lượng hơn dẫn đến việc bán hàng được nhiều hơn, góp phần tăng tỷ suất sinh lời trên nợ phải trả33.
Việc sử dụng nợ phải trả có hiệu quả để đầu tư cho hoạt động sản xuất trong các
năm qua có thể khuyến khích CT mạnh dạn đi vay vốn ngân hàng hơn cả trong ngắn
hạn và dài hạn để có thể mở rộng quy mô vốn, đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh. Nhất là khi vào năm 2015, CTCPĐTTM lại dự định cung cấp cả các dịch vụ
31 Tỷ trọng nợ phải trả (trang 19) 32 Biểu đồ 2.4. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên nợ phải trả (trang 27) 33 Phần nhận xét của chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên nợ phải trả năm 2012, năm 2013 (trang 29, 30)
của mình đến một số tỉnh thành lân cận Hà Nội thì lại càng cần nhiều vốn để đáp ứng cho chiến lược kinh doanh dài hạn này. Bởi lượng vốn được góp thêm hàng năm từ các cổ đông cũng chỉ có hạn, còn các khoản chiếm dụng từ nhà cung cấp hay khách hàng thì khó có thể tăng được do CT muốn tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường mới nên phải tạo dựng thật nhiều mối quan hệ với các nhà cung cấp và khách hàng mới. Do đó phải giảm thiểu việc mua chịu từ nhà cung cấp, số tiền đặt cọc trước của khách hàng…
52
CHƢƠNG 3.
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN Ở CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƢ TÂN MINH
Trong thời gian thực tập tại CTCPĐTTM, qua việc xem xét thực tế tình hình kinh doanh và phân tích số liệu, cũng như được sự góp ý cuả các cán bộ công nhân viên của
CT, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
của CTCPĐTTM như sau:
3.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định
3.1.1. Với tài sản cố định
Trong thời gian tới, khi mà CTCPĐTTM mở rộng quy mô hoạt động ra các tỉnh
thành lân cận Thủ đô Hà Nội vào năm 2015 thì nhu cầu đầu tư cho TSCĐ chắc chắn sẽ
gia tăng rất mạnh để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và nâng cao khả năng cạnh tranh
trong thị trường mới. Đối với một DN hoạt động trong lĩnh vực thi công xây dựng và sản xuất đồ nội thất thì việc mua sắm TSCĐ đúng phương hướng và đúng mục đích có
ý nghĩa rất quan trọng để nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ nói riêng và hiệu quả sử
dụng vốn nói chung. Việc đầu tư, mua sắm máy móc thiết bị hiện đại, phù hợp với tiến
bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến sẽ giúp người lao động nâng cao năng suất và hiệu quả
làm việc, cho ra các thành phẩm đẹp, chất lượng cao, làm tăng số lượng sản phẩm sản
xuất ra, góp phần hạ giá thành sản phẩm,… do đó sẽ tăng lợi nhuận cho CT. Tuy
nhiên, nếu như người lao động không bắt kịp được tốc độ phát triển của khoa học kĩ thuật thì khi đó, các TSCĐ của DN sẽ xảy ra hiện tượng hao mòn vô hình và DN sẽ bị
mất vốn kinh doanh. Vì vậy, việc đầu tư thêm các TSCĐ mới phải kết hợp cả với việc
nâng cao tay nghề cho người lao động bằng cách đào tạo, bồi dưỡng thêm các kiến
thức kỹ thuật, đồng thời phải giáo dục giáo dục ý thức trách nhiệm bảo vệ TSCĐ cho
người lao động thì mới có thể góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ được.
Trong quá trình sử dụng, CT phải quản lý chặt chẽ, không làm mất mát TSCĐ.
Mọi TSCĐ của CT phải có hồ sơ theo dõi quản lý riêng. Cuối mỗi năm tài chính, CT
phải tiến hành kiểm kê TSCĐ. Mọi trường hợp thừa, thiếu TSCĐ phải được lập biên bản, tìm nguyên nhân và có biện pháp xử lý.
Thực hiện đúng quy chế bảo dưỡng, sửa chữa TSCĐ hàng năm nhằm duy trì và nâng cao năng lực hoạt động của TSCĐ. Kịp thời thanh lý TSCĐ không cần dùng hoặc đã hư hỏng, không dự trữ quá mức TSCĐ chưa cần dùng. Ở mỗi đơn vị nên có ít nhất một cán bộ quản lý TSCĐ để đảm bảo các thông tin về TSCĐ luôn được cập nhật thường xuyên, chính xác.
Lựa chọn phương pháp khấu hao và xác định mức khấu hao thích hợp cho các TSCĐ. Nguyên tắc chung là mức khấu hao TSCĐ phải phù hợp với hao mòn thực tế. Nếu khấu hao thấp hơn mức hao mòn thực tế sẽ không đảm bảo thu hồi vốn khi TSCĐ
53
hết thời hạn sử dụng. Ngược lại sẽ làm tăng chi phí một cách giả tạo, làm giảm lợi
nhuận của DN.
3.1.2. Với các khoản đầu tư tài chính dài hạn
Cần xem xét, đánh giá lại hiệu quả kinh doanh trong thời gian tới của các CT liên
kết mà CT đã đầu tư vốn vào trong các năm trước. Nếu trong thời gian tới mà có biến
chuyển tích cực thì tiếp tục giữ vốn đầu tư để hưởng cổ tức hàng năm. Nếu tiếp tục
làm ăn thua lỗ thì CT nên rút vốn kinh doanh ra khỏi các CT liên kết làm ăn thua lỗ
này bằng cách nhượng lại cổ tức cho các cổ đông khác. Làm cách này có thể không thu hồi lại được đầy đủ số đã đầu tư ban đầu nhưng sẽ không phải đối mặt với rủi ro
mất không vốn nếu các CT này phá sản trong thời gian tới.
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động
3.2.1. Xác định nhu cầu vốn lưu động
Khi lập kế hoạch VLĐ phải căn cứ vào kế hoạch của toàn bộ vốn kinh doanh
xem có phù hợp với tình hình thực tế hay không? thông qua việc phân tích, tính toán
các chỉ tiêu kinh tế, tài chính của kỳ trước cùng với những dự đoán về tình hình hoạt
động kinh doanh, khả năng tăng trưởng trong năm tới và những dự kiến về sự biến
động của thị trường. Từ đó, có thể xác định đúng đắn nhu cầu VLĐ thường xuyên, cần
thiết để đảm bảo hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN được tiến hành một cách
thường xuyên, liên tục, tiết kiệm và có hiệu quả kinh tế cao.
Xác định nhu cầu VLĐ phải dựa trên các kế hoạch thu mua nguyên vật liệu, chi
phí cho hoạt động sản xuất, tiêu thụ,… Dựa trên nhu cầu VLĐ đã xác định thì CT sẽ
có kế hoạch huy động vốn sao cho chi phí sử dụng là tiết kiệm nhất như: xác định
nguồn VCSH hiện tại của CT, từ đó ước tính được số vốn còn thiếu. Sau đó so sánh
chi phí huy động vốn từ các nguồn tài trợ để lựa chọn kênh huy động vốn phù hợp, kịp
thời, tránh tình trạng thừa vốn, gây lãng phí hoặc thiếu vốn làm gián đoạn hoạt động
kinh doanh của CT, đồng thời hạn chế các rủi ro có thể xảy ra.
3.2.2. Nâng cao hiệu quả quản lý khoản phải thu khách hàng
Do thực hiện chính sách nới lỏng tín dụng thương mại nên các khoản phải thu khách hàng luôn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng VLĐ của CT. Vì vậy, quản lý tốt các khoản phải thu khách hàng là biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ của CT. CT cần cải thiện công tác thu hồi vốn từ các khoản phải thu khách hàng để lành mạnh hóa tình hình tài chính, tăng khả năng thanh toán, đảm bảo uy tín của CT trước các tổ chức tín dụng, các nhà cung cấp và các nhà đầu tư.
Đánh giá năng lực thanh toán của khách hàng trước khi bán chịu: phải xem xét kỹ lưỡng tình hình ngân quỹ của khách hàng để có được quyết định về thời hạn thanh
54
toán nợ cho phù hợp, xem xét khách hàng đến khi nào có đủ khả năng trả nợ nhất. Nếu
như khách hàng có năng lực tài chính tốt, có khả năng thanh toán các khoản nợ thì CT
mới thực hiện việc bán chịu. Còn nếu năng lực tài chính của khách hàng yếu kém, khả năng thanh toán cho các khoản nợ thấp thì CT không nên cho khách hàng đó nợ để
tránh rủi ro nợ khó đòi.
Cần có các ràng buộc chặt chẽ khi ký kết các hợp đồng mua bán: Cần quy định rõ
quyền hạn và trách nhiệm của mỗi bên tham gia hợp đồng. Nêu rõ ràng thời gian và
phương thức thanh toán, đồng thời luôn giám sát chặt chẽ việc khách hàng thực hiện những điều kiện trong hợp đồng. Bên cạnh đó cũng cần đề ra những hình thức xử phạt
nếu hợp đồng bị vi phạm để nâng cao trách nhiệm của các bên khi tham gia hợp đồng;
phải gắn trách nhiệm của khách hàng thông qua các điều kiện ràng buộc trong hợp
đồng như các điều kiện giao nhận, điều kiện thanh toán,... nhằm hạn chế rủi ro cho CT.
Đối với những khoản nợ quá hạn của khách hàng: CT cần phải phân loại để tìm
ra nguyên nhân của từng khoản nợ, đồng thời căn cứ vào tình hình thực tế để có biện
pháp xử lý phù hợp như gia hạn hợp đồng, giảm nợ cho khách hàng hay yêu cầu cơ
quan có thẩm quyền can thiệp. Đối với những khách hàng có quan hệ làm ăn lâu dài và
thường xuyên với CT thì CT có thể gia hạn nợ với một thời gian nhất định phụ thuộc
vào giá trị của khoản nợ và uy tín của khách hàng đó trong quan hệ làm ăn với CT. Đối
với những đối tượng có tính trốn tránh, không trả các khoản nợ, CT phải có những biện pháp dứt khoát, thậm chí có thể nhờ đến sự can thiệp của các cơ quan pháp luật để có
biện pháp xử lý thích hợp. Sau khi giải quyết các công việc trên, CT cần đánh giá lại
toàn bộ các khoản phải thu khách hàng nằm trong tình trạng không thể thu hồi. Nếu số
nợ này đạt tới giá trị nhất định thì CT cần xin trích lập dự phòng phải thu khó đòi. Việc
trích lập nhằm giới hạn tổn thất cho CT do khách hàng không chịu thực hiện thanh toán.
3.2.3. Nâng cao hiệu quả quản lý hàng tồn kho
Như đã phân tích ở phần quản lý hàng tồn kho, việc dữ trữ nguyên vật liệu trong
kho của CT quá ít trong hai năm 2012 và 2013 khiến CT phải đối mặt với rủi ro là phải mua nguyên vật liệu đầu vào với giá cao khi nhu cầu nhập nguyên nhiên vật liệu tăng
mạnh để đáp ứng cho các hợp đồng mới vào lúc giá cả của hầu hết các nhân tố đầu vào đều tăng (đặc biệt là năm 2013) khiến giá vốn hàng bán tăng cao, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng VLĐ. Vì vậy, để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ thì CT cần thực hiện thật tốt công tác dự báo thị trường, phân tích và tính toán những biến động của các nhân tố đầu vào như: sắt, thép, xi măng, đá, cát, xăng dầu,… Khi nào các nguyên vật liệu này giảm thì nên dự trữ một lượng phù hợp với nhu cầu sản xuất trong năm, chứ không nên đợi đến khi có yêu cầu cụ thể của khách hàng rồi mới nhập nguyên vật liệu. Nếu thực hiện chính sách này, CT sẽ nắm bắt được các cơ hội như
55
mua nguyên vật liệu sản xuất khi giá rẻ và xuất bán thành phẩm khi nhu cầu của khách
hàng lớn, còn mặt hàng CT sản xuất ra đang khan hiếm sẽ góp phần đẩy giá bán lên
cao, gia tăng lợi nhuận cho CT.
3.2.4. Tổ chức tốt việc tiêu thụ nhằm đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Trong các năm vừa qua, CT đã có nhiều cố gắng cũng như có những biện pháp
để đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ và số lượng sản phẩm bán ra nhằm tăng doanh thu bán
hàng như nới lỏng tín dụng thương mại, tăng chiết khấu thanh toán. Tuy nhiên, do sự
cạnh tranh gay gắt của nhiều DN cùng ngành khiến doanh thu và lợi nhuận tạo ra chưa tương xứng lượng VLĐ mà CT bỏ vào đầu tư nên vòng quay VLĐ và tỷ suất sinh lời
trên VLĐ vào năm 2013 là thấp nhất trong ba năm qua. Do đó, trong các năm tới, nếu
CT muốn tăng hiệu quả sử dụng VLĐ thì phải có những chính sách hợp lý để có thể giữ
vững, từ đó gia thị phần như:
Thực hiện phương châm khách hàng là thượng đế, tiếp tục áp dụng chính sách ưu
tiên về giá cả, điều kiện thanh toán và phương tiện vận chuyển với những đơn vị mua
hàng nhiều, thường xuyên hay có khoảng cách vận chuyển xa.
DN cần xây dựng và mở rộng hệ thống dịch vụ ở những thị trường đang có nhu
cầu thông qua hệ thống tổ chức công tác nghiên cứu, tìm hiểu thị hiếu của khách hàng.
Đây chính là cầu nối giữa CT với khách hàng. Qua đó, CT có thể thu nhập thêm những
thông tin cần thiết và đưa ra các giải pháp thích hợp nhằm phục vụ tốt hơn cho nhu cầu của khách hàng, củng cố niềm tin của khách hàng với CT. Để làm tốt điều này CT nên
tổ chức hẳn một phòng marketing chuyên phục vụ cho việc nghiên cứu thị trường. Đây
là một giải pháp khá cần thiết để CT xây dựng được chính sách giá cả, chính sách
quảng bá chào hàng của CT trên thị trường, là cơ sở cho CT đưa ra mức giá cạnh
tranh, tăng số lượng sản phẩm tiêu thụ và thu được lợi nhuận cao hơn, cũng như gia
tăng khả năng cạnh tranh cho CT trong cơ chế kinh tế thị trường khốc liệt hiện nay.
Hiện nay, đồ nội thất do CT sản xuất ra phần lớn được tiêu thụ tại trụ sở chính
của CT mà không qua các trung gian nào. Để mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thúc đẩy tốc độ tiêu thụ hàng hóa nhanh hơn, CT nên xây dựng hệ thống các cửa hàng phân phối
của riêng mình cũng như các đại lý phân phối. Như vậy, khả năng tiêu thụ hàng hóa của CT sẽ tăng lên, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ của CT.
3.3. Một số giải pháp khác
3.3.1. Coi trọng nhân tố con người trong tổ chức
3.3.1.1. Nâng cao hơn nữa tay nghề của cán bộ, công nhân viên
Với công nhân: Đối với lĩnh vực xây dựng cơ bản thì có lẽ tay nghề của công nhân không có giới hạn nào là đủ, đặc biệt trong xây dựng nhà cửa, thiết kế đồ nội thất
56
thì khiếu thẩm mỹ của mỗi người mỗi khác. Người thợ có tay nghề cao là người có thể đáp ứng được yêu cầu thẩm mỹ của mỗi khách hàng. Để làm được điều này người công nhân cần có những chuyên môn tốt, tay nghề cao,… Do đó, CT cần chú trọng hơn nữa đến những đội thi công công trình và các đơn vị sản xuất đồ nội thất, đặc biệt là cử những người có tay nghề khá trong các đơn vị đi học thêm. Những công nhân này sẽ giúp cho chất lượng thi công công trình và sản xuất đồ nội thất ngày càng được nâng cao hơn. Đồng thời với các nhân viên tay nghề còn non kém, kinh nghiệm chưa nhiều thì CT cũng nên sắp xếp thời gian hợp lý để thuê một số chuyên gia trong ngành đến giao lưu, giúp họ có thêm nhiều kiến thức bổ ích phục vụ cho quá trình làm việc.
Với các cử nhân kinh tế: CT cũng nên đầu tư nhiều hơn cho các nhân viên tài
chính, kế toán và quản trị doanh nghiệp các khóa học về chuyên môn, kỹ năng xã hội
như kỹ năng giao tiếp, thuyết trình,… để họ nâng cao trình độ, tự tin trong công việc,
từ đó yêu thích công việc của mình, gắn bó với CT. Với các nhân viên tài chính thì nâng cao khả năng đọc tình hình biến động của các chỉ số kinh tế trên thị trường để
giúp CT chớp lấy thời cơ, tăng cao lợi nhuận. Với các nhân viên kế toán thì giúp họ
đẩy nhanh thời gian làm việc, cung cấp các số liệu kịp thời, chính xác, hữu ích cho ban
lãnh đạo để giúp các nhà quản lý cấp cao hiểu được nguồn gốc của các khoản lãi, lỗ
trong hoạt động kinh doanh, từ đó giúp DN đưa ra những điều chỉnh phù hợp nhất để
khắc phục những hạn chế này. Với các cử nhân quản trị doanh nghiệp thì tạo điều kiện
cho họ phát triển thêm khả năng quản lý nhân sự, giúp CT có thể phân bổ, bố trí lượng
nhân viên trong các phòng ban sao cho hiệu quả nhất.
3.3.1.2. Thu hút thêm lực lƣợng lao động trình độ cao
CT nên thực hiện một đợt công tác tuyển dụng trong thời gian tới để bổ sung thêm một đội ngũ nhân viên lành nghề tốt nghiệp từ các trường đại học của Việt Nam như: Đại học Xây Dựng, Đại học Giao Thông Vận Tải, Đại học Kiến Trúc,… để nâng cao chất xám cho CT.
Đó là về các lĩnh vực thi công, tư vấn, giám sát xây dựng và thiết kế đồ nội thất, còn về lĩnh vực kinh doanh thương mại như dự đoán tình hình biến động kinh tế, đầu tư tài chính dài hạn,… thì CT cũng nên tuyển dụng thêm một số sinh viên đã tốt nghiệp từ các trường như Đại học Ngoại Thương, Đại học Kinh tế Quốc dân,… để giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh của CT trong thời gian tới hiệu quả hơn.
3.3.1.3. Thực hiện cơ chế thƣởng phạt trong quá trình sử dụng vốn
Một CT có vốn đầu tư đầy đủ mà các cán bộ không nhiệt tình trong công việc thì
hiệu quả sẽ không cao. Trong quá trình quản lý và sử dụng vốn cần quy định rõ trách
nhiệm của từng cán bộ công nhân viên đối với từng công việc được giao như: quy định rõ trách nhiệm của từng người đối với việc bảo vệ tài sản được giao, trách nhiệm đối
57
với việc thu hồi công nợ của các hợp đồng mà người đó được giao,... CT cần áp dụng
mức thưởng xứng đáng cho từng cá nhân, tập thể khi họ hoàn thành tốt công việc của
mình được giao. Tuy vậy, CT không nên vận dụng mức thưởng bừa bãi, thích thì thưởng... Mức thưởng có xứng đáng cho công nhân viên thì họ mới lấy đó là mục đích
phấn đấu cho mình. Từ một cá nhân hoàn thành tốt đến nhiều người, cứ như vậy làm
cho tập thể CT phát triển mạnh, đạt được các mục tiêu của mình.
Bên cạnh mức thưởng cá nhân hoàn thành tốt công việc của mình thì CT cần phải
tiến hành đồng thời với mức thưởng đó là mức phạt nhằm răn đe đối với từng cá nhân thiếu tinh thần trách nhiệm trong công việc, cá nhân lười biếng, lãng phí trong sử dụng
tài sản mình được giao. Từ những bài học đó sẽ giúp người lao động thấy được những
khiếm khuyết của họ trong công việc để từ đó sửa chữa và nỗ lực hơn trong quá trình
làm việc sau này.
3.3.2. Gia tăng nguồn vốn vay dài hạn trong tổng nguồn vốn
Trong quá trình huy động vốn, để đạt được mục tiêu tăng trưởng thì ngoài nguồn
VCSH đòi hỏi CT phải quan tâm đến việc tìm nguồn vốn vay dài hạn. Đây là nguồn tài
trợ dồi dào và ổn định cho sự phát triển vững chắc của CT. Hiện nay, các nhu cầu về
VLĐ và VCĐ của CTCPĐTTM chủ yếu được tài trợ bằng VCSH. Tuy nhiên, để chuẩn
bị cho kế hoạch mở rộng phạm vị hoạt động ra các tỉnh thành lân cận Hà Nội thì CT sẽ
phải cần huy động thêm một lượng vốn vay khá lớn để mua sắm máy móc thiết bị và chi trả cho các chi phí kinh doanh hằng ngày ở các cơ sở mới này vì lượng VCSH cũng chỉ
có hạn và các khoản chiếm dụng từ người bán hay khách hàng cũng không thể tăng cao
vì CT muốn tạo uy tín, thiết lập thêm nhiều mối quan hệ và tăng khả năng cạnh tranh ở
các thị trường mới. Hay các khoản vay ngắn hạn để tăng quy mô vốn cho CT cũng
không khả thi vì sản phẩm của CT chiếm tỷ trọng chủ yếu là các công trình xây dựng có
thời gian hoàn thành và nghiệm thu thường từ 1 năm trở lên nên không thể thu hồi vốn từ
các dự án dài hạn này kịp để chi trả cho các khoản vay ngắn hạn ngân hàng đến hạn trả.
Tuy nhiên quy mô của CT chỉ là “DN nhỏ” nên chắc chắn sẽ gặp không ít khó khăn trong việc huy động vốn từ ngân hàng. Vậy làm thế nào có thể gia tăng nguồn
vốn này cho CTCPĐTTM? Trong hai năm gần đây, CT đã trúng thầu nhiều công trình xây dựng lớn trên địa bàn Thủ đô Hà Nội và trong năm 2014 hoặc năm 2015 sẽ được hoàn thành và nghiệm thu (khi đó sẽ mang lại một nguồn doanh thu lớn cho CT). Vì vậy, CT có thể mang các giấy tờ có liên quan về các công trình xây dựng này đi ra các ngân hàng, công ty tài chính để làm bằng chứng cho khả năng có thể trả nợ trong tương lai. Từ đó, CT có thể vay vốn dài hạn từ các trung gian tài chính để phục vụ cho quá trình mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động sản xuất kinh doanh, gia tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường xây dựng, cũng như trên lĩnh vực sản xuất đồ nội thất.
58
KẾT LUẬN
Nền kinh tế thị trường hiện nay đặt các DN nước ta trước những thách thức to lớn để tồn tại và phát triển. Nhưng đó cũng chính là cơ hội để cho các DN tự khẳng
định mình, lớn mạnh và trưởng thành, tạo chỗ đứng vững chắc trong nền kinh tế. Đứng
trước đòi hỏi đó, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong kinh doanh hiện nay là vấn
đề cấp bách, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các DN.
CTCPĐTM mặc dù mới hoạt động được gần 10 năm với quy mô chỉ là DN nhỏ
và phải cạnh tranh với rất nhiều DN trên Thủ đô Hà Nội nhưng CT với những cố gắng
và nỗ lực hết mình, đầu tư thêm các TSCĐ mới, không ngừng nâng cao năng suất lao động cho đội ngũ công nhân viên,… đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong
việc ổn định, mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh, giữ mức lợi nhuận sau thuế
đều dương trong các năm gần đây, dần dần tạo được uy tín và khẳng định vị trí của
mình trong nền kinh tế.
Qua thời gian thực tập tại CTCPĐTTM, kết hợp với những kiến thức đã được
học ở trường Đại học Thăng Long, tôi đã có các phân tích về hiệu quả sử dụng vốn,
đưa ra được những điểm tốt và hạn chế trong quá trình sử dụng vốn của CT. Từ đó, tôi
đã mạnh dạn đưa ra được một số giải pháp với mong muốn CT sẽ lưu ý và tham khảo
những ý kiến này để tìm ra được giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác sử
dụng vốn tại đơn vị mình trong các năm tiếp theo.
Với một đề tài tương đối rộng này, dù đã cố gắng hết sức song do thời gian và
trình độ còn hạn chế nên trong quá trình thực hiện khóa luận này khó tránh khỏi những
điều thiếu sót. Vì vậy, tôi mong được sự thông cảm cũng như nhận được sự góp ý, bổ
sung của các thầy cô giáo và các cô chú lãnh đạo trong CTCPĐTTM để đề tài của tôi
được đầy đủ hơn và có giá trị thực tiễn hơn nữa.
Cuối cùng, một lần nữa tôi xin chân thành cám ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy
giáo T.S Trần Đình Toàn, cũng như sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô chú cán bộ công
nhân viên trong CTCPĐTTM đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Sinh viên thực hiện:
Đặng Anh Quân
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Thị Lan Anh (2013), Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty
Trách nhiệm Hữu hạn Sản xuất và Thương mại Minh Ngọc, Đại học Thăng Long, Hà Nội.
2. GS.TS. Nguyễn Văn Công (2013), Giáo trình phân tích kinh doanh, Đại học Kinh tế
Quốc Dân, Hà Nội.
3. Đỗ Thị Hương (2009), Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ở Công ty Tân
Thái Phương, truy cập tại địa chỉ
http://doc.edu.vn/tai-lieu/khoa-luan-mot-so-giai-phap-nham-nang-cao-hieu-qua-su-
dung-von-o-cong-ty-tnhh-in-bao-bi-thuong-mai-dich-vu-tan-thai-32306/
vào ngày 20/07/2014
4. PGS.TS. Lưu Thị Hương (2013), Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản
Đại học Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội.
5. Nguyễn Hà Oanh (2014), Phân tích hiệu quả sử dụng vốn và giải pháp sử dụng vốn
hiệu quả trong Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Xây dựng và Thương mại Ngọc Tuệ, Đại
học Thăng Long, Hà Nội.
6. TS. Nguyễn Viết Thông và các tác giả (2009), Giáo trình những nguyên lý cơ bản
của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
7. PGS.TS. Phạm Quang Trung (2013), Giáo trình quản trị tài chính doanh nghiệp,
Đại học Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội.
PHỤ LỤC
Phụ lục 01: Bảng cân đối kế toán năm 2012 của CTCPĐTTM
Phụ lục 02: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2012 của CTCPĐTTM
Phụ lục 03: Bảng cân đối kế toán năm 2013 của CTCPĐTTM
Phụ lục 04: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2013 của CTCPĐTTM

